QĐND – Theo Đại Nam nhất thống chí, năm Kỷ Mùi (1679), Thái tông Hiếu triết Hoàng đế sai tướng mở đất dựng đồn ở địa phận gần Tân Mỹ. Năm Mậu Dần (1698), Hiến tông Hiển Minh Hoàng đế lại sai Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất ấy, đặt phủ Gia Định, lấy xứ Sài Gòn đặt làm huyện Tân Bình, dựng Dinh Phiên trấn. Vậy là, đến cuối thế kỷ XVII, cương vực nước ta được mở rộng như ngày nay. Và cũng vào thời kỳ đó, ta mới làm chủ những đảo ngoài Biển Đông như: Côn Đảo, Phú Quốc v.v.. Quần đảo Côn Lôn thời đó chưa có người ở. Nhưng do vị trí quan trọng của nó-nằm trên con đường hàng hải từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại, nên quần đảo Côn Lôn tiếp xúc với các nước phương Tây khá sớm, vào thế kỷ XVII. Như ta biết, đội quân tiên phong của chủ nghĩa thực dân được núp dưới lá cờ truyền đạo một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản: Truyền bá Thiên chúa giáo và tiến hành thu thập, điều tra, cung cấp những thông tin cần thiết cho đội quân xâm lược đang túc trực ở phía sau.
Bộ đội biên phòng tuần tra Côn Đảo.
Giám mục A-lếch-xăng đờ Rốt đặt chân tới Nam Kỳ năm 1624 với cả hai nhiệm vụ trọng yếu đó. Hai mươi lăm năm sinh sống ở nước ta, lúc vào Nam lúc ra Bắc, ông ta đã mang về Pháp một tấm bản đồ đầu tiên của xứ này và cho in tại Li-ông ba cuốn sách liên quan đến nước ta: Từ điển Việt-Bồ-La, Lịch sử xứ Đàng Ngoài và Hành trình truyền đạo, trong đó ông cho biết những khả năng buôn bán: “Ở đây, có một chỗ cần chiếm lấy và đặt cơ sở tại đó, thương nhân châu Âu có thể tìm thấy một nguồn phong phú tiền lời và của cải”(1) Theo A-lếch-xăng đờ Rốt, chỗ cần chiếm lấy là Côn Đảo. Hơn 15 năm sau một người đồng hương của đờ Rốt, thương nhân Vê-rê (Véret) đã xác nhận điều đó. Vê-rê đã tới Côn Lôn. Nhận thấy vị trí quan trọng của quần đảo này trên hải trình Âu-Á nên Vê-rê đã đề nghị với Công ty Đông Ấn của Pháp đóng tại Pông-đi-sê-ri (thuộc địa Pháp ở Ấn Độ) chiếm lấy quần đảo này. Trong một lá thư đề ngày 5-1-1686 gửi Công ty Đông Ấn của Pháp, Vê-rê đã viết: “Ở đây có nhiều hòn đảo không có người ở, tất cả các hương liệu ở đây rất tốt và rất nhiều. Côn Đảo là một hòn đảo thuận tiện nhất để làm các việc đó. Côn Đảo có 3 cửa biển tốt, nhiều con suối nhỏ và một con sông nhỏ, một vùng cây cối đẹp nhất thế giới. Các tàu của Trung Hoa, Bắc Kỳ, Ma Cao, Ma-ni-la, Nam Kỳ v.v.. muốn sang buôn bán với Ấn Độ phải đến hết sức gần hòn đảo này; các tàu ở Ấn Độ, tàu của Anh và của Hà Lan muốn đến biển Trung Hoa cũng phải qua lại ở đây. Chiếm được nơi này cũng lợi như chiếm được hai eo biển La Sông-đơ và Ma-lắc-ca vậy. Hơn nữa, phải tính đến việc buôn bán với nước Cao Miên và nước Lào như là cái gì to lớn vì các mặt hàng như của nước Xiêm”.(2)
Nhưng vì công ty này đang bị tư bản Anh chèn ép và tìm cách hất cẳng ra khỏi Ấn Độ nên không còn tâm trí nào để chiếm đảo. Thế rồi, năm 1700, Công ty Đông Ấn của Anh đã nẫng tay trên. Một thương nhân tên là Đao-ty (Doughty) được cử làm chúa đảo. Quân Anh gồm hơn 200 người, phần đông là người Ma-lai-xi-a, dựng doanh trại và mở thương điếm buôn bán với các nước quanh vùng. Thương nhân Trung Hoa đã đánh hơi được và đã mò tới buôn bán kiếm lời: “Có thuyền Trung Hoa chở gạch ngói đến đổi lấy hàng hóa của Hồng Mao (nước Anh) vì vốn ít mà lãi nhiều”(3). Một điều chắc chắn là tư bản Anh muốn biến Côn Lôn thành bàn đạp lợi hại để xâm chiếm những vùng đất mới, trước hết là nước ta. Nhận thấy nguy cơ đó đang tới gần, chúa Nguyễn Phúc Chu đã tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo, xác định chủ quyền của ta trên đảo và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Từ trước tới nay, sự kiện này được miêu tả như một cuộc binh biến của lính đánh thuê Ma-lai-xi-a nổi lên giết chúa đảo để trở về quê quán(4). Sự thực hoàn toàn không phải như vậy mà chính là việc chúa Nguyễn Phúc Chu tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo, qua đó xác định chủ quyền của ta đối với quần đảo, dù chưa có người ở. Trong Đại Nam nhất thống chí có chép một đoạn về sự kiện này như sau:
“Năm Nhâm Ngọ Hiển tông thứ 11 (1702), giặc biển An Liệt (Anh) đi thuyền đến đảo Côn Lôn, người tù trưởng là Tô Lạt Gia Thi (Thomas Doughty) 5 người chia làm 5 ban cùng đồ đảng hơn 200 người, kết dựng trại sách, của cải rất nhiều, bốn mặt đều dựng súng, ở hơn một năm. Trấn thủ Trấn biên là Trương Phúc Phan chiêu mộ 15 người Chà Và, bí mật sai họ trá hàng, rồi nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết Nhất ban, Nhị ban, bắt được Ngũ ban, còn Tam ban, Tứ ban theo đường biển trốn thoát. Nhận được tin báo, Trương Phúc Phan sai lính đi ra đảo thu hết của cải dâng nộp”(5).
Côn Đảo nhìn từ trên cao. Ảnh: Đoàn Hoài Trung
Đoạn trích dẫn trên cho ta biết những thông tin quan trọng sau đây: 1) Người tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi Côn Đảo năm 1702 là Trấn thủ Trấn biên Trương Phúc Phan dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu; 2) Phương thức đánh là dùng người Chà Và, cùng sắc tộc với lính Ma-lai-xi-a, trá hàng, nhân đêm tối phóng hỏa đốt trại, tạo thế bất ngờ, rồi giết quân lính Anh, làm cho chúng hoảng sợ phải tháo chạy khỏi đảo; 3) Đã giết và bắt sống 3/5 quân lính, thu nhiều của cải và súng đạn, chỉ có 2/5 binh sĩ chạy thoát.
Rõ ràng, đó là một trận đánh đuổi quân xâm chiếm lãnh thổ, xác định chủ quyền của ta trên quần đảo Côn Lôn, mặc dù chưa có người ở, nhưng hoàn toàn không có nghĩa là một quần đảo vô chủ mà kẻ nào muốn chiếm cũng được.
Thực dân Anh sau hơn một năm chiếm đảo trái phép đã phải gánh chịu hậu quả đó. Cũng từ bấy giờ, thực dân Anh, Hà Lan, mặc dù ở cách đảo này không xa (Ma-lai-xi-a, Nam Dương) đã không dám bén mảng tới hòn đảo có chủ này nữa. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, chủ quyền các đảo ở Biển Đông như: Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn và các đảo trong vịnh Xiêm La vẫn thuộc về ta. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết năm 1776, có chép: “Họ Nguyễn sai đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tư Chính ở Bình Định, hoặc người xã Cảnh Dương (Ròn, Quảng Bình), ai tình nguyện thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu, cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu (đắm) và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai các đội Hoàng Sa kiêm quản”(6).
Và Pô-lanh Vi-an, một quan cai trị cấp cao ở Nam Kỳ thời kỳ các Đô đốc trong một công trình khảo cứu của mình giữa thế kỷ XIX về xứ thuộc địa đã xác nhận: “Hòn đảo này (Côn Lôn) ở trước cửa sông Cửu Long, một thế kỷ trước đây đã do người Anh chiếm đóng… Một đồn quân nhỏ của họ lẻ loi, xa bờ một quãng ngắn trên đường của thương thuyền từ Trung Quốc tới Ma-lai-xi-a là mục tiêu tiến công không ngừng của người bản xứ. Các vua An Nam vẫn là người chủ hợp pháp của đảo ấy”(7).
PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn
1. A.Tômadi. Cuộc chinh phục xứ Đông Dương. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 7.
2. A. Septan. Thời kỳ đầu của xứ Đông Pháp. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 30-31.
3. Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Nxb Khoa học xã hội. Hn, 1971, tr. 147.
4. Chẳng hạn như Trần Văn Giàu. Chống xâm lăng. Xây dựng phát hành. HN, 1956, tr. 15.
5. Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Nxb. Khoa học xã hội, HN, 1971, tr.127.
6. Lê Quý Đôn, toàn tập, tập 1. Nxb khoa học xã hội. HN, 1977, tr. 120.
7. Paulin Vial. Những năm đầu của xứ Nam Kỳ thuộc Pháp. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 82.
Mắc Na-ma-ra trong một hội nghị ở Lầu Năm Góc năm 1965. Ảnh: The New York Times
Bút tích bức thư của Bác Hồ gửi đồng chí Trần Đăng Ninh.
Bà Tống Mỹ Linh tại Niu Y-oóc sinh nhật 100 tuổi.
Tưởng Giới Thạch, Tống Mỹ Linh và tướng Mỹ Stin-oen thăm Miến Điện, tháng 4-1942.
Uôn-tơ và Goen-đô-lin Mai-ơ.

Bản “tổng kết chiến tranh” do Trần Bá Di viết trong thời gian ở trại cải huấn. Ảnh: Vũ Minh
Ngày 5-6-2009, Đồng chí Huỳnh Đảm, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khách mời của Liên hoan hữu nghị thanh niên hai nước Trung-Việt, thăm Cảng Phòng Thành.
Toàn cảnh thành phố cảng Phòng Thành (Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) hiện nay.
Tư lệnh Hải quân VNCH Trần Văn Chơn (trái) và Đô đốc Mua-rơ (T. Moore) Tư lệnh các chiến dịch Hải quân Mỹ, thanh tra một đơn vị hải quân Sài Gòn vừa nhận bàn giao tuần tiễu từ một đơn vị Hải quân Mỹ, tháng 9-1969. Lưu trữ quân đội Mỹ
Bác Hồ thăm Bộ đội Hải quân tại đảo Vạn Hoa (Quảng Ninh), năm 1962. Ảnh tư liệu.
Tổng bí thư Lê Duẩn thăm Đoàn 125. Ảnh tư liệu.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện với Tiểu đoàn 1, Đoàn 125, năm 1969. Ảnh tư liệu.
Ngô Quang Trưởng khi đang là Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn 1 của Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu
Lương Khải Siêu và các con: Tư Thuận, Tư Thành, Tư Vĩnh (năm 1905). Ảnh: Quảng Châu Nhật báo
Bạn phải đăng nhập để bình luận.