Tag Archive | Hồ sơ – Tư liệu

Trận đánh xác nhận chủ quyền đảo Côn Lôn năm 1702

QĐND – Theo Đại Nam nhất thống chí, năm Kỷ Mùi (1679), Thái tông Hiếu triết Hoàng đế sai tướng mở đất dựng đồn ở địa phận gần Tân Mỹ. Năm Mậu Dần (1698), Hiến tông Hiển Minh Hoàng đế lại sai Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất ấy, đặt phủ Gia Định, lấy xứ Sài Gòn đặt làm huyện Tân Bình, dựng Dinh Phiên trấn. Vậy là, đến cuối thế kỷ XVII, cương vực nước ta được mở rộng như ngày nay. Và cũng vào thời kỳ đó, ta mới làm chủ những đảo ngoài Biển Đông như: Côn Đảo, Phú Quốc v.v.. Quần đảo Côn Lôn thời đó chưa có người ở. Nhưng do vị trí quan trọng của nó-nằm trên con đường hàng hải từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại, nên quần đảo Côn Lôn tiếp xúc với các nước phương Tây khá sớm, vào thế kỷ XVII. Như ta biết, đội quân tiên phong của chủ nghĩa thực dân được núp dưới lá cờ truyền đạo một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản: Truyền bá Thiên chúa giáo và tiến hành thu thập, điều tra, cung cấp những thông tin cần thiết cho đội quân xâm lược đang túc trực ở phía sau.

Bộ đội biên phòng tuần tra Côn Đảo.

Giám mục A-lếch-xăng đờ Rốt đặt chân tới Nam Kỳ năm 1624 với cả hai nhiệm vụ trọng yếu đó. Hai mươi lăm năm sinh sống ở nước ta, lúc vào Nam lúc ra Bắc, ông ta đã mang về Pháp một tấm bản đồ đầu tiên của xứ này và cho in tại Li-ông ba cuốn sách liên quan đến nước ta: Từ điển Việt-Bồ-La, Lịch sử xứ Đàng Ngoài và Hành trình truyền đạo, trong đó ông cho biết những khả năng buôn bán: “Ở đây, có một chỗ cần chiếm lấy và đặt cơ sở tại đó, thương nhân châu Âu có thể tìm thấy một nguồn phong phú tiền lời và của cải”(1) Theo A-lếch-xăng đờ Rốt, chỗ cần chiếm lấy là Côn Đảo. Hơn 15 năm sau một người đồng hương của đờ Rốt, thương nhân Vê-rê (Véret) đã xác nhận điều đó. Vê-rê đã tới Côn Lôn. Nhận thấy vị trí quan trọng của quần đảo này trên hải trình Âu-Á nên Vê-rê đã đề nghị với Công ty Đông Ấn của Pháp đóng tại Pông-đi-sê-ri (thuộc địa Pháp ở Ấn Độ) chiếm lấy quần đảo này. Trong một lá thư đề ngày 5-1-1686 gửi Công ty Đông Ấn của Pháp, Vê-rê đã viết: “Ở đây có nhiều hòn đảo không có người ở, tất cả các hương liệu ở đây rất tốt và rất nhiều. Côn Đảo là một hòn đảo thuận tiện nhất để làm các việc đó. Côn Đảo có 3 cửa biển tốt, nhiều con suối nhỏ và một con sông nhỏ, một vùng cây cối đẹp nhất thế giới. Các tàu của Trung Hoa, Bắc Kỳ, Ma Cao, Ma-ni-la, Nam Kỳ v.v.. muốn sang buôn bán với Ấn Độ phải đến hết sức gần hòn đảo này; các tàu ở Ấn Độ, tàu của Anh và của Hà Lan muốn đến biển Trung Hoa cũng phải qua lại ở đây. Chiếm được nơi này cũng lợi như chiếm được hai eo biển La Sông-đơ và Ma-lắc-ca vậy. Hơn nữa, phải tính đến việc buôn bán với nước Cao Miên và nước Lào như là cái gì to lớn vì các mặt hàng như của nước Xiêm”.(2)

Nhưng vì công ty này đang bị tư bản Anh chèn ép và tìm cách hất cẳng ra khỏi Ấn Độ nên không còn tâm trí nào để chiếm đảo. Thế rồi, năm 1700, Công ty Đông Ấn của Anh đã nẫng tay trên. Một thương nhân tên là Đao-ty (Doughty) được cử làm chúa đảo. Quân Anh gồm hơn 200 người, phần đông là người Ma-lai-xi-a, dựng doanh trại và mở thương điếm buôn bán với các nước quanh vùng. Thương nhân Trung Hoa đã đánh hơi được và đã mò tới buôn bán kiếm lời: “Có thuyền Trung Hoa chở gạch ngói đến đổi lấy hàng hóa của Hồng Mao (nước Anh) vì vốn ít mà lãi nhiều”(3). Một điều chắc chắn là tư bản Anh muốn biến Côn Lôn thành bàn đạp lợi hại để xâm chiếm những vùng đất mới, trước hết là nước ta. Nhận thấy nguy cơ đó đang tới gần, chúa Nguyễn Phúc Chu đã tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo, xác định chủ quyền của ta trên đảo và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Từ trước tới nay, sự kiện này được miêu tả như một cuộc binh biến của lính đánh thuê Ma-lai-xi-a nổi lên giết chúa đảo để trở về quê quán(4). Sự thực hoàn toàn không phải như vậy mà chính là việc chúa Nguyễn Phúc Chu tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo, qua đó xác định chủ quyền của ta đối với quần đảo, dù chưa có người ở. Trong Đại Nam nhất thống chí có chép một đoạn về sự kiện này như sau:

“Năm Nhâm Ngọ Hiển tông thứ 11 (1702), giặc biển An Liệt (Anh) đi thuyền đến đảo Côn Lôn, người tù trưởng là Tô Lạt Gia Thi (Thomas Doughty) 5 người chia làm 5 ban cùng đồ đảng hơn 200 người, kết dựng trại sách, của cải rất nhiều, bốn mặt đều dựng súng, ở hơn một năm. Trấn thủ Trấn biên là Trương Phúc Phan chiêu mộ 15 người Chà Và, bí mật sai họ trá hàng, rồi nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết Nhất ban, Nhị ban, bắt được Ngũ ban, còn Tam ban, Tứ ban theo đường biển trốn thoát. Nhận được tin báo, Trương Phúc Phan sai lính đi ra đảo thu hết của cải dâng nộp”(5).

Côn Đảo nhìn từ trên cao. Ảnh: Đoàn Hoài Trung

Đoạn trích dẫn trên cho ta biết những thông tin quan trọng sau đây: 1) Người tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi Côn Đảo năm 1702 là Trấn thủ Trấn biên Trương Phúc Phan dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu; 2) Phương thức đánh là dùng người Chà Và, cùng sắc tộc với lính Ma-lai-xi-a, trá hàng, nhân đêm tối phóng hỏa đốt trại, tạo thế bất ngờ, rồi giết quân lính Anh, làm cho chúng hoảng sợ phải tháo chạy khỏi đảo; 3) Đã giết và bắt sống 3/5 quân lính, thu nhiều của cải và súng đạn, chỉ có 2/5 binh sĩ chạy thoát.

Rõ ràng, đó là một trận đánh đuổi quân xâm chiếm lãnh thổ, xác định chủ quyền của ta trên quần đảo Côn Lôn, mặc dù chưa có người ở, nhưng hoàn toàn không có nghĩa là một quần đảo vô chủ mà kẻ nào muốn chiếm cũng được.

Thực dân Anh sau hơn một năm chiếm đảo trái phép đã phải gánh chịu hậu quả đó. Cũng từ bấy giờ, thực dân Anh, Hà Lan, mặc dù ở cách đảo này không xa (Ma-lai-xi-a, Nam Dương) đã không dám bén mảng tới hòn đảo có chủ này nữa. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, chủ quyền các đảo ở Biển Đông như: Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn và các đảo trong vịnh Xiêm La vẫn thuộc về ta. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết năm 1776, có chép: “Họ Nguyễn sai đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tư Chính ở Bình Định, hoặc người xã Cảnh Dương (Ròn, Quảng Bình), ai tình nguyện thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu, cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu (đắm) và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai các đội Hoàng Sa kiêm quản”(6).

Và Pô-lanh Vi-an, một quan cai trị cấp cao ở Nam Kỳ thời kỳ các Đô đốc trong một công trình khảo cứu của mình giữa thế kỷ XIX về xứ thuộc địa đã xác nhận: “Hòn đảo này (Côn Lôn) ở trước cửa sông Cửu Long, một thế kỷ trước đây đã do người Anh chiếm đóng… Một đồn quân nhỏ của họ lẻ loi, xa bờ một quãng ngắn trên đường của thương thuyền từ Trung Quốc tới Ma-lai-xi-a là mục tiêu tiến công không ngừng của người bản xứ. Các vua An Nam vẫn là người chủ hợp pháp của đảo ấy”(7).

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

1. A.Tômadi. Cuộc chinh phục xứ Đông Dương. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 7.

2. A. Septan. Thời kỳ đầu của xứ Đông Pháp. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 30-31.

3. Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Nxb Khoa học xã hội. Hn, 1971, tr. 147.

4. Chẳng hạn như Trần Văn Giàu. Chống xâm lăng. Xây dựng phát hành. HN, 1956, tr. 15.

5. Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Nxb. Khoa học xã hội, HN, 1971, tr.127.

6. Lê Quý Đôn, toàn tập, tập 1. Nxb khoa học xã hội. HN, 1977, tr. 120.

7. Paulin Vial. Những năm đầu của xứ Nam Kỳ thuộc Pháp. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 82.

Mắc Na-ma-ra – một số phận bị “ma làm”

QĐND – Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra (McNamara 1916 – 2009) tên đầy đủ là Robert Strange McNamara. Trong tiếng Anh, Strange có nghĩa là “kỳ lạ”, “kỳ quặc”. Các luồng đánh giá trái nghịch nhau về nhân cách của Mắc Na-ma-ra đồng thuận ở một điểm: Ông ta bị ám ảnh (haunted – ma nhập) bởi cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Cái búa đóng cọc nhồi

Tháng 11-1961, một ngày sau khi thắng cử, Tổng thống Ken-nơ-đi (Kennedy) nghe tin Mắc Na-ma-ra đắc cử Chủ tịch hãng Ford, bất chấp truyền thống chỉ người trong gia đình Ford mới giữ cương vị chủ chốt. Một chuyên gia thống kê, trung tá giải ngũ, do “hoàn cảnh” phải bỏ ngang nghiệp giáo sư ở Ha-vớt (Havard) để làm quản trị gia mà đã lập tức chói sáng trong nghiệp kinh doanh. Ken-nơ-đi quyết định vời Mắc Na-ma-ra làm chủ Lầu Năm Góc trong nhiệm kỳ tổng thống của mình.

Mắc Na-ma-ra trong một hội nghị ở Lầu Năm Góc năm 1965. Ảnh: The New York Times

Ken-nơ-đi xem Mắc Na-ma-ra là người thông minh nhất trần đời ông ta từng gặp được[1]. Ông ta đã quân sư cho tổng thống trẻ tuổi chủ động loại trừ những thách thức bên miệng vực một cuộc xung đột hạt nhân với Liên Xô. Người ta ghi nhận rằng, Mắc Na-ma-ra là Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên đã lấn át được phe diều hâu trong Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ (HĐTMLQ), trong tiến trình cuộc khủng hoảng tên lửa Cu-ba năm 1962.

Tổng thống kế tiếp Giôn-xơn nhận định về Mắc Na-ma-ra: “Anh ta là một cái búa đóng cọc nhồi (jackhamme), không ai có thể đảm đương những gì Mắc Na-ma-ra gánh vác. Anh ta lái quá nhanh”.

Xoay như chong chóng

Lưu trữ Nhà Trắng cho biết theo Giôn-xơn, trong chính phủ Mỹ không ai sánh được với Mắc Na-ma-ra[2]. Ray Clai-nơ (Ray Cline), Phó giám đốc CIA thời kỳ “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, nhớ lại rằng, ông ta đã lấy những thông tin còn “sống sít” (raw) của trinh sát điện tử Mỹ (SIGINT) làm căn cứ về một “cuộc tiến công vào tàu Mỹ của Bắc Việt Nam” vào cái đêm 4-8 để báo cáo với Quốc hội Mỹ về cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”. “Đây chính là điều Giôn-xơn đang tìm kiếm”, ông Clai-nơ nhận định.

Lưu trữ của Nhà Trắng cho thấy Mắc Na-ma-ra đã “xoay xở nhanh” như thế nào. Tháng 2 và tháng 3 năm 1964, “thầy trò” Giôn-xơn và Mắc Na-ma-ra còn đang mày mò tìm cách leo thang xung đột thì tháng 8 năm ấy, kịch bản “các cuộc tiến công vô cớ liên tiếp” của Hà Nội đã được soạn thảo bởi Mắc Na-ma-ra đã giúp Tổng thống diều hâu Giôn-xơn giành quyền “tự tung tự tác” ở Việt Nam.

Ngập vào “sương mù” chiến tranh

Một cuộc họp báo vào tháng 2-1966 cho thấy vẻ tự tin đã không còn trên mặt Mắc Na-ma-ra. Ông ta khẳng định: “Không một số lượng bom nào có thể kết thúc được cuộc chiến tranh này”. Chiến dịch Sấm Rền, với 55 nghìn lượt chiếc máy bay và 33 nghìn tấn bom ném xuống miền Bắc năm 1965 (năm 1966 là 148 nghìn lượt chiếc và 128 nghìn tấn), đã không thể chặn dòng chảy của binh lực và vũ khí của đối phương vào miền Nam Việt Nam.

Cùng năm 1966, Mắc Na-ma-ra bận rộn trong việc xây dựng một hàng rào điện tử dọc theo vùng nam khu phi quân sự. Lính Mỹ gọi đó là “Chiến lũy Mắc Na-ma-ra”. Sự trù úm có chủ ý này dường như đã làm cho “chiến lũy Mắc Na-ma-ra” lặp lại số phận của “Chiến lũy Ma-gi-nốt” – phòng tuyến vô dụng mà Pháp đã xây để chắn quân phát xít Đức. Nhưng, trong khi say sưa với những cuộc leo thang chống phá Việt Nam thì nước Mỹ cũng như gia đình Mắc Na-ma-ra đã chia rẽ sâu sắc với những làn sóng chống đối. Con gái của ông ta tham gia cuộc tuần hành của Lút-thơ King (Luther King) suốt một ngày rưỡi trời, không ăn nghỉ. Con trai của ông ta là thành viên phong trào phản chiến tại Trường Đại học Stanford nổi tiếng nhất nước Mỹ. Ngày 2-11-1965, từ cửa sổ phòng làm việc ở Lầu Năm Góc, Mắc Na-ma-ra chứng kiến Mo-ri-xơn (Norman Morrison) tự thiêu để phản đối chiến tranh[3].

Sự thất bại của Mỹ trên chiến trường hay ảnh hưởng của phong trào phản đối chiến tranh ngay trong gia đình mà ngày 19-5-1967, Mắc Na-ma-ra viết một phúc trình dài “đầy mâu thuẫn”, như chính ông ta tự nhận, gửi Giôn-xơn, thúc giục tổng thống đàm phán. Ông ta cảnh báo các nỗ lực mà Oét-mo-len (Westmoreland) đang tiến hành ở Việt Nam “sẽ dẫn đến một tai họa lớn cho dân tộc (Hoa Kỳ)”. Báo The New York Times (NY) nghĩ rằng đây là giọt kiên nhẫn cuối cùng của Giôn-xơn, người vẫn ngờ rằng Mắc Na-ma-ra đang chơi trò “con ngựa thành Troy” cho Rô-bớt Ken-nơ-đi (em trai cố Tổng thống Ken-nơ-đi) đang chạy đua vào Nhà Trắng năm 1968 với tư cách ứng cử viên hòa bình. Ngày 29-11-1967, Tổng thống Mỹ công bố “thuyên chuyển công tác” cho Mắc Na-ma-ra từ Lầu Năm Góc sang ghế Chủ tịch Ngân hàng Thế giới.

Một số phận bị “ma làm”

Mắc Na-ma-ra có cố gắng trong thực hiện một “cuộc cách mạng về quản lý” ở Bộ Quốc phòng Mỹ, đã “máy tính hóa” bộ máy chiến tranh này. Nhưng phong thái không chan hòa và cách cư xử ngạo mạn khiến ông ta không có được nhiều người cùng chí hướng, nhất là khi cuộc chiến “rơi vào vũng bùn” (từ của Mắc Na-ma-ra). Trong cuộc tiệc trưa chia tay Bộ trưởng Quốc phòng do Ngoại trưởng Đin Rát-cơ (Dean Rusk) chủ trì, Mắc Na-ma-ra đã khóc, than rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là vô nghĩa. Nhiều đồng nghiệp của Mắc Na-ma-ra đã kinh hoàng khi nghe cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng buộc tội cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam, mà chính ông ta thủ một trong những vai chính.

Năm 1995, Mắc Na-ma-ra lại thử thách sự trớ trêu của số phận bằng cách xuất hiện với cuốn Hồi ký. Trong đó, Mắc Na-ma-ra đối chọi với cuộc chiến tranh do chính ông ta chỉ đạo, thú nhận rằng cuộc chiến này là “sai lầm, sai lầm khủng khiếp”.

Khi bộ máy chiến tranh Mỹ bắt đầu ậm ạch trong vũng lầy mới ở I-rắc, bộ phim DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mắc Na-ma-ra” được công chiếu, đoạt giải Oscar năm 2003.

Nhìn chung, mỗi sản phẩm truyền thông viết về Mắc Na-ma-ra đều lôi cuốn hàng trăm người vào một cuộc thảo luận khá sâu rộng trên trên các diễn đàn.

Luồng ý kiến phản hồi lớn nhất vẫn gồm những chỉ trích nặng nề không thương tiếc. Ở đoạn cuối DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mắc Na-ma-ra”, ông ta đã nghẹn ngào nhận định rằng, bất chấp những hối tiếc sâu đậm của mình về cuộc chiến tranh, “nhiều người vẫn nghĩ tôi là đồ chó đẻ” (A lot of people think I’m a son of a bitch).

Luồng ý kiến thứ hai không thật nhiều về số lượng, nhưng khá sâu về suy luận. Họ nghi ngờ đối với sự chân thành trong những dằn vặt hậu chiến của Mắc Na-ma-ra. Cơ sở cho sự bất tín này hẳn là Mắc Na-ma-ra biết ông ta có thể làm nhiều hơn để kết thúc chiến tranh ở Việt Nam, nhưng lại không làm[4]. Trong phim DVD “Sương mù chiến tranh”, ông ta bày tỏ đã muốn làm nhiều hơn để kết thúc chiến tranh, nhưng không chịu nói vì sao lại chọn cách im lặng sau khi rời Lầu Năm Góc.

Có những ý kiến cho rằng các bài học của Mắc Na-ma-ra đã không gây được ảnh hưởng đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Răm-xpheo (Rumsfeld) (triều đại Bút-sơ “con) và các “kiến trúc sư” và “thần đồng” khác của cuộc chiến tranh I-rắc. Sự sâu cay lên tới mức cao độ, với những ý kiến cảnh báo không khéo cũng sẽ “hối hận” viết hồi ký và sẽ diễn tích “Sương mù chiến tranh” I-rắc[5].

Nhưng trùm lên hết thảy vẫn là những ý kiến ghi nhận sự phục thiện và mạnh dạn trực diện với những lỗi lầm khủng khiếp của chính mình của Mắc Na-ma-ra, điều mà các chính khách cùng “cảnh ngộ” đã không làm được.

Cựu trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng L. Ko-bơ nói với Hãng thông tấn Mỹ WGBH rằng Mắc Na-ma-ra đã dũng cảm thú nhận rằng cuộc chiến tranh là sai lầm khủng khiếp, rằng ông chưa thấy chính khách Mỹ nào đủ dũng khí “thú lỗi” và giải thích vì sao đất nước đi sai đường. Nhưng Ko-bơ cho rằng có những điều mà Mắc Na-ma-ra không thể được tha thứ[6].

Cũng có thể dẫn ý kiến của những người dân Mỹ độ lượng đối với nhân vật mà nhiều người dân khác của họ xem là một trong những tội phạm chiến tranh:

“Nhiều người chỉ trích phê phán Mắc Na-ma-ra từ trên đỉnh cao của phẫn nộ. Thật là dễ để nhìn nhận ông ta là hiện thân của Quỷ dữ. Tôi hy vọng rằng linh hồn của ông ta được an tịnh, nhưng điều này là khó tin sau khi xem DVD “Sương mù chiến tranh”. Đây là giọng nói và khuôn mặt của một kẻ nhận thấy mình bị đày xuống địa ngục”.

Lê Thành
qdnd.vn

[1] http://www.nytimes.com/2009/07/07/us/07mcnamara.html?pagewanted=all

[2] http://whitehousetapes.net/exhibit/former-secretary-defense-robert-mcnamara-dies.

[3] DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mcnamara” (The fog of war: lessons from the life of Robert S. McNamara) NXB Rowman & Littlefield Publishers.

[4] http://www.thefilmbrief.com/2009/07/fog-of-war.html

[5] Phản hồi bài điếu McNamara trên tờ The New York Times, có tới ngót 397 ý kiến phản hồi.

http://community.nytimes.com/comments/www.nytimes.com/2009/07/07/us/07mcnamara.html

[6] news.bbc.co.uk/2/hi/8136595.stm

“Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc”

QĐND – Hội nghị Cung cấp toàn quân lần thứ nhất họp tại ATK Việt Bắc từ ngày 22-6-1952 đến 3-7-1952. Hội nghị rất vinh dự, phấn khởi được Bác Hồ đến thăm và nói chuyện.

Bác căn dặn:

Hồi kháng Nhật ở khu giải phóng, Tổng cục Cung cấp là nhân dân Cao-Bắc-Lạng. Bây giờ chúng ta tiến bộ, có Tổng cục Cung cấp, công việc ngày càng phải hợp lý, khoa học”.

Người cán bộ cung cấp nói riêng và Tổng cục Cung cấp nói chung phải phụ trách trước bộ đội, trước nhân dân, trước Đảng, trước Chính phủ”.

“Bổn phận của cán bộ cung cấp là phục vụ chiến sĩ đi đánh giặc và những người dân công đi giúp chiến dịch. Đối với chiến sĩ, phải chăm sóc họ, làm sao cho họ đủ ăn, đủ mặc, đủ súng, đủ thuốc. Đối với dân công cũng phải như vậy, nếu họ đói, họ ốm, ảnh hưởng tới công tác của các chú trước, rồi ảnh hưởng tới cả chiến dịch”.

“Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng tới chiến sĩ”.

Bút tích bức thư của Bác Hồ gửi đồng chí Trần Đăng Ninh.

“Các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt, chăn nuôi để tự túc phần nào, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân”.

Phải tiết kiệm sức người như dân công, tiết kiệm tiền, tiết kiệm của. Mọi thứ đều phải tiết kiệm. Tiết kiệm mà không tăng gia thì lấy gì mà tiết kiệm. Mục đích tiết kiệm không phải là bớt ăn, mà là thêm ăn, làm cho bộ đội no”.

“Phải chống tham ô, lãng phí, quan liêu… Phải dân chủ, tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình và dám phê bình người…”.

Sau Hội nghị Cung cấp toàn quân lần thứ nhất, hoạt động hậu cần trong quân đội có bước chuyển biến mạnh mẽ. Cơ quan hậu cần các cấp được kiện toàn từ Tổng cục đến đại đội. Phong trào thi đua “Ngành hậu cần quân đội làm theo lời Bác dạy” phát triển sâu rộng với nhiều nội dung phong phú. “Lương y như từ mẫu”, “Giữ tốt dùng bền”, “Yêu xe như con, quý xăng như máu”, “Thi đua hai tốt, ba tốt, bốn tốt” (ăn uống tốt, ngủ nghỉ tốt, vệ sinh phòng bệnh tốt, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm tốt), “Rèn luyện cán bộ, cải tiến kỹ thuật”…

Giữa lúc đó, Văn phòng Tổng cục nhận được lá thư Bác Hồ gửi cho đồng chí Trần Đăng Ninh. Một cuộc họp được triệu tập do đồng chí Trần Đăng Ninh chủ trì để bàn các biện pháp chấp hành chỉ thị của Bác.

Anh Ninh đọc thư Bác, nhắc lại kỷ niệm ngày Bác giao nhiệm vụ đi làm cung cấp. Bác căn dặn nhiều điều. Thực túc binh cường, ăn no đánh thắng, người xưa đã dạy, chú cố gắng làm cho tốt; bộ đội, bụng có no, thân có ấm, mới đánh được giặc; luyện quân, nuôi quân, dùng quân, các mặt ấy làm tốt, mới mong tranh được nhiều thắng lợi; hậu phương sản xuất tăng gia, cũng là kháng chiến, cũng là vẻ vang… Bác quan tâm đến mọi vấn đề.

Tiếp lời anh Ninh, anh Trần Hữu Dực, Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp kể những kỷ niệm về Bác đối với ngành hậu cần.

Anh cho biết: Cứ mỗi lần sang họp với Tổng quân ủy, bao giờ Bác cũng đến trước một tối, nghỉ đêm ở chỗ anh Trần Đăng Ninh. Bác thường xuống ngựa bên kia Đèo De, đi bộ tới Bản Búc, Tổng cục đưa xe đến đón Bác.

Đêm nghỉ ở hậu cứ anh Trần Đăng Ninh, Bác hỏi kỹ tình hình Tổng cục, đời sống, sức khỏe bộ đội và dân công, những vấn đề đặt ra cần được Trung ương, Hội đồng Chính phủ giải quyết…

Anh Dực trực tiếp làm Chủ nhiệm cung cấp tiền phương chiến dịch Trung Du và Đường số 18. Anh xúc động nhớ lại lời căn dặn của Bác khi Người đến dự Hội nghị kiểm thảo chiến dịch Đường số 18-một chiến dịch mà “ta đã không hoàn thành nhiệm vụ thật đầy đủ, địch thiệt hại nặng nhưng ta lại tiêu hao”.

Bác nhấn mạnh:

“Cán bộ không có đội viên, lãnh đạo không có quần chúng thì không làm gì được. Bởi vậy cần thương yêu đội viên. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn, cán bộ không được kêu mình đói; bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét; bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới là dân chủ, là đoàn kết, là tất thắng”.

Các anh Nguyễn Thanh Bình, Trần Thọ, Nguyễn Tấn, Vũ Xuân Chiêm, Đinh Trọng Nĩu, Nguyễn Ngọc Minh, Ngô Vi Thiện… lần lượt phản ảnh tình hình đời sống bộ đội ở tiền tuyến qua mấy chiến dịch và ở hậu phương, đề xuất nhiều phương án, ý kiến khả thi chấp hành chỉ thị, gợi ý của Bác “Làm sao để bộ đội có thịt ăn”, góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn.

Lá thư góp ý của Bác thể hiện tình cảm đặc biệt của Bác dành cho bộ đội, các chiến binh ngoài mặt trận.

Từ sau khi có thư Bác, cùng với việc chấp hành nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn, chế độ cung cấp Bộ Quốc phòng ban hành, các đơn vị phía trước, phía sau đều có kế hoạch nâng cao đời sống, sức khỏe bộ đội bằng nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực.

Đời sống cán bộ, chiến sĩ không ngừng được cải thiện, góp phần đưa công cuộc kháng chiến tiến dần đến thắng lợi. Bộ đội ta càng đánh, càng mạnh, càng trưởng thành.

Trần Tiệu
qdnd.vn

Bốn câu đố lớn về bà Tống Mỹ Linh

QĐND – Báo điện tử “Lịch sử Trung Hoa” (www.xyz6666.com) ngày 19-12-2010 đăng tải bài “Tại sao không hợp táng với Tưởng Giới Thạch? Bốn câu đố lớn về Tống Mỹ Linh”. Chúng tôi trích dịch tư liệu trên, giúp bạn đọc tham khảo, hiểu thêm về một người phụ nữ phương Đông đã từng được mệnh danh là “Người đàn bà thép”. Tống Mỹ Linh (sinh ngày 5-3-1897, mất ngày 24-10-2003), thọ 106 tuổi, đã từng là Tưởng phu nhân, Đệ nhất phu nhân của Trung Hoa Dân quốc.

Câu đố thứ nhất: Vì sao không về Đài Loan an táng?

Trước kỷ niệm sinh nhật lần thứ 106, do tình hình sức khỏe của bà Tống Mỹ Linh đã xấu đi, cho nên khi ấy đã có rất nhiều thông tin về chuyện hậu sự của bà phát tán ra ngoài.

Những tin tức ấy đều chưa được chứng thực, nhưng có một điều đã được khẳng định, đó là bà hy vọng sau khi mình chết không đưa về Đài Loan an táng. Vì sao lại có yêu cầu như vậy, bên ngoài có rất nhiều dư luận.

Bà Tống Mỹ Linh tại Niu Y-oóc sinh nhật 100 tuổi.

Cách nói thứ nhất là: Bà Tống Mỹ Linh là một người rất sùng tín đạo Cơ đốc, trước đó đã từng biểu thị, tất cả đều giao cho Thượng đế, sau này bản thân sẽ không theo Tưởng Giới Thạch an táng tại Đài Loan. Không ai biết đích xác vì sao bà dứt khoát không trở về Đài Loan. Nhưng có người phân tích rằng, sau khi qua đời, Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc vẫn chưa an táng, điều này có thể liên quan đến việc Tưởng Giới Thạch luôn luôn muốn “lá rụng về cội”, trở về đại lục. Tưởng Kinh Quốc chỉ rõ, khi còn sống Tưởng Giới Thạch đã lựa chọn 3 địa điểm: Tử Kim Sơn, Phương Sơn, Tứ Minh Sơn. Tưởng Kinh Quốc hy vọng trở về an táng bên cạnh mộ phần của mẫu thân tại Phụng Hóa, Chiết Giang. Khi ấy, là người phát ngôn hợp pháp duy nhất đời thứ ba của gia tộc họ Tưởng là Tưởng Hiếu Dũng đã nói rõ: Di chuyển linh cốt là chuyện nội bộ gia đình, Tưởng gia có phương thức xử lý của Tưởng gia.

Cách nói thứ hai là Tống Mỹ Linh hy vọng “lá rụng về cội”. Bởi vì nghĩa trang họ Tống đặt tại Thượng Hải, ngoài mộ phần của Tống Khánh Linh, chị hai trong ba chị em họ Tống, cha mẹ của ba chị em họ Tống cũng đều an táng tại đây. Do bị hạn chế bởi nhân tố chính trị của hai bờ eo biển, Tống Mỹ Linh chưa có cách nào trực tiếp đến nghĩa trang bái tế cha mẹ, cho nên mấy năm trước, bà đặc biệt ủy thác người khác thay mặt bà kính viếng vòng hoa, bày tỏ lòng thành kính với đấng sinh thành. Bởi vậy, có người suy đoán, bà Tống Mỹ Linh có thể lựa chọn sau khi qua đời, bà có thể yên ngủ lâu dài bên cạnh cha mẹ tại nghĩa trang họ Tống tại Thượng Hải.

Cách nói thứ ba là giới Hoa Kiều ở Niu Y-oóc (Mỹ) đưa tin rằng, Tống Mỹ Linh đã mua xong một phần mộ tại đây, làm nơi an táng mình. Do bà Tống Mỹ Linh đã từng nói rõ sau khi chết muốn an táng tại Niu Y-oóc, nghĩa trang Phin-cơ Ri-vơ (Fink Reeve) tại bang Niu Y-oóc Thượng đã chuẩn bị tốt phần mộ nội thất của bà Tống Mỹ Linh.

Câu đố thứ hai: Vì sao không để lại bất cứ văn tự nào?

Khi còn sống, bà Tống Mỹ Linh không để lại bất cứ một truyện ký hoặc dòng hồi ức nào, cũng không để lại tư liệu băng ghi âm hoàn chỉnh. Cũng có người khuyên bà Tống Mỹ Linh viết một số truyện để lại, nhưng đều bị bà khéo léo từ chối, nói rằng tất cả đều để lại cho lịch sử. Bà kiên trì cho rằng, thời gian sẽ cho phép lịch sử trả lại các sự kiện như nó vốn có (lịch sử hoàn nguyên).

Nhưng, trước mắt, những người quan tâm ở Đài Loan lại căn cứ vào những bộ phim tài liệu tản mạn vụn vặt chiếu trên truyền hình công cộng Đài Loan, trong đó có phim “Thế kỷ Tống Mỹ Linh”. Bộ phim này chia làm 3 tập, tập 1 là “Phương Đông và phương Tây”, mở màn thời kỳ chói sáng nhất của cuộc đời Tống Mỹ Linh đến thời kỳ năm 1943, Trung Quốc đối mặt với thời kỳ khó khăn gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Nhật, Tống Mỹ Linh diễn thuyết bằng tiếng Anh với giọng miền Nam nước Mỹ lưu loát tại Quốc hội Mỹ. Tiếp đó là cuộc phỏng vấn của đoàn làm phim “Thế kỷ Tống Mỹ Linh” với giáo sư Thạc Chi Du, giáo sư hệ Chính trị, Trường Đại học Đài Loan phân tích về “hiện tượng Tống Mỹ Linh” thịnh hành tại nước Mỹ khi ấy.

Câu hỏi thứ ba: Cuối đời tại sao kiên trì ở Mỹ?

Ngày 21-9-1991, bà Tống Mỹ Linh lại một lần nữa rời khỏi Đài Loan, sang Niu Y-oóc. Bà Tống Mỹ Linh vốn không muốn sang Mỹ, vì sao lại thay đổi chính kiến?

Tưởng Giới Thạch, Tống Mỹ Linh và tướng Mỹ Stin-oen thăm Miến Điện, tháng 4-1942.

Theo phân tích của báo chí Đài Loan, thì có mấy nguyên nhân dưới đây:

Thân tộc của bà Tống Mỹ Linh tại Đài Loan ít ỏi, sinh hoạt tịch mạc. Trong thời gian 5 năm, kể từ sau khi bà Tống Mỹ Linh từ nước Mỹ trở về Đài Loan vào tháng 10-1986 đến tháng 9-1991, gia tộc họ Tưởng gặp 3 biến cố lớn: Một là Tưởng Giới Thạch qua đời, hai là trưởng nam Tưởng Kinh Quốc qua đời, ba là cháu trai Tưởng Hiếu Vũ rất có tài cũng đột nhiên từ trần. Đặc biệt là sự qua đời của Tưởng Hiếu Vũ, gián tiếp ảnh hưởng đến tuyên cáo của mọi người: “Gia tộc họ Tưởng khống chế cục diện chính trị Đài Loan lâu dài đến 40 năm, đã chính thức rút khỏi vũ đài chính trị.”

Tuy bà Tống Mỹ Linh tỏ ra “tương đối kiên cường”, nhưng sau cái chết của Tưởng Hiếu Vũ, nhân vật quan trọng của đời thứ ba của gia tộc họ Tưởng rõ ràng là một đòn nặng nề đối với bà. Hơn nữa, sự mất mát ấy lại có quan hệ mật thiết với sự nổi dậy của phong trào “độc lập của Đài Loan”.

Từ sau năm 1978, Tống Mỹ Linh thị lực, thính lực suy thoái nghiêm trọng, bác sĩ cho rằng khí hậu của Đài Loan không thích nghi với bà, mà khí hậu ở Niu Y-oóc tương đối thích hợp.

Tống Mỹ Linh đã từng bị coi là “một vị tượng trưng tinh thần cuối cùng của gia tộc họ Tưởng”, bà đi Mỹ chuyến này coi như viết dấu chấm hết về sự ảnh hưởng của gia tộc họ Tưởng trên chính trường Đài Loan.

Câu hỏi thứ tư: Khoản chi khổng lồ tại Mỹ dựa vào ai?

Tờ “Thời báo Chu San” (Đài Loan) đưa tin: Dưới cái tên Tống Mỹ Linh không có một chút tài sản, cũng không có bất cứ khoản thu nhập nào, thế thì những năm này bà dựa vào đâu mà sinh hoạt, mỗi năm cần khoảng bao nhiêu tiền?

Sau khi rút ra khỏi vũ đài chính trị Đài Loan, bà Tống Mỹ Linh có quan hệ mật thiết nhất với một số bộ ngành ở Đài Loan mà cái chính là “Tổng thống phủ”, ngoài ra, còn nhà trường và bệnh viện mà bà trực tiếp ra tay sáng lập.

Bà tuy sống tại nước Mỹ, năm 2003 “Tổng thống phủ” lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) vẫn biên chế cho bà 3 nhân viên phục vụ và 2 người lái xe, với tổng dự toán khoảng 4,16 triệu TWD (đô-la Đài Loan, 1 đô-la Đài Loan tương đương 28,88TWD-ND). Hơn nữa, còn phái nhân viên y tế thường trú tại Mỹ, tiền lương mỗi người mỗi tháng chí ít cũng 5 vạn TWD, cộng thêm tiền thưởng ngày Tết ngày nghỉ phép, 6 người mỗi năm chí ít cũng tiêu tốn 60 triệu TWD. Cho nên, để chăm sóc phục vụ bà Tống Mỹ Linh, mỗi năm phải chi ít nhất cũng là 100 triệu TWD.

Đãi ngộ hậu hĩnh với bà Tống Mỹ Linh như vậy, đương nhiên có cơ sở của nó. Sau khi Tưởng Giới Thạch qua đời, tháng 5-1978, nhà đương cục Đài Loan ban bố “Biện pháp thực thi Điều lệ đãi ngộ Tổng thống mãn nhiệm”, quy định vợ (hoặc chồng) của “Tổng thống mãn nhiệm” ngoài việc được mời tham gia các cuộc lễ lớn, còn có thể được thụ hưởng 2 xe giao thông và 2 lái xe; 3 hoặc 4 nhân viên giúp việc và kinh phí sự vụ; điều trị bệnh tật trong và ngoài khu vực Đài Loan, bao gồm tất cả những chi phí cần thiết trả lương cho bác sĩ riêng và kinh phí kiểm tra sức khỏe, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế sẽ do “Cục An ninh quốc gia” cung cấp cảnh vệ an ninh.

Nhưng, cũng có tin truyền miệng nói rằng, bà Tống Mỹ Linh không hoàn toàn dựa vào chi tiêu do phía Đài Loan cung cấp, mà còn có “nguồn tài chính bí mật” năm xưa của những người trong gia tộc họ Tưởng, về chân tướng việc này như thế nào, có lẽ chỉ có bà Tống Mỹ Linh tự mình am hiểu.

“Đây là một người đàn bà cứng như thép”

Sau khi cuộc nội chiến giữa Quốc dân đảng với Đảng Cộng sản Trung Quốc nổ ra, Tống Mỹ Linh làm sứ mệnh đặc sứ ngoại giao con thoi giữa Quốc dân đảng và những nhân vật chóp bu của chính phủ Mỹ.

Ngày 18-2-1943, Tống Mỹ Linh trở thành người nước ngoài đầu tiên đăng đàn diễn thuyết tại Hội nghị liên tịch Hạ viện và Thượng viện Mỹ.

Khi tại Mỹ, Tống Mỹ Linh cố ý giữ gìn hình ảnh về cử chỉ lời nói biểu lộ phái dân chủ kiểu Trung Quốc, nhưng người Mỹ rất nhanh nhận ra sự chuyên chế độc tài ẩn giấu trong nội tâm bà ta.

Một lần, trong một bữa tiệc chiêu đãi ban trưa tại Nhà Trắng, đúng vào lúc bàn luận về công hội của công nhân mỏ Mỹ đang bãi công, Tổng thống Ru-dơ-ven (Roosevelt) bèn hỏi Tống Mỹ Linh: “Nếu như Tưởng Giới Thạch gặp chuyện như thế này, thì sẽ xử lý ra sao?”. Tống Mỹ Linh không nói, trái lại dùng móng tay dài thoa son đỏ vạch một đường cong vào cổ họng. Ru-dơ-ven bất giác thót tim, nghĩ thầm may mà mình ngồi đối diện với bà ta, mà không phải ngồi cùng trên một ghế sô-pha.

“Đây là người đàn bà cứng rắn như thép”. Sau này, Tổng thống Ru-dơ-ven đã nhận định bà ta như vậy.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Làm điệp viên vì tình yêu với Cu-ba

QĐND – Năm 2010, Bộ Tư pháp Mỹ đã chính thức tuyên bố sự vụ một đôi vợ chồng người Mỹ từng làm việc tại Bộ Ngoại giao bị bắt vì tội làm gián điệp cho Cu-ba suốt 30 năm. Đó là cựu quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao Mỹ Uôn-tơ Ken-đô Mai-ơ (Walter Kendall Myers) 72 tuổi và vợ là Goen-đô-lin Xtên-gra-bơ Mai-ơ (Gweldolyn Steingraber Myers) 71 tuổi.

Hai vợ chồng Mai-ơ đã bị FBI (Cơ quan Điều tra liên bang Mỹ) bắt giam vào 4-6-2009 vì bị nghi làm gián điệp cho Cu-ba. Đây là kết quả của chiến dịch mà các nhân viên phản gián Mỹ đã chuẩn bị kỹ lưỡng trong suốt nhiều tháng. Uôn-tơ từng có chân trong biên chế Bộ Ngoại giao Mỹ từ năm 1977 đến năm 2007. Vào năm 1985, ông được phép tiếp cận với thông tin mật, từ năm 1999 ông được sử dụng các tài liệu có đóng dấu “đặc biệt quan trọng”. Theo khẳng định của các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ, việc phát giác thành công hai điệp viên của La Ha-ba-na sau khi một nhân viên FBI mạo nhận là điệp viên Cu-ba và liên lạc với họ vào tháng 4-2009. Hai vợ chồng Mai-ơ đã tin tưởng người này và đã gặp ông ta vài lần tại các khách sạn ở Oa-sinh-tơn. Tổng hợp các tội danh được đưa ra thì họ có nguy cơ bị kết án không dưới 30 năm tù. Theo giới báo chí Mỹ khẳng định thì Mai-ơ và vợ ông đã làm việc cho Cu-ba gần 30 năm.

Uôn-tơ và Goen-đô-lin Mai-ơ.

Uôn-tơ Mai-ơ là cựu viên chức ngoại giao Mỹ đã có cuộc tiếp xúc với các cơ quan đặc vụ Cu-ba ngay từ năm 1978 trong thời gian đi thăm Cu-ba. Theo khẳng định của ông thì chuyến đi này được thực hiện vì những lợi ích cá nhân và chỉ mang tính khoa học thuần túy. Mai-ơ có bằng tiến sĩ luật của Trường Đại học tổng hợp Giôn Hốp-kin (John Hopking). Theo như thông báo của Bộ Tư pháp Mỹ thì 6 tháng sau chuyến thăm Cu-ba của ông Mai-ơ, có một nhân viên của một trong những cơ quan mật vụ Cu-ba đã tới nhà vợ chồng Mai-ơ khi đó còn ở bang Nam Dacota và đề nghị họ cộng tác. Hai người này đã đồng ý. Uôn-tơ được mang bí số “Điệp viên 202”, còn bà Goen-đô-lin có bí số “Điệp viên 123”. Họ đã duy trì mối liên hệ với tình báo Cu-ba qua những phương tiện đã được kiểm tra từ lâu. Hai vợ chồng Mai-ơ đã sử dụng đài thu phát sóng ngắn, bảng chữ cái moóc-xơ và những bức điện được viết bằng loại mực đặc biệt. Chỉ mãi những năm gần đây họ mới dùng thư điện tử để gửi tin tức hợp tác với La Ha-ba-na. Họ gửi những thông báo dạng mật mã từ quán cafe-internet. Những buổi gặp gỡ của hai vợ chồng điệp viên với các nhân viên đặc vụ Cu-ba được thực hiện trong các chuyến đi khắp Nam Mỹ và các nước vùng biển Ca-ri-bê.

Sau khi bị bắt, Uôn-tơ Mai-ơ kể với các nhà điều tra rằng những tin tức mật được họ chuyển cho giới lãnh đạo Cu-ba được ông thuộc lòng, hoặc là được đánh dấu để không bỏ qua những chi tiết quan trọng. Theo tin tức của báo chí, chỉ trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu, điệp viên Uôn-tơ đã cung cấp cho La Ha-ba-na 200 tài liệu mật của Bộ ngoại giao Mỹ. Theo tuyên bố của một cựu nhân viên cơ quan đặc vụ Mỹ thì mọi người đều biết rằng, chính quyền Cu-ba không trả một khoản đáng kể nào cho những người cung cấp thông tin. Và quả thật là trong quá trình điều tra sơ bộ đã xác định được rằng, đôi vợ chồng này chỉ nhận được một khoản thưởng không đáng kể cho công lao của họ. Ông bà Mai-ơ khẳng định rằng động cơ chính cho những hoạt động của họ là tình yêu sâu sắc đối với đất nước Cu-ba và cơ cấu xã hội ở Hòn đảo Tự do.

Vợ chồng Mai-ơ đã sống ở một trong những vùng có đặc quyền đặc lợi của Oa-sinh-tơn trong nhiều năm và được tự do đến phòng của các thành viên chính phủ, các nghị sĩ, thượng nghị sĩ và các viên chức cấp cao của Bộ Tư pháp. Họ đã tích cực tiếp xúc với cả cựu ứng cử viên tổng thống Mỹ Ba-ry Gôn-oát-tơ (Barry Goldwater). Theo thông báo của đại diện các cơ quan bảo vệ pháp luật, Cu-ba đã tặng vợ chồng Mai-ơ một số huy chương.

Uôn-tơ Mai-ơ là cháu trai của Gin-bớc Grô-xvơ-nơ (Gilbert Grosvenor), người được công nhận là tác giả kinh điển của ảnh phóng sự Mỹ, hơn 50 năm làm lãnh đạo Hội Địa lý Mỹ, là Tổng biên tập và là nhà xuất bản tạp chí nổi tiếng National Geographic Magzine – tạp chí Địa dư quốc gia. Mai-ơ cũng là chắt của một nhà khoa học Mỹ về đại dương cũng không kém phần nổi tiếng – nhà sáng chế và kinh doanh gốc Xcốt-len, người đặt nền móng chính của công nghệ điện thoại A-lếch-xăng Beo (Aleksandr Bell), người sáng lập công ty Bell Telephone Company, định ra toàn bộ sự phát triển tương lai của ngành truyền thông Mỹ.

(Theo Báo Độc lập – Nga)

Ngọc Bích
qdnd.vn

Sĩ quan Việt Nam Cộng hòa dưới mắt các nhà địch vận

QĐND – Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cơ quan địch vận các đơn vị đã tiến hành nghiên cứu đội ngũ sĩ quan Quân đội Sài Gòn (nhất là số sĩ quan từ cấp đại tá trở lên), đi sâu khai thác về lai lịch, xu hướng, thái độ chính trị, quan hệ phe phái và cả… cách kiếm tiền của đội ngũ này. Qua phân tích, tổng hợp từ các nguồn tài liệu và khai thác tù, hàng binh, các cán bộ của ta đã có những đánh giá về thực chất đội ngũ sĩ quan đối phương để phục vụ cho công tác địch vận.

Dưới đây là vài nét “chân dung” những sĩ quan chóp bu thuộc Quân đoàn 3 địch, những sĩ quan từng nằm trong “hồ sơ nghiên cứu” của các cơ quan địch vận ở thời điểm tháng 11-1973.

Viên Tư lệnh thích tiệc tùng

Phạm Quốc Thuần khi đang là Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn 3 của Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Phạm Quốc Thuần quê gốc miền Bắc (tỉnh Hà Đông cũ). Tháng 8-1951, Thuần đi lính cho Pháp, sau đó theo học và tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt. Thuần đã trải qua các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 – Sư đoàn 21; Tham mưu trưởng Sư đoàn 22; Tham mưu trưởng Sư đoàn 5; Đổng lý Văn phòng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tháng 6-1966, khi ở tuổi 40, Thuần được thăng cấp chuẩn tướng, Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh; 3 năm sau được thăng cấp thiếu tướng và về làm Chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan bộ binh Thủ Đức. Sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, Thuần được cử làm Trưởng phái đoàn quân sự của chính quyền Sài Gòn tại Ban Liên hiệp quân sự bốn bên, đến tháng 10-1973 được Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3 và nhận lon trung tướng.

Thuần là người có dáng mập, thường hay đeo kính trắng, ăn nói hoạt bát nhưng tác phong làm việc của viên tướng này lại ít sâu sát cấp dưới, có tính gia trưởng và thường ham thích tiệc tùng. Qua khai thác, các tù binh từng là lính của Thuần cho biết: Trình độ chỉ huy của Thuần ở mức khá và anh ta thường xuyên viết sách phổ biến những kinh nghiệm của mình trong cuộc chiến chống lại Quân giải phóng. Là người thuộc phe thân cận với Tổng thống Thiệu, Thuần đã trực tiếp đề xuất nhiều ý kiến về việc cải tổ quân đội và từng được Thiệu, Mỹ tín nhiệm. Nhà riêng viên tướng 3 sao này nằm trong khu vực dành cho chỉ huy Trường Sĩ quan Thủ Đức, gia đình Thuần thuộc loại giàu có.

Tướng một sao không ưa Mỹ

Viên Tư lệnh phó Quân đoàn 3 Đào Duy Ân sinh năm 1932, quê ở Cần Thơ. Trưởng thành từ “lò” thiếu sinh quân do Pháp đào tạo ở Vũng Tàu, Ân vào học khóa 4 Trường Võ bị Đà Lạt. Sau khi tốt nghiệp, Ân về Binh chủng Pháo binh và sau đó nhận chức Chỉ huy trưởng Pháo binh của Quân đoàn 3. Năm 1960 Ân được cử đi học chuyên ngành pháo binh ở Mỹ, một năm sau về nước giữ chức Chỉ huy trưởng pháo binh Quân đoàn 2 và 4 năm sau là Tham mưu trưởng Trường Sĩ quan Thủ Đức. Tháng 7-1970, Ân được phong chuẩn tướng, Tư lệnh phó Quân đoàn 3.

Ân có dáng người thấp bé, nước da trắng và là người thích đọc sách. Theo thông tin khai thác từ tù binh, Ân có cảm tình với Pháp nhiều hơn với người Mỹ, đồng thời thái độ chính trị của anh ta đối với chính quyền Sài Gòn cũng không rõ ràng. Leo tới chức Tư lệnh phó Quân đoàn nhưng Ân luôn là kẻ được bạn bè tin tưởng và cả trên, dưới đều được lòng. Khác với số đông những gia đình tướng lĩnh Quân đội Sài Gòn, đời sống gia đình Ân không thuộc diện giàu có mà chỉ ở mức trung bình.

Tướng dù “thất thế”

Viên tướng một sao Hồ Trung Hậu sinh năm 1931, quê ở Kiến Hòa (nay là tỉnh Bến Tre). Hậu đi lính từ tháng 11-1953, sau đó tốt nghiệp Trường Sĩ quan bộ binh Thủ Đức. Năm 1970, Hậu leo dần tới chức Tư lệnh Sư đoàn dù và tháng 5-1971 được thăng chuẩn tướng.

Viên tướng gốc dù này có vóc dáng cao lớn và nổi tiếng với các cuộc nhậu nhẹt, rượu chè. Binh lính dưới quyền từng kể lại rằng Hậu có thể nhậu từ sáng tới tận khuya. Hậu thường có thói quen chửi đổng và không ưa ai trong đội ngũ các tướng tá. Ít sâu sát cấp dưới nhưng lại là kẻ ham danh vọng, Hậu từng nhờ vả Cao Văn Viên và Ngô Quang Trưởng – những người thuộc phe cánh của Thiệu – lo lót, chạy chọt để leo lên chiếc ghế Tư lệnh Sư đoàn 21 – Quân đoàn 4. Đầu năm 1972, Hậu được giao chức Tư lệnh Sư đoàn 21, nhưng sau 7 tháng cầm quân ở địa bàn nóng bỏng thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà không “thể hiện” được vai trò của mình, Hậu bị đưa đi học tại Trường Cao đẳng Quốc phòng. Sau đó, viên tướng dù “thất thế” này được cử về Quân đoàn 3 giữ chức Chánh Thanh tra. Đời sống gia đình Hậu thuộc diện giàu có do cô vợ luôn biết dựa vào thế của chồng để kiếm tiền thông qua những phi vụ áp phe, buôn lậu…

Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

Trần Bá Di và “bài thu hoạch” trong trại cải huấn

Trần Bá Di. Ảnh tư liệu

QĐND – Trong số các viên tướng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Trần Bá Di không phải là một tên tuổi nổi bật bởi trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Di đang là Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Song trong những ngày ở lớp cải huấn dành cho sĩ quan cấp tướng, viên tướng 2 sao này lại gây chú ý cho các cán bộ ở lớp cải huấn bởi một “bài thu hoạch” dài tới 15 trang viết tay. Trong bản “tổng kết chiến tranh” ấy, Di đã rút ra một số “kinh nghiệm” và không ít những bài học đắt giá trong quãng đời binh nghiệp của mình…

Hồ sơ “Khai thác sĩ quan Quân đội Sài Gòn” của Cục Địch vận (tháng 11-1973) có ghi: Trần Bá Di sinh năm 1931, quê ở tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Tháng 8-1951, Di đi lính cho Pháp và sau đó theo học Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Năm 1957, Di được cử làm Tiểu khu trưởng Gò Công rồi leo lên chức Trưởng phòng 3 Quân khu Thủ Đức. Các năm 1958-1961, Di lần lượt được cử làm Phó tỉnh trưởng, rồi Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh (nay là tỉnh Hậu Giang). Năm 1966, Di được cử đi học Tham mưu cao cấp ở Mỹ, hai năm sau về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 4; đến tháng 7-1968, là Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 9 bộ binh (thế chỗ của Lâm Quang Thơ được cử về làm Chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan Đà Lạt). Tháng 4-1970, Trần Bá Di được thăng cấp chuẩn tướng, một năm sau được điều về làm Phó tư lệnh Quân đoàn 4 và nhận lon thiếu tướng.

Trần Bá Di luôn ra vẻ là một viên tướng có tác phong giao tiếp đàng hoàng, đứng đắn. Nhưng theo thông tin của binh lính dưới quyền và qua khai thác tù binh, được biết: Trong cuộc hành quân sang Cam-pu-chia năm 1970, Di đã tranh thủ vơ vét nhiều tài sản của nhân dân Cam-pu-chia về để làm giàu.

Trong nỗ lực thay tướng nhằm “đổi vận”, ít tháng trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, chính quyền Sài Gòn đã đưa Trần Bá Di về Trung tâm huấn luyện Quang Trung làm Chỉ huy trưởng, để rồi sau ngày 30-4-1975, viên tướng hai sao này đã trở thành học viên trong các lớp cải huấn của chính quyền cách mạng… Giống như các học viên cấp tướng khác, trong lớp cải huấn, Trần Bá Di đã có nhiều thời gian “nghiền ngẫm” để viết ra những bản đánh giá, tổng kết chiến tranh theo yêu cầu của lớp học.

“Kinh nghiệm” từ Sư đoàn 9

Những năm nắm quyền chỉ huy Sư đoàn 9 bộ binh là thời gian mà Trần Bá Di có nhiều va chạm với thực tế, vì thế Di đã rút ra một số “kinh nghiệm” nhằm “nâng cao tinh thần chiến đấu” cho binh sĩ của mình.

Di sớm nhận rõ điểm mạnh, điểm yếu của hai loại binh sĩ dưới quyền, đó là lính quân dịch và lính tình nguyện. Số lính quân dịch được viên Tư lệnh Sư đoàn chia ra thành hai loại: Quân dịch loại A là những thanh niên tự ý trình diện để thi hành nghĩa vụ, số này thường cam chịu số phận, ít đào ngũ, nhưng lại tham chiến rất chiếu lệ, chỉ mong được sống sót chờ ngày giải ngũ; quân dịch loại B là số bị bắt trong các cuộc hành quân, các đợt kiểm soát đột xuất của cảnh sát trên các trục lộ giao thông, số này do sợ hoặc không thích đi lính nhưng do bị cưỡng ép nên thường tìm đủ mọi cách để tự hủy hoại thân thể hoặc trốn tránh. Trần Bá Di đã không lạ lẫm với việc binh sĩ dưới trướng từng tìm cách hủy hoại thân thể bằng cách tự bắn vào chân, vào lòng bàn tay; cho lựu đạn nổ giữa hai ngón chân; buộc dây cao su ở ngón chân để ngón chân bị hoại tử, phải cắt bỏ hoặc bày trò lấy mủ cây xương rồng chà vào mắt để gây hỏng một mắt…

Khi phần đông binh sĩ trong Sư đoàn chủ yếu là lính quân dịch (chiếm 60%-70% quân số tác chiến), Di đã hạn chế tình trạng đào ngũ bằng cách cho kiểm soát chặt chẽ số lính quân dịch thông qua các tổ “đồng tâm”, tức tổ ba người, gồm: Một lính tình nguyện, hai lính quân dịch. Trong các đơn vị trực thuộc, Di còn thường xuyên “hâm nóng” các sắc luật trừng phạt tội đào ngũ và chỉ cho số binh sĩ của mình những “tấm gương” là các “lao công chiến trường” đang bị kỷ luật ngay tại đơn vị để họ từ bỏ ý định đào ngũ. Ngoài ra, Di còn xây dựng một đội ngũ hạ sĩ quan nòng cốt và bắt buộc các cấp chỉ huy từ Tư lệnh sư đoàn cho tới chỉ huy trung đội đều phải quan tâm, đảm bảo từ quân trang cho tới thực phẩm hằng ngày, tìm cách để các binh sĩ có gia đình riêng được vào hết trong trại gia binh… bởi theo Trần Bá Di, cách làm hiệu quả nhằm nâng cao tinh thần binh sĩ chính là dùng quyền lợi vật chất để lôi kéo và đề cao cá nhân thông qua những đợt khen thưởng đột xuất trong chiến đấu; cùng đó là một hệ thống “kìm kẹp” lẫn nhau bằng chính các binh sĩ và bộ máy an ninh chìm.

Bản “tổng kết chiến tranh” do Trần Bá Di viết trong thời gian ở trại cải huấn. Ảnh: Vũ Minh

Nhằm mục đích “lên dây cót tinh thần” cho binh sĩ, Sư đoàn 9 của Di còn tổ chức những buổi nói chuyện do các “hồi chánh viên” lên lớp với nội dung chính là cách thức đưa người vào hoạt động nội tuyến của đối phương, những hình thức mua chuộc, lôi kéo binh sĩ hoạt động cho cách mạng và một nội dung không thể thiếu là phần mô tả về “đời sống cực khổ” của người dân miền Bắc…

Thất trận vì tướng-quân “rệu rã”

Trong “bản thu hoạch” của mình, Di đã dành khá nhiều trang để kể về các hoạt động đấu tranh, phản chiến trong binh lính dưới quyền và khái quát thành 3 hình thức chính là: Chống hành quân; binh biến khởi nghĩa; đứng về phía nhân dân nhằm chống lại âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Khi Trần Bá Di về làm Tư lệnh Sư đoàn 9, cũng là khoảng thời gian chiến sự đang trở nên khốc liệt và các lực lượng từ quân chủ lực cho tới quân địa phương đều ghi nhận nhiều trường hợp binh sĩ tham gia vào các hoạt động phản chiến. Tại sư đoàn của Di, đã có biểu hiện một số sĩ quan cấp úy thường cố tình trình diện muộn lúc bắt đầu xuất phát hành quân hoặc giả ốm vào phút chót. Một số khác lấy lý do bỏ đơn vị không xin phép ngay trước lúc chuẩn bị hành quân rồi ở trong tình trạng vắng mặt trái phép tới 14 ngày (vì 15 ngày vắng mặt sẽ bị báo cáo đào ngũ và bị đưa ra tòa án quân sự). Sau 14 ngày, số này trở về đơn vị để rồi sau đó tiếp tục diễn lại trò “vắng mặt” trước khi có đợt hành quân mới…

Trong các năm từ 1969-1973, ở các tỉnh: Vĩnh Bình, Vĩnh Long, Chương Thiện, Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau, Định Tường, Kiến Hòa – những nơi mà Sư đoàn 9 thường đến tăng cường, chính Trần Bá Di đã phát hiện nhiều lần tại những đơn vị quân địa phương – nhất là cấp đại đội – có tình trạng binh sĩ tránh né các vùng căn cứ của cách mạng. Trên đường hành quân, chỉ cần gặp sự kháng cự nhỏ từ phía Quân giải phóng thì các đơn vị này đã tìm cách né sang hướng khác. Di viết: “Có tới 2/3 số báo cáo của các đơn vị trực thuộc sư đoàn thường hay phóng đại hoặc báo cáo hoàn toàn sai về các cuộc chạm súng để xin yểm trợ hỏa lực hoặc tăng viện. Nhiều lúc các bản báo cáo còn cho ra những số liệu “ẩu” là đã tới mục tiêu, trong khi họ vẫn còn ở cách mục tiêu chạm súng với Quân giải phóng tới 1-2 cây số…”. Theo Di, sở dĩ quân lính dám làm ẩu như vậy là vì họ biết lợi dụng những lúc sư đoàn không có máy bay lên thẳng hoặc máy bay kiểm soát vị trí của các đơn vị dưới mặt đất.

Năm 1973, khi hoạt động ở vùng Lái Hiếu (Long Mỹ, Chương Thiện) và vùng Hồng Ngự (Kiến Văn, Kiến Phong), có từ 4-6 tiểu đoàn của Sư đoàn 9 đã tìm cách tiến quân một cách chậm chạp. Lúc chạm súng, số này chỉ tham gia lẻ tẻ rồi ém quân nằm một chỗ, sau đó xin hỏa lực yểm trợ, tới sáng hôm sau khi Quân giải phóng ngưng nổ súng thì mới tiến vào trận địa trống. Khoảng tháng 3-1974, Tiểu đoàn quân địa phương thuộc Tiểu khu Phong Dinh xuất phát từ Hòa An hành quân vào vùng Xáng Bộ (Long Mỹ, Chương Thiện) có 30 lính và hạ sĩ quan đã bỏ súng, quân trang, lẩn trốn về nhà để tránh hành quân. Tình trạng này sau đó xảy ra đều khắp ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, trầm trọng nhất là tại các tỉnh: Chương Thiện, Phong Dinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Bình.

Trần Bá Di chua chát thừa nhận: “Khi Mỹ rút, quân lính Việt Nam Cộng hòa bắt đầu lo ngại, tinh thần chống đối cách mạng có khuynh hướng giảm. Trước những chiến thắng dồn dập của cách mạng ở Quân khu 2, Quân khu 3, áp lực nặng nề đã ảnh hưởng lên khắp miền Tây Nam Bộ, cả chỉ huy lẫn binh sĩ đều mất tinh thần. Số quân chủ lực tuy vẫn còn nòng cốt kìm kẹp nhưng phần lớn đã không còn muốn chiến đấu nữa. Tình trạng đào ngũ tăng vọt, cộng với việc tuyển mộ khó khăn, nên quân số ở các đơn vị chiến đấu đã trở nên hết sức bi đát”. Trong phần cuối bản “báo cáo tổng kết chiến tranh” của mình, Trần Bá Di còn nêu lên một thực trạng ở thời điểm những năm 1973-1975: “Số lính quân dịch vẫn còn bị kiểm soát nhưng trong thực tế họ không còn tinh thần chiến đấu nữa; với số lính bảo an, dân vệ, tình trạng còn bi đát hơn, họ rút khỏi các vùng chiến sự hoặc tìm cách tiếp xúc với Quân giải phóng cả bằng cách gặp trực tiếp lẫn qua máy truyền tin”.

Những lời thú nhận của viên tướng hai sao Trần Bá Di đã cho thấy phần nào nguyên nhân thất trận của một bộ máy mà trong đó các “tướng” đã từng được huấn luyện, đào tạo bài bản còn “quân” thì luôn được lên dây cót tinh thần bằng đủ mọi hình thức. Vậy mà bộ máy ấy đã sớm rệu rã và trở thành “đứa con rơi” ngay sau khi các “quan thầy” rút lui khỏi chiến trường miền Nam…

Bùi Quang Huy
qdnd.vn

Cảng Phòng Thành – tuyến hàng hải bí mật trung chuyển hàng viện trợ Việt Nam

QĐND – Ông Bao Văn Sinh không thể nào quên hai quyết sách mang tầm chiến lược của Thủ tướng Chu Ân Lai: Phê chuẩn “Công trình 322 Quảng Tây”, xây dựng cảng Phòng Thành trở thành khởi điểm của “Tuyến hàng hải bí mật chi viện Việt Nam” (22-3-1968) và Tiếp tục xây dựng mở rộng cảng Phòng Thành hiện đại cho tương lai (11-11-1972).

Nơi trung chuyển hàng viện trợ Việt Nam

Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, đế quốc Mỹ leo thang trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1967, hai nước Trung -Việt đã ký kết Nghị định thư về sử dụng tuyến hàng hải bí mật trên biển hai nước Trung-Việt và tàu, thuyền Việt Nam sơ tán đến cảng biển Trung Quốc.

Ngày 5-6-2009, Đồng chí Huỳnh Đảm, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khách mời của Liên hoan hữu nghị thanh niên hai nước Trung-Việt, thăm Cảng Phòng Thành.

Nhằm viện trợ tốt hơn cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc xem xét tình thế, quyết định xây dựng một cảng biển tại vùng duyên hải Quảng Tây. Thông qua thám trắc thực địa nhiều nơi, cuối cùng nhận định đảo Ngư Vạn cửa sông Phòng Thành khá lý tưởng.

Đây là một vịnh che giấu tốt, tránh gió tốt, mà cách đảo Cái Lân của tỉnh Quảng Ninh chỉ có 35 hải lý, rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa sang Việt Nam.

Sau khi lựa chọn xác định địa điểm, ngày 22-3-1968, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra văn bản phê chuẩn xây dựng cảng biển này, đặt tên là “Công trình 322 Quảng Tây”, bao gồm hai hạng mục phụ thuộc Xưởng đóng tàu Vệ Đông và Kho chứa dầu Ngưu Đầu.

Tháng 6-1968, công trình chính thức xây dựng. Cũng chính vào lúc này, anh Bao Văn Sinh đang làm kế toán đội sản xuất Bạch Sa của công xã Phòng Thành quê hương, từ biệt vợ yêu và hai đứa con nhỏ, với 28 tuổi xuân phơi phới, theo đại đội xây dựng, hăng hái đi đến công trường xây dựng “Công trình 322 Quảng Tây”.

Ông Bao Văn Sinh nhớ lại, đảo Ngư Vạn khi ấy không có đường, không có nước ngọt, không có điện, nơi người ở là lều gỗ, tắm giặt là nước biển, điều kiện công tác, sinh hoạt vô cùng gian khổ. Những việc này chưa thấm tháp gì. Điều khiến anh khó chấp nhận nhất là nhà ở gần trong gang tấc mà mấy tháng không được về nhà một lần, thậm chí không được thư từ, không được thổ lộ đơn vị công tác của mình với người ngoài.

Mặc dầu đại quân xây dựng gần một vạn người đến từ các địa phương trong cả nước, cùng hô vang khẩu hiệu “Nhiều, nhanh, tốt, rẻ”, lòng hướng về một chỗ, sức dồn vào một việc, không oán than, không nuối tiếc. Máy móc thiết bị không đủ, họ sử dụng công cụ thô sơ, lực lượng kỹ thuật mỏng yếu, họ tập trung bồi dưỡng huấn luyện tại chỗ; kinh nghiệm xây dựng cảng thiếu thốn, họ vừa làm vừa học. Không ít người vốn là công nhân xây dựng cầu đường, tại đây lại trở thành thợ cả chế tạo tàu xi măng; có người vốn là công nhân khoan thăm dò địa chất, ở đây cũng lại trở thành kỹ thuật viên khoan giếng nước ngọt; có người vốn là nông dân, tại đây lại trở thành công nhân làm đường…

Trải qua hơn một năm phấn đấu đổ mồ hôi và xương máu, đầu năm 1970, các nhiệm vụ của công trình xây dựng bước đầu cảng Phòng Thành đã hoàn thành mỹ mãn: Xây dựng thành công một cảng nổi cơ động cấp 2000 tấn, 4 cảng nhỏ cấp 500 tấn, một loạt hạng mục phối hợp như đường quốc lộ đi vào cảng, v.v…

Ngày 20-5 cùng năm, Cục Cảng vụ Phòng Thành thành lập.

Ngày 1-8-1972, cảng Phòng Thành đưa vào sử dụng, gánh vác nhiệm vụ trọng đại vận chuyển vật tư, vũ khí, trang bị kỹ thuật của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa chi viện cho cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Từ ấy, cảng Phòng Thành đóng vai trò là khởi điểm của tuyến hàng hải bí mật trung chuyển hàng viện trợ cho Việt Nam.

Vừa thiết kế vừa thi công, vừa vận chuyển hàng hóa

Theo đà khói lửa chiến tranh Mỹ-Việt loãng dần, công năng phục vụ chiến tranh của cảng Phòng Thành cũng ngày càng giảm đi.

Toàn cảnh thành phố cảng Phòng Thành (Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) hiện nay.

Có người lúc ấy cho rằng: Cảng Phòng Thành chỉ có thể duy trì hiện trạng, bảo lưu là một cảng nhỏ của địa phương.

Nhưng, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nhìn xa trông rộng. Ngày 11-11-1972, trên văn kiện “Tóm tắt báo cáo tình hình vận tải viện trợ Việt Nam”, ông đã hạ bút phê chuẩn và chỉ thị: “Bất luận Việt Nam đình chiến hay không, cảng Phòng Thành phải lập tức bí mật mở rộng xây dựng, hoàn thành đúng kỳ hạn”. Thủ tướng đã chỉ rõ phương hướng chiến lược xây dựng cảng Phòng Thành cho tương lai.

Tháng 10-1973, công trình xây dựng mở rộng giai đoạn 1 cảng Phòng Thành chính thức khởi công.

Đương nhiên, ông Bao Văn Sinh không sao quên được, khi ấy thi công dưới nước là vô cùng gian nan. Toàn bộ đội thi công vừa không có máy móc, thiết bị lớn đáp ứng nhu cầu xây dựng bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn, cũng thiếu thốn nghiêm trọng lực lượng kỹ thuật xây dựng cảng và kinh nghiệm thi công trên biển.

Những thứ họ có chỉ là máy trộn, máy cuốn, máy bơm nước giản đơn, và mỗi người có đôi bàn tay chưa thạo nghề.

Cuối cùng, vẫn là những kỹ sư của Viện Thiết kế thám sát giao thông Quảng Tây tham chiếu nguyên lý thi công xây dựng cầu đường, tự thiết kế ra phương án kết cấu giếng chìm trọng lực hai tay đòn, mới làm cho công việc xây dựng bến đỗ của cảng được đẩy cao tiến độ một cách hữu hiệu.

Mà nói đến phương pháp nội địa xây dựng hải cảng như vậy, đến nay ông Bao Văn Sinh vẫn không khỏi thấp thỏm trong lòng. Ông nói: Sau khi đặt giếng chìm hình lục giác, toàn bộ dựa vào thủ công cạo gỉ bên trong giếng, có lúc van không chặt, hoặc chân giếng mất thăng bằng, thì sẽ phát sinh hiện tượng nước phun lên, người ở bên trong chẳng khác nào những con kiến rơi vào trong máy giặt đang quay, nếu không kịp níu chặt dây thừng leo lên, thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Đưa đá xuống giếng ngầm cũng làm theo cách thủ công, không gánh thì vác, toàn dựa vào “chiến thuật biển người”, từng gánh một, từng khối một, từ trên bờ chuyển vào trong giếng chìm, cứ đi đi lại lại, có lúc làm như một người máy.

Chính là nhờ vào tinh thần cách mạng “khắc phục mọi khó khăn” ấy, những người xây dựng đã sáng tạo một kỳ tích trên biển Trung Quốc.

Ngày 22-3-1975, đã xây dựng thành công bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn đầu tiên của tỉnh Quảng Tây, chẳng những kết thúc lịch sử không có bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn trên tuyến dọc bờ biển Quảng Tây dài 1.478km, mà còn viết nên một chương mới trong lịch sử xây dựng hải cảng của Trung Quốc.

Vừa xây dựng vừa vận chuyển, từ năm 1968 đến năm 1975, từ cảng Phòng Thành, vật tư viện trợ của các nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN bí mật xuyên qua khu vực đế quốc Mỹ phong tỏa thủy lôi, vận chuyển đến cảng Hải Phòng và cảng Cẩm Phả, đã có đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Chỉ trong từ năm 1970 đến năm 1972, tuyến này đã trung chuyển hơn 300 chiếc xe tăng, xe bọc thép, 8 vạn bộ áo chống đạn, rất nhiều thiết bị để lắp đặt 3000km đường ống dẫn dầu trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại.

Sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri về hòa bình ở Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ủy nhiệm Bộ trưởng Bộ Giao thông Việt Nam trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho cảng Phòng Thành.

Đến tháng 7-1983, Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phê chuẩn cảng Phòng Thành mở cửa cho tàu thuyền nước ngoài, dần dần vén lên bức màn thần bí của “tuyến hàng hải bí mật”.

Ngày 1-10 cùng năm, cảng Phòng Thành chính thức mở cửa đối ngoại.

Tháng 4-1984, Quốc vụ viện phê chuẩn cảng Phòng Thành là một trong 14 thành phố mở cửa đối ngoại của toàn quốc.

Đến khi ấy, ông Bao Văn Sinh vẫn là một thuyền trưởng có thâm niên.

Ông Bao Văn Sinh không thể nào quên hai quyết sách mang tầm chiến lược của Thủ tướng Chu Ân Lai: Phê chuẩn “Công trình 322 Quảng Tây”, xây dựng cảng Phòng Thành trở thành khởi điểm của “tuyến hàng hải bí mật chi viện Việt Nam” (22-3-1968) và Tiếp tục xây dựng mở rộng cảng Phòng Thành hiện đại cho tương lai (11-11-1972).

Nhờ hai quyết sách chiến lược ấy, Trung Quốc mới có thành phố cảng đối ngoại hiện đại hóa Phòng Thành như ngày nay: Có bến đỗ cấp 20 vạn tấn, có sức mạnh cạnh tranh trên trường quốc tế, với nhiều cái “nhất”: Cảng công-ten-nơ thứ nhất Quảng Tây, cảng cấp 20 vạn tấn thứ nhất Quảng Tây, cảng nhập khẩu lưu huỳnh lớn nhất toàn quốc, cảng vận chuyển lưu huỳnh chuyên nghiệp hóa duy nhất toàn quốc, v.v…

Vũ Phong Tạo (trích dịch theo http://www.xinhuanet.com, 22-2-2011)
qdnd.vn

Vì sao Hải quân ngụy Sài Gòn không chặn nổi “những chiến binh bí mật”?

QĐND – Hải quân Sài Gòn được phương Tây xem là một lực lượng phát triển nhanh nhất, rất hiện đại vào đầu những năm 70 của thế kỷ 20, nhưng lực lượng này đã không ngăn chặn được những “chiến binh bí mật” của Đoàn 125 Hải quân nhân dân Việt Nam, làm nhiệm vụ tiếp tế đường biển cho cách mạng miền Nam.

Di sản thực dân cũ

Trần Văn Chơn thời là Trung úy Hải quân của Pháp đầu những năm 50 của thế kỷ trước. Ảnh: Lưu trữ Hoa Kỳ

Cuối những năm 40 của thế kỷ 20, hải quân (ngụy) thuộc Pháp và chỉ có vỏn vẹn dăm tàu thuyền nhỏ.

Cuối năm 1954, người Pháp cho “Quân đội quốc gia” của Bảo Đại thừa hưởng một phần gia tài ở Đông Dương của họ. Đáng kể có 70 tàu chở quân và chiến xa (LCM), 3 tàu quét mìn, hai tàu tuần duyên (garde côtière GC), 200 ca-nô tuần tiễu nhỏ (vedette) các loại, và 3 tàu tuần tiễu (PC), 15 sà lan, trong đó chỉ có một sà lan máy, 3 tàu dắt (remorqueur)… Tất cả đều đã được khai thác nhiều năm.

Trong số sĩ quan hải quân (ngụy) của Pháp, chỉ có một đại úy, còn lại là trung úy, thiếu úy, trong đó có một số vừa tốt nghiệp Trường Hải quân Bơ-rét (Brest) (École Navale de Brest). Trần Văn Chơn, năm 1953 còn giữ chức Phó chỉ huy Biệt đoàn Hải giang xung kích số 23, tới 1956 đã được đôn lên Tư lệnh phó Hải quân cho chế độ Ngô Đình Diệm.

Tới tháng 7-1955, Hải quân Việt Nam cộng hòa (VNCH) chia làm Hải lực và Giang lực, có 3.858 quân, kể cả 1.291 lính thủy quân lục chiến (quân Sài Gòn lúc đó khoảng 150.000). Có 22 tàu chiến loại lớn. Hải quân VNCH bắt đầu nhận được sự chi viện ồ ạt của Mỹ về vật chất và các cố vấn, thông qua Cơ quan Viện trợ và Cố vấn quân sự Mỹ (MAAG).

Các căn cứ hải đoàn của Sài Gòn thời Diệm đặt ở Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên, Cát Lái. Các căn cứ của lực lượng tuần tiễu ven bờ (duyên khu), đặt ở Phú Quốc, Nha Trang (gồm cả Trung tâm huấn luyện Hải quân), Vũng Tàu, Đà Nẵng.

Khởi chiến chống “Đoàn tàu không số”

Theo Nach Jim (Nát-sơ Gim) trong Lịch sử hình thành cơ cấu chỉ huy và lực lượng vũ trang của VNCH(1), từ cuối những năm 50 (thế kỷ 20), Bắc Việt Nam bắt đầu đưa người và vũ khí vào lãnh thổ VNCH bằng đường biển. Để ngăn chặn, chính quyền Sài Gòn đã thành lập Lực lượng Hải thuyền (Coastal Junk Force), lấy quân từ lực lượng bán chính quy để tuần biển, sau đổi tên thành các Duyên đoàn (Costal Groups). Lực lượng này được điều binh bố trận bởi các Vùng chiến thuật, hơn là thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của Hải quân VNCH.

Năm 1964, khi “Chiến tranh đặc biệt” thất bại, quân số là 8.100 lính; năm 1967, hải quân Sài Gòn đã lên tới 16.300 quân, 639 tàu chiến. Phương Tây đánh giá: “Với sự hiệp trợ của Mỹ, hải quân Sài Gòn đã nhanh chóng trở thành một trong những hải quân lớn nhất thế giới, với 4,2 vạn quân, gần 1.500 chiến thuyền (672 tàu xuồng đổ bộ, 20 tàu rải thủy lôi, 450 tàu tuần tiễu, 56 tàu hậu cần trợ chiến, và 242 ca-nô chiến đấu(2)).

Về các chiến dịch chống Đường Hồ Chí Minh trên biển như Market Times (Phiên chợ) hải quân Sài Gòn hợp lực với hệ thống kiểm soát của hải quân và không lực Mỹ đồ sộ, dày đặc, hiện đại. Tuy vậy, một câu hỏi lớn đặt ra: “Chiến hạm của Hoa Kỳ nhập cuộc rất đông, xem như vây kín duyên hải VNCH. Thế nhưng Cộng sản Bắc Việt có chịu chùn bước xâm nhập không?”.

Theo các cố vấn Mỹ, ngay sau Hiệp định Pa-ri, hải quân Sài Gòn được đánh giá đứng hàng thứ tư thế giới về trang bị. Nhưng Sài Gòn vẫn “xin” thêm tàu to hơn, hiện đại hơn. Theo tờ Vietnam Courrier (Tin tức Việt Nam), phỏng vấn các cựu “đô đốc, đề đốc Sài Gòn”, họ làm thế chủ yếu để làm giàu.

Nguyễn Văn Thiệu xây dựng Hải quân VNCH như… thương vụ tỷ đô, ém sẵn các tay chân của mình. Đề đốc Chung Tấn Cang (Tư lệnh những năm 1963-1965), đã trục lợi trong vụ cứu trợ nạn nhân lụt năm 1965; Lâm Ngươn Tánh, bạn đồng khóa với Thiệu tại Trường Hàng hải cuối những năm 40 của thế kỷ 20, đã khét tiếng buôn lậu từ hồi còn chỉ huy cụm căn cứ Rạch Sỏi – Tân Châu – Long Xuyên. Trần Văn Chơn, hai lần tư lệnh, không hẳn do hai lần làm Giám đốc Binh xưởng Hải quân và từng là Tư lệnh Hải quân thời Diệm, mà có lẽ do luôn “bao (và) che” Thiệu, khi “tổng thống” này xuống Ô Cấp (Vũng Tàu) du hí.

Gần đây, các cựu chỉ huy hải quân Sài Gòn vẫn còn ca ngợi Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ thời “Việt Nam hóa”, đã cấp tốc chuyển giao hơn 500 chiến hạm, tàu chiến các loại cho hải quân VNCH, theo đúng lịch trình của kế hoạch ACTOV (Accelerated Turnover to the Vietnamese)(3).

Tư lệnh Hải quân VNCH Trần Văn Chơn (trái) và Đô đốc Mua-rơ (T. Moore) Tư lệnh các chiến dịch Hải quân Mỹ, thanh tra một đơn vị hải quân Sài Gòn vừa nhận bàn giao tuần tiễu từ một đơn vị Hải quân Mỹ, tháng 9-1969. Lưu trữ quân đội Mỹ

Đó là vì tài sản của họ từng tăng vọt nhờ “Việt Nam hóa”? Các chuyến đi Gu-am, Phi-líp-pin, Ô-ki-na-oa, Hồng Công, ngay cả Oa-sinh-tơn hay Niu Y-oóc để nhận tàu, để huấn luyện trên các tàu chiến hay tại các công xưởng hải quân Mỹ, thường kéo dài hàng tuần, hàng tháng, có khi nửa năm. Đây là dịp tốt cho các sĩ quan cao cấp đầu cơ ngoại tệ, vàng và bạch phiến. Họ thường trở về trong túi đầy ắp đô-la sau những chuyến đi này. Như Trần Văn Chơn thừa nhận với Vietnam Courrier, những chiến hạm do Mỹ chuyển giao gồm cả những chiếc cũ, cần sửa chữa thường xuyên, những dịp này cũng trở thành “thương vụ” béo bở cho sĩ quan hải quân.

Theo Vietnam Courrier, các vụ buôn lậu bạch phiến qua công cán chính thức của Hải quân VNCH khiến công luận Mỹ xôn xao. Bạch phiến phát xuất từ vùng Tam Giác Vàng (Miến Điện – Thái Lan – Lào) được buôn lậu Thái Lan đưa lên các chiến hạm của hải quân VNCH, hoặc từ Hạ Lào qua các tàu chiến trên sông Cửu Long trong lãnh thổ Cam-pu-chia. Đường dây này do Thiệu và tướng Đặng Văn Quang tổ chức, bảo kê, đem lại lời lãi lớn hơn đường buôn lậu hàng không của Nguyễn Cao Kỳ.

Mỗi Bộ tư lệnh Vùng Hải quân (Coastal Zone), mỗi bến cảng quân sự là một cấm địa dành riêng cho một tướng tá. Viện lẽ “an ninh quốc gia”, hay “bảo mật quân sự” cấm dân chúng bén mảng tới các khu tàu đậu. Trên thực tế, đó là những địa điểm bốc dỡ hàng nhập cảng lậu. Hàng hóa càng thuộc loại quốc cấm, càng đầy rẫy tại những khu vực này.

Năm 1976, tại trại cải tạo dành cho các tướng Sài Gòn, có một nhân vật tròn trĩnh, hồng hào, tuổi trạc 55, trông vẻ trẻ trung. Đó là Trần Văn Chơn, cựu Tư lệnh Hải quân Sài Gòn. Ông ta cố sống tách biệt, ăn uống một mình, làm bộ kiêng khem, “tu tại gia”. Ông ta tự giới thiệu mình rất ham đọc sách Kinh Phật “để tìm thấy niết bàn trong tâm hồn”. Tuy nhiên, những cựu sĩ quan các binh chủng khác của Sài Gòn kháo nhau: “Mẹ kiếp, cả một đời sống trong chùa cũng không tẩy rửa được những hành động xấu xa trong hải quân (Sài Gòn)”, Vietnam Courrier viết tiếp.

Đặng Lê
qdnd.vn

(1)http://www.buttondepress.com/secretstuff/ttu2006/Units.pdf, tr. 31.

(2)http://en.wikipedia.org/wiki/Republic_of_Vietnam_Navy

(3)http://haisu.tripod.com/toanthe.htm

Sự chỉ đạo sáng tạo, linh hoạt của Đảng với Đường Hồ Chí Minh trên biển

QĐND – Ngay từ khi mới bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã sớm khẳng định công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định.

Năm 1959, sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Cách mạng miền Nam có bước phát triển mạnh mẽ. Yêu cầu về người và vũ khí ngày càng lớn.

Nhằm đáp ứng yêu cầu trên, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, đầu tháng 5-1959, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) và Bộ Tổng tư lệnh thành lập Đoàn 559, có nhiệm vụ mở đường giao liên và vận tải trên bộ, đưa người, vũ khí cùng những mặt hàng thiết yếu từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường.

Bác Hồ thăm Bộ đội Hải quân tại đảo Vạn Hoa (Quảng Ninh), năm 1962. Ảnh tư liệu.

Đồng thời với việc tổ chức tuyến đường trên, tháng 7-1959, Bộ Chính trị giao cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nghiên cứu mở tuyến vận chuyển chi viện chiến lược trên biển. Theo nhận định của Bộ Chính trị, trong 3 đến 4 năm tới, dù cố gắng đến mức cao nhất, Đoàn 559 cũng chưa thể mở được đường vận tải dọc theo dãy Trường Sơn vào các chiến trường xa là Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Đường biển sẽ là hướng rất quan trọng vì có thể vận chuyển từng chuyến tương đối lớn, nhanh hơn, kịp thời hơn vào các chiến trường trên. Vì vậy, một mặt Bộ Chính trị giao cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo các cơ quan khẩn trương khảo sát hàng hải, nắm địch, tổ chức bến bãi, mặt khác chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ đưa thuyền ra miền Bắc nhận vũ khí.

Sau một thời gian nghiên cứu chuẩn bị, ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759 vận tải quân sự đường biển. Được sự quan tâm chỉ đạo của cấp trên, sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của cấp ủy, chính quyền và nhân dân một số địa phương, Đoàn 759 nhanh chóng xây dựng lực lượng, chuẩn bị phương tiện, tổ chức trinh sát nhằm nắm chắc quy luật tuần tra, ngăn chặn trên biển của địch; hiệp đồng với các tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ xây dựng các bến bãi tiếp nhận và tổ chức lực lượng vận chuyển vũ khí. Theo yêu cầu của đoàn, Bộ Quốc phòng làm việc với Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ cho Xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng bí mật nghiên cứu đóng loại tàu vỏ gỗ gắn máy đúng theo kiểu dạng ngư dân Nam Bộ vẫn sử dụng để phục vụ cho công tác vận chuyển.

Tổng bí thư Lê Duẩn thăm Đoàn 125. Ảnh tư liệu.

20 giờ ngày 11-10-1962, chiếc tàu vỏ gỗ đầu tiên chở hơn 30 tấn vũ khí mang mật danh Phương Đông I do đồng chí Lê Văn Một làm Thuyền trưởng, đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên, cùng 13 cán bộ, đảng viên rời bến Vạn Sét (Đồ Sơn) lên đường vào Nam Bộ. Do tính chất quan trọng của chuyến đi, cán bộ, chiến sĩ tàu Phương Đông I được các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Hùng (Phó thủ tướng Chính phủ); Nguyễn Chí Thanh (Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương) và các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Ung Văn Khiêm (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao); Phan Trọng Tuệ (Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải); Nguyễn Văn Vịnh (Trưởng ban Thống nhất Trung ương); Trần Văn Trà (Phó tổng Tham mưu trưởng) xuống tận nơi động viên, đưa tiễn. Sáng 19-10, tàu Phương Đông I vào cửa Bồ Đề và cập bến Vàm Lũng (xóm Rạch Gốc, xã Tân An, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau) an toàn.

Tuyến chi viện chiến lược – Đường Hồ Chí Minh trên biển chính thức được khai thông. Khu ủy Khu 9 lập tức điện báo cho Trung ương. Nhận được tin vui, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngay điện khen ngợi những người trực tiếp góp công sức lập nên chiến công đầu tiên. Người chỉ thị: “Hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh hơn nữa, nhiều hơn nữa vũ khí cho đồng bào miền Nam giết giặc, cho Nam Bắc sớm sum họp một nhà”(1). Tin vui đến với Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông đang chủ trì cuộc họp Quân ủy Trung ương. Quá mừng vui và xúc động, ông đề nghị hội nghị tạm giải lao, liên hoan nhẹ để mừng thành công của chuyến đi lịch sử này(2).

Xuất phát từ tình hình thực tế không thể cứ dùng tàu vỏ gỗ, Bộ Chính trị giao cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Quốc phòng nghiên cứu đóng tàu vỏ sắt có khả năng chịu đựng sóng gió tốt hơn, tốc độ cao hơn, trọng tải lớn hơn. Xưởng đóng tàu 3 Hải Phòng vinh dự được giao nhiệm vụ đóng loại tàu mới này. Ngày 8-12-1963, chiếc tàu vỏ sắt có trọng tải 100 tấn đầu tiên đã được đóng xong và được giao cho Đoàn 759. Trong năm 1964, các tàu 2, 3, 4, 5, 6 lần lượt được hạ thủy và được sử dụng ngay. Sau này, Bộ tư lệnh Hải quân còn đặt các xưởng đóng tàu ở Hải Phòng và nước bạn Trung Quốc đóng hàng chục tàu vỏ sắt trọng tải từ 50 tấn đến 100 tấn để phục vụ cho hoạt động của Đoàn 759.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện với Tiểu đoàn 1, Đoàn 125, năm 1969. Ảnh tư liệu.

Đồng thời với việc vận chuyển vào Nam Bộ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Hải quân nghiên cứu mở đường vận chuyển vũ khí bằng đường biển vào Nam Trung Bộ – một chiến trường có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Vận chuyển bằng đường biển vào Nam Trung Bộ tuy cung đường ngắn hơn nhưng lại hết sức khó khăn, nguy hiểm. Khó khăn lớn nhất là tìm địa điểm tổ chức bến bãi. Địa hình vùng ven biển Nam Trung Bộ trống trải, độ dốc lớn, không có nhiều kênh rạch và rừng ngập mặn như ở Nam Bộ. Các cửa sông mà tàu ta có thể vào để giao hàng thì đã dày đặc đồn bốt và căn cứ hải quân của địch. Đây lại là vùng nằm dọc theo Quốc lộ 1 nên địch tổ chức tuần phòng rất gắt gao. Cũng giống như ở Nam Bộ, việc tổ chức xây dựng các bến bãi ở Nam Trung Bộ đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của cấp ủy Đảng và nhân dân các địa phương. Tính đến năm 1965, hàng chục bến bãi tiếp nhận vũ khí đã được bí mật xây dựng ở một số tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chính hệ thống bến bãi tiếp nhận kể trên cùng với các bến xuất phát ở Hải Phòng, Quảng Ninh… đã góp phần rất quan trọng cùng các con tàu không số làm nên những chiến công huyền thoại.

Sau khi Tàu 143 bị địch phát hiện ở Vũng Rô, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương chỉ thị: Phải dừng ngay việc vận chuyển bằng đường biển vào miền Nam. Cần tổ chức rút kinh nghiệm sâu sắc về việc này từ cơ quan cấp trên đến đơn vị cơ sở để tiếp tục làm tốt hơn. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Quân ủy Trung ương chỉ đạo Bộ tư lệnh Hải quân và Đoàn 125 khẩn trương tiếp tế đạn dược cho các chiến trường. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc, ngày 3-5-1972, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết về nhiệm vụ chống phong tỏa thủy lôi bảo đảm giao thông vận tải biển. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ngày 24-3-1975, Quân ủy Trung ương báo cáo với Bộ Chính trị: Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo do quân ngụy đang chiếm giữ…

Như vậy, từ đầu cho đến kết thúc chiến tranh, trong từng thời điểm, giai đoạn cụ thể, Đảng ta luôn chỉ đạo sát sao, cụ thể và có những quyết sách chính xác với Đường Hồ Chí Minh trên biển. Cùng với Đường Hồ Chí Minh trên bộ, Đường Hồ Chí Minh trên biển là một sáng tạo chiến lược của Đảng và là kỳ công chiến lược của dân tộc ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

————

(1)Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb QĐND, H, 1992, tr.162.

(2)Dẫn theo: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2006, tr.151.

Đại tá, TS Vũ Tang Bồng
qdnd.vn

Chân tướng đối phương trên chiến trường Khu 5

QĐND – Với phương châm “biết địch biết ta”, đội ngũ cán bộ địch vận các đơn vị thuộc chiến trường Liên khu 5 đã phác họa những nét chân dung cơ bản về đối tượng sĩ quan Quân đội Sài Gòn nhằm phục vụ cho cuộc chiến “tâm công” vào hàng ngũ đối phương. Tư liệu dưới đây đề cập tới các viên tướng thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn 1, việc khai thác được tiến hành vào thời điểm tháng 12-1973.

Ngô Quang Trưởng khi đang là Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn 1 của Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Viên Tư lệnh Quân đoàn 1 Ngô Quang Trưởng xuất thân trong một gia đình điền chủ giàu có ở tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), tháng 11-1953 Trưởng tình nguyện đi lính cho Pháp, sau đó được cho đi học sĩ quan. Là sĩ quan gốc lính dù do Pháp đào tạo, năm 1954 Trưởng đã được chuyển ra Bắc bổ sung cho Tiểu đoàn 5 nhảy dù – một đơn vị lính ngụy sừng sỏ thời đó. Thật không may, lúc đó quân Pháp ở Điện Biên Phủ đang có nguy cơ bị tiêu diệt và khi Trưởng ra tới ngoài Bắc thì hai phần ba Tiểu đoàn dù 5 đã được ném xuống lòng chảo Điện Biên. Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, người Pháp thua trận, Trưởng may mắn sống sót và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn dù còn sót lại. Khi Tiểu đoàn dù 5 được lệnh chuyển vào Nam, Ngô Quang Trưởng lại được coi như một viên sĩ quan trẻ “dày dạn trận mạc”, từng “chết hụt” ở lòng chảo Điện Biên… Cứ thế, đường binh nghiệp của viên sĩ quan dù này tiếp tục trở nên hanh thông. Năm 1964, Trưởng là Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 5, đầu năm 1966 được thăng cấp Đại tá và làm Lữ trưởng Lữ dù.

Sau khi tham gia vụ đàn áp Phật giáo, tháng 6-1966, Trưởng được điều sang làm Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh. Tháng 2-1967, Trưởng được thăng cấp Chuẩn tướng. Sau sự kiện Mậu Thân 1968, Sư đoàn 1 do Trưởng làm Tư lệnh được Mỹ trang bị vũ khí tối tân, được huấn luyện chiến thuật mới nhằm phô trương thanh thế. Nhờ vậy, hình ảnh “cần mẫn” của Trưởng luôn cặp kè cùng các chuyên viên huấn luyện Mỹ và gây tiếng vang lớn trên báo chí cũng như dư luận Sài Gòn. Viên Tư lệnh sư đoàn đã được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng, trở thành một viên Tư lệnh “tài ba” nắm giữ Sư đoàn “Anh cả đỏ” của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Năm 1971, Trưởng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 4 thuộc Vùng 4 Chiến thuật. Tháng 4 năm sau, Trưởng được điều ra làm Tư lệnh Quân đoàn 1 và sau đó được thăng cấp Trung tướng.

Theo tù hàng binh cung cấp và qua dư luận báo chí Sài Gòn, ở thời điểm cuối năm 1973, Ngô Quang Trưởng được coi là một viên tướng “xông xáo”, hăng tác chiến, được sĩ quan dưới quyền và binh sĩ kính nể, được Tổng thống Thiệu tin dùng. Cũng có thông tin sở dĩ viên tướng 3 sao này được nhanh cất nhắc và thường được giao những nhiệm vụ quan trọng còn do Trưởng luôn coi phu nhân Tổng thống là “người nhà”.

“Thành đạt” hơn anh trai

Tư lệnh phó Quân đoàn 1 Lâm Quang Thi sinh năm 1932, quê ở Bạc Liêu, đi lính tháng 10-1950 và tốt nghiệp Khóa 3 Trường Võ bị Đà Lạt. Là lính gốc binh chủng pháo binh.

Sau khi tốt nghiệp, Thi được cho đi học pháo binh ở Pháp, sau đó về chỉ huy pháo binh cho quan thầy trong các năm từ 1946-1954. Năm 1963, với quân hàm Trung tá, Thi được điều về Bộ tư lệnh Pháo binh, sau đó làm Phụ tá hành quân ở Tiền Giang. Hai năm sau, khi ở tuổi 33, Thi được phong Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 9 bộ binh; năm 1967 được phong Chuẩn tướng.

Cũng thuộc phe cánh, “người nhà” của Nguyễn Văn Thiệu nên trong năm 1969 Thi được phong Thiếu tướng và về làm Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt từ 1969-1972. Sau đó, người về thay Lâm Quang Thi ở vị trí Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt (từ tháng 3-1972 cho tới ngày thất thủ Sài Gòn) lại chính là anh trai Thi – Thiếu tướng Lâm Quang Thơ – trước đó Thơ đang là Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh.

Thi được thăng cấp Trung tướng năm 1972 và được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Quân đoàn 1 kiêm Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1. Theo khai báo của tù binh, Thi là người tính tình nóng nảy, mặc dù là lính gốc binh chủng pháo binh nhưng lại khá dày dạn, có nhiều kinh nghiệm chiến trường và trình độ tham mưu được quan thầy đánh giá đạt mức khá.

Tướng “xây dựng nông thôn”

Tư lệnh phó Quân đoàn 1 Huỳnh Văn Lạc sinh năm 1927, quê ở Nam Định. Lạc xuất thân từ một thiếu sinh quân rồi đi lính cho Pháp từ năm 1947, sau đó được cử đi học sĩ quan tại Trường Sĩ quan Huế.

Năm 1957, Lạc đã là Trung tá, Tư lệnh Lữ đoàn liên minh phòng vệ Tổng thống, hai năm sau được giao chức Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Giang. Năm 1961 Lạc được phong Đại tá và được cử làm Đặc ủy viên phụ trách kế hoạch bình định ở Vùng 3 chiến thuật; năm 1966 là Tổng ủy viên xây dựng nông thôn, sau đó là Thứ trưởng xây dựng nông thôn. Hai năm sau, Huỳnh Văn Lạc được phong Chuẩn tướng và vẫn làm Thứ trưởng xây dựng nông thôn. Tới năm 1970, khi ở tuổi 43, Lạc nhận lon Thiếu tướng và được giao làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung – một Trung tâm làm nhiệm vụ “san sẻ” gánh nặng đào tạo sĩ quan cho các Trường bộ binh, nơi các khóa sinh phải trải qua khóa học 9 tuần trước khi được đào tạo tại các trường sĩ quan.

Năm 1973, Huỳnh Văn Lạc leo lên chức Tư lệnh phó Quân đoàn 1. Viên tướng này có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và luôn tỏ ra là một người kín đáo.

Vũ Minh
qdnd.vn

Những người con của danh nhân Lương Khải Siêu

QĐND – Lương Khải Siêu (1873-1929) là một trong 20 nhân vật nổi tiếng trong Tủ sách “Danh nhân Tân Hợi” vừa được xuất bản ở Trung Quốc, nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).

Nhân dịp này, từ nguồn tư liệu của Báo điện tử Tân Hoa xã (www.xinhuanet.com) và Từ điển điện tử Bách Độ (www.baidu.com), chúng tôi chọn dịch và giới thiệu một số người con của nhà tư tưởng, nhà văn, học giả Lương Khải Siêu, một trong những lãnh tụ của Phong trào Duy Tân trong lịch sử cận đại Trung Quốc.

Danh nhân Lương Khải Siêu có 9 người con trai, con gái, thứ tự là: Lương Tư Thuận, Lương Tư Thành, Lương Tư Vĩnh, Lương Tư Trung, Lương Tư Trang, Lương Tư Đạt, Lương Tư Ý, Lương Tư Ninh, Lương Tư Lễ. Trong đó, Tư Thuận, Tư Thành, Tư Trang là do bà Lý Huệ Tiên (1868-1923), vợ đầu của Lương Khải Siêu sinh ra; Tư Vĩnh, Tư Trung, Tư Đạt, Tư Ý, Tư Ninh, Tư Lễ là do bà Vương Quế Toàn (1885-1924), vợ hai của Lương Khải Siêu sinh ra.

Lương Khải Siêu và các con: Tư Thuận, Tư Thành, Tư Vĩnh (năm 1905). Ảnh: Quảng Châu Nhật báo

Trưởng nam Lương Tư Thành (1901-1972): Nhà kiến trúc học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Năm 1915, Lương Tư Thành vào học tập tại Trường Thanh Hoa, năm 1923 cùng Lâm Huy Nhân sang Mỹ lưu học, sau đó tốt nghiệp Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Pen-xin-va-ni-a (Pennsylvania), giành được học vị Thạc sĩ. Sau khi về nước năm 1928, ông tới Đại học Đông Bắc sáng lập Khoa Kiến trúc đầu tiên ở miền Bắc Trung Quốc. Ông là người đầu tiên vận dụng phương pháp khoa học hiện đại tiến hành phân tích, nghiên cứu kiến trúc Trung Quốc, mở ra con đường nghiên cứu lịch sử kiến trúc Trung Quốc. Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật nổ ra, ông biên soạn bộ “Lịch sử kiến trúc Trung Quốc” đầu tiên của Trung Quốc, đồng thời dùng Anh văn viết một cuốn sách “Trung Quốc kiến trúc sử đồ lục” phổ thông dễ hiểu, phục vụ độc giả ngoại quốc, làm cho kiến trúc Trung Quốc tỏa sáng trên trường quốc tế.

Năm 1945, sau khi kháng chiến thắng lợi, ông sáng lập Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Thanh Hoa. Sau giải phóng, ông dấn thân vào công cuộc xây dựng đất nước Trung Quốc mới, lãnh đạo và tham gia công tác thiết kế đồ án Quốc huy và Bia kỷ niệm Anh hùng nhân dân, chỉ đạo chỉnh sửa Hoài Nhân Đường (Hội trường lớn trong Trung Nam Hải, Bắc Kinh).

Là người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy kiến trúc cổ đại, Lương Tư Thành là một trong những người đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục kiến trúc Trung Quốc về các phương diện lý luận kiến trúc, tư tưởng giáo dục kiến trúc, lý luận quy hoạch thành phố. Năm 1947, ông được tiến cử là đại biểu Trung Quốc trong Đoàn Cố vấn thiết kế tòa nhà Trụ sở Liên hợp quốc. Cùng năm, Trường Đại học Prin-xtơn (Princeton-Mỹ) đã trao học vị Tiến sĩ danh dự cho ông vì những cống hiến quan trọng của ông về học thuật kiến trúc Trung Quốc. Ông được bầu làm Viện sĩ, Ủy viên Ban Khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Ông là Đại biểu Quốc hội Trung Quốc khóa 1, khóa 2, Ủy viên Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 3, Ủy viên thường vụ Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 2, Ủy viên Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 3.

Thứ nam Lương Tư Vĩnh (1904-1954): Nhà khảo cổ học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Lương Tư Vĩnh sinh ra tại Ma Cao, nhưng tuổi thơ của anh sống tại Nhật Bản. Năm 1923, Lương Tư Vĩnh từ Trường Đại học Thanh Hoa sang Mỹ lưu học và tốt nghiệp Lớp dự bị đại học, rồi sang Mỹ học chuyên ngành khảo cổ học và nhân loại học, nghiên cứu khảo cổ Đông Á, tại Viện Nghiên cứu Trường Đại học Ha-vớt (Harvard), đã từng tham gia khai quật Di chỉ cổ đại người Anh-điêng (Indians). Trong thời gian này, ông đã từng có một dịp trở về nước làm trợ giáo tại Sở Nghiên cứu quốc học Trường Đại học Thanh Hoa. Mùa hè năm 1930, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Ha-vớt (Mỹ), Lương Tư Vĩnh trở về nước tham gia công tác tại Tổ Khảo cổ Sở Nghiên cứu Ngôn ngữ Lịch sử Viện Nghiên cứu Trung ương (trước đây).

Lương Tư Vĩnh suốt đời dốc sức cho sự nghiệp khảo cổ, là một trong những người khai thác khảo cổ học cận đại và giáo dục khảo cổ học cận đại Trung Quốc, là một học giả Trung Quốc đầu tiên được huấn luyện chính thức khảo cổ học cận đại của phương Tây, có tác phẩm truyền đời “Lương Tư Vĩnh khảo cổ luận văn tập”. Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đợt đầu tiên; Tháng 8 năm 1950 được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở Nghiên cứu khảo cổ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Ngày 2-4-1954, ông Lương Tư Vĩnh ốm đau lâu ngày vẫn kiên trì làm việc, bệnh tim phát tác, qua đời tại Bắc Kinh, hưởng dương 50 tuổi.

Con trai thứ 3 Lương Tư Trung (1907-1932): Thượng tá pháo binh

Lương Tư Trung từ Nhật Bản về nước không lâu lại sang Mỹ, lần lượt học tập tại Học viện Lục quân Vớc-gi-ni-a (Virginia) và Trường Quân sự Oét-poi (West Point).

Đầu thập niên 30 thế kỷ 20, tốt nghiệp về nước, tham gia Quân Cách mạng quốc dân. Sau khi nhập ngũ, do được học bài bản tại nước ngoài và có tài nên ông nhanh chóng được thăng cấp Thượng tá pháo binh Lộ quân 17, Quân cách mạng quốc dân. Trong cuộc chiến dịch Tùng Hộ năm 1932, Lương Tư Trung chiến đấu và chỉ huy khá xuất sắc.

Đáng tiếc là sau đó không lâu, Lương Tư Trung mới 25 tuổi vì mắc bệnh viêm phúc mạc, uống nhầm thuốc, chạy chữa chậm nên đã qua đời.

Con trai thứ tư Lương Tư Đạt, sinh năm 1912: Nhà kinh tế học nổi tiếng.

Năm 1935, Lương Tư Đạt tốt nghiệp Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nam Khai, ngay sau đó thi đỗ Nghiên cứu sinh Thạc sĩ của trường này và năm 1937 giành được học vị Thạc sĩ.

Ông hoạt động nghiên cứu kinh tế lâu ngày, trong thời gian kháng chiến đã từng nhậm chức tại Sở quản lý Ngân hàng Trung ương Trung Quốc và Chi nhánh Trường Sa Ngân hàng Trung Quốc. Năm 1949, ông được điều động đến Cục doanh nghiệp nước ngoài đầu tư của Quốc Vụ viện (sau này đổi tên là Cục Quản lý hành chính công thương Trung ương) làm Chánh văn phòng, sau đó được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Thống kê Sở Điều tra nghiên cứu kiêm nhiệm công tác biên tập tư liệu nội bộ.

Ông đã từng tham gia công tác biên soạn “Lịch sử kinh tế cận đại Trung Quốc” của Sở Kinh tế Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và năm 1965 chủ biên bộ sách “Tư liệu thống kê công nghiệp bột mì trong cơ chế Trung Quốc cũ”.

Lương Tư Đạt nghỉ hưu năm 1972, thường trú tại Bắc Kinh.

Con trai thứ năm Lương Tư Lễ, sinh năm 1924: Chuyên gia điều khiển hệ thống tên lửa, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Lương Tư Lễ sinh ra tại Bắc Kinh. Năm 1941, theo chị ba Lương Tư Ý sang Mỹ lưu học, chủ yếu học chuyên ngành Vô tuyến điện, Khoa Công trình điện cơ, Trường Đại học Pơ-điu (Purdue), sau lại học thêm Điều khiển tự động. Trong thời gian học tại Trường Đại học Pơ-điu, ông chỉ dùng thời gian hai năm hoàn thành chương trình 3 năm và năm 1945 đã giành được học vị Tiến sĩ của trường này.

Tiếp theo, ông lại giành được học vị Thạc sĩ (năm 1947) và học vị Tiến sĩ (năm 1949) của Trường Đại học Xin-xi-na-ti (Cincinnati).

Ngày 1-10-1949, sau khi về nước Lương Tư Lễ được bố trí làm công tác kỹ thuật tại Sở Nghiên cứu kỹ thuật điện tín Bộ Bưu điện và Sở Nghiên cứu khoa học điện tử Bộ Thông tin quân sự, đồng thời tham gia công tác khởi thảo “Quy hoạch viễn cảnh khoa học 12 năm” do Quốc Vụ viện tổ chức. Ông phụ trách khởi thảo “Nguyên tắc lâu dài nghiên cứu chế tạo tên lửa vận tải Trung Quốc”.

Năm 1956, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu hệ thống tên lửa đạn đạo Viện Nghiên cứu 5, Bộ Quốc phòng. Từ đó về sau, ông lần lượt lãnh đạo và tham gia nghiên cứu chế tạo thí nghiệm hệ thống điều khiển nhiều loại tên lửa đạn đạo và tên lửa vận tải. Ông là một trong những người phụ trách hệ thống điều khiển quả tên lửa đất đối đất đầu tiên thực nghiệm thành công năm 1964 do Trung Quốc tự thiết kế chế tạo và sau đó lãnh đạo nghiên cứu cải tiến chế tạo ra hệ thống điều khiển hoàn toàn quán tính mang đặc sắc Trung Quốc. Ông đã tham gia thí nghiệm vũ khí hạt nhân, tiến hành trên lãnh thổ Trung Quốc ngày 27-10-1966, gây chấn động thế giới. Dưới sự chủ trì của ông, Trung Quốc lần đầu tiên đưa đường điện tập thành dùng vào máy tính trên tên lửa, đồng thời dùng nó tiến hành trắc nghiệm tự động hóa hoàn toàn tên lửa. Ông còn tham gia cuộc thí nghiệm chuyến bay của tên lửa viễn trình phóng ra Thái Bình Dương năm 1980.

Năm 1985, Lương Tư Lễ được trao “Giải thưởng hạng đặc biệt Tiến bộ khoa học kỹ thuật quốc gia”. Năm 1987, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Khoa học hàng không vũ trụ Quốc tế; Năm 1993 được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và Ủy viên Thường vụ Ủy ban Dân tộc toàn quốc khóa 8; Năm 1994 được bầu làm Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Hàng không vũ trụ quốc tế; Tháng 9-1997, ông vinh dự được trao “Giải thưởng cống hiến Khoa giáo hưng quốc cho các giáo sư lão thành Trung Quốc”.

Vũ Phong Tạo trích dịch

(Theo http://www.xinhuanet.comhttp://www.baidu.com)
qdnd.vn