Thư viện

Đánh giá cán bộ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong công tác xây dựng Đảng, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, đây là nhiệm vụ mang tính chính trị, khoa học và nhân văn.

Học tập tư tưởng của Bác và thực tế cho ta thấy,trongcông tác tổ chức cán bộ nói chung và trong việc nhận xét đánh giá cán bộ, thìcông tác đánh giá cán bộ là khâu quan trọng nhất và cũng khó nhất, bởi nếu đánh giá đúng, sử dụng đúng, bố trí phù hợp thì sẽ có tác động tích cực trong thực hiện nhiệm vụ; nếu làm không đúng qui trình, không đánh giá mang tính tập thể, thì dễ phiến diện hoặc không chính xác, đánh giá không đúng, sẽ dẫn đến bố trí sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm không có hiệu quả,có những lúc ảnh hưởng đến công tác tổ chức cán bộ;xét về khía cạnh tâm lý, thì nó hết sức nhạy cảm, vì nó tác động trực tiếp đến con người, tác động về sinh mệnh chính trị.Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác đánh giá cán bộ; Người có những nhìn nhận hết sức thấu đáo, chí tình về mỗi người, Người đã nhìn nhận đặt “tên” cho mỗi đồng chí theo tính cách, chí hướng cách mạng từ đó mỗi người và mọi người nhìn nhận thấy như vậy là đúng; Người đã chỉ ra rằng mỗi người đứng đầu, mỗi tổ chức để nhận xét, đánh giá cán bộ thấu tình, đạt lý phải có sự nhìn nhận và có phương pháp; Người viết “Kinh nghiệm cho biết: mỗi lần xem xét lại nhân tài, một mặt tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì người hủ hóa cũng lòi ra”(1). Chúng ta thấy rằng thực hiện việc nhận xét đánh giá cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều mặt và khía cạnh như, vị trí, mối quan hệ của người được đánh giá với tập thể, với cấp ủy, với cán bộ lãnh đạo; về trình độ, sự nhìn nhận và uy tín của người đứng đầu tập thể, cơ quan,…Trong quá trình thực hiện nhận xét, đánh giá cán bộ mỗi cấp, mỗi ngành với qui trình làm thì tuân thủ theo qui định; song vấn đề đặt ra là tất cả những đánh giá về cán bộ đã thật sự khách quan, công tâm và vô tư chưa? Hay thường nói “nặng” về ưu điểm; nói “nhẹ” phê bình chung chung về khuyết điểm, tồn tại; tập thể tham gia nhận xét, đánh giá đã thật sự khách quan, vô tư và công tâm không; có nhìn nhận thật sát, thật đúng với bản chất của cá nhân được đánh giá và có khuyến khích cho tập thể nhận xét, đánh giá hay không? và mọi người có nói hay chỉ “im không nói”? hay “im lặng để xem”. Một biểu hiện khác nữa trong đánh giá cán bộ là “dễ” với người, để người “dễ” với mình; hoặc nhận xét cán bộ là dựa theo ý, theo nhìn nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, nếu lãnh đạo nhận xét, góp ý thẳng thắn thì cán bộ sẽ được tập thể góp ý một cách chân tình; hoặc ngược lại nếu đối tượng được góp ý, phê bình bị lãnh đạo chỉ trích gay gắt, thì cán bộ đó có thể sẽ có những nhận xét chưa thật xác đáng. Một khía cạnh khác cũng có thể xảy ra trong nhận xét, đánh giá cán bộ là có những người trên cương vị của mình “tài” không bao nhiêu nhưng lại sống cơ hội, làm việc khéo che đậy tồn tại, nhược điểm…thì được “coi” là cán bộ tốt, “mẫn cán”; ngược lại có những người thật sự có năng lực nhưng sống không “biết”, ngay thẳng và cương trực, thì ít được quan tâm.

Mỗi chúng ta, đều nhận thức và thấy rằng Đảng đã xác định: Xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Thực hiện nhiệm vụ chính trị đó, công tác cán bộ có ý nghĩa quyết định, vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng phát triển kinh tế, ổn định an ninh chính trị thì đòi hỏi việc nhận xét, đánh giá cán bộ phải làm chặt chẽ, chính xác; có như vậy mới củng cố và làm vững tin trong nhân dân đối với Đảng và công cuộc xây dựng đưa đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Vậy nhận xét, đánh giá cán bộ như thế nào là đúng?

Chúng ta cần nhận thức và quán triệt rằng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quan điểm, nguyên tắc yêu cầu chung về đánh giá cán bộ do Đảng đã qui định. Để nhìn nhận đúng, đánh giá chính xác Đảng đã chỉ đạo, lãnh đạo các cơ quan chức năng đi sâu nghiên cứu, hoàn thiện và cụ thể hóa công tác nhận xét, đánh giá cán bộ từng lĩnh vực, từng thời điểm, từng giai đoạn để ngày càng đáp ứng tốt hơn việc thực hiện nhiệm vụ mỗi ngành, mỗi địa phương. Tuy nhiên, để sát yêu cầu từng loại và cụ thể ở từng địa phương, từng ngành, tùy địa bàn, nhiệm vụ cụ thể thì có sự linh hoạt qui định những điều kiện cần ở mỗi cán bộ phải có để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Việc đánh giá cán bộ, một nguyên tắc cơ bản có thể nói là “bất dy bất dịch” phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển; để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi những cơ quan, cán bộ có trách nhiệm thực hiện phải nhìn nhận, đánh giá cán bộ có phương pháp khoa học, logic; phân biệt được hiện tượng với bản chất, có sự phân tích biện chứng để đánh giá đúngbố trí sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm có hiệu quả, có tác dụng tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ.

Công tác đánh giá cán bộ trong những năm qua, được các địa phương, đơn vị thực hiện thường xuyên nghiêm túc theo quy chế, quy định định kỳ; cán bộ diện đánh giá hàng năm là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ tỉnh đến cơ sở, đã gắn đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý với đánh giá cán bộ, công chức và  phân loại đảng viên hàng năm. Cán bộ cấp nào quản lý thì cấp đó cho ý kiến kết luận đánh giá xếp loại cán bộ. Những cán bộ có dư luận của quần chúng về đạo đức, phẩm chất, về năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành, được cấp uỷ có thẩm quyền gợi ý để cán bộ đó kiểm điểm, liên hệ trong đánh giá có khuyết điểm hay không khuyết điểm để kết luận đúng sai, nếu có vi phạm thì phải xử lý theo quy định. Với động thái này đã có tác dụng tích cực đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, có sự rèn luyện, tu dưỡng trong công tác, sinh hoạt.

Tiêu chí đánh giá cán bộ được cụ thể thành các tiêu chí:

– Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định đường lối đổi mới; nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

– Thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao theo yêu cầu về thời gian khối lượng, chất lượng; tinh thần trách nhiệm, hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ.

– Ý thức tổ chức kỷ luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, tinh thần tự phê bình và phê bình. Tinh thần thái độ công tác, phục vụ nhân dân; giữ gìn và bảo vệ đoàn kết trong nội bộ.

– Tinh thần học tập, tự nghiên cứu nâng cao trình độ, năng lực công tác.

– Gương mẫu về đạo đức lối sống, thực hiện các nghĩa vụ của công chức, không vi phạm những điều cán bộ đảng viên không được làm…

Đối với cán bộ diện đề bạt, bổ nhiệm làm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, khi hết thời gian bổ nhiệm đều thực hiện việc đánh giá để bổ nhiệm lại theo quy định. Những cán bộ được đánh giá chưa hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm chính sách, pháp luật thì không bổ nhiệm lại, đã có tác dụng thiết thực, đánh giá đúng, sát thực đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở từng địa phương, đơn vị.

Trên đây là những ý kiến cá nhân xin đưa ra trao đổi, mong rằng khi mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình thực thi chức trách cố gắng tu dưỡng, rèn luyện tiếp tục thực hiện chức trách, nhiệm vụ ngày một tốt hơn để đưa tỉnh Bình Định hội nhập phát triển nhanh, mạnh và vững vàng hơn./.

Võ Xuân – Ban Tổ chức Tỉnh ủy  (Cập nhật ngày 05-07-2011)

snv.binhdinh.gov.vn

Công tác tư tưởng, lý luận và việc chống quan liêu theo quan điểm Hồ Chí Minh

Là một nhà chiến lược thiên tài và nhà hoạt động thực tiễn sâu sát tỉ mỉ, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến việc chống quan liêu trong điều kiện Đảng cầm quyền. 

Đúng 15 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sự xuất hiện những mầm mống đầu tiên của bệnh quan liêu trong cán bộ, đảng viên. Ngày 17-9-1945, viết thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (Nghệ An), Hồ Chí Minh chỉ rõ cán bộ ở các địa phương mắc phải những khuyết điểm nhất là: hẹp hòi, bao biện, lạm dụng hình phạt, hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán chuyên quyền, lấy của chung làm của riêng, thậm chí dùng pháp luật nhà nước để trả thù riêng. Từ đó trở đi việc chống quan liêu luôn được Hồ Chí Minh thể hiện một cách đậm nét cả trong tư duy lý luận lẫn hoạt động thực tiễn. Vào đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Trong bài viết này, Hồ Chí Minh phê phán gay gắt những người “tham danh trục lợi”, thích địa vị quyền hành, tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh”.

Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh gọi quan liêu là một loại bệnh mà đảng viên, cán bộ dễ mắc phải. Mắc loại bệnh này chủ yếu là “những người và những cơ quan lãnh đạo, nhất là khi Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội. Theo Hồ Chí Minh: “Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc phải làm, việc gì cũng không nắm vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung”. Hồ Chí Minh đã trực tiếp hỏi một cán bộ địa phương: “Mùa màng năm nay thế nào?”. Anh ta trả lời: “Việc đó tôi đã động viên nhân dân, đã bày tỏ vấn đề đó một cách đầy đủ nên “công tác xem chừng khá…, chắc là có tiến bộ”. Người hỏi tiếp: “Tóm lại là đã cày cấy được mấy mẫu?”. Anh ta trả lời: “Ở vùng chúng tôi, cày cấy hiện nay chưa đâu ra đâu cả”.

Một người được Hồ Chí Minh gọi là “ông quan liêu””, khi người đó chạy theo hình thức, chỉ biết khai hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ bệnh khai hội là “khai hội không có kế hoạch, không thiết thực, khai hội lâu, khai hội nhiều quá”. Trong các buổi khai hội đó “cán bộ khu về tỉnh, cán bộ tỉnh về huyện, cán bộ huyện về làng thì khệnh khạng như ông quan”. Lúc khai hội thì trăm lần như một: “Tình hình thế giới, tình hình Đông Dương; thảo luận, phê bình, giải tán”. Mỗi lần phát biểu “ông cán” nói hàng giờ, nói đâu đâu, còn “công việc thiết thực trong khu, trong tỉnh, trong huyện, trong xã đó thì không đụng đến”. Do đó lúc “ông cán” phát biểu kẻ ngáy, người ngủ chỉ mong ông thôi để được về nhà. Hồ Chí Minh kết luận việc làm hình thức, xa rời thực tế đó khiến “quần chúng sợ khai hội, mỗi lần họ đi khai hội chẳng khác gì đi phu”. Hồ Chí Minh thừa nhận: “Trong Đảng ta, có một số người như thế. Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Hồ Chí Minh cho rằng những ai làm việc chủ quan, thoát ly quần chúng, bắt phong trào quần chúng phải đi theo ý muốn chủ quan của mình là những người “khoét chân cho vừa giầy”. Với Hồ Chí Minh những người mắc bệnh quan liêu chỉ biết đóng cửa viết báo cáo, xem báo cáo trên giấy chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn. Hồ Chí Minh coi đó là những người lười biếng, những người “nghị quyết đầy túi áo, thông báo đầy túi quần”.

Do xa rời quần chúng, xa rời thực tế, làm việc chủ quan, duy ý chí, nên những người quan liêu, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sợ phê bình và tự phê bình”. Với Hồ Chí Minh những cán bộ, đảng viên cốt sao “xong chuyện thì thôi”, không phê bình người khác cũng chẳng tự phê bình mình là “những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt”. Người mắc bệnh quan liêu tất yếu dẫn đến mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền. Tình trạng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền lại là nguyên nhân của việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Vì vậy khi phác thảo chân dung “ông quan liêu”, Hồ Chí Minh tập trung nêu bật đặc điểm “”thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”. Hồ Chí Minh đặt câu hỏi “Quan liêu là gì?”. Câu trả lời của Người là: Quan liêu là những người phụ trách bất kỳ cấp nào không gần gũi cán bộ, không theo dõi công việc thiết thực, không theo dõi cán bộ để biết tính nết, khả năng, để thấy điều tốt thì khuyến khích, điều xấu thì can ngăn, giáo dục, giúp đỡ sửa chữa. Thế là cán bộ xa thực tế, xa bộ đội, xa dân, không dân chủ.

Theo Hồ Chí Minh, các ông quan liêu khi được phân công phụ trách ở vùng nào thì như một vua con, ở đấy tha hồ hách dịch, hạnh hoẹ. Đối với cấp trên thì xem thường. Đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách mạng làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc ông tướng, bà tướng ấy làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân.

Hồ Chí Minh cho rằng bệnh quan liêu để lại những hậu quả nặng nề trên nhiều lĩnh vực. Trước hết nó gây khó khăn cho sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ năm 1952, Hồ Chí Minh đã viết: “Nói tóm lại vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấu suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”. Đây thực sự là nguy cơ đối với một đảng cẩm quyền.

Trong điều kiện đảng cầm quyền, quan liêu là nguyên nhân chính gây nên nhiều tệ nạn cho nhà nước và xã hội, đặc biệt là tham ô, lãng phí. Theo Hồ Chí Minh muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không, thì dù cày bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì bị cỏ át đi, muốn thành công trong tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch bọn tham ô, lãng phí. Sở dĩ có tham ô, lãng phí là vì có những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu. Do đó “những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”. Năm 1952 trong bài “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu””, Hồ Chí Minh viết bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu (Hồ Chí Minh nhấn mạnh). Do đó “muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu””. Mười năm sau, năm 1962, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh vạch rõ: kinh nghiệm chứng tỏ rằng ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc có tham ô, lãng phí. Nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô. Hồ Chí Minh kết luận “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô… Cho nên muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”. Do ý thức sâu sắc quan liêu là nguồn gốc của tham ô, lãng phí nên trong di sản Hồ Chí Minh chúng ta tìm thấy có những bài viết với tiêu đề “”Chống quan liêu, tham ô, lãng phí” nghĩa là quan liêu đặt trước tham ô, lãng phí.

Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII), 1-1994 của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên bốn nguy cơ đối với chế độ. Một trong bốn nguy cơ đó là nạn tham nhũng và tệ quan liêu. Từ đó đến nay Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và giải pháp để chống tham nhũng, quan liêu, nhưng xem ra nguy cơ này vẫn chưa bị đẩy lùi, kết quả đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu chưa được như ý Đảng, lòng dân mong muốn. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống các tệ nạn ấy không thể dừng lại và phải kiên quyết hơn. Tuy nhiên, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung vào việc đề ra các chủ trương, giải pháp thiết thực chống nguyên nhân của nạn tham nhũng là tệ quan liêu.

Theo Hồ Chí Minh: “Cần khẳng định dứt khoát rằng số đông cán bộ và công nhân ta đều tận tuỵ và trong sạch” nhưng vẫn còn một số người “phạm sai lầm tham ô, lãng phí và còn mang nặng bệnh quan liêu… Vì vậy chúng ta phải kiên quyết chống lại những tệ hại ấy”. Do mối liên hệ chặt chẽ giữa quan liêu với tham ô, lãng phí nên việc đấu tranh chống lại những tệ nạn này cũng không thể tách rời nhau.

Với Hồ Chí Minh, quan liêu, tham ô, lãng phí là không thể chấp nhận được. Tuy vậy, tuỳ theo quy mô tính chất và hậu quả do quan liêu, tham ô, lãng phí gây nên, Hồ Chí Minh có những cách xử lý, phê phán khác nhau.

Trước hết, quan liêu, tham ô, lãng phí có hại cho nhân dân, cho Chính phủ, đoàn thể, cho kháng chiến và kiến quốc nên quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác, là kẻ thù nguy hiểm của dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng dù cố ý hay vô tình, quan liêu, tham ô, lãng phí làm chậm trễ cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta, phá hoại đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính. Do vậy, quan liêu, tham ô, lãng phí là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến, tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám nếu không phải là tệ hơn thế.

Tháng 1 – 1946, nghĩa là khi Đảng ta đã tuyên bố tự giải tán, sự thực là Đảng rút vào hoạt động bí mật trong một lần trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái… Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh gọi chống quan liêu, tham ô, lãng phí là việc làm cách mạng.

Do tính chất nguy hiểm của tệ quan liêu và nếu không có những chủ trương, giải pháp thiết thực thì tệ nạn này có khả năng tăng lên cùng với thời gian đảng cầm quyền, nên Hồ Chí Minh chỉ rõ việc chống quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên.

So sánh với đế quốc, với giặc ngoại xâm, Hồ Chí Minh gọi quan liêu, tham ô, lãng phí là giặc nội xâm “giặc ở trong lòng”. Người yêu cầu để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, mọi người cần đoàn kết thành một khối chống cả hai loại giặc: Chiến sĩ xuất công, nhân dân xuất của để đánh giặc cứu nước. Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc “giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Hồ Chí Minh quan niệm chống giặc nội xâm “là một cách mạng nội bộ”, cuộc đấu tranh gay go giữa cái xấu và cái tốt, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư với kẻ địch là tệ nạn quan liêu, tham ô, lãng phí. Tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí còn ở chỗ, Hồ Chí Minh chỉ rõ kẻ thù này không mang gươm, mang súng mà nó nằm ngay trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta. Thấu hiểu tâm tư, tình cảm và cả những vướng mắc, những điều khó nói thành lời của một số cán bộ khi tiến hành cuộc vận động chống quan liêu, tham ô, lãng phí, Hồ Chí Minh viết: Cán bộ và công nhân đều nhất trí tán thành, ai cũng cho là cần phải có cuộc vận động này nhưng khi thi hành thì một số người lo lắng, lo sợ. Nguyên nhân vì trong ba chứng bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí bản thân mình chắc có một bệnh, hoặc nặng hoặc nhẹ. Do tính chất phức tạp, “tế nhị” của cuộc đấu tranh này nên Hồ Chí Minh đòi hỏi: Mọi người dũng cảm tiến lên, mặt khác muốn thắng lợi ở mặt trận này phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức.

Hồ Chí Minh cho rằng cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí có hai ý nghĩa quan trọng:

Thứ nhất, làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân và bản thân mình.

Thứ hai, giúp cho cán bộ, đảng viên giữ gìn phẩm chất cách mạng, một lòng một dạ, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Do đó nhân dân ta đã đoàn kết càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm.

Theo Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, công tác tư tưởng, lý luận có vai trò to lớn. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Tư tưởng đúng thì hành động đúng, tư tưởng nhất trí thì hành động mới nhất trí. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc.

Hồ Chí Minh kết luận, sở dĩ có quan liêu, tham ô lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác là do tư tưởng không đúng. Người nêu thí dụ vì thiếu quan điểm quần chúng nên trong công tác mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh.

Để khắc phục được quan liêu mệnh lệnh và những căn bệnh có thể nảy sinh trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức.

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá IX) “”về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” rất coi trọng chống bệnh quan liêu trong cán bộ, đảng viên, trong bộ máy Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Tại Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) trong phần “Tình hình tư tưởng, lý luận và công tác tư tưởng, lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Nỗi bức xúc của nhân dân hiện nay là còn những bất công xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng chưa được ngăn chặn có hiệu quả.

Từ thực tiễn đó ở phần phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu và giải pháp công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) viết: Đề cao trách nhiệm của mỗi tổ chức Đảng và đảng viên, đấu tranh loại trừ tham nhũng, quan liêu ở cơ quan đơn vị cơ sở mình. Nghị quyết khẳng định: Cần phải tổ chức học tập một cách nghiêm túc, có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

Theo Sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận”
(NXB Chính trị quốc gia)

vannghedanang.org.vn

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh – tư tưởng bất diệt

Hồ Chí Minh quan niệm: Con người không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu. Bởi vậy, phải “làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lương tâm, đánh thức những gì tốt đẹp trong con người.

Quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên truyền thống nhân ái của dân tộc ta. Nhân dân ta đã trải qua mấy ngàn năm chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, bão lụt, khai hoang mở đất. Nhân dân ta lại phải chống chọi với nạn ngoại xâm liên miên từ phương Bắc xuống, rồi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược. Công cuộc lao động gian khổ và chiến đấu hy sinh hun đúc nên truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, trong đó nổi bật là lòng nhân ái, là tư tưởng nhân văn, nhân đạo.

Tình đoàn kết, yêu thương lẫn nhau “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, “Thương người như thể thương thân” là nét đẹp nổi bật của con người Việt Nam, nhất là trong cơn hoạn nạn, rủi ro. Lòng nhân ái của từng người dân đã gắn chặt vận mệnh của họ với sự sống còn, tồn vong của dân tộc, với sự hùng cường, thịnh trị của Tổ quốc. Càng yêu con người, càng thương con người, càng có thêm ý chí kiên cường, bất khuất, dám xả thân, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc; dám vươn lên để tìm con đường thoát cho dân tộc khỏi đói nghèo, xây dựng đất nước cường thịnh.

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong lòng một dân tộc có truyền thống nhân ái lại tiếp nhận được những tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây, về “đạo làm người” của Nho giáo, về “cứu khổ cứu nạn”, nhân ái, khoan dung của Phật giáo; về lý tưởng nhân văn thời cách mạng tư sản đang lên, chống phong kiến, giải phóng xã hội… Từ khi đến với chủ nghĩa Mác Lênin, thấm nhuần học thuyết nhân đạo hiện thực của chủ nghĩa Mác, tư tưởng nhân văn ở Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến bước ngoặt mang tính tổng hợp từ nhiều giá trị tinh hoa của nhân loại. Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh đã trở thành lẽ sống của Người, yêu thương con người gắn với lòng tin ở con người, dùng sức của con người để giải phóng con người, trọng nhân tài, vì con người và phục vụ con người với chữ Người viết hoa.

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vô cùng rộng lớn. Có thể nêu lên mấy khía cạnh chủ yếu sau đây:

Một là, thương yêu con người, thương yêu nhân dân, hết sức bao la, thắm thiết. Người từng nói “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người phải là thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”(1).

Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh xuất phát từ tình yêu thương của những người đồng cảnh ngộ, mất nước, bị nô lệ, cùng chung số phận bị áp bức bóc lột, đi tìm lối thoát cho dân tộc. Khi bôn ba nơi hải ngoại, chứng kiến cảnh bị áp bức bóc lột của công nhân, của nhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa, chứng kiến cảnh bị áp bức của nhân dân các thuộc địa khác, tình yêu thương con người ở Người mở rộng sang yêu thương những người cùng cảnh ngộ, những người lao động nghèo đói, “cùng khổ, thiếu thốn”, những người thuộc các dân tộc khác có chung số phận với dân tộc Việt Nam. “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn… Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”, Người đã từng nói như vậy.

Xuất phát từ tình yêu thương ấy mà Người đã đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công. Mục tiêu của Hồ Chí Minh đã từng nói rõ trong Lời ra mắt của báo Người cùng khổ (Le Paria) năm 1921: “đi từ giải phóng những người nô lệ mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người”.

Với mục tiêu được xác định, Người trở về nước thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức của thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Với đường lối đúng đắn mà Người đề ra, tập hợp xung quanh mình những nhân tài trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều độ tuổi, đoàn kết toàn dân tộc vào một Mặt trận thống nhất và tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế, nhân dân ta đã đánh đuổi đế quốc thực dân, giải phóng dân tộc, nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất và xây dựng cuộc sống mới.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Người đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và diệt giặc dốt cùng với việc chống giặc ngoại xâm. Trước mắt, phải xoá đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển “làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm”(2). Kinh tế có phát triển đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh.

Người từng nói “Tôi thấy các cháu bụng ỏng, mắt choẹt, tôi hết sức đau lòng”. Người yêu cầu những người lãnh đạo chính quyền phải chăm lo đến đời sống nhân dân, phải chăm lo từ việc “tương cà mắm muối của dân”, không được ức hiếp quần chúng nhân dân.
Bác Hồ thăm hỏi đồng bào dân tộc Pác Pó, Cao Bằng năm 1961.
Người chăm lo đến việc nâng cao dân trí, chống giặc dốt, xoá nạn mù chữ, phát triển giáo dục. Người từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người yêu cầu Đảng cầm quyền phải chăm lo đến nâng cao trình độ học vấn cho nhân dân, chăm lo phát triển mọi mặt của dân tộc ta. Người thường nói chế độ thực dân đã dùng mọi thủ đoạn ngu dân để đầu độc dân tộc ta, để hủ hoá nhân dân ta bằng những thói xấu như lười biếng, gian xảo, tham ô…Cho nên phải làm sao để dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động , một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập, “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chỉ giới hạn ở nhân dân Việt Nam mà là tình bác ái bao la. Người từng vạch rõ “Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ… Phải thực hành chữ bác – ái” (3).

Người còn nói “Lòng yêu thương của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi” và trước lúc vĩnh viễn đi xa, Người viết ” Đầu tiên là vấn đề con người” và “Cuối cùng tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Hai là, Bác Hồ tin tưởng vững chắc vào khả năng và phẩm giá tốt đẹp của con người. Hồ Chí Minh kế thừa tư tưởng kiệt xuất của các anh hùng, hào kiệt của dân tộc như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… về sức mạnh của nhân dân: “Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ”; “đẩy thuyền cũng là dân, mà lật thuyền cũng là dân”. Người còn kế thừa tư tưởng nhân văn “lấy dân làm gốc” và chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của học thuyết Mác để hình thành tư tưởng nhân văn mới, tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và lòng tôn trọng, kính trọng nhân dân lao động.

Người nói “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (4).

Trong điều kiện bị đế quốc thực dân thống trị, kẻ thù đàn áp dã man, cùng với chính sách ngu dân của chúng, người dân các nước thuộc địa tưởng chừng không thể gượng dậy nổi, song Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vẫn tin tưởng ở nhân dân mình, dân tộc mình”… đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến…” và “sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ cần phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”.

Trong quá trình đấu tranh, Người đã làm cho nhân dân thế giới nhận thức rõ vấn đề thuộc địa, đoàn kết giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc là giúp đỡ cho chính mình. Người nhận thấy rõ vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, “người là gốc của làng nước”, “nước lấy dân làm gốc”, “gốc có vững cây mới bền”, “xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (5),

Người còn nói rằng: “Dân như nước, mình như cá”, “lực lượng nhiều là ở dân hết”. “Công việc đổi mới là trách nhiệm ở dân”. Do đó, Người yêu cầu “Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân”. Ngày nay, nội dung trên càng có ý nghĩa lớn lao, bởi nếu chúng ta biết tiến cử nhân tài, dùng nhân tài đúng lúc, đúng chỗ, mạnh dạn cất nhắc nhân tài trong mọi lĩnh vực thì sẽ càng làm lợi cho dân.

Ba là, chăm lo bồi dưỡng, sử dụng, phát động sức mạnh của con người, của nhân dân. Xuất phát từ truyền thống yêu nước, thương dân bị nô lệ, Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Suốt cuộc đời của người là vì dân, vì nước.

“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước được độc lập, tự do, nhân dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là:

“1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân có học hành”.

Người còn nói “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(6).

Trong kháng chiến, kiến quốc, Người luôn chăm lo, bồi dưỡng sức dân. Vì dân, vì con người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Người. Song ở Người, sự nghiệp đó chính là của nhân dân. Đoàn thể, Nhà nước phải là người tổ chức nhân dân, biết đem sức dân, tài của dân mà đem lại lợi ích cho nhân dân.

Do vậy, khi có chính quyền rồi, Người luôn nhắc nhở phải xây dựng bộ máy trong sạch, đấu tranh với những biểu hiện của thói quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân; phải dựa vào nhân dân, khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong nhân dân để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng đời sống mới trong nhân dân…

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện. Con người không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu. Bởi vậy, theo Người phải “làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”(7), Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lương tâm, đánh thức những gì tốt đẹp trong con người.

Ngay cả những người đã lầm đường lạc lối, Hồ Chí Minh cũng tỏ rõ sự khoan dung, độ lượng: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ (8).

Cả cuộc đời của Người là một hình mẫu của con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin, sự tôn trọng và ý chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

PGS.TS Lê Doãn Tá

(VietNamNet)

(1) Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb.Pháp lý, H.1990, tr.174
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.5, tr.65
(3) Sđd, t.5, tr.644
(4) Sđd, t.8, tr.276
(5) Sđd, t.5, tr.410
(6) Sđd, t.4, tr.152
(7) Sđd, t.12, tr.558
(8) Sđd, t.4, tr.246

vannghedanang.org.vn

“Không nên cộng thêm cái gì vào tư tưởng Hồ Chí Minh”

“Đừng cố tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có, cũng đều “vĩ đại”, vì như vậy chính là xuyên tạc, hạ thấp hoặc là bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh.” – GS.Tương Lai đưa ra một vài gợi ý để hiểu sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc của Người ở căn cứ Việt Bắc.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không đơn thuần chỉ là sự vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng lý luận của “học thuyết C.Mác” vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu những phần tinh tuý nhất của học thuyết khoa học và cách mạng đó. Là một nhà cách mạng chuyên nghiệp đã bôn ba khắp năm châu bốn biển, Hồ Chí Minh đã hấp thu vào mình trí tuệ, văn hoá của cả loài người, vì thế, Bác Hồ được thế giới nói đến như là một danh nhân văn hoá.

Có được điều đó, trước hết là do Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc về dân tộc mình, thấm nhuần lịch sử và văn hoá của dân tộc. Nhờ nắm vững phương pháp biện chứng của học thuyết C.Mác gắn với tư duy thực tiễn của người cách mạng Việt Nam gắn bó máu thịt với dân tộc mình, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp hài hoà đó.

Nhân kỷ niệm lần thứ 118 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin mạnh dạn gợi lên đôi điều suy nghĩ: làm thế nào nghiên cứu để hiểu thật sâu sắc, để thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh. Xin chỉ gợi lên mấy vấn đề về hiểu và về phương pháp nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh:

Con người Hồ Chí Minh

Nói đến tư tưởng, trước hết phải nói đến con người. Con người mà cuộc đời và sự nghiệpgắn liền với những sự kiện lịch sử Việt Nam, với những biến động lớn của thế giới trong một thời đoạn lịch sử đặc biệt với những biến động cực lớn.

Nguyễn Ái Quốc đến với học thuyết của C.Mác và Ph. Angghen, đến với tư tưởng của V.I Lênin, từ thân phận của một người mất nước, một người dân thuộc địa, một người được hấp thu nền học vấn và triết lý phương Đông, rồi được bổ sung văn hóa và triết lý phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp. Con người ấy, so với C.Mác, Ph Angghen và V. I Lênin, thì trải nhiều oan nghiệt, cay đắng về thân phận cá nhân hơn nhiều. Từ thân phận ấy, Hồ Chí Minh dễ có sự thông cảm sâu sắc hơn và mãnh liệt hơn với người dân thuộc địa nói riêng và những người lao động nghèo khổ, những dân tộc đang bị nô lệ, bị giày xéo phải gánh chịu áp bức, bất công trên thế giới nói chung. Sự cảm thông ấy không chỉ dừng lại ở thân phận cá nhân để nhìn ngắm và suy đoán về thế giới, mà đã vượt khỏi chính mình để có được cái tầm cao của người chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Là con người sống ở gần ba phần tư đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh có điều kiện để thấy và hiểu được sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa với phong trào giải phóng dân tộc làm thay đổi cục diện thế giới từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, tạo ra một phản ứng dây chuyền, đánh sụp chủ nghĩa thực dân cũ, xuất hiện chủ nghĩa thực dân mới. Ba phần tư thế kỷ này chất chứa bao nhiêu sự biến, tác động mạnh đến số phận của nhiều dân tộc trên hành tinh này.

Tuy nhiên, cũng như C.Mác, Ph Angghen và V.I Lênin, Hồ Chí Minh không thấy được những biến động dữ dội về đời sống chính trị làm thay đổi diện mạo của thế giới mà sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng với những bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ của một phần tư cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI, những sự biến nổi bật nhất. Đặc biệt khoa học và công nghệ, một phần tư thế kỷ này có những bước tiến lớn hơn rất nhiều những thế kỷ trước gộp lại.

Chứng kiến những biến động ấy khiến cho tầm mắt không ít người đươc mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màng bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn” .

Hồ Chí Minh đã từng là người đứng ở vị trí quyền lực cao nhất của Đảng và Nhà nước của một nước Việt Nam đã giành được độc lập, tự do trong 24 năm, từ tháng 8.1945 đến tháng 9.1969, sau cũng ngần ấy năm đã từng là lãnh tụ của Đảng, của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trước 1945. So với V.I Lênin chỉ có 7 năm lãnh đạo Nhà nước Xô Viết (1917-1924), Hồ Chí Minh có hơn gấp ba thời gian ở cương vị Chủ tịch nước. Với 24 năm là lãnh tụ của một Đảng cầm quyền, là Chủ tịch Nước, đứng ở đỉnh cao quyền lực, song Hồ Chí Minh trước sau vẫn thủy chung như nhất là người lãnh tụ của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, chiếm trọn trái tim của nhân dân, xứng đáng với lời ghi nhận của nhân dân và của Đảng: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

So với C.Mác, Ph. Angghen và V.I Lênin, học vấn của Hồ Chí Minh không bằng, bù vào đấy là sự thâm nhập vào cuộc sống, lăn lộn nhiều hơn, đi nhiều hơn, thấy nhiều hơn, đến được nhiều chân trời hơn, sống với nỗi khổ đau của con người nhiều hơn. Những con người ở nhiều đất nước, nhiều châu lục, nhiều màu da, nhiều tiếng nói, nhất là tiếng nói của những người cùng khổ.

Quả là hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những quằn quại suy tư, những khát vọng rộng lớn của con người đến như vậy. Hồ Chí Minh, vì thế, là người chiến sĩ cách mạng cónhững rung động của một nhà thơ. Nhà thơ trong nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Để có được một số bài thơ hay mà không phải nhà cách mạng nào cũng có được:  “Trong tâm hồn Hồ Chí Minh luôn luôn phảng phất có thơ ” (Phạm văn Đồng). Đấy là một nét độc đáo trong nhân cách Hồ Chí Minh. Điều này khiến cho Hồ Chí Minh biết cảm nhận và rung động mãnh liệt, sâu lắng với con người trong sự sống đa dạng và phức tạp của nó.

Tầm vóc Hồ Chí Minh

Bác Hồ nói chuyện với đồng bào, cán bộ, bộ đội tại Thuận Châu ngày 7 tháng 5 năm 1959

Tầm vóc của con người, cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh có thể nói gọn lại trong năm điểm nổi bật sau đây :

Trước hết và sau cùng, Hồ Chí Minh là một con người rất người, một người Việt Nam rất Việt Nam. Đúng là “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chí Minh” theo đúng nghĩa sâu sắc, đậm đặc và rất nhất quán một nhân cách Hồ Chí Minh, một đường nét văn hóa Hồ Chí Minh rất Việt Nam. Những gì là lý luận, là khoa học, là uyên bác, là thâm thúy đều có trong Hồ Chí Minh song đó chính là sự hòa quyện, sự kết đọng của sự thông tuệ dân gian.

Đó là sự thông minh, tế nhị và mộc mạc của tinh hoa văn hóa Việt Nam thể hiện trong ứng xử hàng ngày của người dân quê trên đồng ruộng, giữa núi rừng, nơi “thôn cùng xóm vắng” [Nguyễn Trãi]. Những uyên bác, những thâm thúy, những tế nhị và mộc mạc hòa quyện vào trong sự thông tuệ dân gian ấy được Hồ Chí Minh tiếp thu một cách hồn nhiên, thoải mái và có chọn lọc, để rồi thể hiện ra một cách dung dị nhưng không kém phần sâu lắng tế nhị, không kém phần minh triết trong cái khôn ngoan dân dã Việt Nam!

Chính điều này vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của sự gắn bó máu thịt giữa lãnh tụ và quần chúng, niềm tin yêu của nhân dân dành cho lãnh tụ của mình và là “ham muốn, ham muốn đến tột bậc” của Hồ Chí Minh về cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân mình.

Với đặc điểm này, cho dù với sự khiêm tốn tuyệt đối cần thiết, cũng phải nói rằng, so với những lãnh tụ cách mạng khác, Hồ Chí Minh có sự kết đọng đậm đặc hơn, quán triệt hơn, sâu xa và thấm thía hơn trong sự gắn bó tin yêu với nhân dân của mình và đồng thời hình ảnh Hồ Chí Minh sống trọn vẹn trong trái tim của họ. Hồ Chí Minh ở trong họ, gần gũi thân thiết với họ, nâng họ lên để cùng đứng với mình chứ không bao giờ đứng trên họ. Hồ Chí Minh với nhân dân mình là một.

Nói như nhà báo Úc Burchett “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân thì không có ai ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”, và như đòi hỏi của Charles Fourniau, nhà sử học Pháp “cần làm nổi bật một cách hiển nhiên và trên mọi tầm vóc, hình ảnh một con người đã là một trong ba hoặc bốn nhân vật vĩ đại nhất của phong trào công nhân và cách mạng thế giới, một trong những vĩ nhân của thế kỷ chúng ta”

Hồ Chí Minh là con người của hành động, hành động rất thiết thực. Con người ấy không viết nhiều, không nói nhiều, không viết dài nói dài, song là con người làm, làm rất nhiều. Con người ấy nói ít, làm nhiều, thậm chí không cần nói, chỉ cần làm để rồi bằng việc làm cụ thể mà thuyết phục người ta làm theo mình. Nhưng như thế không hề là chủ thuyết của một nhà “triết học vô ngôn”, hoặc một “chính khách vô ngôn”. Hồ Chí Minh không phải không có những tác phẩm, những công trình, những bài viết, những diễn văn, những lời kêu gọi… Nhưng, tác phẩm lớn hơn cả, bài học sâu sắc nhất chính là cả cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Giờ đây đọc lại hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh, khởi đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, cho đến tư tưởng chỉ đạo hai cuộc chiến tranh cứu nước, giải phóng dân tộc là trước sau như một nhất quán với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mới thấy “vào thời ấy, hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng. Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con ngừơi mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại” (Phạm Văn Đồng).

Đó là một con người sáng tạo, rất sáng tạo, con người đổi mới, thường xuyên đổi mới, đổi mới rất táo bạo. Con người ấy “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”. Từ quan điểm, đường lối cho đến cách sống, cách nói, cách viết, Hồ Chí Minh quyết liệt chống sự sáo mòn, hướng tới cái thiết thực, đạt tới hiệu quả cao nhất.

Trong con người ấy có sự hòa quyện nhuần nhị lý trí với tình cảm và tâm linh, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách, và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân. Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại. Biết cách làm cho dễ hiểu để đến được với người có trình độ học vấn thấp, song lại biết cách nâng cao lên để diễn đạt được chân lý của cuộc sống, thể hiện được khát vọng thầm kín và sâu xa của con người, nhất là những con người cùng khổ, con người bị áp bức.

Cách tư duy cũng như cách ứng xử của Hồ Chí Minh, như có người nhận xét, “vừa rất ta, vừa rất tây”, đây cũng là một nét độc đáo rất Hồ Chí Minh. Đã có người quan sát và kể lại cách Hồ Chí Minh chọn và ngắt một bông hoa hồng trong vườn Phủ Chủ tịch để tặng một người phụ nữ Pháp là 100% châu Âu . Nhưng cách Bác Hồ bưng bát nước chè xanh của một cụ già nông dân mời, vừa thổi, vừa uống thì 100% là Việt Nam. Ở trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét triết lý phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc vừa quốc tế. Việt Nam, Phương Đông, Phương Tây, thế giới, thời đại đều có trong cốt cách ứng xử của Hồ Chí Minh. Không quá cường điệu khi Hélène Tourmaire, một nhà văn và cũng là nhà báo viết: “Hình ảnh Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”.

Có thể nói một trong những nét độc đáo nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính hệ thống đồng bộcủa nó. Hệ thống đồng bộ trong những quan hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa thành nhau của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tức là các chiều cạnh của cuộc sống xã hội. Đây chính là khái niệm mới về nền văn minh.

Hồ Chí Minh không bị đẩy lệch về kinh tế, không rơi vào “kinh tế luận”, cũng không bị đẩy lệch về chính trị để rơi vào cái vũng bùn của quan điểm “chính trị là thống soái” từng gây nên bao thảm họa. Hồ Chí Minh càng không lệch về quân sự, để rơi vào sự sùng bái bạo lực, “chính quyền ra đời từ đầu ngọn súng” đấu tranh giai cấp, “một mất một còn” trong cuộc chiến “ai thắng ai”, cội nguồn của bao tai họa mà di lụy của nó vẫn chưa gột sạch, có lúc lại trở thành cách đánh lạc hướng những đòi hỏi về dân chủ, dân quyền và dân sinh rất thiết thực trong đời sống của người dân.

Không bị rơi vào những sai lầm, lệch lạc đó, vì Hồ Chí Minh có nhận thức sâu sằc về tính hệ thống đồng bộ xã hội, và trong tổng thể xã hội ấy, một quan niệm về xã hội mới mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng. Trong ấy, Hồ Chí Minh đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó là nét đặc sắc nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà như thế có nghĩa là đặc biệt coi trọng về văn hóa, vì nói đến con người chính là nói đến văn hóa.

Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cái nền của đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, mà có điều kiện đem lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”.

Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường và phương pháp xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Thấy khoa học, thấy công nghệ, thấy kinh tế, thấy lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thế và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển.

Quán triệt điểm đặc sắc ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chộp giậ̣t, mà làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là tôn vinh người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần với chính trị với hàm nghĩa những mưu lược, thì mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa. Ngược lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào. Nếu hiểu sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.

Từ nét đặc điểm nổi trội ấy mà nhận ra tinh thần đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết để xây dựng xã hội mới. Mãi mãi đại đoàn kết dân tộc. Đây là điểm độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của C.Mác,  Ph Angghen, V.I Lênin không tìm thấy điều này, hoặc nếu có đôi điều nói thoáng qua, chứ không tập trung, nổi bật như của Hồ Chí Minh.

Qua quá trình tiến lên của cách mạng, mục tiêu, động lực và lực lượng không hề có sự sắp xếp loại bỏ, thay đổi, chỉ có sự nâng cao về chất mà không bớt đi về lượng , về số tầng lớp, số người tham gia. Nghĩa là, với Hồ Chí Minh, không có chuyện một bộ phận nào đó của nhân dân, một tầng lớp xã hội nào đó nửa chừng đứt gánh, không thể cùng chung con đường mình đang đi. Không có chuyện ai đó, tầng lớp nào đó chỉ là “bạn đường một đoạn” trong cả chặng đường dài, vì họ không còn đủ điều kiện theo đến cùng nên phải thải loại ra.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có luận điểm về sắp xếp lực lượng cách mạng trong từng giai đoạn, bố trí chiến lược, chiến thuật về lực lượng: lực lượng chủ lực, lực lượng đồng minh gần tức là đồng minh chiến lược, rồi đồng minh xa, tức là đồng minh chiến thuật, lực lượng trung lập lâu dài hoặc trung lập từng lúc một như trong những chỉ dẫn của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi về mục tiêu cụ thể, thay đổi về nhiệm vụ, chủ trương và phương pháp nhưng không có sự thay đổi về lực lượng cách mạng. Trong học thuyết và tư tưởng của C.Mác, Ph Angghen, V.I Lênin có khái niệm “bạn đường một đoạn”, trong Hồ Chí Minh không hề có điều ấy.

Cũng đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo  Hồ Chí Minh, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc và rồi sau đó họ quay trở lại với Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói, chỉ có ai đó đã bỏ Hồ Chí Minh, chứ Hồ Chí Minh thì không bỏ một ai. Ai đó tự loại trừ chính mình, chứ Hồ Chí Minh không loại trừ ai. Phải lưu ý nhấn mạnh điều này vì, cũng đã có người nhân danh cách mạng đã làm hoen ố sự chân thành, thủy chung như nhất của Hồ Chí Minh với khối đại đoàn kết dân tộc. Bằng những thủ đoạn bè phái, hẹp hòi, họ đã làm tổn thương đến niềm tin của dân đối với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đã làm vấy bẩn hình ảnh Hồ Chí Minh trong sự tin yêu và thân thiết với tấm lòng rộng mở và chân thành cuỉa Hồ Chí Minh, làm cho những ngừơi trung thực giảm lòng tin vào Hồ Chí Minh. Những hẹp hòi, thiển cận, thủ đoạn của họ đã gây nên những tổn thất cho sự nghiệp mà Hồ Chí Minh suốt đời đeo đuổi.

Hồ Chí Minh rất coi trọng cá nhân từng người trong cộng đồng dân tộc. Điều này do nhiều nhân tố tạo thành chứ không phải chỉ là do tiếp thu được từ học thuyết của C.Mác. Nếu có tiếp thu thì là tiếp thu cái cốt lõi có giá trị nhất của học thuyết ấy bằng  truyền thống về nhân văn sâu xa từ triết lý cổ đại thời Hy La, rồi hiện đại dần lên đến thời cổ điển, phục hưng, khai sáng cho đến thời hiện đại của phương Tây. Có thể nói, truyền thống nhân văn ấy là phần rất nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh.Về mặt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác. Điều này gắn liền với giá trị tinh thần Việt Nam trong truyền thống văn hóa phương Đôngđối với con người. Điểm nổi bật nhất của giá trị đó chính là biểu hiện xuyên suốt trong cuộc đời, trong sự nghiệp và trong tư tưởng bản chất người, bản chất dân tộc của Hồ Chí Minh. Có được điều ấy vì Hồ Chí Minh phải sống và hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Những đốm lửa cách mạng được nhen nhóm từ trong điều kiện rất hiểm nghèo, khắc nghiệt của chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam, phải chắt chiu, trân trọng gìn giữ và phát huy từng cá nhân con người, phải coi trọng từng cá nhân con người mới có thể thổi bùng lên ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám và ngọn lửa kháng chiến của các cuộc kháng chiến trường kỳ trong thế kỷ XX.

Hồ Chí Minh nâng niu trân trọng con người, từng cá nhân con người, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, đào tạo từng người, không nề hà công sức, không quản ngại khó khăn, năng nhặt chặt bị, từng ly từng tí một góp gió thành bão. Khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhặt không đáng kể để rồi trở thành một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử.

Đi khắp năm châu bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, nhưng khi trở về lại mảnh đất của quê hương, đất nước thì lại có thể kiên trì giúp đỡ, dìu dắt, giác ngộ cho một đồng bào của mình ở miền núi, từ việc nhẫn nại dạy chữ, giảng giải về hoạt động cách mạng để người đó có thể trực tiếp tham gia rồi dần dần trở thành người cán bộ cách mạng. Không chỉ là cá biệt một người, mà nhiều trường hợp với nhiều người khác cũng đã được Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ mà trưởng thành.

Biết đánh giá, sử dụng và phát huy từng người cả đức và tài của họ. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong những trường hợp có ý nghĩa lịch sử, thiên tài của Hồ Chí Minh thể hiện ra ở đây là chọn rất đúng và rất trúng người đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ lịch sử  ấy.

Tôn trọng, chăm lo, tạo điều kiện làm nảy nở và tạo dựng nên nhân cách của từng ngừơi. Hồ Chí Minh hiểu rõ thế nào là nhân cách, rất dễ dàng cảm thông, trân trọng nhân cách và cá tính của con người. Nếu nhớ lại rằng, do điều kiện đặc biệt của người chiến sĩ cách mạng luôn luôn phải đối phó với hoàn cảnh khắc nghiệt bởi tính chất của công việc và mạng lưới bủa vây, truy lùng của kẻ thù, Hồ Chí Minh không có gia đình, không có được môi trường sống bình thường của một con người trong tình cảm, nghĩa vu và ứng xử hàng ngày với ông bà, cha mẹ, vợ con, anh chị em… Hiểu như vậy mới thấy hết được cái lớn của tấm lòng cảm thông và cung cách ứng xử hàng ngày của Hồ Chí Minh với mọi người, với từng người.

Hồ Chí Minh thực hiện một cách mẫu mực và chân thật sự bình đẳng của các cá nhân, không hề cường điệu, phân biệt giữa người bình thường với người giữ trọng trách, người ở cương vị cao chót vót. Hồ Chí Minh thường xuyên hỏi ý kiến các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước song cũng đồng thời sẵn sàng và thành thật hỏi ý kiến những đồng chí cấp dưỡng, lái xe, bảo vệ mình gặp hàng ngày. Người ta kể lại rằng, có lần Hồ Chí Minh không chấp nhận ý kiến của một Uy viên Bộ Chính trị, nhưng lại lắng nghe và chấp nhận ý kiến của một người cấp dưỡng.

Bằng cuộc sống đầy bản sắc của riêng mình, Hồ Chí Minh biết và hiểu được theo chiều sâu bản sắc của từng người, từng hạng người để tôn trọng và giúp trau giồi bản sắc ấy ở mỗi người.  Hồ Chí Minh đều rất tôn trọng cả hai mặt: một mặt là cải tạo hoàn cảnh bên ngoài trở nên hoàn cảnh có tính người như C.Mác nói, để qua đó, cải tạo con người và làm nên được bản sắc của con người mới. Một mặt khác, đi vào chiều sâu bên trong của từng con người như tâm linh dân tộc, tâm linh tôn giáo, tính chất trí thức, đặc điểm thế hệ, tâm lý cá nhân, những khát vọng, những nét bản sắc của từng cá nhân ấy.

Phương pháp luận để hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi để hiểu được sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi nghiệm ra rằng, cần phải xác lập cho mình một cách thức tìm hiểu, điều mà người ta hay nói là phương pháp luận. Xin gợi ra đây những suy ngẫm về vấn đề này.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có sự bình thường sau khi đã trải qua sự cao siêu; có sự giản dị sau khi đã trải qua sự phong phú, đa dạng, phức tạp; cụ thể sau khi đã trải qua trừu tượng; mộc mạc sau khi đã rất tinh tế; đạm, rất đạm sau khi đã rất nồng; khiêm nhường sau khi đã từng trải để rất biết người, biết mình; ung dung, thanh thản sau khi tự mình đã trải nghiệm qua biết bao sự chịu đựng cay đắng đủ điều, từ sự chịu đựng vì sự nghiệp của nước, của dân cho đến sự đắng cay của cuộc sống cá nhân, của thân phận con người.

Vì vậy, đơn giản hóa, tầm thường hóa, dung tục hóa, hoặc ngược lại rắc rối đến cầu kỳ, phức tạp, đi sâu vào tầm chương trích cú, tìm sự phong phú ở cái rậm rạp, xô bồ trong cách nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh thì rồi dù vô tình hay cố ý cũng đều không dẫn đến cách nắm bắt và tiếp nhận cái cốt lõi của tư tưởng Hồ chí Minh. Cũng giống như những nhà tư tưởng lớn của loài người mà Hồ Chí Minh đã học hỏi tiếp thu, tư tưởng Hồ Chí Minh có sự đa dạng, nhiều chiều, năng động, luôn luôn phát triển chứ không phải là “nhất thành bất biến”. Chỉ có một điều cần thấy rõ, đó là, từ lúc manh nha, đến lúc hình thành, và khi vận dụng vào cuộc sống, rồi được sửa chữa, bổ sung, đều đã thể hiện sự nhất quán, rất nổi bật “tính chất trước sau như một” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Cả hai biểu hiện ấy, “đa dạng, năng động, nhiều chiều, không“nhất thành bất biến” thống nhất với sự nhất quán, “trước sau như một”, xin được gọi là “tính chất một” cực kỳ hàm súc của tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất lớn.

Chú ý đến biểu hiện ấy trong phương pháp luận nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là chú ý đến sự gặp gỡ thú vị của phong cách Hồ Chí Minh với xu thế hiện nay của khoa học và của đặc điểm trí tuệ của thời đại là: tổng thể hóa trong đa dạng, chứ không chỉ là chuyên biệt hóa ngày càng sâu, càng tinh vi khi đi sâu vào phân tích cụ thể mà thiếu sự tổng hợp.

Đây là sự tổng thể hóa đầy mâu thuẫn trong đời sống và hoạt động của con người, từ cá nhân đến cộng đồng, từ một góc tâm linh, một nét tiềm thức hoặc là vô thức sâu kín, bí ẩn nhất của mỗi con người, cho đến động thái của mỗi dân tộc và của cả loài người. Có sự tổng thể hóa nhiều sắc thái của kiến thức và nghiên cứu khoa học của con người, nó là kết quả đan xen vào nhau, trở thành nhau của nhiều ngành, nhiều phương pháp khoa học, trong khi mà sự chuyên biệt hóa, bên cạnh mặt mạnh của nó, ngày càng bộc lộ những nhược điểm khá rõ. Đó là sự liên ngành, mà thực chất mới chỉ là sự phối hợp, kết hợp giữa nội dung và phương pháp của nhiều ngành để bổ sung và làm sáng tỏ cho nhau nhưng vẫn chưa bộc lộ hết tiềm năng của nó, chưa đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại.

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh phải là sự nghiên cứu rất hiện đại, chứ chỉ dừng lại phương pháp liên ngành như đã từng có trong nửa cuối thế kỷ XX thì chưa đủ và đã bị vượt qua. Phương pháp phân tích cụ thể quá sẽ thành ra chi li, dẫn đến phân tán. Tuy rằng đi sâu vào từng lĩnh vực của tư tưởng Hồ Chí Minh thì cần thiết, song chưa đủ. Cách nghiên cứu  tư tưởng Hồ Chí Minh có triển vọng nhất đó là một, nhất quán trong đa dạng, tổng thể hóa trong phong phú. Với phương pháp luận đó thì có thể sẽ tìm ra và nhấn mạnh không nhiều, nhưng lại có sức khái quát lớn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động, cho nên phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp nhận và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng phải như vậy. Sự nghiên cứu uyên bác là rất cần, càng uyên bác, thâm thúy thì càng hay, nhưng cần luôn luôn ghi nhớ cái chất của Hồ Chí Minh, cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là thiết thực và hành động. Uyên bác và thâm thúy nhất của  Hồ Chí Minh làthiết thực và có hiệu quả trong hành động.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là chân thực. Bởi vậy, vấn đề là phải làm sao phát hiện được, tiếp nhận được tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự chân thực đó. Trong những thiên lệch cần phải tránh thì trước hết phải tránh sự “tụng ca”, “vĩ nhân ca”. Không nên và không thể cộng thêm cái gì vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vì tư tưởng ấy cũng chính là nhân cách Hồ Chí Minh. Mọi ý định, cho dù là thiện chí muốn thêm vào thì chỉ là trừ đi, và nếu Hồ Chí Minh biết thì sẽ cười rằng “đừng vẽ rắn thêm chân”! Sự cường điệu về chất, về mức là không trung thực, hoàn toàn không cần thiết, hơn nữa, là có hại. Vấn đề là ở chỗ nhận cho ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua cơ đồ, qua sự nghiệp. Đừng cố tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có, cũng đều “vĩ đại”, vì như vậy chính là xuyên tạc, hạ thấp hoặc là bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải thấy cho rõ, cho đúng, cho đủ những thiếu sót, sai lầm chủ quan đã để lại dấu ấn trong tư tưởng, trong việc làm, trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Những cái đó không  thể không có, vì Hồ Chí Minh là một con người chứ không phải là một vị thánh. Hồ Chí Minh không thể không có sai lầm, cần phải khách quan và trung thực chỉ ra. Chỉ ra được những sai lầm và tác hại của nó một cách đúng đắn là thể hiện sự kính trọng và tin yêu. Cùng với cái đó, cũng phải phân tích rõ những hạn chế lịch sử mà Hồ Chí Minh không thể vượt qua được, những hạn chế đó cũng để lại những di lụy không nhỏ trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự nâng niu, bảo quản như bảo quản một di vật quý trong bảo tàng. Kế thừa là vận dụng và phát triển. Vậy thế nào là kế thừa và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay, điều kiện của dân tộc, của thế giới, của thời đại? Đây là một khó khăn phức tạp và có thể tác động ngược lại đến việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thông thường, việc kế thừa và vận dụng một tư tưởng đòi hỏi một sự lựa chọn. Nếu không có sự lựa chọn thì cũng không thể có sự kế thừa, vận dụng và phát huy. Và nói lựa chọn tức là đòi hỏi phải bỏ qua một số điểm nào đó, cố ý làm nổi bật lên hay làm nhẹ bớt đi một số điều nào đó, là nắm bắt những thông điệp nào đó và lướt qua những thông điệp nào đó. Đó là cách làm đúng đắn mang tính khoa học cao, có thể gọi đó là điều có tính quy luật được vận dụng phổ biến, để không chỉ nhằm học tập, tiếp thu những thành tựu trí tuệ của văn hóa và văn minh loài người đã đạt được, mà cũng chính là cách những người được xem là những vĩ nhân, những nhà tư tưởng lớn của loài người đã thực hiện như thế nào để trở thành vĩ nhân.

Có một lập luận cho rằng: hãy nghe thấy trong Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nghe vào chính lúc này. Hãy tìm thấy, làm nổi bật lên, học theo và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh điều mà dân tộc ta cần nhất vào lúc này với niềm tin rằng, những cái đó đều có trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Lập luận đó có cơ sở đúng bởi vì, thường là vĩ nhân nào mà cốt lõi tư tưởng là vì con người, dân tộc và loài người thì càng đa dạng và phong phú, càng chứa đựng nhiều thông điệp cần thiết cho mọi thời đại, càng dễ vận dụng theo cách lựa chọn trên. Vấn đề là, với sự tiếp cận này, sự chân thực có được với niềm tin rằng đó là khách quan và khoa học đạt được đến đâu và đâu là điểm dừng cần phải có?

Những người phản bác lại lập luận đó thì cho rằng, với cách ấy rất dễ chủ quan, tùy tiện gán cho Hồ Chí Minh những điều mà mình muốn, mình đang trông chờ chứ không phải là trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những điều đó. Lúc này đang cần có tri thức và kinh nghiệm về kinh tế thị trường thì cố đào cho ra trong tư  tưởng Hồ Chí Minh những điều ấy. Khi đất nước đang bị hút vào quỹ đạo của toàn cầu hóa thì đã cố moi tìm chỗ này, chỗ kia rằng Hồ Chí Minh đã nói về toàn cầu hóa và hội nhập hay chí ít cũng manh nha những tư tưởng ấy. Nếu làm như vậy thì đúng là giả tạo và không biết đến điểm dừng.

Nhưng đã là phương pháp luận khoa học thì phải có sự lựa chọn, có mức độ, có điểm dừng, cóthái độ trung thực khoa học đầy trách nhiệm để có cách xử lý thỏa đáng. Đây là điều không dễ dàng chút nào, song là một phương pháp luận, mà theo chúng tôi, cần phải chú ý vận dụng. Một phương pháp luận nghiên cứu như thế mới có thể đưa tới những công trình nghiên cứu xứng đáng với Hồ Chí Minh. Càng kính trọng và tin yêu Hồ Chí Minh, thấy rõ tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn lao như thế nào đối với vận mệnh của đất nước, sự nghiệp của nhân dân và tương lai của dân tộc, càng phải tuân thủ phương pháp luận đó.

Đây là những suy ngẫm nghiêm túc song không thể tránh khỏi những “thô thiển”, xin mạnh dạn nêu lên để trao đổi. Theo chúng tôi làm như vậy cũng là cách thiết thực kỷ niệm ngày sinh của Người.

  • Tương Lai

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đổi mới trong lãnh đạo cách mạng”

Bác Hồ thăm đồng ruộng HTX Lạc Trung-Bình Dương-Vĩnh Tường-Vĩnh Phúc (tháng 1 năm 1961)

Công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo được chính thức tiến hành từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), đến nay đã thu được nhiều thắng lợi. Đánh giá tổng quát thành công của 10 năm đổi mới, Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đã kết luận: ”Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng… Nước ta ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội…”(1)Đường lối đổi mới cũng được Đại hội nhấn mạnh:

“Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn…”(2). Nguyên nhân quan trọng là Đảng ta đã “kiên trì chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh (3).

Nhìn về lịch sử, đây là lần đầu tiên Đảng tiến hành công cuộc đổi mới một cách quy mô và toàn diện. Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đây cũng là một việc làm chưa có tiền lệ trong lịch sử. Trước khủng hoảng sâu sắc của chủ nghĩa xã hội, mỗi đảng cách mạng đều tự mình tìm thấy con đường thoát ra khỏi khủng hoảng. Đường lối chung đều là vận dụng sáng tạo lý luận Mác- Lê-nin vào hoàn cảnh đặc thù của đất nước mình và mỗi đảng đều thu được những thành quả nhất định. Riêng Đảng ta, nhờ có tư tuởng Hồ Chí Minh (sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam) dẫn đường, và kế thừa truyền thống cải cách, đổi mới của ông cha, đã có được những bước đi vững chắc. Nay, qua hơn 20 năm đổi mới, việc tìm ra những bài học lịch sử trong kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới là một điều bổ ích.

Trước hết, sinh thời, Bác Hồ ít dùng từ “đổi mới”, nhưng trong thực tiễn thì tư duy và hành động cách mạng của Người mang nhiều ý nghĩa đổi mới.

Năm 1911, khi ra đi cứu nước, Người đã không theo cách đi của cha anh là sang phương Đông tìm sự viện trợ ở “những người da vàng” phong kiến, tư sản, mà quyết đi sang phương Tây nhằm thấy rõ căn bệnh của chế độ “nô lệ thuộc địa” để tìm phương thuốc cứu chữa. Ở phương Tây, trong khi các bậc cha anh tìm sự cứu giúp của văn minh tư sản thì với Bác Hồ, khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” tuy vẫn còn cuốn hút sự chú ý của Người, nhưng cái mà Nguyễn Ái Quốc say sưa tìm hiểu lại là “cái mới” của thời đại. Đó là lý luận cách mạng vô sản và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế gắn với phong trào dân tộc thuộc địa.

Gặp chủ nghĩa Mác – Lê nin, Nguyễn Ái Quốc nhạy cảm nắm bắt lấy cái mới. Đó là sự phát triển của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại cách mạng dân tộc và thuộc địa. Khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” của Mác đã được Lê-nin phát triển lên thành khẩu hiệu ”Vô sán toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại”. Đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc thuộc địa của Lê nin, Nguyễn Ái Quốc đã “vui mừng đến phát khóc lên” vì thấy rõ: “Đây là con đường giải phóng chúng ta”(4). Thực tiễn của cách mạng Việt Nam và thế giới đã cho Người thấy: Vô sản chính quốc phải cùng vô sản và nhân dân các thuộc địa trên toàn thế giới liên kết lại với nhau mới có thể diệt được “con đỉa” đế quốc chủ nghĩa “hai vòi”: một vòi hút máu các dân tộc thuộc địa, một vòi hút máu của vô sản chính quốc để tồn tại.

Từ cái mới của tư duy, Nguyễn Ái Quốc đã có cái mới trong hành động. Năm 1919, Người đã cùng đại biểu các dân tộc thuộc địa gửi Yêu sách lên Hội nghị Véc-xây, yêu cầu các cường quốc phải quan tâm đến quyền lợi của các dân tộc thuộc địa. Rồi tháng 12-1930, tham dự Đại hội thành Tua của Đảng Cộng sản xã hội Pháp, Người đã biểu quyết tán thành Quốc tế cộng sản III, vì Quốc tế này coi trọng vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa. Trên đất Pháp, Nga đã hoạt động không mệt mỏi cho sự đoàn kết chiến đấu giữa vô sản chính quốc với vô sản thuộc địa.

Khi về nước xây dựng Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương thành lập chính đảng của giai cấp công nhân từ ba yếu tố” Lý luận Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đưa “Phong trào yêu nước” vào thành một trong 3 yếu tố cấu thành chính đảng vô sản là một đổi mới ”sáng suốt” đến“táo bạo” khiến các nhà lãnh đạo Quốc tế cộng sản lúc bấy giờ đã cho Bác là một người dân tộc chủ nghĩa. Nhưng lịch sử đã chứng minh ”đổi mới” đó của Người là đúng đắn, là sáng tạo.

Đến sự thành lập chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, ngay từ đầu, Chính cương và Sách lược vắn tắt do Người khởi thảo đã ghi rõ thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải Đảng Cộng sản Đông Dương, mặc dầu lúc đó sự nghiệp giải phóng các dân tộc Đông Dương còn do Đảng lãnh đạo. Cái mới này của Người xuất phát từ thực tiễn lịch sử và cách mạng của ba dân tộc Việt, Miên, Lào trên bán đảo Đông Dương, mà cũng là sự thể hiện nghiêm túc nguyên tắc về “Quyền dân tộc tự quyết” chủ nghĩa Mác – Lênin. Đổi mới này không phải đã được chấp nhận ngay. Phải đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5- 1941) mới được trở thành hiện thực và ngày càng được lịch sử xác minh là đúng dằn.

Tới cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám (1939-1945), tư duy đổi mới của Người lại tiếp tục được phát huy. Từ nhận thức về mục tiêu cách mạng là “cứu nước” (tức chỉ nhằm đánh những đế quốc xâm lược Việt Nam để giải phóng dân tộc) chứ không “phản đế” tức chống mọi đế quốc nói chung, Người đã “đổi mới” phương châm chiến lược và tổ chức cách mạng, lập “Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh” (gọi tắt là Việt Minh) thay cho Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương, tổ chức ra các đoàn thể công, nông, thanh, phụ… “cứu quốc” thay cho các đoàn thể “phản đế”. Chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng có tính chất “ba thứ quân” của Người cũng đã bắt đầu được thực hiện. Đường lối “Từ khởi nghĩa từng phần tiến đến Tổng khởi nghĩa…” của Người cũng là cái mới trong lịch sử quân sự Việt Nam.

Đặc biệt là ”Chương trình cứu nước” của Mặt trận Việt Minh do Người đề xướng đã nêu rõ: ”Thợ thuyền được hưởng luật lao động… gìa có lương hưu trí, cải thiện chế độ làm việc”; “Dân cày có đủ ruộng cày cấy, được, được cứu tế trong những năm mất mùa; tá điền, được giảm địa tô, chia lại công điền”; “Tư sản được tự do kinh doanh, được giúp đỡ trong việc mở mang các ngành kỹ nghệ cần thiết”; “Địa chủ thì: quyền sở hữu về ruộng đất vẫn được coi trọng, được khai phá đất hoang. Nhà buôn được tự do thông thương, sản nghiệp thương mại được pháp luật bênh vực…”(5)… Có thể nói cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với tư duy và hành động đổi mới của Người.

Công cuộc đổi mới của chúng ta hiện nay nhằm giải quyết khủng hoảng sâu sắc bắt đầu từ cuối thập niên 70 cũng là sự kế thừa và phát huy tinh thần đổi mới mà Bác Hồ đã thực hiện.

Từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa IV) tháng 8 – 1979, Đảng đã đề xuất chủ trương đổi mới. Trải qua một “quá trình tìm tòi, đổi mới, bám sát thực tiễn…”, Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 mới chính thức bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, như Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã tổng kết:

”Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) với những chính sách làm cho sản xuất “bung ra”; Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khóa IV) về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong hợp tác xă nông nghiệp; các Quyết định 25, 26 – CP của Thủ tướng Chính phú về nhiều nguồn cân đối và ba phần kế hoạch; Đại hội V của Đảng với việc xác định lại thứ tự ưu tiên trong phát triển kinh tế.Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa V) tháng 6 năm 1985 về giá, lương, tiền; Kết luận của Bộ Chính trị (khóa V) tháng 8 năm 1986 về một số vấn đề lớn thuộc quan điểm kinh tế.

Những thử nghiệm ban đầu về đổi mới nói trên là tiền đề dẫn tới đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội VI. Đường lối ấy hình thành trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tổng kết những kinh nghiệm sáng tạo của nhân dân, của các cấp, các ngành, hợp quy luật, thuận lòng người, nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống”(6).

Ở đây tư tưởng Hồ Chí Minh về “đổi mới” đã kế thừa và phát huy:

Trước hết, Như trên đã nói, Bác Hồ trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn coi trọng đổimới tư duy. Nay công cuộc đổi mới của Đảng ta cũng bắt đầu từ đổi mới tư duy.

Thấy rõ một trong những nguyên nhân của khủng hoảng là chúng ta duy trì quá lâu cơ chế quan liêu bao cấp mà nguồn gốc là sự trì trệ về tư duy và bảo thủ về tổ chức nên Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nêu rõ.

Báo cáo chính trị tại Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt. “Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế…”(7). Đại hội VIII lại tổng kết thêm được kinh nghiệm là “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới, chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”(8).

Thứ hai – Bác Hồ luôn nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin trong thực hiện đổi mới, nên không lúc nào đi chệch mục tiêu “độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa”. Khi tìm được con đường cứu nước, Người đã khẳng định “Chỉ có chủ nghĩa xã hội… mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”(9).

Nay trong đổi mới, Báo cáo chính trị trong Đại hội VI của Đảng cũng nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”(10). Theo gương Bác Hồ, Đảng ta luôn xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn kiểm tra chân lý. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra một phương châm nổi tiếng là”Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”(11). Đại hội VIII của Đảng đã rút ra được bài học lịch sử quan trọng là:

“Xác định rõ đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là quan niệm đúc đắn hơn về chủ nghĩa xã hội và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp. Kết hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới.

Đổi mới phải được thực hiện trên cơ sở bảo vệ, kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc và những thành quả đã đạt được. Phê phán nghiêm túc sai lầm, khuyết điểm, phải đi đôi với khẳng định những việc làm đúng, không phủ nhận sạch trơn qúa khứ, không hoang mang, mất phương hướng, từ thái cực này chuyển sang thái cực khác”(12).

Thứ ba – Trong đổi mới, Bác Hồ luôn tìm cách khắc phục những yếu kém, sai lầm của giai đoạn trước bằng đổi mới sách lược hay chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Nay trong khắc phục sai lầm chủ quan, duy ý chí, Đảng ta từ đổi mới tư duy lý luận, đã thấy rõ cách mạng xã hội chủ nghĩa phải trải qua nhiều nấc thang của thời kỳ quá độ, đã đề ra chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(13). Ở đây chúng ta thấy có sự vận dụng chính sách Tân kinh tế (NEP) của Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng quan tâm trong xây dựng Chương trình cứu nước của Việt Minh thời Cách mạng Tháng Tám, đồng thời Đảng ta cũng nêu lên bài học kinh nghiệm: “Vận dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý nền kinh tế thị trường là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, chứ không phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(14). Trong bất kỳ sự đổi mới nào, Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta vẫn không bao giờ xa rời con đường xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư – Trong cách mạng, Bác Hồ luôn coi trọng dân chủ, chăm lo tới quyền lợi của nhân dân với quan điểm lấy dân làm gốc, mọi sự nghiệp cách mạng, mọi tổ chức cách mạng đều là “của dân, do dân, vì dân”.

Trong đổi mới, Đảng đã đưa kinh nghiệm lịch sử này lên vị trí hàng đầu: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”(15).

Trong đổi mới chính trị, phải ”Chăm lo phát triển nguồn lực con người, thực hiện công bằng xã hội”(16).

Trong xây dựng kinh tế, phải chăm lo xóa đói giảm nghèo, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa nông nghiệp lên mặt trận hàng đầu, phấn đấu cho nhân dân được ấm no, đất nước được văn minh, giàu mạnh.

Thứ năm – Trong đổi mới, Bác Hồ luôn coi trọng đổi mới tổ chức và sự lãnh đạo của Đảng, củng cố hệ thống chính trị, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, mở rộng đoàn kết quốc tế tạo nên một sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi cả trong dựng nước và giữ nước.

Ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết là học tập và phát huy  duy đổi mới của Người trong lãnh đạo và tiến hành cách mạng, để đưa đất nước ta tiến kịp với trình độ và yêu cầu mới của thời đại.

GS.Văn Tạo


(1)(2)(3), ĐCSVN Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 67, 68, 70.
(4), Hồ chí Minh: Tuyển tập, Nxb Hà Nội, 1960, tr. 794.
(5), ĐCSVN Văn kiện Đảng 1930- 1945, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977, tập 3, tr. 446-445.
(6), ĐCSVN Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 68-69.
(7), ĐCSVN Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1987, tr 124-125.
(8), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VIII, Sđd, tr 71.
(9), Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1960 tr. 794.(10), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VI, Sđd, tr. 125, tr. 12.
(11), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VI, Sđd, tr 125., tr. 12.
(12) (13), ĐCSVN Văn kiện Đại hội III, Sđd, tr 70, tr. 72.
(14), ĐCSVN Văn kiện Đại hội III, Sđd, tr 70, tr. 72.
(15), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VI, Sđd, tr 29.
(16), ĐCSVN Văn kiện Đại hội VII, Sđd, tr 28.

tuyengiao.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 1

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Lời giới thiệu

“Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh” là một công trình khoa học ra đời đúng lúc, có giá trị khoa học, có những đề xuất mới đối với môn Hồ Chí Minh học ở nước ta.

Công trình bắt đầu từ việc xác định hai khái niệm phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, nói như một nhà phương pháp luận học phương Tây, tác giả cuốn Động thái về nghiên cứu khoa học xã hội (Dynamique de la recherche en sciences sociales) tức là con đường lôgích của sự nghiên cứu mà nhiều người ứng dụng, bao gồm: – Hệ quan điểm vận dụng; – Thao tác luận trong nghiên cứu, tức hệ trình (ordre) về những biện pháp và cách làm cụ thể.

Những luận thuyết tác giả đưa ra đều đúng, đã chỉ ra được tiến trình sáng tạo của sự nghiên cứu nhằm đạt được ý đồ khoa học đã được xác định. Từ đó, một ưu điểm thứ hai của công trình là xuất phát từ một đối tượng nghiên cứu đặc biệt, tác giả đã tiến lên một bước rất cần thiết là xác định những nguyên tắc phương pháp luận đặc thù của việc nghiên cứu Hồ Chí Minh. Đây là một vấn đề hoàn toàn mới.

Hồ Chí Minh là một nhân vật vĩ đại, đứng về khoa học, có thể nói đó là một đối tượng nghiên cứu mang tính chất tổng thể: tư tưởng, hành động, nhân cách, đời sống riêng, trước tác về chính trị, báo chí, thơ ca, các hoạt động quốc tế,… Như vậy, phải có một phương pháp luận và phương pháp riêng mới nghiên cứu và làm rõ được tính chất kỳ vĩ toàn diện của Hồ Chí Minh. Các tác giả đã thực hiện được điều đó bằng sức suy tư, tìm tòi, tổng kết và đề xuất của mình.

Từ những nguyên tắc phương pháp luận đặc thù của việc nghiên cứu, các tác giả đã vận dụng sinh động và nhất quán vào việc tìm hiểu và xác định các phương pháp liên ngành và chuyên ngành trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu tiểu sử, thơ vǎn, ngôn ngữ,… của Hồ Chí Minh được tác giả trình bày khá tỉ mỉ, cụ thể với nhiều dẫn chứng phong phú, có chọn lọc, theo một lôgích khoa học chặt chẽ, có ý nghĩa chỉ dẫn thiết thực đối với những nhà nghiên cứu trẻ mới đi vào chuyên ngành này.

Phương pháp luận liên ngành đã được vận dụng với một hiểu biết khá sâu sắc. Với những lý do trên, tôi đánh giá cao công trình này, một công trình chứa đựng nhiều tìm tòi, khám phá mới, có trình độ khái quát cao, một đóng góp rất bổ ích vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh đang được triển khai rộng rãi ở nước ta. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Giáo sư, Viện sĩ. Hoàng Trinh

Lời nói đầu

Trong những nǎm gần đây, công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã không ngừng được mở rộng và phát triển, cả về nội dung nghiên cứu lẫn quy mô nghiên cứu. Từ chức nǎng, nhiệm vụ của một cơ quan, thậm chí của một số ít người chuyên trách, đến nay nó đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Các ngành, các địa phương, các học viện và nhà trường, ít nhiều đã hình thành được những trung tâm nghiên cứu, tổ nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh đã và sẽ được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, trước hết là các trường Đảng và trường đại học, nên việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh có triển vọng trở thành một bộ môn khoa học chuyên ngành của khoa học xã hội nước ta.

Do đó, cùng với việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác lý luận, việc cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh cũng đang được đặt ra như một yêu cầu cấp bách. Trong mấy chục nǎm qua, thành tựu nghiên cứu về Hồ Chí Minh có thể nói là khá toàn diện và phong phú. ở Việt Nam, có lẽ chưa có một tác giả nào, một nhân vật lịch sử nào lại được giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu nhiều như thế, với một khối lượng công trình, luận vǎn, bài báo,… to lớn đến như thế. Trong đó, có không ít những công trình có giá trị, được giới nghiên cứu thừa nhận, nhất là các công trình có tính chất tiểu sử (như các cuốn Hồ Chí Minh của J. Lacouture; Đồng chí Hồ Chí Minh của E. Cabêlép; Hồ Chí Minh với Trung Quốc của Hoàng Tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp của Viện lịch sử Đảng; Hồ Chí Minh – biên niên tiểu sử của Viện Hồ Chí Minh, v.v.). Về nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, phong cách … Hồ Chí Minh, trước hết phải kể đến những tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã viết về Người, như tác phẩm của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Vǎn Đồng, Nguyễn Vǎn Linh, Đỗ Mười, Võ Nguyên Giáp,… trong đó có những công trình và luận vǎn, tuy công bố đã lâu, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

Trong dịp kỷ niệm lần thứ 100 nǎm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là từ sau Đại hội VII của Đảng ta đến nay, việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã được đẩy mạnh, số lượng tác phẩm và bài viết tǎng nhiều lần so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Những kết quả được công bố đã góp phần làm rõ thêm khái niệm và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp cho toàn Đảng, toàn dân có thêm tài liệu nghiên cứu, học tập để vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp đổi mới cũng như vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặc dù khẳng định những thành tựu đã qua là to lớn, nhưng điều dễ nhất trí là những gì chúng ta làm được cũng mới chỉ là bước đầu, còn rất nhỏ bé so với tầm vóc của Hồ Chí Minh, so với mong đợi của nhân dân và bạn bè trên thế giới, so với yêu cầu về công tác tư tưởng và lý luận của Đảng ta. Nhược điểm dễ thấy nhất là chất lượng nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh chưa cao, còn ít những công trình chuyên khảo có giá trị tổng kết về mặt lý luận, đưa ra được những dự án lý thuyết, đóng góp vào việc hoạch định và lựa chọn những giải pháp kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước. Một số công trình và bài viết vẫn chưa vượt lên được trình độ chung đã có, chưa hoàn toàn khắc phục được những biểu hiện của chủ nghĩa sơ lược, chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa kinh nghiệm,… Do đó, tính khoa học, tính thuyết phục trong nghiên cứu chưa cao, chưa sâu, chưa thực đủ hấp dẫn đối với người đọc. Để cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh, có nhiều vấn đề phải bàn, song trước mắt, có hai vấn đề cấp bách cần giải quyết:

1. Đổi mới công tác tư liệu về Hồ Chí Minh

Công tác này bao gồm công tác sưu tầm, bổ sung, xác minh và xã hội hoá hệ thống tư liệu đã có. Muốn nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh trên phạm vi toàn xã hội, trước hết phải xây dựng được một hệ thống tư liệu đầy đủ, chính xác, đã qua xử lý khoa học và đến tay được đông đủ nhà nghiên cứu. (Bộ Hồ Chí Minh – toàn tập và bộ Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử đã đáp ứng phần nào yêu cầu trên). Tuy nhiên, hiện còn một bộ phận quan trọng tư liệu về Hồ Chí Minh vẫn chưa được sưu tầm và khai thác đầy đủ. Do đó, muốn cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh thì một trong những công việc quan trọng đầu tiên là phải sưu tầm và khai thác được đầy đủ hệ thống tư liệu chính xác, bảo đảm tính khoa học và tính thuyết phục cao.

2. Xác lập những nguyên tắc phương pháp luận, cải tiến và đổi mới phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

2.1. Lâu nay, các nhà khoa học từ các chuyên ngành khác nhau tham gia vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh, chủ yếu vận dụng kinh nghiệm phương pháp luận của chuyên ngành mình hoặc bước đầu tiến lên sử dụng phương pháp liên ngành ở một mức độ nào đó. Cách làm này đã đem lại những kết quả nhất định. Những thành tựu trong công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đang góp phần hình thành một bộ môn khoa học chuyên ngành, nó có đối tượng nghiên cứu riêng nên cần có phương pháp nghiên cứu thích hợp với đối tượng ấy, dưới sự chỉ đạo của những nguyên tắc phương pháp luận mang tính đặc thù của bộ môn. Vì vậy, đã đến lúc cần sớm làm rõ những vấn đề mà thực tiễn nghiên cứu đang đặt ra: Một là, những nguyên tắc phương pháp luận chung chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh là gì? Hai là, có hay không có những nguyên tắc mang tính đặc thù của chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh học? Ba là, cần phân biệt các khái niệm sau đây để tránh lầm lẫn trong nghiên cứu: – Phương pháp luận của Hồ Chí Minh (của bản thân đối tượng nghiên cứu). Cơ sở phương pháp luận chung của chúng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Vậy xây dựng những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc nghiên cứu Hồ Chí Minh cũng cần phải xuất phát từ chính phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu thấu đáo. – Phương pháp hệ (metthodicat) nghiên cứu về Hồ Chí Minh nên gồm những phương pháp nào để chẳng những kết quả nghiên cứu phải hiện thực mà phương pháp nghiên cứu, con đường dẫn đến kết quả đó, cũng phải hiện thực. Nghĩa là trong nhiều phương pháp hiện có, cần lựa chọn những phương pháp nào được coi là thích hợp và có hiệu quả nhất. – Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh như là những nguyên tắc lý thuyết có ý nghĩa chỉ đạo chuyên ngành Hồ Chí Minh học. Các khái niệm này hiện nay chưa được làm rõ và sử dụng thống nhất trong nghiên cứu. Bốn là, nếu đối tượng nghiên cứu quyết định phương pháp nghiên cứu, thì công việc trước hết của giới nghiên cứu là phải khám phá đầy đủ, chính xác đối tượng nghiên cứu – ở đây là Hồ Chí Minh – tức là phải tìm hiểu và làm rõ: bản chất, đặc điểm của con người, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là gì ? Vấn đề này mấy nǎm qua giới nghiên cứu đã có nhiều cố gắng nhưng đến nay vẫn chưa được lý giải thoả đáng.

2.2. Cần cải tiến và đổi mới phương pháp nghiên cứu để có được hiệu quả cao. Chung quanh vấn đề này hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau: Có ý kiến cho rằng, các phương pháp cũ vẫn cần được khai thác và vận dụng cho tốt hơn, nhưng muốn đạt chất lượng mới, cần có sự đổi mới về phương pháp nghiên cứu. Có đúng như vậy không ? Đổi mới trên cơ sở nào, theo phương hướng nào ? Có thể tiếp thu những kinh nghiệm gì của khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân trên thế giới ? Thí dụ, sự ra đời của một vĩ nhân như Hồ Chí Minh, theo chúng ta vẫn quan niệm, là một tất yếu lịch sử, nếu không có Hồ Chí Minh thì nhất định sẽ có một người khác, nhanh hay chậm, “thích hợp ít hay nhiều, nhưng cuối cùng cũng xuất hiện”, như Mác nói. Như vậy, trong cùng một điều kiện lịch sử, trên đất Nghệ – Tĩnh, khả nǎng “Nam Đàn sinh thánh” không phải chỉ có một người, nhưng cuối cùng vĩ nhân đó lại chính là Hồ Chí Minh, chứ không phải là một người nào khác; điều đó đòi hỏi chúng ta phải lý giải một cách cụ thể đủ sức thuyết phục. Lại có ý kiến cho rằng, lâu nay ta nghiên cứu vĩ nhân mới chủ yếu tiếp cận từ quan điểm giai cấp, từ những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử, điều đó hoàn toàn đúng nhưng chưa đủ. Con người không chỉ là sự tổng hoà của các quan hệ với tự nhiên nữa.

Trong nghiên cứu, ta thường mới chú trọng con người xã hội mà xem nhẹ con người tự nhiên, coi trọng con người công dân mà xem nhẹ con người cá thể, đề cao con người hành động mà bỏ qua con người tâm linh,… Nếu chỉ như thế, thì vẫn chưa hiểu được Hồ Chí Minh, một người cộng sản phương Đông. Thí dụ, chúng ta đều biết Hồ Chí Minh có nhiều dự báo đã được lịch sử chứng nghiệm là đúng. Lý giải rằng, đó là kết quả của việc Người đã nắm bắt được quy luật phát triển của lịch sử kết hợp với một vốn tri thức khoa học phong phú của thời đại nên đã dự kiến được bước đi của tương lai,… Điều đó là hoàn toàn đúng. Nhưng diễn biến cụ thể của lịch sử vốn ngoắt ngoéo và đầy bất ngờ. Chẳng hạn, trong khi các nguyên thủ của phe Đồng Minh tại Hội nghị Têhêrǎng nǎm 1943 dự kiến rằng, phải đến nǎm 1946 mới có khả nǎng đánh bại được lực lượng phát xít, kết thúc chiến tranh, thì Hồ Chí Minh tại Pác Bó nǎm 1941 đã viết: 1945 Việt Nam độc lập! Và lịch sử đã diễn ra đúng như vậy.

Vì vậy, có người đề nghị: trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc và phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nên chǎng có thể tham khảo và vận dụng có mức độ các phương pháp như các phương pháp trực cảm, trực giác, phương pháp thông hiểu (comprehention), v.v. Theo chúng tôi nghĩ, vấn đề không phải là được phép hay không được phép sử dụng phương pháp nào với ý nghĩa là một công cụ nghiên cứu, mà cái chính là sử dụng như thế nào, với giới hạn nào để đạt được chân lý khoa học, mà không rơi vào duy tâm, thần bí. Lại có ý kiến khác cho rằng, trong nghiên cứu Hồ Chí Minh, tác phẩm và vǎn bản là cần, nhưng không phải là cái quan trọng nhất, mà điều quan trọng hơn là phải tìm hiểu xem tư tưởng của Người đã đi vào thực tiễn như thế nào, đã xâm nhập vào quần chúng, đã tỏ sức mạnh vĩ đại trong cuộc sống ra sao, có thể mới đánh giá được hết những cống hiến, giá trị, tác dụng của tư tưởng của Người đối với dân tộc. Đây là một vấn đề thuộc quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu, đánh giá tư tưởng – đạo đức Hồ Chí Minh khi đi vào quần chúng, đã trở thành niềm tin, hy vọng, thành sức mạnh vượt qua đầu thù như thế nào ? ở hình thái dân dã, nhiều thế hệ người Việt Nam trước đây và hiện nay vẫn tôn thờ Hồ Chí Minh như một vị thánh. Càng trong hoàn cảnh khó khǎn, gian khổ, trong tra tấn tù đày, đồng bào và chiến sĩ ta càng hướng về Bác Hồ, tìm thấy ở Người một sự tiếp sức kỳ diệu.

Có thể nói, Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ cộng sản hiện đại duy nhất đã được huyền thoại hoá ngay từ khi đang còn sống. Từ lúc trẻ ngay ở Pháp, khi chưa có tên tuổi sự nghiệp gì lớn, các đồng chí cùng hoạt động với Nguyễn ái Quốc ở Pari, qua ánh mắt sáng rực, khuôn mặt thanh khiết, nếp sống khổ hạnh của Nguyễn ái Quốc, đã nghĩ rằng đó là một nhà cách mạng khác thường. Rồi bọn mật thám Pháp, qua các báo cáo theo dõi và nhận xét của chúng, cũng đã đóng góp vào việc huyền thoại hoá con người “có khả nǎng cắm cây thập tự cáo chung lên nền thống trị của Pháp ở Đông Dương”.

Còn nhân dân Việt Nam và thế hệ thanh niên yêu nước ở những thập niên đầu thế kỷ XX đã biết đến Nguyễn ái Quốc qua lời giảng của Cụ Phan về một số câu sấm truyền. Đặc biệt là trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thì hình ảnh Hồ Chí Minh đã đem lại sức mạnh trong lòng đồng bào, chiến sĩ, đặc biệt là với các chiến sĩ tử tù nơi Côn Đảo. Không phải chỉ chúng ta mà nhiều bạn bè quốc tế đã thừa nhận Hồ Chí Minh là một nhân vật huyền thoại, một vị thánh của cách mạng. ở đây ta không bàn đến nguyên nhân, điều kiện xuất hiện của hiện tượng này, nhưng đó là một hiện tượng có thực. Giải hiện tượng huyền thoại hoá này để nhận chân con người, tư tưởng, nhân cách vǎn hoá Hồ Chí Minh như thế nào ? Giữa con người lịch sử – hiện thực và con người tượng trưng (symbol), chung đúc trong đó cả khát vọng, lương tâm, vinh dự của một dân tộc, phần nào là thực, phần nào là màu sắc lung linh của huyền thoại ? Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều vấn đề đang được giới nghiên cứu đặt ra chung quanh vấn đề phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các khoa học xã hội và nhân vǎn, khoa học về các phương pháp nghiên cứu cũng đạt được những thành tựu mới ngày càng phong phú.

Chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh đang hình thành, vì vậy phương pháp luận nghiên cứu của nó cũng chỉ có thể từng bước hoàn thiện cùng với sự phát triển của môn học. Vì là một đề tài rất lớn và khó, nên chuyên đề này không có tham vọng đặt ra và giải quyết toàn bộ những vấn đề đang nảy sinh trong thực tiễn nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Do khả nǎng và trình độ có hạn của các tác giả, chuyên đề này tự hạn chế ở mấy mục tiêu sau đây: Về lý luận, nghiên cứu để bước đầu xác lập những nguyên tắc phương pháp luận chung, các phương pháp liên ngành và chuyên ngành,… nhằm sơ bộ tìm ra một hệ phương pháp nghiên cứu thích hợp cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học ở Việt Nam, từng bước đưa sự nghiệp nghiên cứu Hồ Chí Minh lên thành một bộ môn khoa học, khắc phục dần những nhược điểm và hạn chế hiện nay. Về thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu về phương pháp, đưa ra những kiến nghị khôi phục lại tính chân thực lịch sử của trước tác Hồ Chí Minh, kiến nghị thử nghiệm và vận dụng tư tưởng, phương pháp Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đổi mới của đất nước. Kết quả của công trình sẽ là một tài liệu đóng góp vào việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ đi vào chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh, mở rộng đội ngũ, chuẩn bị cho việc triển khai các đề tài nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở các giai đoạn sau.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 2

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương I – Một số vấn đề lý luận chung về phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh là nghiên cứu tư tưởng, cuộc đời, sự nghiệp của Người nhằm làm sáng tỏ những cống hiến to lớn và ảnh hưởng sâu rộng của Người đối với dân tộc và đối với thế giới. Có tư tưởng Hồ Chí Minh xét về mặt lý luận mà nội dung cốt lõi, chỗ kết tinh và toả sáng của tư tưởng đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Có thời đại Hồ Chí Minh mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam xét về mặt thực tiễn. Đó là thời đại phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam cùng với ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đối với hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là trọng điểm nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Đây cũng là nội dung và phương hướng chủ đạo trong nghiên cứu chuyên ngành. Nó đặt nền móng cho sự ra đời bộ môn Hồ Chí Minh học với tư cách là một khoa học độc lập, nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân vǎn ở nước ta. Muốn xây dựng hệ thống lý luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để có thể sử dụng chúng một cách thành thạo, như những công cụ và những thao tác nghiên cứu, nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu đối với môn khoa học còn rất mới mẻ nhưng đầy triển vọng này, cần thiết phải bắt đầu từ những vấn đề chung sẽ được trình bày dưới đây.

I. Mối quan hệ giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận

Lý luận (teorija), phương pháp (metod) và phương pháp luận (metodologija) là những khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng thống nhất nhưng không đồng nhất.

1. Lý luận (hay lý thuyết) theo chữ Hy Lạp: theoria, theorein – có nghĩa là quan sát, khảo sát, nghiên cứu. Lý luận là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lôgích, phản ánh bản chất, quy luật vận động và phát triển của khách thể được nghiên cứu. Điểm xuất phát của lý luận là thực tiễn. Những kết quả nghiên cứu dưới dạng khái quát hoá và trừu tượng hoá khoa học, sử dụng các khái niệm, phạm trù khoa học để xác lập hệ thống luận điểm và nguyên lý là để biểu thị bản chất, quy luật của đối tượng. Nó chỉ được coi là lý luận và trở thành lý luận nếu qua sự kiểm tra, đối chiếu trong thực tiễn nó tỏ ra phù hợp với thực tiễn. Lý luận, xét theo cách thức sản sinh ra nó, là sản phẩm của tư duy trừu tượng, là kết quả của những nỗ lực chủ quan của người nghiên cứu. Nǎng lực lý luận ở người có trình độ tư duy lý luận cao thống nhất ở hai mặt mâu thuẫn sau đây: Một mặt, nó không bám chắc vào thực tiễn cụ thể, sinh động, đứng vững trên mảnh đất hiện thực – ở đó có đối tượng, có khách thể nghiên cứu của mình để tiến hành mọi hoạt động nghiên cứu theo quan điểm thực tiễn và nhất quán với quan điểm thực tiễn.

Đó là bảo đảm duy nhất chắc chắn cho lý luận được sinh ra một cách chân thực, khách quan, sống động, không rơi vào tình trạng tư biện, tính chất kinh viện, bệnh chủ quan và giáo điều. Mặt khác, nó có khả nǎng bứt ra, tách khỏi cái cụ thể ban đầu, vượt lên trên giới hạn của cái kinh nghiệm để hình thành lý luận, dùng lý luận như là công cụ để nhận thức, khám phá đối tượng ở phía bản chất vốn ẩn giấu bên trong, đằng sau các hiện tượng. Đây là khả nǎng phát hiện và sáng tạo của tư duy lý luận, là ưu thế riêng có của lý luận. Thực tiễn làm phát sinh lý luận. Gắn bó và bám sát thực tiễn sẽ làm cho lý luận phải vượt lên để khỏi bị lạc hậu, đồng thời nhờ thực tiễn mách bảo, gợi ý, thúc đẩy mà lý luận có được khả nǎng vượt trước để dẫn đường. Không có thực tiễn thì không có nội dung của lý luận. Nhưng không có tư duy lý luận và hoạt động nghiên cứu lý luận bởi sự nỗ lực của chủ thể thì lý luận cũng không thể hình thành, không thể “lý luận hoá thực tiễn” và “thực tiễn hoá lý luận” được.

Thấu hiểu sự thống nhất và vai trò của lý luận cũng như của thực tiễn, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới luận điểm của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người còn khẳng định rằng: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cǎn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, rằng, lý luận không gắn liền với thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng. Lý luận không tồn tại dưới dạng những luận điểm riêng lẻ, rời rạc mà là một hệ thống chặt chẽ, có trật tự lôgích của các luận điểm đó. Tính hệ thống là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận. Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận. Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống trong nghiên cứu khoa học xuất phát từ đòi hỏi đó. Là một hệ thống, lý luận còn được xem xét về mặt kết cấu. Nó bao gồm nhiều thành tố khác nhau nhưng quan trọng nhất là ba thành tố sau đây:

Thứ nhất, các sự kiện khoa học đã tích luỹ được, kể cả nghiên cứu thực nghiệm. Thứ hai, tập hợp các quy tắc, suy lý lôgích và chứng minh được chấp nhận trong khuôn khổ của lý luận. Thứ ba, tập hợp các khái niệm, các nguyên lý cơ bản cùng các quy luật, định lý, các khẳng định, các hệ quả được suy ra từ cǎn cứ thực nghiệm, và từ các khái niệm, các nguyên lý cơ bản ấy bằng con đường suy lý lôgích và chứng minh tương ứng. Mỗi khoa học có lý luận và cơ sở lý luận riêng của nó. Vì vậy môn Hồ Chí Minh học muốn trở thành một bộ môn khoa học độc lập trước hết nó phải xây dựng được cơ sở lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của mình. Để nghiên cứu về Hồ Chí Minh trước hết phải xây dưng được lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của bộ môn; đó là toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách, lối sống, v.v. của Hồ Chí Minh. Lý thuyết đó bao gồm: – Hệ thống sự kiện có tính quy luật về đối tượng, nghĩa là nó phải phổ biến chứ không đơn nhất, phải phản ánh được bản chất chứ không phải hiện tượng bề ngoài, cái ngẫu nhiên phải là sự biểu hiện của cái tất nhiên. Đó là những sự kiện chính xác, đã qua giám định, xác minh khoa học về các giai đoạn của cuộc đời, hoạt động, trước tác của Hồ Chí Minh từ khi sinh ra đến khi từ biệt thế giới này. Những sự kiện đó được đặt trong mối quan hệ tương tác với quê hương, gia đình, dân tộc, thời đại…

Trong cuộc đời 79 mùa xuân của Hồ Chí Minh, có hơn 30 nǎm Người sống và hoạt động ở nước ngoài, lại đi vào huyền thoại từ rất sớm, ngay từ khi còn sống. Vì vậy, xác lập hệ thống sự kiện có tính quy luật về khách thể nghiên cứu ở đây quả là không đơn giản. – Những kết quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã đạt được trong mấy chục nǎm qua ở trong nước và nước ngoài, những nhận định, đánh giá chính thức của Đảng và Nhà nước ta về Hồ Chí Minh, những suy lý hợp lôgích của các nhà khoa học đã được khảo nghiệm qua thực tế, có thể chấp nhận được. – Hệ thống khái niệm, phạm trù như là công cụ, phương tiện của bộ môn để chiếm lĩnh đối tượng, cần sớm được làm rõ và chính xác hóa. Hệ thống khái niệm, phạm trù đó có thể ngày càng được mở rộng cùng với việc mở rộng các lĩnh vực nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các khái niệm cơ bản phải sớm được trao đổi, đi tới nhất trí, làm định hướng cho nội dung và phương pháp nghiên cứu của bộ môn. Thí dụ: tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ? (Tư tưởng hay học thuyết, chủ nghĩa ?). Tư tưởng Hồ Chí Minh có phải bao gồm những phạm trù: tư tưởng nhân vǎn, tư tưởng chính trị, tư tưởng kinh tế, tư tưởng quân sự, tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng đạo đức,…? Đạo đức Hồ Chí Minh là gì ? Rồi phương pháp Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh, v.v..

Tóm lại, có xây dựng được hệ thống lý thuyết về đối tượng nghiên cứu – ở đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh – mới có thể từ đó bàn tiếp về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh, bởi phương pháp hình thành từ lý luận; lý luận nào phương pháp ấy.

2. Phương pháp được hiểu là cách thức đề cập tới hiện thực, cách thức nghiên cứu các hiện tượng của tự nhiên và của xã hội. Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể được nhận thức. Như vậy, phương pháp là sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, nó không phải là phạm trù thuần tuý chủ quan do lý trí đặt ra mà xuất phát từ những quy luật vận động của khách thể đã được con người nhận thức. Cần chú ý là, bản thân các quy luật vận động của khách thể mới chỉ là cơ sở của phương pháp.

Cơ sở lý luận trực tiếp của phương pháp không phải là các quy luật vận động của khách thể này mà là những quy luật đã được nhận thức, được diễn đạt thành lý luận. Do đó, lý luận là hạt nhân của phương pháp, là cái lõi mà từ đó hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh tạo nên nội dung của phương pháp được xây dựng. Tóm lại, phương pháp có nội dung sâu sắc. Nó bị quy định bởi đặc điểm, bản chất của khách thể đồng thời con người là chủ thể sáng tạo ra phương pháp.

Cũng chính con người sử dụng phương pháp, mang nó vào hoạt động thực tiễn, dùng nó như một công cụ, một phương tiện để tác động vài đối tượng nhằm đạt tới mục tiêu hoạt động của mình. Nhờ có lý luận khoa học dẫn dắt mà hoạt động của con người trở nên tự giác chứ không mù quáng. Cũng nhờ có phương pháp gắn liền với lý luận mà con người tránh được những mò mẫm, tự phát và đạt được hiệu quả trong hoạt động. Cũng tồn tại như nhau trong môi trường tự nhiên nhưng con vật lệ thuộc tuyệt đối vào tự nhiên và bị bản nǎng, tập tính loài chi phối.

Trong khi đó, con người chỉ lệ thuộc vào tự nhiên một cách tương đối. Nó vừa lấy cái có sẵn trong tự nhiên vừa nhào nặn, biến đổi tự nhiên, làm thêm ra và đem vào trong tự nhiên cái mà tự nhiên không có, như Mác nói, “Tự nhiên là thân thể vô cơ của con người” và con người còn “sáng tạo tạo ra một tự nhiên thứ hai như là tác phẩm nghệ thuật của chính mình”. Đó là quá trình nhân loại hoá tự nhiên bởi con người, do có ý thức chi phối bản nǎng. “Con người là một cây sậy trong tự nhiên nhưng là cây sậy có trí tuệ”.

Trong định đề ấy của Pãtcan, trí tuệ là cái làm nên sức mạnh bản chất con người, nhờ nó, con người sản xuất ra lý luận, tư tưởng, đồng thời với sản xuất ra phương pháp. Như vậy, cũng như lý luận, phương pháp thuộc về nội dung khoa học, nó cũng ở cấp độ lý luận – tư tưởng chứ không phải là hình thức, là cái vỏ thuần tuý để biểu đạt tư tưởng. Phương pháp được xây dựng nên từ trình độ của lý luận chứ không phải bằng kinh nghiệm dù cho sự tích luỹ kinh nghiệm có một vai trò quan trọng to lớn trong sự hình thành phương pháp. Không có lý luận thì không có phương pháp khoa học.

Cũng như vậy, kinh nghiệm phải được tổng kết một cách có lý luận, ở trình độ khoa học, được lý luân hoá mới tham dự vào sự hình thành phương pháp. Sự khéo léo, thuần thục do thói quen và kinh nghiệm tạo ra có thể mang ý nghĩa như những phương pháp , song nó thường chỉ dừng lại ở mức độ là những thao tác kỹ thuật thực hành và phạm vi của nó thường là hạn chế trong những tình huống, những giải pháp cụ thể, khó có thể vươn tới tính khái quát – phổ biến. Chỉ có vũ trang bằng lý luân, dựa trên một cơ sở lý luận vững chắc thì phương pháp mới trở thành phương pháp khoa học.

Hệ thống các phương pháp là đa dạng, tuỳ theo sự phân loại khoa học; có những phương pháp riêng áp dụng trong phạm vi một bộ môn khoa học; có phương pháp chung cho một số bộ môn và có phương pháp phổ biến cho tất cả các bộ môn. Ta thường thấy các phương pháp được sử dụng kết hợp trong nghiên cứu như phân tích và tổng hợp, lôgích và lịch sử, mô tả, phân loại, thống kê, phân tích so sánh và phân tích hệ thống, phỏng vấn – điều tra xã hội học, phương pháp điều tra thực địa (trong khoa học lịch sử, khảo cổ học và dân tộc học), phương pháp chuyên gia…

Trong nghiên cứu tư tưởng – cuộc đời – sự nghiệp Hồ Chí Minh, những phương pháp trên đây đều có thể được chọn lọc để áp dụng, trong đó có cả phương pháp phân tích vǎn bản học là phương pháp thường dùng khi nghiên cứu di sản và lịch sử tư tưởng, phương pháp kết hợp phân tích lịch đại với phân tích đồng đại để làm sáng tỏ sự hình thành và phát triển tư tưởng, quan hệ và ảnh hưởng qua lại giữa vĩ nhân và thời đại lịch sử. Cùng với những phương pháp chung và riêng đó, phương pháp phổ biến trong nghiên cứu và nhận thức khoa học là phương pháp biện chứng.

Đây là một phương pháp triết học mácxít đóng vai trò dẫn đường về thế giới quan và phương pháp luận trong nghiên cứu. Phương pháp biện chứng (dialekticheski metod) – đó là một hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn, xuất phát từ lý luận biện chứng. Phương pháp biện chứng của triết học Mác là biện chứng duy vật, trong đó biện chứng của cái khách quan quy định biện chứng của cái chủ quan, tư duy biện chứng phản ánh tính biện chứng vốn có của bản thân cuộc sống.

Phương pháp biện chứng duy vật ứng dụng trong nhận thức và nghiên cứu khoa học đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm vững và sử dụng thành thạo lôgích biện chứng mà nội dung của nó là hệ thống các nguyên lý (mối liên hệ phổ biến và phát triển), các quy luật nói lên bản chất, cách thức và xu hướng vận động và phát triển và các cặp phạm trù của nhận thức luận (Chung – Riêng, Bản chất – Hiện tượng, Nhân – Quả, Khả nǎng – Hiện thực, Nội dung – Hình thức, Tất yếu – Ngẫu nhiên…).

Từ những nguyên lý, quy luật và phạm trù đó, phương pháp biện chứng duy vật hình thành nên các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo thế giới quan, phương pháp nhận thức và phương pháp tư tưởng mà tiêu biểu là quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm thực tiễn, tính khách quan, tính phê phán và kế thừa có chọn lọc,… trong xem xét các sự vật hiện tượng của thế giới. Nó là một thế giới chỉnh thể, vận động và phát triển trong mâu thuẫn, bằng mâu thuẫn. Nó là một hệ thống mở chứ không đóng kín; là một tập hợp những khái niệm, phạm trù động chứ không phải tĩnh.

Tóm lại, nó là biện chứng chứ không phải siêu hình. Những đặc điểm nêu trên của phương pháp biện chứng duy vật với tư cách là một phương pháp phổ biến cũng đồng thời là nói ý nghĩa phổ quát của phương pháp này như là phương pháp luận. 3. Cấp độ cao nhất của lý luận và phương pháp, ở trình độ khái quát sâu sắc nhất cái bản chất của cả lý luận lẫn phương pháp, là phương pháp luận (metodologija). Phương pháp luận là lý luận về các phương pháp nhận thức và cải tạo thực tiễn. Nó xứng đáng được gọi là học thuyết về phương pháp. Là khoa học về phương pháp, phương pháp luận biểu hiện ra như một hệ thống chặt chẽ các quan điểm, các nguyên lý chỉ đạo việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

Có thể khái quát mối quan hệ giữa phương pháp luận với các phương pháp như là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Tính thống nhất giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận là ở nguồn gốc, nội dung khách quan của nó, là ở sự chế ước lẫn nhau giữa khách quan và chủ quan, là sự chung đúc trong nó cả thế giới quan và hệ tư tưởng.

Tóm lại, giữa lý luận với phương pháp và phương pháp luận có mối liên hệ nội tại và quy định lẫn nhau. Lý luận là hệ thống các tri thức, khái niệm và phạm trù, có chức nǎng vừa phản ánh, vừa dự báo bản chất, quy luật vận động, phát triển của khách thể nghiên cứu. Do đó, lý luận là cơ sở, là đường dây dẫn đến phương pháp. Người đầu tiên đề cập đến mối quan hệ này là Hêghen. Theo ông, lý luận được tóm tắt trong phương pháp, phương pháp là sự vận dụng của lý luận, lý luận nào, phương pháp ấy. Phương pháp là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực, cách thức điều chỉnh nhận thức và hoạt động của con người trong việc tiếp cận lý luận và khảo sát thực tế.

Phương pháp hình thành từ lý luận, nhưng không phải một chiều. Lý luận đẻ ra phương pháp, phương pháp tác động trở lại lý luận, làm cho lý luận phát triển, hình thành lý luận mới; đến lượt nó, lý luận mới lại đẻ ra phương pháp mới. Phương pháp luận là phương thức luận giải, khái quát, lựa chọn và vận dụng các phương pháp, bảo đảm cho sự thiết lập mối quan hệ hài hoà giữa lý luận và phương pháp, giữa khách thể và chủ thể nghiên cứu. Do đó, cũng có thể nói phương pháp luận là cầu nối giữa lý luận và phương pháp. Đó là mối quan hệ ba chiều: giữa nhận thức về đối tượng nghiên cứu (lý luận) với công cụ tác động vào đối tượng (phương pháp) và những nguyên tắc lý thuyết giữ vai trò điều chỉnh, giúp cho quá trình tác động của công cụ vào đối tượng đạt được kết quả tối ưu (phương pháp luận).

Để xâu chuỗi được mối quan hệ trên, cần làm rõ cấp độ của khái niệm nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học là một quá trình khảo sát, phân tích các sự kiện, các mặt, các hiện tượng; thông qua sự mô tả, phân loại và tập hợp các tư liệu và dữ liệu đã thu thập được mà tổng hợp và khái quát thành lý luận. Để tổng hợp và khái quát đúng, người nghiên cứu phải bắt đầu từ chỗ chǎm chú quan sát các hiện tượng, không coi thường và bỏ qua các chi tiết sinh động, cụ thể, những cái tưởng như riêng lẻ, rời rạc, bề ngoài và trên bề mặt của đối tượng, khách thể nghiên cứu.

Vì vậy, quan sát khoa học là quá trình tiếp cận đối tượng của chủ thể. Nó mở đường đi tới những ý tưởng nghiên cứu và hình thành những tư tưởng, những luận điểm khoa học. Nó cũng đồng thời gợi ý và mách bảo người nghiên cứu biết chú tâm vào những sự kiện và hiện tượng tiêu biểu giữa vô số những sự kiện, hiện tượng khác, tìm ra mối liên hệ giữa chúng và những dấu hiệu cho phép xác định đặc điểm, đặc trưng hay thuộc tính nào đó của đối tượng sẽ bộc lộ ra trong vận động.

Sự quan sát như vậy đòi hỏi ở chủ thể nghiên cứu khoa học một nǎng lực lựa chọn trong những cách (phương pháp) tiếp cận khác nhau để độc lập xác định cho mình một hướng đi, một cách (cũng tức là một phương pháp) tiếp cận mới phù hợp và có hiệu quả tới đối tượng. Nghiên cứu khoa học, theo một nghĩa nào đó mà xét, là tìm tòi và phát hiện cái mới, là sản xuất ra tri thức mới ở cấp độ tư tưởng – lý luận khoa học.

Do vậy, bản chất của khoa học, của hoạt động nghiên cứu khoa học là sáng tạo, là sự phát triển không ngừng của trí tuệ. Thực tiễn phát triển của khoa học hiện đại đã cho thấy, kết quả sáng tạo cái mới trong nghiên cứu của nhà khoa học thường được ủ mầm từ những tìm tòi sáng tạo trong phương pháp tiếp cận (podkhodnyj metod) và ứng dụng phân tích hệ thống (sistemnyj analiz) như một phương pháp nghiên cứu.

Điều này đặc biệt rõ và đang có ý nghĩa phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, bao hàm cả nghiên cứu lý luận triết học xã hội và chính trị học là lĩnh vực có quan hệ trực tiếp gần gũi nhất với nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình tiếp cận đối tượng, người nghiên cứu thường phải huy động tổng hợp những hiểu biết của mình về kiến thức, phương pháp và kinh nghiệm, cả tư tưởng, lý luận lẫn vốn sống thực tiễn cùng những kỹ nǎng và kỹ xảo nghề nghiệp để tìm hiểu, nắm bắt và làm chủ đối tượng.

Cùng với tư liệu và sự kiện được tập hợp để quan sát và phân tích, sự huy động tổng hợp những nhân tố nêu trên có trong vốn liếng khoa học của mình, giúp người nghiên cứu xây dựng các giả thuyết và lôgích nghiên cứu, chứng minh và kiểm tra các giả thuyết đó dựa trên thực tiễn đối tượng và thực tiễn đời sống nói chung. Lôgích nghiên cứu sau khi đã thực hiện trong thực tiễn, được kiểm tra, điều chỉnh bởi thực tiễn rồi được chính xác hoá lại và chuyển thành lôgích trình bày các tư tưởng khoa học.

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu sau khi được kiểm chứng bởi thực tiễn và đi qua các thao tác như chứng minh, so sánh, phân tích và tổng hợp để giữ lại cái đúng và bổ sung cái mới, loại bỏ cái không đúng hoặc chưa đủ cǎn cứ vững chắc, chưa có độ tin cậy cần thiết,… trở thành hệ thống các luận điểm khoa học cấu thành nội dung lý luận – tư tưởng khoa học như là sản phẩm nghiên cứu.

Các Mác nói tới sự chuyển hoá này bằng tương quan giữa phương pháp nghiên cứu và phương pháp trình bày, giữa đời sống thực tiễn và lý luận, giữa hiện thực và tư tưởng. Tương quan này vừa thống nhất vừa mâu thuẫn, không phải lúc nào cũng trùng hợp, càng không có sự trùng hợp tuyệt đối.

Trong bộ Tư Bản, Các Mác có một luận đề nổi tiếng: Nếu hiện tượng và bản chất của sự vật là nhất trí (trùng khít) với nhau thì tất thảy khoa học sẽ trở nên thừa. Trong Lời nói đầu tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843), Các Mác đã hình dung rất rõ ràng: “Tư tưởng cố gắng biến thành hiện thực vẫn chưa đủ; bản thân hiện thực cũng phải cố sức hướng tới tư tưởng”.

Những điều trình bày trên đây về một số đặc trưng của hoạt động nghiên cứu khoa học xuất phát từ cá thể nghiên cứu cũng là để nói về mối liên hệ giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu. Đây là những công cụ làm việc mà người nghiên cứu phải trau dồi, mài sắc nó trong suốt cuộc đời nghiên cứu. Đây cũng chính là những cơ sở mà thiếu nó sẽ không thể có bất cứ một kết quả hay một bước tiến nào trong nghiên cứu khoa học.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 3

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương I – Một số vấn đề lý luận chung về phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu

II. Phương pháp luận chung của khoa học xã hội và phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh (phương pháp luận chuyên ngành)

Khoa học xã hội là một lĩnh vực hết sức rộng lớn bao gồm rất nhiều ngành (lĩnh vực) và chuyên ngành khoa học khác nhau, thậm chí trong mỗi chuyên ngành lại còn có thể phân nhỏ thành những bộ môn, những chuyên môn hẹp đi sâu nghiên cứu từng mặt, từng khía cạnh của đối tượng, nhưng cùng có chức nǎng chung là nghiên cứu về xã hội và con người. Theo nghĩa rộng, khoa học xã hội bao gồm cả khoa học nhân vǎn. Đây là một nhóm, cũng đồng thời là một hệ thống các môn khoa học về con người và những hoạt động tinh thần của con người, gắn liền với những phương thức đặc thù sáng tạo ra các giá trị tinh thần, vǎn hoá, nghệ thuật… gọi chung là khoa học nhân vǎn.

Chúng ta thống nhất quy ước đặt khoa học nhân vǎn vào hệ thống chung của khoa học xã hội, cũng như nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh với tư cách là một khoa học chuyên ngành nằm trong khoa học xã hội. Trong một tương lai không xa,” Hồ Chí Minh học” sẽ ra đời và phát triển không chỉ ở nước ta mà sẽ còn được chú ý ở nhiều nước trên thế giới. Chắc chắn sẽ có hàng loạt vấn đề đặt ra phải giải quyết về ngành khoa học này, từ đối tượng, chức nǎng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu, hệ thống khái niệm, phạm trù cho đến những hình thức biểu hiện, những khoa học đảm nhận nghiên cứu từng chuyên ngành hẹp của nó.

Cơ sở lý luận chung nhất để giải quyết những vấn đề đó chính là xác lập mối quan hệ phương pháp luận giữa khoa học xã hội với khoa học chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Trước hết cần làm sáng tỏ một số vấn đề chủ yếu nhất thuộc về phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội.

Thứ nhất, nghiên cứu khoa học xã hội phải dựa vững chắc và nhất quán với quan niệm duy vật lịch sử. Chủ nghĩa duy vật lịch sử với một hệ thống chặt chẽ các nguyên lý, các tư tưởng khoa học là nền tảng lý luận – phương pháp luận chung của tất cả khoa học xã hội. Đây là nguyên tắc chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình nghiên cứu.

Mỗi nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như của triết học Mácxít nói chung đều thống nhất trong bản thân nó ý nghĩa bản thể luận và nhận thức luận, đều vừa là nguyên tắc thế giới quan, vừa mang tính chất phương pháp luận. Nó đồng thời biểu đạt về hệ tư tưởng, trong đó có sự gắn bó và thống nhất hữu cơ giữa khoa học và chính trị, tức là giữa tính khoa học và tính đảng. Triết học và tất cả các môn khoa học xã hội, khác về cǎn bản với khoa học tự nhiên trên hai điểm chủ yếu là: Điểm khác thứ nhất là nghiên cứu quy luật và phát hiện ra quy luật xã hội cũng như vai trò của con người, của hoạt động thực tiễn đối với sự vận động, hoạt động của quy luật này. Nó khác xa với sự vận động của tự nhiên, và quy luật tự nhiên là có tính thuần tuý tự nhiên và tự phát.

Điểm khác thứ hai là ngay từ khi ra đời, các khoa học xã hội đều mang tính giai cấp, đều phục vụ lợi ích giai cấp trong cuộc đấu tranh giai cấp. (Khoa học tự nhiên trong hình thức thuần tuý của nó không có tính chất này. Giai cấp hoặc lực lượng xã hội nào đó lợi dụng thành quả khoa học tự nhiên phục vụ cho lợi ích của mình là thuộc về vấn đề khác).

Chính vì vậy, khoa học xã hội không thể và không bao giờ tách rời khỏi chính trị, khỏi hệ tư tưởng. Đấu tranh trong khoa học xã hội không bao giờ thuần tuý mang tính chất học thuật mà thường là gắn liền với hoặc dẫn tới đấu tranh về hệ tư tưởng và quan điểm chính trị. Đối với những nhà khoa học xã hội theo lập trường của chủ nghĩa Mác thì việc nắm lấy chủ nghĩa duy vật và biện chứng về lịch sử là nắm lấy công cụ nhận thức khoa học triệt để và vũ khí sắc bén nhất của đấu tranh về hệ tư tưởng, ý thức.

Đây là một thực tế khách quan được kiến giải tường minh về lý luận và được chứng thực rõ ràng về mặt thực tiễn lịch sử. Nó tuyệt nhiên không phải là một thái độ thiên khiến và lập trường biệt phái như những sự xuyên tạc đã xảy ra. Như Lênin đã tổng kết: Chủ nghĩa duy vật lịch sử do Mác – Ǎngghen sáng lập ra là thành quả vĩ đại bậc nhất của tư tưởng khoa học. Lần đầu tiên nó đem lại trong lịch sử nhân loại một cách kiến giải khoa học hoàn toàn mới mẻ về bản chất của đời sống xã hội và phát hiện ra các quy luật khách quan của lịch sử, cái mà trước đó, xã hội học tư sản đã đẩy nó vào tình trạng hỗn độn, chất đống các sự kiện hoặc làm cho nó trở nên thần bí, có tính chất tôn giáo.

Với quan niệm duy vật và biện chứng về lịch sử, Mác và Ǎngghen đã khắc phục được “ba cái quên” lớn nhất trong lịch sử triết học: quên điểm xuất phát, quên thế giới khách quan của chủ nghĩa duy tâm, và quên không biết đến con người (sự hoạt động của chủ thể) của chủ nghĩa duy vật trước Mác (siêu hình).

Chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng vai trò vũ trang phương pháp luận nghiên cứu cho khoa học xã hội. Nó được biểu hiện qua lý luận, học thuyết kinh điển trong di sản đồ sộ và uyên bác này mà trực tiếp và nổi bật là mấy nét tổng quát sau đây: – Vạch ra quy luật chung, phổ biến của mọi thời đại lịch sử là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Trên cơ sở quy luật này, chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn nhận lịch sử như một quá trình lịch sử – tự nhiên. Và lý luận về phương thức sản xuất, về hình thái kinh tế xã hội đã làm sáng tỏ rằng, lôgích của cái tất yếu kinh tế đi xuyên qua mọi biến thiên của lịch sử, xét đến cùng, kinh tế là nhân tố quyết định của lịch sử.

Triệt để và biện chứng hơn, các tác giả kinh điển còn nhìn thấy ở kinh tế cái vai trò quyết định cuối cùng chứ không phải duy nhất. Tư tưởng này phải được coi một trong những chìa khoá đối với người nghiên cứu khi đi vào giải phẫu cái cơ thể phức tạp là xã hội. – Vạch ra quy luật đấu tranh giai cấp như là sự phản ánh về mặt xã hội những mâu thuẫn của quan hệ kinh tế (của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất).

Hơn nữa, chủ nghĩa duy vật lịch sử xem đấu tranh giai cấp là một động lực của sự phát triển xã hội có giai cấp. Dĩ nhiên, đấy là một trong nhiều động lực chứ không phải là động lực duy nhất, vĩnh viễn. Cách mạng cộng sản chủ nghĩa (theo cách nói của Mác) là có nội dung kinh tế, thâm sâu trong nội dung chính trị của nó. Biện chứng của kinh tế và chính trị, kinh tế và xã hội là biện chứng của phát triển trong cách mạng và trong tổ chức xã hội, kể cả tổ chức đời sống xã hội về lĩnh vực vǎn hoá – tinh thần. – Vạch ra lý luận về vai trò của quần chúng và của cá nhân đối với hoạt động lịch sử van hoá và vǎn minh.

Lý luận này, lần đấu tiên xác lập vị thế chủ động, tích cực của quần chúng lao động (mà tiêu biểu là giai cấp vô sản cách mạng với sứ mệnh lịch sử thế giới của nó) như là một chủ thể của lịch sử. Đó là sự kết hợp giữa vai trò quyết định thuộc về quần chúng với cống hiến có tác dụng to lớn đặc biệt của lãnh tụ và các thiên tài, trong tiến trình lịch sử.

Lý luận này đặt cơ sở niềm tin khoa học vào sức mạnh nhân dân trong cách mạng, đặc biệt là cách mạng vô sản. Nó tôn vinh con người lao động với tầm cao của chủ nghĩa nhân đạo hiện thực. Nó làm sáng tỏ bản chất của sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng giai cấp và nhân loại. Nó vạch ra mối liên hệ biện chứng giữa xã hội và cá nhân, giữa quần chúng và lãnh tụ trong chiến lược phát triển. Nó hướng tới mục tiêu thực hiện sự phát triển tự do và toàn diện của từng cá nhân, và sự phát triển của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển của tất cả, xem đó là mục đích tự thân của lịch sử. – Chủ nghĩa duy vật lịch sử, bao quát mọi sự vận động xã hội hiện thực đã khái quát lên nguyên lý về tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời thể hiện tính nǎng động và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.

Gắn liền với nó là lý luận về con người hiện thực mang bản chất xã hội trong tính thống nhất với bản chất sinh học, về biện chứng giữa con người, nhân cách, cá nhân và cá thể với xã hội, với môi trường và hoàn cảnh, chỉ ra quy luật hình thành con người mới trong những thời đại lịch sử mới thông qua cải tạo và xây dựng…

Đó là bốn nét tổng quát cǎn bản nhất của phương pháp luận duy vật lịch sử. Nó cho ta những sợi dây dẫn đường, cho ta kim cỉ nam hành động trong khi tiếp cận và giải quyết các vấn đề về con người, xã hội trong nghiên cứu khoa học xã hội. Thứ hai, nghiên cứu khoa học xã hội trên lập trường mác xít, trên quan điểm và phương pháp biện chứng duy vật đòi hỏi phải xuất phát từ hiện thực khách quan của đời sống vật chất và các quan hệ kinh tế để giải thích trạng thái hiện thực của ý thức tư tưởng và các quan hệ tinh thần.

Nói rộng hơn, người nghiên cứu phải xử lý một cách biện chứng giữa quyết định luận kinh tế với quyết định luận xã hội trong sự phát triển của con người và xã hội. Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (1859), Các Mác đã từng viết: “Không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thể cǎn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội. Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ…”.

Tư tưởng trên đây của Mác chứa đựng ý nghĩa cực kỳ sâu sắc về tính quy định chế ước lẫn nhau giữa kinh tế và xã hội, về tất yếu kinh tế là cái giá đỡ vật chất cho mọi tất yếu chính trị, xã hội và tư tưởng. Thấu triệt tư tưởng biện chứng này là một đảm bảo phòng ngừa không sa vào duy ý chí, duy tâm chủ quan về lịch sử trong khi giải quyết thực tiễn các nhiệm vụ xã hội. Tư tưởng này còn thấy ở các tác phẩm khác của Mác: Sự thống trị của thực dân Anh ở ấn Độ và Ngày 18 tháng Sương mù của Luy Bônapactơ. Đây là những tá phẩm chứa đựng những luận đề tư tưởng phương pháp luận khoa học với hàm lượng triết học cao, có giá trị và ý nghĩa phổ biến trong nghiên cứu khoa học lịch sử, khoa học xã hội nói chung.

Thứ ba, nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt là nghiên cứu lý luận và lịch sử tư tưởng phải tuân thủ phương pháp hệ thống, phải khảo sát mọi hiện tượng và quan hệ trong sự vận động, phát triển của nó và không nên quên rằng lôgích tư tưởng chỉ là sự phản ánh lôgích hiện thực, là tái hiện cái khách quan trong cái chủ quan mà thôi. Lênin đòi hỏi rằng, toàn bộ tinh thần của chủ nghĩa Mác, tất cả hệ thống của nó đều phải được nghiên cứu với yêu cầu là: Đối với mỗi nguyên lý đều phải khảo sát về mặt lịch sử, có liên hệ với các nguyên lý khác và có kinh nghiệm với kinh nghiệm lịch sử cụ thể.

Chỉ như vậy mới nhận thức được một cách chân thực một tư tưởng khoa học, không chia cắt nó khỏi hoàn cảnh lịch sử, không cắt xén tuỳ tiện hoặc cô lập nó ra khỏi hệ thống để xuyên tạc nó. Mối liên hệ giữa lịch sử và tư tưởng cũng là mối liên hệ giữa đời sống hiện thực với ý thức tư tưởng. ở đó, mọi nghiên cứu về khoa học xã hội đòi hỏi sự thấm nhuần sâu sắc tinh thần tôn trọng thực tiễn, tôn trọng sự thật khách quan, sự “phân tích cụ thể một tình hình cụ thể”, hướng mọi sự phân tích đối tượng và sự kiện theo quan điểm toàn diện, lịch sử – cụ thể và quan điểm phát triển.

Chính ở đây, Ǎngghen có một chỉ dẫn quan trọng là: “Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó, và sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thái trừu tượng và nhất quán về lý luận”. Để nắm được bản chất sự vật và phát hiện được quy luật sinh thành, phát triển của nó – mà đây là điểm cốt yếu của nghiên cứu khoa học xã hội, Lênin cho rằng, phải tránh sa lầy vào những chi tiết vụn vặt, biết vạch ra mối liên hệ lịch sử cǎn bản bên trong.

Đó là cái quyết định sự phát triển và tự phát triển. Ông xem nó như là điều kiện quan trọng nhất của nghiên cứu. “Trong vấn đề thuộc về khoa học xã hội, phương pháp chắc chắn nhất và cần thiết nhất để thực sự có được thói quen xem xét vấn đề đó một cách đúng đắn và để không lạc hướng trong rất nhiều chi tiết, hoặc trong rất nhiều ý kiến đối lập nhau, điều kiện quan trọng nhất của một sự nghiên cứu khoa học là không nên quên mối liên hệ lịch sử cǎn bản; là xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành như thế nào…”.

Thứ tư, nghiên cứu khoa học xã hội là nghiên cứu xã hội và loài người trong cơ cấu, tổ chức và các mối quan hệ của nó gắn với một thời đại lịch sử nhất định, với một chế độ kinh tế và chế độ chính trị xác định cùng với hệ tư tưởng chi phối xã hội và thời đại đó. Xét đến cùng, lợi ích và quyền lực của con người là điểm nhậy cảm nhất. Đó là vấn đề thường trực trong các quan hệ giai cấp, diễn ra trong xung đột và đấu tranh giai cấp.

Do đó, mọi nghiên cứu về xã hội phải xuất phát từ đời sống hiện thực, từ các quan hệ lợi ích thực tiễn vật chất, từ quan hệ quyền lực kinh tế và chính trị để lý giải các quan hệ tư tưởng và đời sống tinh thần của con người và xã hội trên quan điểm giai cấp. Đi chệch khỏi quan niệm và quan điểm đó không tránh khỏi tính chất duy tâm về lịch sử, tính mơ hồ và sự không tưởng trong việc nhận thức bản chất thực sự của con người và xã hội, của vận động lịch sử.

Về vấn đề này, trong tác phẩm Gia đình thần thánh (1845), Mác đã viết: Tư tưởng một khi đã tách rời khỏi lợi ích thì tự nó sẽ làm nhục bản thân nó. Và, hoạt động của lịch sử bởi con người trước hết là hoạt động sản xuất để thực hiện lợi ích, để tái sản xuất cao hơn các nhu cầu, để giải phóng và tǎng lên quyền lực của con người trước tự nhiên và lịch sử. Chính hoạt động đó đã quy định vai trò của quần chúng. Ông viết: Hoạt động lịch sử càng đi sâu thì khối quần chúng cũng sẽ mở rộng mà hoạt động lịch sử chính là sự nghiệp của họ.

Nhận thức được điều đó là nhận thức được cái cǎn bản, sâu xa của lịch sử tức là nắm sự vật từ gốc và đối với con người, cái gốc chính là bản thân con người. Còn có nhiều điểm khác nữa trong lý luận – phương pháp luận duy vật lịch sử. Song đây là những vấn đề cốt yếu nhất chi phối trực tiếp tới nghiên cứu khoa học xã hội. Đây cũng là những vấn đề cần được vận dụng, cụ thể hoá trong phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Vậy có hay không có một phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh?

Có ý kiến cho rằng: Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh chính là phương pháp luận của các khoa học xã hội. Các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau, từ giác độ khoa học chuyên ngành của mình, vận dụng phương pháp luận của khoa học ấy để nghiên cứu từng lĩnh vực, từng chuyên đề, từng giai đoạn trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Tất nhiên, bằng con đường đó, thời gian qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì tình hình cũng không tiến triển hơn được bao nhiêu.

Phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh về cơ bản là thuộc phạm trù phương pháp luận của các khoa học xã hội. Các khoa học xã hội có cơ sở phương pháp luận chung cho nhận thức và hoạt động của nó là triết học Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử). Phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh tất nhiên có vận dụng những nguyên tắc phương pháp luận của các khoa học xã hội như các nguyên tắc tính khách quan khoa học, tính toàn diện, tính hệ thống, nguyên tắc chủ nghĩa lịch sử, v.v. song không đồng nhất với nó.

Mặt khác, phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh, trong hệ thống cấu tạo các cấp độ của nó, cũng bao gồm sự vận dụng phương pháp luận của các khoa học cụ thể, chuyên biệt vào việc nghiên cứu từng lĩnh vực khác nhau trong di sản của Hồ Chí Minh, nhưng không phải là sự cộng lại giản đơn của các phương pháp đó. Vậy, phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh được quy định bởi cái gì? Với trình độ và thành tựu hiện nay của khoa học nghiên cứu về các phương pháp, cho phép chúng ta vượt lên trên quan niệm cho rằng các khoa học chuyên ngành chỉ cần áp dụng phương pháp của phép biện chứng duy vật là đủ, không cần phải phát triển phương pháp luận riêng của mình. Quan niệm rằng chỉ triết học mới có phương pháp luận là quan niệm đã được khoa học vượt qua.

Đa số các nhà khoa học ngày nay cho rằng, đối tượng quyết định phương pháp, và mỗi khoa học cụ thể, mỗi chuyên ngành nghiên cứu có phương pháp luận riêng của nó. Mỗi khoa học cụ thể là cả một hệ thống phức tạp, vừa kết cấu theo phương thẳng đứng, vừa theo phương nằm ngang, và trong mỗi hệ thống, lại có những tiểu hệ thống nhất định. Do đó, triết học không thể đóng vai trò phát hiện và nghiên cứu thay cho các khoa học cụ thể được, nghĩa là không thể xông vào bất cứ lĩnh vực nào và ở đâu cũng có thể đưa ra những kiến nghị đúng đắn, nếu không hiểu tường tận đối tượng đặc thù của khoa học chuyên biệt đó.

Phương pháp luận của một bộ môn khoa học chuyên ngành trước hết phải được khảo sát trên thực tiễn trực tiếp của những công việc nghiên cứu cụ thể chứ không phải bằng cách rút ra một cách hợp lôgích những phương pháp từ những nguyên lý chung của triết học. Trong lĩnh vực phương pháp luận, thứ lý luận suông không gắn liền với đối tượng trực tiếp của một môn khoa học nhất định sẽ chỉ là một việc làm giáo điều và vô bổ. Như đã trình bày ở trên, nghiên cứu Hồ Chí Minh phải biết vận dụng thấu đáo và nhuần nhuyễn những nguyên tắc phương pháp luận chung của khoa học xã hội. Song, sự nghiệp nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh chỉ có thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình, nếu nó biết xuất phát từ chính bản thân đối tượng và xây dựng được những nguyên tắc phương pháp luận cụ thể trên cơ sở lý thuyết về đối tượng đó.

Tiểu sử – sự nghiệp – tư tưởng – lý luận,… của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là đối tượng nghiên cứu của chúng ta, một đối tượng có thể nói là đa dạng và phong phú bao gồm trong đó những vấn đề không phải chỉ thuộc về một khoa học mà của nhiều khoa học, không phải chỉ gồm một hệ thống mà nhiều hệ thống. Người vừa là một trong những tinh hoa vǎn hoá nhân loại, vừa là người khai sinh cho một thời đại mới trong lịch sử dân tộc: thời đại Hồ Chí Minh. Người vừa là nhà tư tưởng, nhà lý luận cách mạng, vừa là người tổ chức, vị chỉ huy của cách mạng; vừa là chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc, vừa là nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; vừa là nhà chiến lược quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao,… tài giỏi, vừa là nhà vǎn, nhà thơ, nhà báo,… xuất sắc.

Về phương diện khoa học, Hồ Chí Minh là người mở đường và đặt cơ sở mácxít – lêninít cho sự phát triển của hầu hết các bộ môn khoa học xã hội chủ yếu ở nước ta. Ngay trong mỗi tác phẩm lớn của Người cũng bao gồm nhiều vấn đề, có thể trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Bản án chế thực dân Pháp có thể được nghiên cứu từ giác độ của nhà chính trị, nhà sử học, luật học, vǎn học, v.v..

Điều đó có nghĩa là để nghiên cứu tác phẩm của Hồ Chí Minh như một chỉnh thể cần có những công trình cụ thể, liên ngành. Khoa học, sau quá trình phân ngành, cũng đang diễn ra quá trình lập ngành. Nghiên cứu Hồ Chí Minh như là một nhà tư tưởng, nhà lý luận hoặc chỉ nghiên cứu một tác phẩm của Người như một chỉnh thể, cần thiết phải có những công trình liên ngành. Một khi các nhà khoa học cùng nghiên cứu một tác phẩm của Người thì cần có một phương pháp luận chung để làm việc đó. Từ nhu cầu thực tiễn đó, cần phải tìm tòi, trao đổi, tiến tới nhanh chóng xác lập được những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Những nguyên tắc đó, như đã phân tích ở trên, không phải là những nguyên tắc phương pháp luận của khoa học xã hội. Sự nghiệp nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở nước ta đang phát triển như một chuyên ngành nghiên cứu cụ thể, có tổ chức nghiên cứu với những mục đích và nhiệm vụ xác định, có một đối tượng nghiên cứu xác định .

Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh phải xác lập được những nguyên tắc phương pháp luận của mình để giúp nhà nghiên cứu chiếm lĩnh được đối tượng về phương diện lý thuyết cũng như về phương diện thực hành, trên cơ sở đó mà hoàn thành được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra. Nội dung của vấn đề này sẽ được đề cập đến một cách cụ thể và chi tiết ở chương ll.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 4

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương I – Một số vấn đề lý luận chung về phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu

III. Mấy khái niệm cần phân biệt trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh từ cách nhìn phương pháp luận

Bàn về phương pháp luận nghiên cứu Hồ Chí Minh, để tránh nhầm lẫn, có một số khái niệm cần làm rõ và sử dụng thống nhất trong nghiên cứu. Vì vậy, cần thiết phải phân biệt: – Phương pháp luận của Hồ Chí Minh, tức là của bản thân đối tượng đang được nghiên cứu. – Phương pháp hệ (methodicat), tức hệ thống các phương pháp được chọn lọc, vận dụng vào nghiên cứu về Hồ Chí Minh, nghĩa là những công cụ tác động vào đối tượng được coi là thích hợp và có hiệu quả nhất. – Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh, ở đây cũng chỉ quy ước như là những nguyên tắc lý thuyết có ý nghĩa chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Mỗi khái niệm này có một nội dung riêng, đồng thời có mối liên hệ với nhau trong việc lĩnh hội, nghiên cứu cũng như giảng dạy, giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh.

1. Phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà lý luận, đương nhiên Người có phương pháp luận của mình. Phương pháp luận của Hồ Chí Minh cũng bắt nguồn từ phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin mà ra, nhưng được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn Việt Nam, để xử lý, giải quyết những vấn đề do thực tiễn Việt Nam đặt ra.

Đó là phương pháp luận chỉ đạo Hồ Chí Minh trong nhận thức, trong đấu tranh cách mạng, trong các hoạt động lãnh đạo và quản lý, đối nội và đối ngoại mà Người phải xử lý trên cương vị lãnh tụ Đảng và nguyên thủ quốc gia; trong lĩnh vực hoạt động vǎn hoá – tinh thần, sáng tạo vǎn học nghệ thuật; trong vǎn hoá ứng xử của Người với tư cách một con người, như mọi người của đời thường, với tất cả những niềm vui và nỗi buồn, những dằn vặt đau khổ, những suy tư, chiêm nghiệm và hành động trước những hạnh phúc và bất hạnh của cuộc sống.

Không nên quên một thực tế: Người là một nhà tư tưởng, nhà lý luận lớn, nhưng Người không coi học thuyết, chủ nghĩa, triết thuyết là cứu cánh. Người không để lại những trước tác lớn, đơn thuần bàn về lý luận và phương pháp luận. Đặc biệt là Người không dùng ngôn ngữ bác học, vǎn phong hàn lâm để biểu đạt ý tưởng của mình. Người quen nói và viết mộc mạc cho dân mình phần đông còn mù chữ, thất học hoặc học thức còn ít đều hiểu được. Thế nhưng mức độ sâu sắc của các ý tưởng của Người thì ngay các bậc học giả uyên thâm cũng vẫn phải ngạc nhiên.

Giải thích thế nào về mức độ sâu sắc đó ? Cũng như vậy, trong lĩnh vực báo chí, Người là một nhà báo cách mạng nổi tiếng trên nhiều diễn đàn thế giới; trong vǎn học, Người là nhà thơ lớn đã đem vào trong thơ ca không ít những mẫu mực cổ điển. ấy thế mà Người chỉ xem những cái đó như là phương tiện cho tranh đấu; cảm xúc thi hứng của Người lớn lao như vậy, Người cũng chỉ xem nó là chuyện thoáng qua, như đi đường, tiện tay hái một nhành hoa ! Còn ở cương vị lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia, Người vẫn chỉ coi mình là một công dân bình thường, một người lính vâng lệnh quốc gia ra mặt trận phục vụ dân chúng, nếu đồng bào cho nghỉ Người sẽ thanh thản sống trong gian nhà nhỏ để trồng rau, câu cá!

Cũng như vậy, là một chính khách lớn của thế giới, đến ngay kẻ thù cũng phải kính phục và trọng nể, Người vẫn chỉ nhận mình là một người yêu nước, từ chối tất cả mọi huân chương, tước hiệu. Tất cả những điều tưởng như khó hiểu đó đã trở nên rõ ràng khi ta hiểu câu nói của Người: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ǎn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó là chỗ lớn lao nhất của Hồ Chí Minh. Cả cuộc đời của Người đã minh chứng cho điều chân thật sau đây: “Mỗi người có một nỗi khổ riêng. Cộng tất cả nỗi khổ đau của mọi người, của muôn nhà thì đó là nỗi đau của riêng tôi”. Đây là chỗ sâu sắc nhất của Hồ Chí Minh.

Chung đúc lại, đủ hiểu vì sao, Hồ Chí Minh làm xúc động và có sức cảm hoá con người mãnh liệt đến như vậy. Phải dựa trên thực tiễn này mới có thể tìm thấy đâu là phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Đó chính là phương pháp luận của sự nghiệp lớn, hành động lớn vì động cơ và mục tiêu cao cả nhất: Phương pháp luận của đấu tranh cách mạng vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội; vì giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại cần lao.

Vì sự nghiệp cao cả đó Hồ Chí Minh nguyện làm tất cả và dâng hiến tất cả. Chữ “DÂN” và “DÂN vận” của Hồ Chí Minh quy tụ tất cả mọi điều ấy. Đó là phương pháp luận của nhà triết học – hành động, nhà chính trị – thực tiễn và lãnh tụ sáng suốt của nhân dân. Người tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Người lựa chọn chủ nghĩa xã hội, chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là vì tìm thấy ở đấy con đường tốt nhất, hữu hiệu nhất để thực hành cái đạo lớn lao ấy.

Do đó, có thể hình dung một vài nét trong phương pháp luận của Hồ Chí Minh như sau: – Xuất phát từ thực tiễn dân tộc (đất nước, lịch sử, con người Việt Nam), lấy mục tiêu độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, hạnh phúc của đồng bào làm chuẩn mực hành vi, thước đo của hoạt động, tiêu chuẩn của chân lý. Xuất phát từ mục tiêu đó mà xử lý hài hoà các mối quan hệ dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, tự lực và ngoại viện, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nhân vǎn… – Thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn.

Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là nắm lấy tinh thần và phương pháp của nó để xử lý độc lập, sáng tạo mọi quan hệ với con người và công việc. – Thấu hiểu quy luật khách quan để hành động đúng đắn và thành công. Kiên trì nguyên tắc kết hợp với mềm dẻo, linh hoạt trong phương pháp. Chiến lược đúng phải có sách lược hay; khoa học kết hợp với nghệ thuật trong việc tạo thời cơ, chớp thời cơ; “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”; “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, kiên quyết không ngừng thế tiến công”; “Biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”; “Thế và lực trong cách mạng và trong phát triển là ở Đại Đoàn kết”,… – Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội là do nhân dân tự làm lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, mọi điều phải xuất phát từ dân, lấy dân làm gốc. Nói, viết sao cho giản dị, dễ hiểu cốt để quần chúng hiểu ngay và làm được; nắm cái tinh thần của sự vật, đi ngay vào cái cốt lõi của vấn đề.

Ở Hồ Chí Minh, những chân lý lớn của thời đại được hiện ra trong những câu nói giản dị và hàm súc. – Cán bộ là vốn quý của Đảng, của cách mạng. Cán bộ tốt quyết định tất cả. Muốn vậy phải rèn luyện cán bộ trong đấu tranh, hết lòng vì dân, vì nước, diệt trừ chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng, phải phát hiện và trọng dụng nhân tài qua thực tiễn và qua sự tín nhiệm của quần chúng,… Đó là một vài nét phác thảo sơ bộ về phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Tuy Người không để lại cho chúng ta một công trình hoàn chỉnh nào về phương pháp luận, nhưng chúng ta có thể nghiên cứu và tìm ra phương pháp luận của Người từ hai hướng: dựa vào câu chữ (sách vở), gọi là tư tưởng – phương pháp; và dựa vào cách làm, lời dặn, gọi là hành động – phương pháp (chữ dùng của giáo sư Lê Trí Viễn).

2. Hệ phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh (tức là các công cụ tác động vào đối tượng). Điều cần nói là, những phương pháp này không tự sản sinh ra, không tách rời chính đối tượng. Mức độ hiểu biết về đối tượng, yêu cầu nghiên cứu đối tượng sẽ quy định việc lựa chọn những phương pháp thích hợp. Đồng thời chủ thể sử dụng phương pháp phải đổi mới chính mình để đổi mới phương pháp đáp ứng yêu cầu tǎng tiến hiệu quả nghiên cứu. Tác dụng của phương pháp chỉ bộc lộ ra mặt tích cực của nó thông qua sáng tạo của chủ thể sử dụng phương pháp đó. Đây vừa là trình độ tư tưởng, nǎng lực khoa học vừa là trình độ kỹ thuật – công nghệ đạt được trong nghiên cứu.

Tất cả các phương pháp và thao tác đã có và thường thấy như: phân tích, tổng hợp, khái quát và trừu tượng hoá, so sánh, hệ thống, điều tra xã hội học, thực nghiệm, nghiên cứu vǎn bản, hiện vật, thống kê, phân loại… đều có thể ứng dụng vào nghiên cứu chung và nghiên cứu loại biệt về Hồ Chí Minh. Cái quan trọng là nghệ thuật lựa chọn và xử lý phương pháp trong nghiên cứu. Có thể nói, toàn bộ triết học thâu tóm vào phương pháp. Mỗi bước tiến về khoa học được đánh dấu bằng một phương pháp mới. Do đó, sáng tạo về phương pháp là một sáng tạo lớn, có tầm cỡ trong nghiên cứu khoa học. Song đến lượt nó, áp dụng phương pháp nào nghiên cứu, lại đòi hỏi ở người nghiên cứu nǎng lực sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp. Đòi hỏi ấy đang đặt ra và thử thách các nhà khoa học trong chuyên ngành nghiên cứu về Hồ Chí Minh. 3. Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh là những nguyên tắc chỉ đạo việc nghiên cứu, mà những nguyên tắc này, ở cấp độ lý thuyết, sẽ được bàn kỹ ở chương sau.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 5

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương II Những nguyên tắc phương pháp luận chung chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh

Nói nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu chính là nói cái chung, cái phổ biến ở trình độ bản chất, có tính ổn định và sự sâu sắc cần thiết đủ sức làm cơ sở dẫn dắt việc nghiên cứu đi tới mục tiêu đã định hướng. Việc vận dụng những nguyên tắc chung đó vào chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã vạch ra còn tuỳ thuộc vào trình độ, kỹ nǎng của người nghiên cứu vốn rất khác nhau và tuỳ thuộc vào mức độ, phạm vi, giới hạn của mỗi đề tài cũng như những tình huống nghiên cứu cụ thể, xác định. Trong chương này, chúng tôi đề cập tới ba nguyên tắc cơ bản sau đây: – Nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. – Quán triệt những quan điểm của Đảng và chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh. – Kế thừa có hoặc chọn lọc kinh nghiệm và thành tựu của khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân trên thế giới.

I. Nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Nguyên tắc này có tầm quan trọng hàng đầu đối với nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu khoa học xã hội và nhân vǎn, trong đó có nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Về thực chất, đây là sự quán triệt tinh thần và phương pháp triết học mácxít vào công tác nghiên cứu. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã luôn đề cao vai trò dẫn đường của lý luận Mác – Lênin đối với hoạt động thực tiễn. Người nhấn mạnh tới nét đặc sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin là tính biện chứng, là khoa học và cách mạng, là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn.

Lênin cũng xác định rằng, nếu chỉ dùng độc một từ thôi mà có thể nói lên được tiêu điểm của từ “duy vật lịch sử” của Mác, Ǎngghen thì từ đó chính là phép biện chứng. Theo Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành quả vĩ đại bậc nhất của lịch sử tư tưởng. Nếu xem chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là một thể thống nhất, cái này ở trong cái kia và ngược lại thì áp dụng triết học này vào nghiên cứu đời sống xã hội, con người, như nghiên cứu Hồ Chí Minh chẳng hạn, ta thấy đó chính là áp dụng quan niệm duy vật và biện chứng về lịch sử vào nghiên cứu Hồ Chí Minh. Lâu nay, cách nói tắt: quan niệm duy vật về lịch sử hay “chủ nghĩa duy vật lịch sử” thường dẫn đến chỗ không hiểu đầy đủ, dần dần trở thành hiểu sai theo khuynh hướng siêu hình, xa dần bản chất mácxít vốn là biện chứng.

Trước Mác đã từng có thế giới quan duy vật, chủ nghĩa duy vật, mà tiêu biểu nhất là Phoiơbắc, một trong những đại biểu của nền triết học cổ điển Đức thế kỷ XIX. Ông đã có công lao to lớn trong việc khôi phục chủ nghĩa duy vật. Cũng đã từng có nhiều triết gia trước Mác đến được lịch sử với cách nhìn duy vật chủ nghĩa, nhưng phải đến Mác thì lịch sử mới được soi sáng bởi một thế giới quan khoa học hoàn bị, triệt để, đó là duy vật và biện chứng, tạo thành chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật. Phát kiến về bản chất của lịch sử của Mác sở dĩ có tính vạch thời đại vì ông đã lý giải một cách đúng đắn và triệt để bản chất của lịch sử, ông không chỉ thấy nhân tố kinh tế là quyết định cuối cùng, rằng xét đến cùng, mọi biến thiên của lịch sử đều có cǎn nguyên kinh tế (= CNDV) mà còn thấy kinh tế không phải là cái duy nhất quyết định lịch sử (= DVBC).

Mác còn nhìn rất sâu phép biện chứng giữa vật chất và tinh thần, khách quan và chủ quan. Cũng như vậy, Lênin đã đem lý thuyết biện chứng đó soi vào thực tiễn cách mạng để vạch rõ sợi dây liên hệ giữa kinh tế và chính trị. Phải nhân chân lịch sử từ cơ sở triết học của nó là duy vật biện chứng, đặt tất cả mọi sự kiện, sự vật, hiện tượng, quá trình lịch sử dưới ánh sáng duy vật biện chứng để tìm cǎn nguyên, bản chất, động lực thúc đẩy nó. Đó là quan điểm và phương pháp mácxít. Vậy quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử bao gồm những nội dung, những yêu cầu gì? Cần phải có một hệ thống các quan điểm như thế nào để có thể xem mỗi quan điểm đó đồng thời là nguyên tắc, là phương pháp chỉ đạo việc nghiên cứu.

Đó là:

1. Quan điểm khách quan

Đây là điểm xuất phát xác định mọi quan điểm nghiên cứu về xã hội và lịch sử. Quan điểm này có cơ sở từ việc giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học, coi bản chất của thế giới là vật chất, là cái có trước, tồn tại độc lập với ý thức con người và ý thức con người có khả nǎng nhận thức, phản ánh cái vật chất khách quan ấy. Mác đã từng định nghĩa, ý thức con người ta chẳng qua chỉ là cái tồn tại được ý thức (tức là sự phản ánh tồn tại).

Dưới ánh sáng của triết học Mác, phạm trù cái khách quan được cắt nghĩa tường minh trên cả hai phương diện Bản thể luận và Nhận thức luận. Theo Mác và Ǎngghen, cái khách quan là cái tồn tại bên ngoài con người, độc lập và không phụ thuộc vào ý thức, nhận thức của con người. Do đó, hoạt động nhận thức chủ thể phải bắt đầu từ chỗ có một đối tượng cho chủ thể nhận thức, cái đối tượng ấy tác động vào chủ thể, làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của chủ thể.

Kết luận phương pháp luận mà các ông rút ra là không thể giải thích tư tưởng của thời đại, ý niệm tư tưởng của con người mà lại cǎn cứ vào bản thân tư tưởng, ý niệm ấy. Đó là một thứ duy tâm lịch sử. Phải cắt nghĩa nó xuất phát từ toàn bộ hiện trạng, sự kiện, các quan hệ sản xuất – vật chất, cái trạng thái kinh tế đã dẫn đến sự phát sinh của tư tưởng đó. ở đây có biện chứng nhân – quả của đời sống hiện thực và hoạt động tư tưởng của con người. Tính khách quan bảo đảm cho mọi nghiên cứu đạt được sự chân thật, đúng đắn, đến gần với chân lý và quy luật.

Do đó, chỉ những nghiên cứu nào tuân thủ tính khách quan mới có thể đem lại kết quả mang độ tin cậy. Nó xa lạ với những suy đoán chủ quan thoát ly thực tiễn, những kết quả không chân thực. Ǎngghen có nói một câu nổi tiếng: Hãy gọi tên sự vật đúng như bản thân nó. Đó chính là một đòi hỏi nghiêm ngặt trong việc tôn trọng tính khách quan của đời sống hiện thực. Yêu cầu tính khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng là khách quan trong xem xét nhận thức, đánh giá, phát hiện bản chất, quy luật; trong sự sinh thành, biến đổi, phát triển, chuyển hoá, tương tác biện chứng giữa các mặt, các sự vật, hiện tượng. Nó khác về bản chất với chủ nghĩa khách quan tư sản vốn là một chủ nghĩa tự nhiên, mô tả chất đống sự kiện, che lấp bản chất tất yếu bằng một sự mô tả tuỳ tiện các hiện tượng thứ yếu, vụn vặt.

Một nét đặc sắc khác về nhận thức trong phạm trù cái khách quan là ở chỗ, triết học Mác tôn trọng cái khách quan trong tính thống nhất với việc đề cao nǎng lực chủ quan con người. Đây là biện chứng của sự thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau giữa cái khách quan và cái chủ quan theo lôgích phát triển. Nó là sự thống nhất hai mặt của cùng một quá trình: mặt thứ nhất, khách quan hoá chủ quan, đó là quá trình chính xác hoá kết quả tư duy và hành động, làm cho cái chủ quan ngày càng phù hợp hơn với cái khách quan, tri thức ngày càng đúng đắn hơn do phản ánh đúng đắn thế giới đối tượng khách quan.

Mặt thứ hai, chủ quan hoá khách quan, đó là quá trình con người mở rộng phạm vi, đối tượng nghiên cứu, cái mà ta đã nói ở trên, rút ngắn khoảng cách giữa chủ thể và đối tượng, chủ thể tiến sát tới đối tượng, chiếm lĩnh đối tượng. Quan điểm khách quan có ý nghĩa sâu sắc đối với nghiên cứu các vĩ nhân, xem xét mối liên hệ xã hội – lịch sử của sự sản sinh ra các thiên tài, xem họ là sản phẩm của lịch sử, con đẻ của thời đại. Chúng ta thấy rất rõ điều này khi nghiên cứu các nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

2. Quan điểm thực tiễn

Lý luận nhận thức của triết học Mác – Lênin cho rằng, thực tiễn là nguồn gốc và động lực của nhận thức, là cơ sở và tiêu chuẩn của chân lý. Một trong những dấu hiệu cǎn bản chứng tỏ sự ra đời của triết học Mác như một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học là ở chỗ, triết học Mác đã khẳng định và luận chứng đúng đắn, triệt để nhất vai trò và bản chất của thực tiễn. Quan điểm mácxít về thực tiễn thống nhất trong bản thân nó tính khách quan thuộc về nguồn gốc và nội dung của chân lý với tính nǎng động chủ quan, tính tích cực sáng tạo của chủ thể là con người trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn để đạt tới chân lý.

Do đó, quan điểm thực tiễn, dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng là thực tiễn hoạt động của con người, một hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Đó là thực tiễn và hoạt động thực tiễn của con người hiện thực trong sự phát triển. Nó khác về nguyên tắc với chủ nghĩa duy vật trực quan, tách rời nhận thức với hoạt động thực tiễn, trong đó, con người chỉ ở trong giới hạn của con người sinh vật, là những cá thể thụ động và thế giới đối tượng là tĩnh tại. Nó cũng đối lập với chủ nghĩa duy tâm về thực tiễn chỉ tuyệt đối hoá yếu tố tinh thần, tư tưởng; xem hoạt động thực tiễn chỉ là hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận và con người chỉ là một con người ý thức.

Có thể nói, quan hệ đầu tiên, khởi nguyên của con người đối với thế giới xung quanh là quan hệ thực tiễn. Con người hoàn toàn không bắt đầu từ chỗ họ đứng ở quan hệ lý luận với các đối tượng của thế giới bên ngoài mà là tác động một cách tích cực vào thế giới đó. Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người nhưng sự xuất hiện và bản chất của nhận thức chỉ có thể được hiểu một cách đúng đắn trong mối quan hệ của của con người với hoạt động thực tiễn. Không ở trong thực tiễn thì không có bất cứ một nhận thức nào được nảy sinh. Cũng như vậy, không có bất cứ một sự biến đổi tích cực nào của thực tiễn nếu không thông qua hoạt động của con người dựa trên cơ sở nhận thức khoa học (giác ngộ quy luật) về thực tiễn của bản thân nó.

Lênin đã từ đó rút ra kết luận: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Tính chuẩn xác và hiện thực của lý luận đòi hỏi phải gắn liền lý luận với thực tiễn; lý luận phải ở trong thực tiễn và thường xuyên xuất phát từ nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn; mặt khác phải đặt tất cả mọi lý luận trong sự khảo nghiệm của thực tiễn và tổng kết thực tiễn để bổ sung và phát triển lý luận mới.

Lý luận rọi sáng thực tiễn và thực tiễn kiểm tra, đánh giá lý luận. Thực tiễn thúc đẩy lý luận và lý luận cung cấp cơ sở khoa học cho mọi hành động cải tạo thực tiễn của con người. Lý luận một khi đã hình thành thì ổn định một cách tương đối. Thực tiễn thì thường xuyên biến đổi. Nó biến đổi nhanh hơn so với sự biến đổi của lý luận. Lênin đã khái quát bản chất mối quan hệ này của thực tiễn và lý luận trong nhận xét: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”.

Đại thi hào Gớt nói một cách hình ảnh rằng: mọi lý thuyết đều là màu xám còn cây đời thì mãi mãi xanh tươi. Quan điểm thực tiễn chẳng những cho ta nhìn nhận đúng đắn, bản chất của lý luận xuất phát từ thực tiễn, thống nhất với thực tiễn, mà còn cho ta hiểu rõ biện chứng của tính tương đối và tuyệt đối của chân lý tức là của những tri thức lý luận phù hợp với khách quan. Chân lý là cụ thể, không có chân lý trừu tượng mặc dù trên con đường nhận thức chân lý, chủ thể nhận thức phải thông qua sự trừu tượng hoá khoa học.

Đó là phương thức đạt tới tư duy lý luận, đưa nhận thức ngày càng đi sâu vào bản chất bên trong của cái cụ thể được nhận thức. Nhờ tư duy lý luận – khoa học mà cái cụ thể cảm tính ban đầu được lấy làm điểm xuất phát của sự nghiên cứu, là hình ảnh bề ngoài về một cái toàn bộ chuyển thành cái cụ thể với tư cách là kết quả của tư duy lý luận, của sự nghiên cứu khoa học phản ánh cái cụ thể trong hiện thực trong hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật. ở trình độ bản chất này, cái cụ thể, như Mác nói, là sự tổng hợp của nhiều định nghĩa, là sự thống nhất của cái muôn vẻ, là một tổng thể phong phú của rất nhiều quy định và quan hệ.

Nhận thức đi xa cái cụ thể là để nhận thức cái cụ thể sâu sắc hơn và đúng đắn hơn. Tính sâu sắc và đúng đắn hơn của quá trình nhận thức chân lý khách quan và cụ thể đó chính là sự đạt dần tới cái tuyệt đối trong cái tương đối như một quá trình “phân tích cụ thể một tình hình cụ thể” mà Lênin xem như bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác. Theo Hêghen, chân lý không còn là sự gom góp những nguyên lý giáo điều đã có sẵn, những nguyên lý mà người ta chỉ có việc học thuộc lòng một khi đã tìm ra nó.

Chân lý nằm trong bản thân quá trình nhận thức, trong sự phát triển lâu dài của khoa học. Đánh giá cao quan niệm biện chứng này của Hêghen, Lênin xem mỗi chân lý khoa học dù là có tính tương đối vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lý tuyệt đối và “mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại đem thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối”. Quan điểm thực tiễn như đã trình bày trên đây cần được quán triệt và vận dụng vào nghiên cứu Hồ Chí Minh.

Đây cũng chính là nét đặc sắc nổi bật trong phương pháp luận của Hồ Chí Minh với tư cách một nhà tư tưởng, nhà biện chứng thực hành. Hồ Chí Minh đến với lý luận bắt đầu từ hoạt động thực tiễn và nghiên cứu sâu sắc thực tiễn đã giúp Người tổng kết thành lý luận, có những phát hiện tư tưởng và lý luận mới mẻ, đầy sáng tạo. Câu nói nổi tiếng, phản ánh sự quan tâm sâu sắc của Người đối với lý luận và sự chú ý đặc biệt của Người tới thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn là: thống nhất lý luận với thực tiễn là bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng và lý luận không gắn với thực tiễn là lý luận suông. Người đòi hỏi lý luận phải gắn liền với thực tiễn và học phải đi đôi với hành. Hồ Chí Minh hình dung thấy lý luận, học thuyết, chủ nghĩa là cái cần thiết hàng đầu cho một đảng cách mạng tiên phong, nó như bàn chỉ nam cho con tầu trên biển.

Do đó, học lý luận cốt thâu cái tinh thần và phương pháp của nó để ứng xử đúng, hành động phù hợp với hoàn cảnh. Người cũng biết rất rõ một nhược điểm lớn của cán bộ, đảng viên ta là yếu về lý luận. Song không thể vì mà học lý luận theo kiểu nhớ chữ, thuộc sách, xem lý luận là cứu cánh, lấy lý luận để giải thích lý luận. Người đòi hỏi phải đứng trên quan điểm thực tiễn mà đề cao, mà tôn trọng lý luận.

Vì vậy chỉ có trên quan điểm thực tiễn của Hồ Chí Minh mới có thể vừa khắc phục chủ nghĩa hình thức và bệnh giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm và thói thực dụng tầm thường, lại vừa khắc phục được bệnh sách vở, lý thuyết suông xa rời thực tiễn; phát huy tính độc lập tự chủ, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam để giải quyết đúng đắn các vấn đề của cách mạng Việt Nam.

Không chỉ thấm nhuần thực tiễn trong công tác tư tưởng, lý luận, Hồ Chí Minh còn thường xuyên chú trọng thực tiễn, công việc thực tế hàng ngày và hiệu quả của hành động. Người coi tính thiết thực là một phẩm chất cần thiết trong tư duy và hành động của người cách mạng. Lập luận của Hồ Chí Minh là muốn thực sự phục vụ nhân dân, vì nhân dân thì nói và làm bất cứ cái gì cũng phải thiết thực, không phù phiếm, khoa trương.

Sự tỉ mỷ, cụ thể trong công việc và cách thức giải quyết công việc, sự ân cần chu đáo trong quan hệ với con người của Hồ Chí Minh từ việc lớn đến việc nhỏ, đối với mọi người, mọi giới, mọi lứa tuổi… đã từ lâu trở thành nét bản chất và bản sắc riêng của Hồ Chí Minh. Bản chất và bản sắc đó có cơ sở sâu sắc trong nhận thức, trong đạo đức, lối sống và nhân cách của Hồ Chí Minh. Thấm nhuần quan điểm thực tiễn, vận dụng nhất quán quan điểm đó vào nghiên cứu Hồ Chí Minh là điều kiện để hiểu đúng bản chất đối tượng nghiên cứu.

3. Quan điểm hệ thống và quan điểm phát triển

Sự ra đời của phương pháp hệ thống – cấu trúc đánh dấu một bước thay đổi quan trọng trong tư duy khoa học. Xét trên ý nghĩa phương pháp luận, đây cũng là quan điểm tiếp cận và quan điểm nghiên cứu đối tượng. Đó là quan điểm hệ thống, phức hợp được áp dụng không chỉ trong nghiên cứu khoa học tự nhiên mà còn trong khoa học xã hội. Phương pháp hệ thống – cấu trúc xem xét sự vật, hiện tượng như một hệ thống có cấu trúc bên trong. Phương pháp này hình thành từ kết quả của sự thống nhất hai quan điểm: hệ thống và cấu trúc. Hệ thống là một tập hợp các yếu tố có liên hệ và tác động qua lại với nhau. Mỗi yếu tố chỉ tồn tại trong quan hệ với những yếu tố khác.

Sự biến đổi của một yếu tố trong hệ thống sẽ gây nên sự biến đổi nhất định của những yếu tố khác của hệ thống, cũng như gây ảnh hưởng đến sự biến đổi của cả hệ thống nói chung. Chỉ ở trong hệ thống, sự vật mới biểu hiện ra là cái gì, mới có thể định tính được cái thuộc về bản chất của nó. Cũng chỉ ở trong hệ thống, mỗi yếu tố, mỗi bộ phận, mỗi mặt cấu thành của nó mới xác định được vị trí, vai trò, chức nǎng và tác dụng của chúng đối với những cái khác và đối với cả hệ thống. Nói một cách khác, mỗi phần tử chỉ xác lập ý nghĩa của nó ở trong hệ thống.

Sự biệt lập, tách rời khỏi hệ thống làm mất đi ý nghĩa, làm suy yếu cái sức mạnh của nó, thậm chí có thể triệt tiêu cả ý nghĩa lẫn sức mạnh ấy. Cũng như vậy, sức mạnh của hệ thống được tạo ra từ sự tổng hợp các sức mạnh cá thể trong mối liên hệ với hệ thống, tức là từ một tổng hợp những lực tác động cùng chiều của các phần tử hợp thành. Hệ thống là đặc trưng bản chất của sự vật, là điều kiện tất yếu để sự vật vận động và bộc lộ bản chất. Cùng với tính hệ thống, sự vật vận động và biến đổi dù phức tạp như thế nào, đặc biệt là sự vận động xã hội – lịch sử, cuối cùng cũng tự vạch ra cho mình sự phát triển tiến lên không ngừng. Phát triển là khuynh hướng, xu hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới.

Lênin nói tới hai quan niệm về sự phát triển, sự phát triển coi như là giảm đi và tǎng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập… Theo Lênin, quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan. Quan niệm thứ hai là sinh động, nó cho ta chìa khoá của sự tự vận động, của những bước nhảy vọt, của sự gián đoạn tiệm tiến, của sự chuyển hoá thành mặt đối lập, của sự tiêu diệt cái cũ và nảy sinh ra cái mới .

Quan điểm hệ thống và phát triển, đòi hỏi khi nghiên cứu các đối tượng, các quá trình xã hội phải có cái nhìn toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển. Các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa và vai trò phương pháp luận của các quan điểm này. Yêu cầu cơ bản của lôgích biện chứng là muốn thực sự hiểu được sự vật, cần thiết phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả sự liên hệ và “sự trung gian” của vật đó.

Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem tất cả mọi mặt sẽ phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc. Đó là yêu cầu hàng đầu của lôgích biện chứng. Vận dụng quan điểm phát triển vào việc nghiên cứu nhằm phát hiện cái mới về mặt lý luận, nhằm bổ sung và phát triển lý luận mácxít cho phù hợp với đà biến đổi của thực tiễn, Lênin cũng chỉ rõ: Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì xong xuôi hẳn hoặc bất khả xâm phạm.

Trái lại chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng của môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Là một nhà mácxít sáng tạo, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng quan điểm hệ thống và quan điểm phát triển trong hoạt động lý luận và đấu tranh chính trị, trong chỉ đạo các công tác thực tiễn hàng ngày.

Do đó, để hiểu đúng và đánh giá chính xác về Hồ Chí Minh, đặc biệt trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải ra sức trau dồi quan điểm phương pháp luận quan trọng này, mà bản thân Hồ Chí Minh đã là một mẫu mực trong tư duy lý luận và thực hành đấu tranh cách mạng. Nhờ nhất quán với quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển, Người đã phát hiện từ rất sớm mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, giữa các mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh với những đóng góp thiên tài về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân đã chứng tỏ tầm nhìn sâu rộng của Người trong khi phát hiện thấy mối liên hệ giữa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước thuộc địa với phong trào vô sản ở ngay trong lòng các nước tư bản đế quốc (chính quốc). Người cũng thấy rõ từ cách tiếp cận hệ thống, chỉnh thể, tính tất yếu của đoàn kết quốc tế bởi sự gắn liền giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, phối hợp thành mặt trận chung giữa đoàn kết quốc tế với đoàn kết, đại đoàn kết dân tộc. Chỉ khi nào biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, như hình tượng của “một con chim hai cánh”, thì mới đủ sức chiến thắng chủ nghĩa tư bản thực dân, cùng một lúc chặt đứt hai cái vòi của con đỉa hút máu – một vòi ở chính quốc và một vòi ở các thuộc địa.

Đồng thời với sự phân tích khoa học – thực tiễn và lịch sử – cụ thể, nhìn thấu suốt xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại cách mạng vô sản được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy ở Việt Nam, nhiệm vụ lịch sử hàng đầu là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập tự do, xem đó là tiền đề, điều kiện để giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng xã hội và con người. Tất cả những cuộc giải phóng ấy là để từng bước tiến tới chủ nghĩa xã hội; và chỉ có đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thì sự nghiệp cách mạng mới thành công.

Người quyết định lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội vì tìm thấy ở học thuyết và con đường ấy các nhân tố đảm bảo tốt nhất, chắc chắn nhất, hợp quy luật lịch sử để thực hiện hoài bão, khát vọng lớn lao nhất: độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, hoà bình hữu nghị và sự phồn vinh, hạnh phúc cho tất cả các dân tộc trên trái đất. Là một nhà chiến lược và sách lược xuất sắc nhất của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sử dụng quan điểm hệ thống và phát triển để phân tích khoa học những chuyển biến qua từng thời kỳ lịch sử các mâu thuẫn, các tương quan và thế lực, những khả nǎng xuất hiện và chín muồi của tình thế và thời cơ cách mạng, của các nhân tố “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hoà” để từ đó vạch ra khẩu hiệu đấu tranh, điều chỉnh biện pháp, lấy sự biến hoá khôn lường của các biện pháp để giành thế chủ động trong việc thực hiện nguyên tắc, mục tiêu phù hợp với từng hoàn cảnh, từng thời điểm.

Hồ Chí Minh đã tỏ rõ trong thực tiễn sự vận động, biểu hiện của khoa học và nghệ thuật cách mạng. Chỉ đạo trực tiếp các cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền, các chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ và xã hội chủ nghĩa trong nhiều thập kỷ, Hồ Chí Minh đã làm nổi bật cả trong lý luận lẫn thực tiễn tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sự kết hợp trong chỉnh thể các vấn đề về mục tiêu, bản chất, động lực, bước đi và biện pháp (cách làm) của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Quan điểm hệ thống và phát triển đã đặt cơ sở cho những luận chứng của Hồ Chí Minh về xây dựng kinh tế gắn với phát triển vǎn hoá, bảo vệ an ninh quốc phòng; phát triển nông nghiệp, nông thôn với xây dựng công nghiệp và đời sống đô thị; giữa cải tạo và xây dựng; giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; giữa tập trung và dân chủ; giữa tổ chức bộ máy với chất lượng cán bộ; giữa pháp luật và kỷ luật với đoàn kết và dân chủ; giữa phát huy và bảo tồn truyền thống với cách tân, đổi mới theo hiện đại và thời đại… Câu thơ nổi tiếng của Người: “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ, kiên quyết không ngừng thế tiến công” là sự thâu tóm muôn ý tưởng sâu sắc ấy.

4. Quan điểm kết hợp cái lịch sử với cái lôgích và quan điểm so sánh

Nhận thức khoa học đòi hỏi phải nắm được bản chất, quy luật của sự vật, đồng thời nắm lịch sử của sự vật, quá trình phát sinh, phát triển của nó. Mỗi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của nó. Quá trình đó biểu hiện ra trong toàn bộ tính cụ thể của nó, bao gồm cả những sự thay đổi và những bước quanh co của sự phát triển với những ngẫu nhiên phức tạp của hoàn cảnh nhiều hình vẻ. Đó chính là lịch sử của sự vật. Đối với lịch sử, tính quy luật của nó, có đặc điểm là: tính liên tục của những sự kiện, sự biến trong thời gian và quá trình, nó bao gồm cả những ngẫu nhiên. Phương pháp lịch sử đòi hỏi sự phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử – cụ thể của sự phát triển đó.

Phương pháp lịch sử còn đòi hỏi phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám sát sự vật – đối tượng nghiên cứu, theo dõi mọi bước phát triển của nó theo trình tự thời gian. Nhưng đồng thời quá trình phát triển lịch sử của sự vật, dù có phức tạp, muôn vẻ và có nhiều ngẫu nhiên đến đâu thì bao giờ cũng bị chi phối bởi cái tất nhiên, cái chung, cái quy luật phổ biến, nội tại và khách quan của nó. Đó chính là lôgích khách quan của lịch sử của sự vật. Lôgích của tư duy, lý luận là phản ánh cái lôgích khách quan đó.

Vì vậy, phương pháp lôgích là hình thức đặc biệt phản ánh quá trình lịch sử. Phương pháp lôgích phải vạch ra bản chất , tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật, dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. So với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgích có ưu thế hơn ở chỗ, nó không những phản ánh bản chất, tính tất nhiên, quy luật của sự vật mà đồng thời còn phản ánh được lịch sử phát triển của sự vật ở những nét chủ yếu. Nhờ vậy, phương pháp lôgích có khả nǎng kết hợp trong bản thân nó hai yếu tố của sự nghiên cứu: kết cấu (cấu trúc) của sự vật và lịch sử của nó trong sự thống nhất chặt chẽ của chúng.

Phương pháp lôgích cũng phản ánh lịch sử nhưng phản ánh một cách tóm tắt, khái quát, với những mốc chính, những giai đoạn chủ yếu của sự phát triển chứ không bám sát chi tiết tiến trình các sự kiện lịch sử. Bộ Tư bản của Mác là một kiểu mẫu của sự phân tích lôgích đối với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bằng sự phân tích lôgích, bằng một hệ thống khái niệm, phạm trù kinh tế, Mác đã vạch ra quy luật phát sinh, phát triển và dự báo sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản.

Lênin nhận xét rằng, chính sự phân tích lôgích này đã giúp ta hình dung rõ lịch sử của chủ nghĩa tư bản và sự phân tích những khái niệm tóm tắt lịch sử ấy. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích trong sự kết hợp chỉnh thể của nó đã bao hàm cả phương pháp (quan điểm) so sánh, phân tích. Chúng là những phương pháp khác nhau nhưng thống nhất với nhau, quy định và biểu hiện lẫn nhau. Theo Ǎngghen, phương pháp lôgích không phải cái gì khác là phương pháp lịch sử, chỉ có điều là nó đã thoát khỏi những hình thức lịch sử và những ngẫu nhiên pha trộn.

Lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó. Và sự vận động tiếp tục thêm nữa của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trừu tượng và nhất quán về mặt lý luận. Nó là sự phản ánh đã được uốn nắn lại nhưng uốn nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử thực tế đã cung cấp, hơn nữa mỗi một nhân tố đều có thể xem xét ở cái điểm phát triển mà ở đó quá trình đạt tới chỗ hoàn toàn chín muồi, đạt tới cái hình thái cổ điển của nó. Cần nhấn mạnh rằng phương pháp lôgích là sự phân tích khoa học biện chứng của sự phát triển thực tế của sự vật chứ không phải rút một khái niệm này từ một khái niệm khác một cách tư biện Sự phù hợp giữa lôgích và lịch sử là một nguyên tắc phương pháp luận của lôgích biện chứng mácxít.

Muốn hiểu bản chất, quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử phát sinh, phát triển của nó. Ngược lại, chỉ có nắm được bản chất và quy luật của sự vật thì mới nhận thức được lịch sử của nó một cách đúng đắn. Dựng lại cái lôgích khách quan của sự phát triển của sự vật là nhiệm vụ của phương pháp lôgích. Muốn vậy, khi nghiên cứu sự vật phải bắt đầu từ hình thức phát triển tương đối hoàn thiện và chín muồi nhất của nó chứ không thể tuỳ tiện. Nếu lịch sử chính là bản thân cuộc sống thì lôgích là bản chất của cuộc sống do nghiên cứu lý luận chỉ ra Không có sự khác nhau về nguyên tắc giữa lịch sử và lôgích.

Vấn đề đặt ra là ở chỗ sự kết hợp giữa chúng một cách nhuần nhuyễn trong nghiên cứu đối tượng sao cho đối tượng được hiện ra với một diện mạo lịch sử trung thực, đúng như bản thân nó và trong đó nổi bật lôgích về sự vận động, sinh thành, phát triển của nó. Phương pháp phân tích so sánh là sự hỗ trợ cần thiết làm nổi bật tính thống nhất giữa lịch sử và lôgích. Đó là sự so sánh giữa đối tượng này với đối tượng khác trong những điều kiện, hoàn cảnh xác định chi phối chúng, cho phép nhìn rõ nét tương đồng và sự khác biệt, nhận rõ những cái riêng có cùng một cái chung bản chất hoặc những dấu hiệu phân biệt cái riêng này với cái riêng khác.

Phương pháp phân tích so sánh cũng có thể dựa trên những cái mốc của sự kiện và thời gian của cùng một cái trục vận động lịch sử để lần tìm ra sự phát triển khác nhau của cùng một đối tượng, chỉnh thể trong những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Sự kết hợp lịch đại và đồng đại trong nghiên cứu sự phát triển của một đối tượng, của những đối tượng khác nhau trở nên cần thiết một cách khách quan. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nghiên cứu quá trình hình thành tư tưởng, sự chuyển đổi thế giới quan của một nhân vật lịch sử, hoặc những cống hiến khác nhau của những nhân vật khác nhau trong cùng một thời đại cũng như trong những thời đại lịch sử khác nhau.

Nghiên cứu Hồ Chí Minh nằm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học các vĩ nhân, các danh nhân, cần đến sự ứng dụng những phương pháp này. Phương pháp lịch sử được ứng dụng vào đây cho phép vạch ra tiến trình các sự kiện hoạt động trong cuộc đời, tư tưởng, sự nghiệp Hồ Chí Minh, cho thấy quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Người. Phương pháp lôgích cho phép hình dung những nhân tố khách quan và chủ quan, những ảnh hưởng qua lại của dân tộc, truyền thống, thời đại, vǎn hoá và lịch sử tạo nên giá trị, bản lĩnh, bản sắc, phong cách Hồ Chí Minh – một lãnh tụ kiểu mới của giai cấp vô sản trong thời đại cách mạng vô sản.

Phương pháp so sánh cho phép vạch ra mối liên hệ chung – riêng, phổ biến và đặc thù giừa Hồ Chí Minh với các vĩ nhân, danh nhân vǎn hoá khác. ở đây, phương pháp so sánh trên cơ sở phân tích cụ thể một tình hình cụ thể cho phép nhân chân những đóng góp và cống hiến riêng có của Hồ Chí Minh đối với lịch sử… Đó là những nét đại thể về các quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử cần được áp dụng vào nghiên cứu Hồ Chí Minh.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 6

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương II Những nguyên tắc phương pháp luận chung chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh

II. Quán triệt những quan điểm của Đảng và chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo cao cấp trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh

Nghiên cứu về Hồ Chí Minh không những cần xuất phát từ các quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử mà còn phải quán triệt những chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, Những chỉ dẫn đó có trong các bài nói và viết, các phát biểu chính thức thành vǎn của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhân những lễ kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của Hồ Chí Minh. Đặc biệt là, cần chú ý khai thác những đánh giá về công hiến của Hồ Chí Minh qua tư tưởng và sự nghiệp của Người, những nhận xét, đánh giá về ảnh hưởng uy tín đạo đức nhân cách, lối sống, phong cách ứng xử vǎn hoá của Hồ Chí Minh đối với xã hội và các tầng lớp nhân dân qua các thời kỳ phát triển của cách mạng Việt Nam.

Đây là những đánh giá chính thức và là quan điểm chính thống của Đảng ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh được ghi trong các vǎn kiện chính trị của Đảng, nhất là các vǎn kiện ở thời kỳ đổi mới, từ Đại hội VI, VII, VIII cho tới nay. Cùng ở trong hệ thống nguồn tài liệu này còn có các bài nghiên cứu, các công trình lý luận chính trị đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp về Hồ Chí Minh của các nhà lãnh đạo vốn là học trò và bạn chiến đấu của Người, cùng sống và hoạt động bên cạnh Người, có điều kiện hiểu biết khá cặn kẽ về cuộc đời Hồ Chí Minh; về những quan điểm, tư tưởng và lý luận của Người; về phương pháp công tác và quan hệ con người rất mực bao dung và nhân ái của Hồ Chí Minh.

Nguồn tài liệu này cung cấp cho người nghiên cứu về Hồ Chí Minh không chỉ về mặt tư liệu khoa học mà còn cả những gợi mở về phương pháp luận, quan điểm và thái độ chính trị bảo đảm cho công việc nghiên cứu những định hướng đúng đắn, hữu ích. Việc nghiên cứu thấu đáo những tài liệu này để nắm vững nội dung tư tưởng và phương pháp trình bày, trên cơ sở đó tiến hành một sự phân loại, sắp xếp nguồn tài liệu theo vấn đề và theo thời gian, trong đó chú trọng khai thác những luận điểm lớn có ý nghĩa chỉ đạo nhận thức hoặc gợi mở phương hướng nghiên cứu, tìm tòi… cần được xem là một yêu cầu nghiêm túc cả về mặt tư tưởng chính trị lẫn chuyên môn, học thuật đối với người nghiên cứu trong tình hình hiện nay.

Để thực hiện yêu cầu này, người nghiên cứu ngoài công phu lao động tìm tòi còn phải có nǎng lực phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá cao. Về mặt thao tác nghiên cứu, không nên bỏ qua một nhận xét là, có một sự thâm nhập đồng thời những chỉ dẫn, gợi ý này cùng với sự thâm nhập các tác phẩm của Hồ Chí Minh (xét từ giới hạn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phương pháp phân tích vǎn bản), hoặc khai thác sự kiện, niên biểu, tư liệu lịch sử, tư liệu vǎn học, tư liệu thực tiễn về Hồ Chí Minh (xét từ góc độ các lĩnh vực nghiên cứu khác, mang tính chuyên biệt về đối tượng – khách thể Hồ Chí Minh theo những hướng đích khác nhau của nghiên cứu.

Thí dụ: Nghiên cứu biên niên tiểu sử, nghiên cứu tiểu sử khoa học, nghiên cứu các phương diện đạo đức, lối sống, vǎn hoá Hồ Chí Minh hay những tác động, ảnh hưởng của Hồ Chí Minh trong thực tiễn con người và lịch sử…). Sự thâm nhập này có tác động hỗ trợ, thúc đẩy, điều chỉnh lẫn nhau mà điều quan trọng đối với người nghiên cứu là, phải bắt đầu từ đó để tiến lên một cách độc lập, tự chủ và sáng tạo trong những lập luận, kiến giải riêng của mình.

Càng nắm vững đối tượng càng phải vượt qua những sự mô tả bề ngoài về đối tượng ấy để vạch ra lôgích của những mối liên hệ bản chất về đối tượng. Càng tiếp cận với các nguồn tài liệu, những nhận xét, nhận định và kết luận về đối tượng càng phải đề phòng nguy cơ rơi vào sự khuôn sáo, cứng nhắc, thái độ lệ thuộc vào tài liệu và thụ động trước những lập luận đã có. Nó có thể dẫn tới tình trạng coi những chỉ dẫn vốn là một trong những điểm tựa gợi ý nghiên cứu thành những kết quả nghiên cứu, trong khi việc nghiên cứu của chính mình chỉ vừa mới bắt đầu.

ùng với việc đổi mới toàn diện đất nước như một đường lối chiến lược của sự phát triển để xây dựng một xã hội Việt Nam hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đặc biệt coi trọng yêu cầu đổi mới tư duy, nhận thức, thực hiện dân chủ hoá để giải phóng tinh thần, ý thức xã hội, kích thích những tìm tòi sáng tạo để hình thành những tư tưởng khoa học mới, khắc phục sự chậm trễ của lý luận so với thực tiễn, sự lạc h ậu của khoa học xã hội trước cuộc sống. Quan điểm đổi mới ấy của Đảng ta phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.

Do đó, việc thấm nhuần các quan điểm của Đảng, việc tìm hiểu các chỉ dẫn nghiên cứu Hồ Chí Minh của các đồng chí lãnh đạo của Đảng phải dẫn tới những thúc đẩy tích cực nghiên cứu chứ không phải hạ thấp vai trò, chức nǎng nghiên cứu xuống trình độ mô tả, thuyết minh cái có sẵn một cách thông thường, cho dù thuyết minh, tuyên truyền là rất quan trọng và cần thiết trong hoạt động tư tưởng.

Dưới đây là một số điểm chú ý được rút ra từ các vǎn kiện Đảng và các tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian gần đây có ý nghĩa chỉ dẫn nghiên cứu về Hồ Chí Minh mà chúng tôi có thể lĩnh hội, vận dụng vào các đề tài nghiên cứu.

1. Mọi thắng lợi và thành tựu của cách mạng Việt Nam đều gắn liền mật thiết với tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối của Đảng, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh mà những nét nổi bật và bao trùm là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao nǎng lực, trí tuệ, phát huy sức mạnh chiến đấu của Đảng, truyền thống đoàn kết của Đảng và của dân tộc… đó là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới. Học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những vấn đè quan tâm hàng đàu của Đảng trên lĩnh vực công tác tư tưởng – lý luận, giáo dục và tuyên truyền của Đảng đối với toàn xã hội. Đó là cách đặt vấn dề của Đảng ta tại Đại hội VI – Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới, tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển của cách mạng nước ta trong tình hình mới.

2. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử – cụ thể của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành động lực tinh thần mạnh mẽ của sự phát triển xã hội ta, sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh. Đây là những nét chủ đạo được đề cập trong Cương lĩnh, Chiến lược, Vǎn kiện Đại hội VII và trong Nghị quyết các Hội nghị Trung ương (khoá VII) của Đảng.

3. Kiên trì sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong đổi mới kinh tế – xã hội, gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội xây dựng chế độ mới do dân lao động làm chủ, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là những định hướng của công tác tư tưởng và lý luận dược nêu lên trong Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị gần đây cùng với các Nghị quyết Trung ương về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh; về đổi mới và chỉnh đốn Đảng, về Đảng lãnh đạo Nha nước, về phát huy vai trò của nhân tố con người trong xây dựng kinh tế, phát triển vǎn hoá – giáo dục, xây dựng nông thôn, thực hiện từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá… Đó là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

4. Trong hàng loạt các bài nói và viết của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, từ các đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, Trường Chinh, Đỗ Mười, đến các đồng chí cố vấn Nguyễn Vǎn Linh, Phạm Vǎn Đồng, và nhiều đồng chí khác, đã gợi mở nhiều ý kiến phong phú về nghiên cứu, đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh, những nội dung cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh, vè phương pháp cách mạng, chiến lược đại đoàn kết, về xây dựng Đảng, Nhà nước và quân đội, về giáo dục con người, đào tạo cán bộ cách mạng, về đạo đức và lối sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, còn cả một mảng tư liệu phong phú, sinh động về Hồ Chí Minh dưới hình thức hồi ký, chuyện kể, sự kiện liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp hoạt động của Người.

Đó là những cứ liệu xác thực hỗ trợ rất nhiều cho việc nghiên cứ toàn diện, hệ thống về Hồ Chí Minh. Vì tất cả những lẽ đó, cần thiết phải khẳng định vị trí và tầm quan trọng của những quan diểm của Đảng được ghi trong các vǎn kiện, các chỉ dẫn của các nhà lãnh đạo cao cấp, trong hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận chung chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Các khoa học lịch sử Đảng và xây dựng Đảng đã đề cập trực tiếp tới các vấn đề đã nêu trên. Bộ môn “Tư tưởng Hồ Chí Minh” với tư cách một môn khoa học đang trong quá trình hình thành, đặt nền móng cho sự ra đời một chuyên ngành khoa học mới – ” Hồ Chí Minh học” ở nước ta – chắc chắn sẽ hỗ trợ tích cực về công cụ và phương pháp nghiên cứu cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn

Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Bài 7

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

~ oOo ~

Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH

Chương II Những nguyên tắc phương pháp luận chung chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh

III- Kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm và thành tựu khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân trên thế giới

Hồ Chí Minh được thế giới thừa nhận là một danh nhân vǎn hoá. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân của thế kỷ XX mà tên tuổi và sự nghiệp của người Người đã trở nên gần gũi, thân thiết đối với các dân tộc trên thế giới. Riêng đối với cách mạng Việt Nam và lịch sử dân tộc Việt Nam, công lao vĩ đại của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đã mở ra cả một thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thời đại rực rõ nhất của dân tộc ta, đưa dân tộc ra tới độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử như vậy.

Do đó, nói một cách ngắn gọn, nghiên cứu Hồ Chí Minh là nghiên cứu một vĩ nhân, một danh nhân vǎn hoá. ở nhiều nước trên thế giới, từ lâu đã ra đời khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân. Khoa học này có những hình thái biểu hiện của nó dưới các dạng nghiên cứu tiểu sử, nghiên cứu học thuyết tư tưởng, nghiên cứu lịch sử cuộc đời và sự nghiệp. Trong lĩnh vực vǎn học nghệ thuật, các vĩ nhân và danh nhân còn là đối tượng của những sáng tạo để dựng nên các hình tượng trong tiểu thuyết lịch sử, trong sáng tác thơ ca và điện ảnh, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc…

Đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học, việc tham khảo, kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm và thành tựu nghiên cứu nói ở đây chủ yếu là ở những công trình khảo cứu dưới góc độ lịch sử và lý luận. ở nước ta, tiếp cận tới những tác phẩm thuộc loại này còn rất mới, thường vấp phải không ít khó khǎn về tư liệu. Đó là chưa kể đến những khác biệt rất cǎn bản về thế giới quan, về lập trường chính trị và ý thức hệ của những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học chuyên biệt này. Đối với một vĩ nhân, tức là cùng một đối tượng nghiên cứu, song tuỳ thuộc sự khác nhau ở chỗ đứng và cách nhìn mà mỗi học giả nghiên cứu lại có những lǎng kính rất khác nhau trong đánh giá và cam thụ. Vì vậy, nguyên tắc phương pháp luận cần phải đặt ra trong việc nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc các kinh nghiệm và thành tựu của khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân là quan điểm mácxít trong việc đánh giá vai trò cá nhân trong lịch sử.

Quan điểm mácxit (duy vật lịch sử) thừa nhận vai trò, tác dụng của các cá nhân, ảnh hưởng quan trọng của các cá nhân thiên tìa, kiệt xuất trong tiến trình lịch sử, thậm chí trong những tình huống đặc biệt, họ có thể có những vai trò quyết định đối với tiến trình lịch sử. Song có hai điểm đặc biệt phải lưu ý: Một là, dù vĩ đại đến đâu các vĩ nhân cũng đều là con đẻ của một thời đại lịch sử nhất định. Là sản phẩm của lịch sử, ở thời đại mình, họ không thể không bị những quy định, những chế ước, những ràng buộc của chính lịch sử đó. Tài nǎng cũng như hạn chế của họ là sự phản ánh cái giới hạn của trình độ phát triển lịch sử đương thời của thời đại đã sản sinh ra họ.

Do đó, tính chân thực, khách quan về mặt lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu các vĩ nhân với tư cách là một cá nhân, một con người hiện thực. Không nắm vững quan điểm lịch sử – cụ thể này có thể rơi vào tình trạng huyền thoại hoá (thổi phồng, tuyệt đối hoá, lý tưởng hoá) làm suy giảm tính hiện thực của đối tượng nghiên cứu. Nó còn có thể dẫn tới quan điểm sùng bái cá nhân, mang màu sắc tôn giáo, do đó không tái tạo được diện mạo lịch sử chân thực, mà còn xuyên tạc, bóp méo cá nhân đó. ở một khuynh hướng khác của sự thoát ly quan điểm lịch sử là tình trạng hiện đại hoá các nhân vật lịch sử. Nó có biểu hiện là đem các chuẩn mực đánh giá, các thước đo giá trị của thời kỳ hiện đại để đo lường các vĩ nhân của những thời kỳ trước đây, tạo ra những cách hiểu gượng ép, nhân tạo, thoát ky bối cảnh, điều kiện hiện thực vốn có của các vĩ nhân đó. Hai là, các cá nhân thiên tài, các vĩ nhân dù có đóng góp to lớn và xuất sắc đối với lịch sử thì vấn đề là ở chỗ, quyết định đối với tiến bộ lịch sử vẫn thuộc về vai trò của quần chúng nhân dân. ý nghĩa tích cực của những đóng góp của vĩ nhân phải được xác định ở sự liên hệ xã hội – nhân vǎn có trong tư tưởng, sự nghiệp và hành động của họ.

Đó là cơ sở giá trị của họ, là cái bảo dảm cho sức sống và ảnh hưởng của họ trong nhân dân, trong vǎn hoá của nhân loại. Cũng phải từ cơ sở này để xem xét, giải thích những hạn chế thuộc về chủ quan và khách quan mà các vĩ nhân, dù là vĩ nhân cũng không thể vượt qua. Với những quan niệm đó, các công trình nghiên cứu về vĩ nhân của học giả này hay học giả khác, nhất là các học giả đứng trên lập trường tư tưởng tư sản cần được nghiên cứu và kế thừa chủ yếu ở mặt phương pháp và kỹ thuật, đặc biệt là phương pháp sưu tầm, khảo cứu, tập hợp tư liệu, sử liệu và phương pháp trình bày.

Dĩ nhiên, có không ít những học giả tư sản tuy không cùng quan điểm, chính kiến với những người mácxít nhưng đã từng có những thành tựu đặc sắc trong nghiên cứu vĩ nhân. Sự trung thực đối với lịch sử, nhiều khi đem lại cho họ những phát hiện mới mẻ, có giá trị. Do đó, cũng chính quan điểm và phương pháp mácxít đòi hỏi người nghiên cứu phải tránh những định kiến chủ quan hẹp hòi, những thái độ biệt phái, cực đoan trong việc phủ nhận, khước từ các thành tựu nghiên cứu về vĩ nhân trong lĩnh vực khoa học này của thế giới. Việc chǎm chú khai thác, khảo cứu nó có thể giúp ích một cách đáng kể cho chúng ta trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

PGS, PTS. Hoàng Chí Bảo; GS. Nguyễn Đǎng Mạnh;

cpv.org.vn