Thư viện

Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, Đoàn đại biểu Quân sự cấp cao Liên bang Nga do Đại tướng Sergei Shoigu, Bộ trưởng Quốc phòng dẫn đầu, sang thăm và làm việc tại Việt Nam từ ngày 4 đến ngày 5/3/2013. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Đại tướng Sergei Shoigu, Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga, kể từ khi nhậm chức ngày 6-11-2012. Trong thời gian thăm và làm việc Việt Nam, sáng ngày 5/3/2013, Đại tướng Sergei Shoigu và Đoàn đại biểu đã đến đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga kính viếng”.

Bo quoc phong Nga
Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga
cùng Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga diễn ra trong bối cảnh hai nước Việt Nam và Liên bang Nga đã nâng cấp quan hệ từ quan hệ đối tác chiến lược lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (tháng 7 – 2012).

Chuyến thăm lần này của Đại tướng Sergei Shoigu góp phần củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, phát triển hợp tác lâu dài, bền vững trong lĩnh vực quân sự và kỹ thuật quân sự; đưa quan hệ quốc phòng giữa hai nước lên tầm cao mới, thiết thực, phù hợp với quan hệ hữu nghị truyền thống và ngang tầm với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Người phương Tây cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Đó là Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris.

Sinh ngày 17/9/1920, Charles Fourniau đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

TS. Phan Văn Hoàng (nguyên Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP.HCM):

Một đồng nghiệp của báo L’Humanité (cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp) báo tin buồn: Giáo sư Charles Fourniau, một người bạn lớn của Việt Nam, qua đời ngày 21/4/2010 ở tuổi 90 tại Paris và được an táng ngày 29/4/2010 tại nghĩa trang La Chaise.

dNhà sử học Charles Fourniau. Nguồn: Internet.

Sinh ngày 17/9/1920, ông đỗ thạc sĩ năm 1949 và tiến sĩ sử học năm 1983 với luận án Cuộc chinh phục Trung Kỳ và Bắc Kỳ 1885-1896 (La conquête de l’Annam et du Tonkin 1885-1896). Phần lớn thời gian được ông dành để nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại. Ông đã viết nhiều sách như: Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale ) (1989); Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914) (2002).

Ông từng chủ trì cuộc hội thảo về lịch sử chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (tổ chức tại Đại học Provence).

Dưới sự hướng dẫn khoa học của ông, nhiều sinh viên đã trở thành những nhà Việt Nam học có uy tín.

Không chỉ là một nhà sử học uyên thâm, ông còn là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình.

Là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, ông phản đối mãnh liệt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời không bao lâu, ông là một trong những người sáng lập Hội hữu nghị Pháp – Việt (Association d’amitié Franco-Viêtnamienne) (1961), từng làm Tổng thư ký và Chủ tịch của Hội. Năm 1962, Hội xuất bản cuốn Vấn đề Nam Việt Nam (La question du Sud-Vietnam) giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam.

Từ tháng 10/1963 đến tháng 7/1965, ông được báo L’Humanité cử làm phóng viên thường trú ở Hà Nội. Ông tận mắt chứng kiến những trận ném bom dã man của Mỹ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam. Là một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ông nhận thức được truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm, nên trong những bài báo gửi về Paris, ông khẳng định: Nhân dân Việt Nam cuối cùng sẽ thắng.

Vào thời điểm 1965, nhiều người trên thế giới lo ngại cho một nước nhỏ và nghèo như Việt Nam trước sự tàn phá khủng khiếp của Không lực Hoa Kỳ, nên không phải ai cũng nghĩ như ông. Hiệp định Paris 27/1/1973 và chiến thắng 30/4/1975 cho thấy dự đoán của ông hoàn toàn chính xác.

Ông nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, ông là người phương Tây cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ hai tuần lễ trước khi Người qua đời (1969). Năm sau, ông cùng Léo Figuères biên tập cuốn Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta (Hô Chi Minh, notre commarade).

Sau ngày Việt Nam hòa bình và thống nhất, Hội hữu nghị Pháp – Việt tiếp tục hoạt động cho sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Ở tuổi 83, ông cho xuất bản cuốn hồi ký Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000 (Le Viêtnam que j’ai vu 1960-2000).

dBìa quyển sách Việt Nam mà tôi đã thấy 1960-2000
(Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914).

Charles Fourniau qua đời, nhân dân Việt Nam mất một người bạn thủy chung, giới sử học Việt Nam mất một đồng nghiệp khả kính.

Xin chúc ông an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

TS ALAIN RUSCIO (Nhà Việt Nam học của Pháp):

Charles Fourniau là một nhà sử học được nhiều đồng nghiệp biết tên tuổi, nhưng ông còn là một người có niềm tin vững chắc, là nhà sáng lập Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) mà ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký trong một thời gian dài. Ông vừa qua đời ở tuổi 89, để lại một khoảng trống mà với thời gian, chúng ta sẽ ngày càng thấm thía.

Trong cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, ông là một chiến sĩ của phong trào Hòa bình, bắt đầu dấn thân vào việc bảo vệ dân tộc Việt Nam dũng cảm. Sau đó, trong cuộc chiến tranh của Mỹ – màn thứ hai của cuộc xâm lược từ phương Tây, ông sang Việt Nam lần đầu tiên. Khi trở về Pháp, ông đã bị dân tộc Việt Nam chinh phục: ông đã có một sự lựa chọn dứt khoát cho cả đời mình.

dBìa quyển sách Trung Kỳ – Bắc Kỳ 1885-1896: Sĩ phu và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thực dân (Annam – Tonkin 1885-1896: Lettrés et paysans viêtnamiens face à la conquête coloniale).

Hai năm sau, ông trở lại đất nước này với tư cách là một nhà báo. Tờ L’ Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp) yêu cầu ông sang đó làm phóng viên thường trú của báo. Ở đó, ông tự hào được gần gũi các nhà lãnh đạo của nước này, được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, trở thành một người thân cận của Người và là người nước ngoài cuối cùng được gặp Người (trước khi Người qua đời).

Ông là một trong những người đầu tiên chứng kiến tận mắt việc Mỹ leo thang chiến tranh. Ông thường kể lại bài báo đầu tiên ông gửi về cho báo L’ Humanité năm 1965 sau những trận ném bom ồ ạt của Mỹ. Trong bài báo ấy, ông dự đoán rằng cuối cùng Việt Nam sẽ chiến thắng. Lúc đó, sự chênh lệch về lực lượng (giữa Việt Nam và Mỹ) quá lớn khiến tòa soạn ở Paris phải do dự một lúc trước khi cho đăng. Mười năm sau, Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính kiến thức của một nhà sử học đã giúp ông nhìn xa hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Charles Fourniau là một trong những người đầu tiên tự hỏi về nguồn gốc của sức đề kháng độc đáo của dân tộc này (ông rất ghét gọi nước này là một nước “nhỏ”).

Và ông đã tìm thấy câu trả lời từ trong lịch sử Việt Nam, chẳng hạn khái niệm “chiến tranh toàn dân” đã bén rễ từ nhiều thế kỷ qua trong tâm trí người Việt Nam, từ nhà vua đến người làm ruộng, trong vô số những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại người Trung Quốc, rồi trong cuộc kháng chiến chống lại sự chinh phục của thực dân Pháp (mà ông lấy làm đề tài cho luận án tiến sĩ của ông). Ông giải thích: Rốt cuộc, ở thế kỷ XX, tướng Giáp chỉ đơn giản sử dụng lại những truyền thống cổ xưa này, đồng thời thêm vào đó nét thiên tài của chính ông.

Ông có một đức tính đặc biệt mà những người ở gần ông đều biết rất rõ: ông là một người truyền đạt kiến thức giỏi, một ông thầy dạy hay. Ông hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên. Họ nghe ông giảng, chia sẻ nhiệt tình của ông và sau đó trở thành những nhà Việt Nam học có tên tuổi.

“Trong nhiều năm, tên tuổi của ông đã gắn liền với cuộc đấu tranh vì tự do của nhân dân Việt Nam”

Marie – George Buffet, Bí thư toàn quốc Đảng cộng sản Pháp

Nhà khoa học này là một người dấn thân. Ông là một nhà thông thái, đồng thời cũng là một nhà tranh đấu. Tất cả ở ông là sự kết hợp hài hòa hai từ này mà ông không muốn tách rời nhau. Ông có thể đọc một bản tham luận xuất sắc tại một cuộc hội thảo quốc tế và ngay trong tuần lễ đó, nhân dân Hội Hữu nghị Pháp – Việt mà ông quý mến, ông đi dự một cuộc họp mặt của làng hay của khu phố.

Là một trí thức cộng sản, ông có những xác tín cơ bản – mà có người cho là quá thẳng – song ông không tìm cách che giấu rằng trong đó có những vấn đề và những hoài nghi mang tính phê phán gay gắt. Có lẽ ông có cả hai nét này nhờ ông hiểu một cách sâu sắc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Mong bà Paulette và năm người con của ông – mà trước đây ông đã đưa sang Việt Nam cùng ông – cùng các cháu mà ông yêu quý, hãy nhận những lời phân ưu chân thành của tất cả những người yêu mến Charles của họ mà cũng là một phần của chúng tôi.

(Bài đăng trên website http://www.humanite.fr V.H. dịch)

GS Nguyễn Văn Hoàn
:

Tôi quen Fourniau từ năm 1963, năm ông sang Hà Nội làm việc. Tôi quen toàn bộ gia đình, cả vợ và con Fourniau. Sau này, lần nào qua Ý, tôi cũng ghé ở nhà ông ấy. Khi Fourniau về hưu, có một hội nghị khoa học về ông, tôi có viết bài.

dĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp Nhà sử học Charles Fourniau (người ngồi bên phải) tại nhà riêng. Ảnh: Nguyễn Văn Kự.

Đó là một con người làm việc nghiêm túc, đến nơi đến chốn, một người Pháp thân tình thực sự với Việt Nam. Một lần, ông đến Vân Kiều, một vùng dân tộc thiểu số ở Vĩnh Linh, họ rất ngạc nhiên thấy một “ông Tây” hiền và tốt đến như vậy. Tôi nói với ông điều đó, và ông, với vẻ mặt buồn buồn, nói: “Nếu tôi có thể gây một ấn tượng tốt cho người Việt Nam (khác với những người Pháp thực dân) thì tôi rất hạnh phúc”.

Tại đại hội Đảng bộ Vĩnh Linh, một đại biểu người Vân Kiều nói: “Ngày xưa, gặp một người Kinh ở trong rừng thôi, tôi đã bỏ chạy. Nay ngồi cạnh một ông Tây mà tôi rất an tâm, tự hào, vì tôi tin tưởng ở Bác Hồ”. Cả hội trường vỗ tay như sấm. Fourniau sung sướng khi nghe dịch lại.

Từ thời sinh viên cho đến lúc mất, Fourniau là một người bạn chí tình của Việt Nam. Từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng… đều có “biệt nhỡn” đối với ông. Giới học giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều… đều gặp và nói chuyện trực tiếp với ông bằng tiếng Pháp. Ông cũng thân thiết với Võ Nguyên Giáp. Ông thường đến thăm Võ Nguyên Giáp, nói chuyện bằng tiếng Pháp với Võ Nguyên Giáp.

Những tác phẩm sử học của ông rất nghiêm túc về công tác tư liệu. Khi làm phóng viên tại Hà Nội, ông đã tìm các tư liệu về lịch sử cận đại Việt Nam và tôi đã giúp ông tìm các tư liệu lịch sử chưa in như Gia phả Nguyễn Quang Bích và Ngọ Phong thi tập. Sau đó, ông nhờ Cao Xuân Huy, Phạm Thiều giảng lại từng câu. Ông vào thăm chiến khu Ba Đình – Thanh Hóa và ghi âm bài vè Ba Đình rồi dịch toàn văn ra tiếng Pháp. Trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence coi ông như người nhà, và ông đã giới thiệu tôi đến đó đọc tư liệu và photocoppy miễn phí.

aBìa quyển sách Việt Nam: Sự thống trị thuộc địa và cuộc kháng chiến dân tộc 1858-1914 (Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914)

Suốt đời ông gắn bó với Hội hữu nghị Việt – Pháp, từ cương vị Tổng thư kí đến cương vị Chủ tịch đại diện lúc cuối đời. Ông thuộc diện người Pháp hết lòng với Việt Nam. Như Henry Martin, Raymon Dienne, Madelain Rifaud…, những người bị bọn xấu cho là cuồng tín. Ông sống suốt đời vì Việt Nam với trái tim chân thành, công khai chống lại cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” ở Việt Nam.

Ông là một trong nhóm phóng viên nước ngoài chịu đựng cuộc ném bom của Mỹ xuống Đồng Hới ngày 11/2/1965. Ông đã ở đó cùng với đứa con trai lớn nhất của mình 11 tuổi.

Nhóm phóng viên đó, trong đó có phóng viên Liên Xô, gửi về sứ quán Liên Xô rồi từ đó gửi về Mạc Tư Khoa rồi gửi về Pháp một bức điện: “Chúng tôi đã chứng kiến cảnh Mỹ ném bom Đồng Hới tại Việt Nam, một máy bay Mỹ bị bắn hạ và một phi công Mỹ đã bị bắt”. Vợ ông ở Paris đọc tin ấy phát hoảng: “Ông muốn làm gì thì làm, nhưng ông hãy trả con về cho tôi”. Và ông đã gửi con về Paris qua ngã Praha. Đó là một người “dấn thân” vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam.

Một hôm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cả nhà ông đến ăn cơm, một lát thì Bác Hồ xuất hiện. Cô con gái lớn của ông xúc động, xin phép hôn Bác Hồ. “Khi Hồ Chí Minh vào phòng, con có cảm tưởng cả phòng sáng rực lên”. Từ đó, cả nhà gọi Bác Hồ là L’oncle Hồ. Ông cũng là người vinh dự được Bác Hồ tiếp trước khi Bác mất một tuần. Đó là điều vừa tự hào vừa đau buồn sâu sắc đối với ông.

Theo Tạp chí Hồn Việt
Vkyno (st)

Bác Hồ và Tổng thống Indonesia

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia, Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno”.

– Ngày 28/6/1959, trước cuộc mít tinh của 20 vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình chào mừng Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Indonesia : “Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em”.

Với người đứng đầu nhà nước Indonesia mà Bác thân mật gọi là “Anh cả Karno” Bác chia sẻ quan điểm : “Đoàn kết, đoàn kết lại đoàn kết / Khó khăn gì chúng ta cũng nhất định vượt được hết/ Kẻ thù nào chúng ta cũng đánh tan hết/ Thắng lợi to lớn gì chúng ta cũng tranh thủ được hết”.

Bác nhắc lại kỷ niệm: “Mùa Xuân năm nay, lúc Bác sang thăm Indonesia, chẳng những gia đình Tổng thống từ bác gái cho đến các cháu coi Bác như một người anh em trong nhà mà cả Chính phủ, Quốc hội và tất cả nhân dân Indonesia cũng không xem bác là người khách mà xem Bác là người anh em bạn hữu thân thiết của Indonesia.

Bác ở bên ấy mười ngày, đi tỉnh này qua tỉnh khác, hàng triệu nhân dân ra đón Bác, luôn luôn tỏ ra một tình thân rất nồng nhiệt. Tình ấy không chỉ tỏ cho Bác mà còn tỏ cho tất cả nhân dân Việt Nam…”.

 Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.Tháng 6/1959, Bác hướng dẫn Tổng thống Sukarno thăm Bảo tàng Lịch sử QG.

Trong buổi tiệc chiêu đãi, tổ chức tối cùng ngày, đáp từ bài phát biểu của tổng thống Sukarno, Bác nói bằng văn vần : “Lặng nghe lời nói như ru/ Tình hữu nghị giữa hai dân tộc muôn thu vững bền/ Chúng ta cùng bước tiến lên/ Thống nhất và độc lập, chúng ta xây dựng cái nền vẻ vang… Lực lượng chủ nghĩa xã hội thì trưởng thành khắp nơi/ Chúng ta cùng nhau xây dựng cuộc đời/ Người người sung sướng, người người ấm no…”.

Ngày 29/6/1959, tiễn đưa Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hoà Indonesia do Tổng thống Sukarno dẫn dầu kết thúc chuyến thăm hữu nghị nước ta, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh quyến luyến đọc mấy vần thơ: “Nhớ nhung trong lúc chia tay/ Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo Người/ Người về Tổ quốc xa khơi/ Chúc Người thắng lợi. Chúc Người bình an”.

Indonesia là một quốc gia Đông Nam Á có hoàn cảnh lịch sử giống nước ta. Là một thuộc địa của Hà Lan, tháng 8/1945, Indonesia giành được độc lập từ tay phát xít Nhật thành lập nhà nước Cộng hoà do ông Sukarno đứng đầu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một trong những quốc gia mà Bác đi thăm sớm nhất là Ấn Độ và Indonesia.

Ngày 26/2/1959, Bác và đoàn Đại biểu Chính phủ ta sang thăm Indonesia được Tổng thống Sukarno đón tiếp rất nồng hậu. Chuyến đi kết thúc vào ngày 11/3/1959.

Bốn tháng sau, ngày 24/6/1959. Tổng thống Sukarno sang thăm Việt Nam và cũng đuợc Bác và Nhà nước Việt Nam tiếp đón rất trọng thể và thân mật. Indonesia là một quốc gia đông dân, đóng vai trò to lớn trong cộng đồng các quốc gia không liên kết và luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nó giải thích sự thân tình vượt ra khỏi nghi thức ngoại giao mà Bác đã giành cho vị nguyên thủ nước bạn.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và Quốc vương Campuchia

“Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

 “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng” – Quốc trưởng Campuchia phát biểu trong lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 27/6/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Thái tử Quốc truởng Campuchia Nôrôđôm Xihanuc (N.Sihanouk) bày tỏ “vô cùng cảm động về việc Ngài và nhân dân Khơme đã gửi tặng thuốc với một tấm lòng hào hiệp…

Cử chỉ cao cả đó là biểu hiện sự ủng hộ anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Như Ngài đã nói rất đúng: Nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau”.

Nôrôđôm Xihanuc vốn là Thái tử kế vị nhà vua Campuchia Nôrôđôm Xunamarit, năm 1960 mới được bầu làm Quốc trưởng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhà nước ta chỉ có quan hệ với Lực lượng kháng chiến của Sơn Ngọc Minh.

aKhi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tranh thủ mối quan hệ hữu nghị với Chính phủ Vương quốc Campuchia. Bác Hồ luôn bày tỏ sự tôn trọng nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ và chính sách trung lập của  Thái tử Quốc trưởng Xihanuc và thường xuyên duy trì mối liên hệ.

Ngày 21/11/1956, lần đầu tiên, Bác gửi điện mừng tới Vua Nôrôđôm Xuramarit và Hoàng hậu Khơme và chúc nhân dân Khơme thu được nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước Khơme, trong việc thực hiện chính sách hoà bình và trung lập, chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng phát triển.

Ngày 21/6/1960, Bác gửi điện mừng Thái tử Nôrôđôm Xihanuc nhận chức Quốc trưởng Vương quốc Campuchia, trong đó: “Chúc nhân dân Khơme dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng thu được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, xây dựng đất nước Campuchia ngày thêm phồn vinh, góp phần vào việc củng cố hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ở miền Nam xâm phạm chủ quyền Campuchia và đánh phá miền Bắc đã khiến Nôrôđôm Xihanuc đứng về phía cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Năm 1965, theo sáng kiến của Xihanuc, Hội nghị Nhân dân Đông Dương được triệu tập. Ngày 6/3/1965 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thái tử Xihanuc, Chủ tịch Hội nghị Nhân dân Đông Dương: “Tôi rất cảm kích được biết qua bức điện của Ngài rằng Thái tử Nôrôdôm Xihanuc, Quốc trưởng Vương quốc Campuchia đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ về hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của chúng tôi đối với nước VNDCCH và nhấn mạnh sự cần thiết đối với nhân dân các nước Đông Dương phải tăng cường đoàn kết hơn nữa trước nguy cơ mở rộng chiến tranh do đế quốc Mỹ gây nên” và cho rằng thái độ ấy “là bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta (gồm cả Lào) là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ” .

Sau đó Bác chủ động tạo mối liên hệ để tranh thủ sự ủng hộ của Nôrôđôm Xihanuc. Ngày  23/6/1967  trong điện mừng nhân dịp 2 nước đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, Bác đánh giá “Đây là một sự kiện lịch sử trong quan hệ giữa VN và Cămpuchia, một nhân tố tích cực trong việc gìn giữ hoà bình ở Đông Duơng và Đông Nam Á”.

Ngày 8/11/1968, chúc mừng nhân kỷ niệm lần thứ 15 Quốc khánh Campuchia, Bác “bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ửng hộ anh em của Ngài, Chính pủ Vương quốc và nhân dân Khơme.

Chúng tôi khẳng định một lần nữa chính sách trước sau như một của Chính phủ nước VNDCCH là tôn trọng độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia trong biên giới hiện tại.

Chúng tôi tin tưởng rằng ngày nay cũng như này mai,hai nước chúng ta mãi mãi vãn là những người bạn thân thiết… xây dựng mỗi nước theo con đưòng riêng của mình”.

Ngày 7/2/1969 gửi điện cảm ơn Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanuc “đã ủng hộ hoàn toàn lập trường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tại Hội nghị bốn bên ở Pari về Việt Nam… Đó là sự cổ vũ to lớn đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của chúng tôi trong giai đoạn hiện nay, là biểu hiện rực rỡ của t ình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước chúng ta. Gửi lời chào anh em rất kính trọng”.

Đó cũng là văn kiện cuối cùng, Bác gửi Quốc trưởng Campuchia. Khi Bác qua đời, tháng 9/1969, ông Nôrôđôm Xihanuc cùng phu nhân đã tới Hà Nội dự lễ tang.

Tại đây, ông phát biểu: “Được nhân dân kính mến, được bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này… Trong thế giới tàn bạo này, Người đã đem lại cho chúng ta cũng như cho biết bao dân tộc khác những lý do để hy vọng”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ ở Ai Cập

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”.

 – Ngày 8/6/1946, trên đường sang thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại ở Ai Cập. Máy bay cất cánh từ thành phố Habagna (nay thuộc Pakistan) hạ cánh xuống Le Caire (Cairo) thủ đô Ai Cập từ ngày 7/6/1946.

Ngày hôm sau (8/6) theo phép lịch sự Bác và tướng Salan (người thay mặt Chính phủ Pháp tháp tùng) đến thăm Vua Ai Cập nhưng Ngài đi vắng. Viên quan nội vụ đại thần tiếp, mời cà phê và cùng ngày viên quan này theo phép xã giao lại thăm vị khách từ Việt Nam tới tại nơi nghỉ.

Cũng trong ngày, Bác thăm Viện Khảo cổ Ai Cập và được giáo sư viện trưởng người Pháp Prioton hướng dẫn. Ngày nay Viện đã trở thành một bảo tàng có tiếng trên thế giới, đặc biệt với loại hình hiện vật là xác ướp nên còn được gọi là Bảo tàng Xác ướp. Chiều, Bác và những người cùng đi thăm “thành phố Ma” là khu phụ cận thành phố, nhà mồ của những người đã chết được quy hoạch như một khu phố của người sống.

Sau đó, Bác đi thăm những kim tự tháp nổi tiếng của các pharaon Ai Cập và con Nhân sư khổng lồ với lời nhận xét “Bàn chân nó cao quá đầu người đứng. Đêm trời sáng trăng, trông vào tượng đá, thì thấy có vẻ nghiêm trang và thần bí lắm”. Hôm sau (9/6), Bác lại tiếp tục đi thăm kim tự tháp Sekherat cũng rất nổi tiếng.

Nhớ lại, cách đó 35 năm, tháng 6/1911, Bác đã từng đặt chân lên Cảng Xaít (Port Said) của Ai Cập trên hành trình đầu tiên của tàu Đô đốc Latouche Tréville khởi hành từ Bến Nhà Rồng ngày 5/6. Và 22/9/1946 trên chặng đường trở về nước từ Pháp bằng chiến hạm Dumont d’ Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng mấy Việt kiều theo Bác về nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… lại lên cảng Xait thăm.

Có thể nói, trong đời hoạt động của mình, Bác rất thích thăm thú các danh lam thắng cảnh và khảo sát đời sống của các quốc gia. Bác tham gia các nhóm du lịch đi nhiều nước và thăm nhiều di tích lịch sử. Ngay trước khi đến Ai Cập, lúc dừng chân ở Ấn Độ, Bác cũng thăm Lâu đài Delhi Cate, Lăng tẩm của Hoàng hậu Taj Mahan của thế kỷ XVII.

Ngày 8/6/1946 còn có một sự kiện nghiêm trọng là vào thời điểm này, Bác nhận được tin ở Sài Gòn thực dân lập Chính phủ “Nam Kỳ tự trị”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chất vấn tướng Salan cùng đi: “Tại sao không báo cho tôi biết tin này trước khi lên đường? Thật là một âm mưu phi pháp! Tướng quân này, các vị đừng biến Nam Bộ thành một thứ Alsace-Loren (vùng đất của Pháp bị cắt cho Đức trong Đại chiến I) mới, nếu không chúng ta đi đến cuộc chiến tranh trăm năm đấy !…”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ và nhà triết học Anh Bertrand Russel

Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự và một số vấn đề về ngoại giao.

– Ngày 7/4/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về tình hình chiến sự trên cả nước và một số vấn đề về ngoại giao.

Bìa sách Hồ chí minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bìa sách Hồ Chí Minh một bản biên niên sử mới được xuất bản tại Đức.

Bác lưu ý việc tăng cường công tác vận động ngoai giao nhân dân, cần tuyên truyền về Toà án xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam do Huân tước và triết gia nổi tiếng người Anh (năm đó đã 94 tuổi), một người có cảm tình đặc biệt đối với nhân dân ta, đề xướng để tranh thủ dư luận quốc tế.

Bertrand Russel (1872 – 1970) là một nhà triết học và cũng là một chiến sĩ hoà bình nổi tiếng người Anh. Tháng 7/1964, ông đã dẫn đầu một đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân Anh đến Sứ quan của Mỹ và London phản đối những chính sách xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam và khu vực Đông Dương. Uy tín của ông đã thu hút được nhiều nhân vật tên tuổi tham gia.

Ngay sau khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại, ném bom miền Bắc, Bertrand Russet đã gửi điện đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án hành động chiến tranh của Mỹ.

Ngày 10/8/1964, Bác đã gửi điện cảm ơn, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình. Tôi cảm ơn cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi cụ lời chào kính trọng”.

Ngày 15/11/1966, theo sáng kiến của Bertran Russel, một Toà án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ, mang tên ông được thành lập và đã tiến hành hai phiên xét xử, lần thứ nhất từ 2 đến 13/5/1967 tại Stockholm (Thuỵ Điển) và lần thứ hai từ 20/11 đến 1/12/1967 tại Copenhaguen (Đan Mạch) gây tiếng vang thu hút ngày càng đông đảo giới tri thức và nhân dân các nước ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Ngày 19/11/1966, Bác đã gửi điện tới Betrand Russel nhấn mạnh “… Toà án sẽ góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân… Kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng vì sự nghiệp chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam đánh giá cao và hết lòng ủng hộ sáng kiến cao quý của cụ…”.

Sau phiên xét xử đầu tiên, Bác lại gửi điện tới nhà triết học Anh khẳng định: “Sự nghiệp cao cả mà cụ đã đề xướng ra nay bước đầu được thực hiện… Đó là một sự kiện quốc tế rất quan trọng… Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đều mong đợi sự thành công của Toà án quốc tế”.

Cũng nhân dịp này, Bác còn gửi điện tới Nhà triết học nổi tiếng người Pháp Jean Paul Satre là đồng chủ tịch Toà án này bày tỏ niềm tin tưởng: “… Chắc chắn các dân tộc và tất cả những người yêu chuộng hoà bình và công lý sẽ sát cánh với các vị, nhiệt tình ủng hộ các vị”.

X&N
Vknyo (st)

Bác Hồ gặp tướng Leclerc

Nhận xét về tướng Leclerc, Bác nói: “Ông ta là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type).

 – Ngày 18/3/1946, đúng vào ngày các đơn vị quân Pháp kéo vào Hà Nội thay thế quân đội Trung Hoa-Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để cập nhập tình hình và tìm những giải pháp để ứng phó.

5 giờ chiều, sau khi 1.200 quân cùng 200 chiến xa của  Pháp từ Hải Phòng về tới Hà Nội, Leclerc, người đứng đầu lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương và Uỷ viên Cộng hoà Pháp J.Sainteny cùng nhiều tướng lĩnh khác như Salan, Valuy, Pignon… đến chào Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người đại diện cho nước Pháp lên tiếng chào: “Thưa Chủ tịch, người Việt Nam và người Pháp chúng ta bây giờ trở thành những người bạn”.

Trong tiệc rượu, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm: “Trong cuộc bang giao giữa chúng ta, nếu Anh, Mỹ đã đi trước chúng ta vì đã hứa cho Ấn Độ và Phi Luật Tân (Philipines) được độc lập, thì chúng tôi cũng có thể tự hào  rằng Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đã cùng ký kết theo tinh thần đó… Tôi hết lòng hy vọng rằng toàn thể nước Pháp mới và nước Việt Nam mới sẽ nêu ra trước hoàn cầu một cái gương sáng: cái gương hai nước biết cùng nhau giải quyết được hết các vấn đề khó khăn gai góc ngay sau cuộc tổng đảo lộn của hoàn cầu, bằng cách liên hiệp với nhau và hiểu biết lẫn nhau… để mưu hạnh phúc cho cả hai dân tộc và để mưu cho hoà bình thế giới”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên GiápChủ tịch Hồ Chí Minh và những cộng sự của mình (từ trái qua): Phạm Văn Đồng, Chu Xương, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp

Có thể nói rằng biết khại thác những nhân tố tích cực trong chính giới Pháp như Leclerc, Sainteny… Bác đã đưa đất nước ta thoát hiểm trong gang tấc trước những âm mưu của cá thế lực “diều hâu” của cả Pháp và Trung Hoa Dân quốc. Trên thực tế, Pháp và Trung Hoa từ lâu đã có những mặc cả về Đông Dương cho nên việc ký kết được Hiệp ước 6/3/1946 đã biến việc quân đội Trung Hoa rời khỏi Việt Nam để Pháp thay thế thành một sự “nhượng bộ” của phía ta buộc Pháp cũng phải đáp lại bằng một thái độ hoà hoãn, tránh cho cuộc chiến tranh bùng nổ sớm, bất lợi cho lực lượng cách mạng Việt Nam còn  “trứng nước”.

Ít lâu sau, nhận xét về tướng Leclerc, Bác có nói với nhà báo Dessingé, của tờ “Paris-Saigon” rằng “Ông ta (Leclerc) là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, một con người tử tế (un chic type)… Chính với những con người như thế mà người ta mong muốn bàn bạc”.

Ngày hôm sau, cả hai bên Việt-Pháp, đều đưa những đơn vị quân đội của mình tổ chức một cuộc duyệt binh chung, và Tướng Leclerc, con người đã dẫn đầu Đoàn quân Pháp trong lực lượng Đồng Minh vào giải phóng Thủ đô Paris, có lần đã nói với Võ Nguyên Giáp: “Ngài hãy nói với người Việt Nam rằng, họ có thể tin tưởng ở tôi. Nhưng tôi là người Pháp và trong sự tôn trọng nguyện vọng của nhân dân các ngài, tôi sẽ hành động với tư cách là người Pháp, trước tiên là người Pháp”.

Thế nhưng, sau đó không lâu, những người Pháp thiện chí như Leclerc cũng bị phái “diều hâu” tìm cách gạt bỏ. Ông đã được lệnh rời khỏi Việt Nam thực hiện một sứ mạng ở châu Phi rồi chết trong một vụ tai nạn đầy ẩn khuất.

X&N
kienthuc.net.vn

Bác Hồ và nhóm “Con Nai”

Quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Ngày 15/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời bức điện của Đại uý Charles Fenn, một sĩ quan tình báo trong đơn vị OSS đã từng tiếp xúc với Bác Hồ trong thời gian ở Côn Minh.

15-2-1965 HCM đọc văn bia tại chùa Côn Sơn,Hải Dương.jpg

Ngày 15/2/1965, Bác Hồ đọc văn bia tại chùa Côn Sơn, Hải Dương.

Bức thư trả lời bằng tiếng Anh bày tỏ: “Chúng tôi cảm kích vì thiện chí của Ngài muốn giúp Việt Nam. Nếu như Ngài tới đây với tư cách là một nhà báo Mỹ của một tờ báo lớn thì Ngài có thể làm được rất nhiều việc”.

Charles Fenn, trong Đại chiến Thế giới lần thứ II là một trung uý hải quân Hoa Kỳ được phái đến công tác tại AGAS (cơ quan hỗ trợ cho không quân tại mặt đất) lúc này đóng tại Côn Minh (Trung Quốc). Đó cũng là thời điểm Hồ Chí Minh đưa viên trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, sang Côn Minh để tìm cách trao trả cho Đồng Minh nhằm xác lâp mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Thực thi chức trách của mình, Ch. Fenn đã bố trí cuộc tiếp xúc đầu tiên vào ngày 17/3/1945. Sau này , trong hồi ức của mình Ch.Fenn đã thuật lại: Hồ Chí Minh cùng đi với một người trẻ tuổi tên là  Phạm. Trước đó ông Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ nhằm vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Ba ngày sau, hai người gặp lại nhau để nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Hồ Chí Minh yêu cầu Ch. Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp Tướng Claire Chennault, tư lệnh một Tập đoàn không quân của Mỹ mang biệt hiệu “Hổ bay” đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của Đồng Minh tại khu vực.

Cuộc gặp đã diễn ra ngày 29/3/1945 và sau cuộc gặp này mối quan hệ giữa Việt Minh và Đồng Minh được xác lập. Phía Mỹ đã cung cấp thiết bị liên lạc, một số vũ khí nhẹ và ngày 17/7 năm đó, một đơn vị đặc biệt mang biệt danh “Con Nai – The Deer” của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược) của Mỹ đã nhảy dù xuống Tân Trào, tham gia huấn luyện, xây dựng sân bay dã chiến và thành lập Đại đội Việt – Mỹ… Phía Việt Minh sẽ cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường đánh Nhật ở miền Bắc Đông Dương…

Đơn vị này đã tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên và về Hà Nội sau khi Việt Minh giành được chính quyền. Nhưng ngay sau đó, chính phủ Mỹ yêu cầu các quân nhân Mỹ phải rời khởi Việt Nam…

Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ những liên hệ với Ch. Fenn với nhiều tình cảm tốt đẹp. Trong thư đề tháng 8/1945 gửi Ch. Fenn, Bác viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ rời chúng tôi quá nhanh…

Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi…Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi sẽ đat đựơc mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng tôi ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Bức thư đề ngày 15/2/1947 giữa lúc nhân dân Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp và vào lúc chính sách của Mỹ ngày càng đồng loã với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương, cho thấy quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch.Fenn đã là người viết cuốn tiểu sử chính trị đầu tiên về Hồ Chí Minh bằng Anh ngữ xuất bản ở phương Tây (1973: “Hồ Chí Minh một tiểu sư chính trị”) và vì thế mà bị chính quyền Mỹ trục xuất khỏi đất nước của mình.

Tháng 8/1995, ngày sau khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hoá, Ch.Fenn cùng các cựu chiến binh của đơn vị “Con Nai” đã trở lại thăm Việt Nam. Khi đã ngoài 100 tuổi (năm 2004) Charles Fenn còn viết: “Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
kienthuc.net.vn

Tượng sáp Bác Hồ tại Thái Lan

Tượng làm từ sáp cùng các tư liệu giới thiệu về Bác Hồ được trưng bày trang trọng bên cạnh các nhân vật nổi tiếng của Thái Lan và thế giới trong công viên tượng sáp Siam ở Thái Lan.

Công viên tượng sáp tọa lạc trên một khu đất rộng huyện Bangphae, tỉnh Ratcha Buri, cách thủ đô Bangkok 110km về phía tây. Công viên được xây dựng từ năm 1997, chia làm nhiều khu giới thiệu các nét văn hóa đặc sắc các vùng miền của người Thái, đặc biệt là gắn liền với đạo Phật. Trong đó có các khu như khu tượng Phật ba thời đại, nhà ở của người Thái 4 miền, khu trưng bày cách sống của người Thái cổ cũng như hiện đại, động cổ tích…

Phòng trưng bày tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm bằng gỗ gần giống như nguyên bản căn phòng
làm việc của Người. Ảnh: thetrippacker

Nhưng có một tòa nhà thu hút khách du lịch nhiều nhất đó là tòa nhà tượng người sáp. Bên trong tòa nhà là những câu chuyện về các nhân vật nổi tiếng của Thái Lan và thế giới, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh, được tái hiện bằng hình ảnh, hiện vật và các đoạn băng giới thiệu tiểu sử, đóng góp của họ với đất nước và thế giới.

Phòng trưng bày tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm bằng gỗ gần giống như nguyên bản, trong đó có bàn làm việc bằng gỗ đơn sơ, tủ đựng quần áo, tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tóc bạc trắng mặc bộ quần áo kaki màu trắng đang ngồi viết bên cửa sổ, trên bàn là chiếc đèn dầu, tờ báo Nhân Dân thời kỳ kháng chiến cứu nước và bông lúa vàng óng.

Tiểu sử của Bác được giới thiệu bằng hai thứ tiếng Anh và Thái với những câu từ ca ngợi vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam.

Anh Andy, hướng dẫn viên du lịch, cho biết khu công viên tượng sáp Siam là một trong những điểm đến thu hút khách du lịch Thái Lan và nước ngoài. Khoảng 80% khách du lịch khi đến tỉnh Ratcha Buri đến thăm khu công viên này.

Theo VOV
Vknyo (st)

Hình tượng Bác Hồ trong thơ của người nước ngoài

Untitled

Chân dung Nguyễn Ái Quốc do Eric Johanson vẽ ngày 19/9/1924, dòng chữ Việt và chữ Hán là do Người tự ghi (là bức vợ ông Johanson gửi tặng qua Đại sứ quán Việt Nam)

Người là vị Lãnh tụ kính yêu của dân tộc, là ngôi sao sáng dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa. Người còn là một nhà thơ, một nhà văn hoá lớn của thế giới. Người vĩ đại nhưng rất giản dị và gần gũi với con người, trong mắt các nhà thơ thế giới Người hiện lên như một viên ngọc sáng lung linh về nhân cách, một người cộng sản mẫu mực về đạo đức, giản dị trong cách sống, như một nhà thơ thế giới nhận xét “Người giản dị tự nhiên như là hoa thơm trái ngọt” và nhà thơ Batumga (Mông Cổ) viết về Bác:

Sắc đẹp hoa sen cùng với nhân dân
Cây tươi thắm qua trăm nghìn thế hệ
Hồ Chí Minh bóng cả.

Trong quan niệm của người Á Đông, hoa sen là tượng trưng cho sự thuần khiết, là hình ảnh của người quân tử. Bác hiện lên với một vẻ đẹp ngời sáng. Nhà thơ Brazil Ixmalugômétbraga viết về cuộc đời giản dị của Bác trong một bài thơ đã ví vẻ đẹp của Bác như: “Vẻ đẹp trắng trong của bông Huệ Châu Mỹ La tinh”:

Cuộc đời người như bông huệ trắng
Gương mặt càng ngắm càng trong
Người trắng trong bông huệ Mỹ La tinh.

Cũng viết về nét đẹp tâm hồn của Người, nhà thơ Rô-Nêdêpextrô của đất nước Haiti bằng con mắt nhạy cảm của mình đã nhìn ra nét đẹp giản dị, thanh cao một nền đạo đức đủ sức lay động mọi linh hồn của Bác bằng những câu thơ chân tình:

Các bạn hãy nhìn lên trên ngọn cây Ô liu trên núi
Các bạn hãy nhìn vào biển cả lấp loáng từ xa
Các bạn hãy nhìn vào những hàng cây và quả non chi chít
Và con sông Va rền rĩ ở xa
Rồi bạn hãy lặng yên
Với vẻ đẹp của Bác Hồ.

Nhà thơ Inđônêxia M.Đagiô với bài thơ “Vẻ bên trong của viên ngọc” đã ca ngợi cái sự giản dị cách mạng, nhân cách trong sáng của Người hiện lên như một vẻ đẹp ngời sáng ẩn chứa sự lấp lánh bên trong viên ngọc với những câu thơ:

Người không mang danh dự ghế suy tôn

Ngồi vào đấy với Người không có nghĩa

Khi đức độ đã ngời như ngọc quý

Thì có nghĩa gì chiếc ghế phủ nhung êm

Tờ báo Ánh điện của Ấn Độ ra ngày 13/9/1969 đã nhận xét về Bác: “Hồ Chí Minh là nhân vật lỗi lạc nhất Châu Á. Cuộc đời Cụ không đi theo một con đường đơn giản trong một bản đồ đã chỉ, leo một cách vững chắc hết đỉnh cao này đến đỉnh cao khác. Cụ kết hợp giữa sự tao nhã cao quý với tác phong dễ gần gũi, rất dân chủ, một sự kết hợp nhịp nhàng giữa sự tự do không nghi thức, thoải mái và tự nguyện với một thái độ đường hoàng và thận trọng. Cụ là hiện thân của sự bất khuất”.

Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc trong mắt mọi người dân, Người là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sự cao quý và lòng dũng cảm. Khi viết về Người nhà thơ Nikôlai Kunaep (Liên Xô) đã nói ý chí của Người là niềm tin và sức mạnh là chân lý, là mùa xuân của sự sống, là nguồn tinh thần cao đẹp nuôi dưỡng mọi người, là sự bất chấp mọi thời gian.

Hồ Chí Minh

Người là hiện thân sức mạnh niềm tin

Trong nụ cười của Người có tất cả những mùa xuân

Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh

Người là con người bất chấp thời gian.

Chân dung Nguyễn Ái Quốc đăng ở Báo Phụ nữ Xô Viết số 10 năm 1979.
Nguyễn Ái Quốc ghi tên mình bằng chữ Việt và chữ Hán ở phía dưới,
chữ ký của chính họa sĩ thì ở sát ve áo của Người.

         Ý chí của Người đủ sức lay động mọi tâm hồn, thức tỉnh một dân tộc đứng lên đấu tranh giành lại hoà bình, độc lập, sự tự do. Một đất nước đi từ bùn lầy của sự tối tăm nô lệ đến ánh sáng của hạnh phúc:

Một đội ngũ tốt

Từ năm tháng tối tăm máu trào, nước mắt

Họ đã vùng lên như một giấc mơ

(Môni Đrarây)

Tất cả đều đến từ niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng vào lý tưởng cách mạng cao quý của Người. Đạo đức của Người là bóng cây rợp mát cho cả dân tộc soi chung:

Từ cách nhìn

Từ trái tim dân tộc

Bác Hồ

Người đã viết nên cái tên:

Cách mạng,

Nhân phẩm,

Tự do,

Tiến bộ.

(Xtêphan Plucốpki, Ba Lan)

Người là hiện thân của lịch sử; trong suốt gần nửa thế kỷ nhân dân Việt Nam cầm vũ khí đứng lên làm cuộc kháng chiến cực kỳ gian khổ, nhiều mất mát hy sinh đã đi đến thắng lợi hoàn toàn đã phản ánh đầy đủ tinh thần, tư tưởng thời đại Hồ Chí Minh, linh hồn và trí tuệ của Người. Người là hiện thân của cả dân tộc như nhà thơ Xecgiô Atane (Pháp) đã viết:

Cả dân tộc yêu người

Vì sao một con đường bị phá

Tức khắc ba con đường khác mọc lên thay

Vì sao người chiến sỹ hy sinh trong tiếng hát

Vì sao chiếc cầu bị sập

Tức khắc ba chiếc cầu khác được bắt lên ngay

Vì sao luá vẫn mọc xanh mặc cho chất độc

Và vì sao người ta có thể ngã xuống

Với một tiếng hát nằm trong lỗ đạn trong tim.

Bác đã đi xa nhưng trong lòng nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới vẫn thể hiện niềm nhớ thương vô hạn đến Người, vị Lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Trong mỗi trái tim, Người vẫn mỉm cười

Sống trong lòng những đồng chí đang giữ gìn Tổ quốc

Sống trong lòng những cụ già canh gác cho thế hệ mai sau

Sống ở những giấc mơ của lứa tuổi thanh xuân có thể trở thành sự thật

(Haouốc PácXơn, Mỹ)

Ngày nay, mọi người chúng ta vẫn đang cố gắng thực hiện ước mơ của Bác xây dựng một xã hội ấm no, công bằng, văn minh, tiến bộ. Sức mạnh trong nhân cách, đạo đức vẫn đủ sức lan toả đến tất cả mọi người. Việc học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh luôn là việc làm cần thiết và bổ ích. Bác hiện lên trong lòng nhân dân thế giới cao đẹp biết bao. Cảm ơn các thi sỹ, các nhà văn hoá thế giới đã cất lên những tiếng nói trữ tình từ trái tim nhân hậu cổ vũ cho chúng ta đi tiếp trên con đường vinh quang mà Bác Hồ kính yêu đã vạch ra cho cách mạng Việt Nam.

Nguồn: Bác Hồ trong mắt các nhà thơ thế giới 
Lâm Ngọc Tường Nguyên
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

‘Người bạn Pháp của Việt Nam’ kể chuyện Hồ Chí Minh

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí? Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống người dân Pháp”, ông Raymond Aubrac nhớ lại.

Đại biểu từ hơn 20 quốc gia dự hội thảo Hồ Chí MinhGiới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 5/2010, ông Aubrac đã cùng con gái Elisabeth trở lại thăm Việt Nam. Đã 96 tuổi, nhưng hễ nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Raymond Aubrac lại trở nên phấn chấn lạ thường. “Tôi có cơ may được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhờ vào cuộc kháng chiến chống phát xít Đức của nhân dân Pháp”, ông chậm rãi mở đầu câu chuyện.

Ông kể, giữa năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không có kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cũng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Fontainebleau. Đoàn Việt Nam tham dự do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Paris, nhưng không tham gia hội nghị. Sau khi hội nghị kết thúc, đoàn Việt Nam về nước, còn Người ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bế con gái đỡ đầu Elizabeth. Bên cạnh là bà Lucie Aubrac. Ảnh tư liệu.

Ngày 27/7/1946, Việt kiều ở Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Paris để chào mừng Chủ tịch. Ông Raymond Aubrac cũng có mặt trong buổi chiêu đãi. Trò chuyện trong buổi gặp gỡ đầu tiên, “người bạn Pháp” cảm nhận và chia sẻ sự gắn kết gần gũi về lý tưởng đấu tranh cách mạng với Hồ Chí Minh.

“Đó là mối quan hệ giữa cuộc kháng chiến của lực lượng yêu nước Pháp và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam”, ông Raymond Aubrac kể lại. Ngay khi đó, ông đã nảy ý định mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở nhà riêng của mình ở Soisy-sous-Montmorency, ngoại ô Paris, dù Chính phủ Pháp dành cho Người một tầng trong ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn.

Ông Aubrac kể, khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Marseille năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ. Phát hiện tại các trại này anh em bị côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban tư vấn bên cạnh Ban chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ Tết đều mời ông dự.

“Có lẽ vì thế mà tôi được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và ngày hôm đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời tôi”, ông Aubrac nói.

6 tuần Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nhà ông là khoảng thời gian đáng nhớ nhất với gia đình ông Aubrac. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, mẹ vợ và một người giúp việc.

“Khi Người lưu lại gia đình tôi, nhiều người bạn Pháp hỏi phải chăng Hồ Chí Minh đến ở nhà tôi để giải trí. Không phải vậy, Người ở đó để tranh thủ thời gian tìm hiểu về đời sống của người dân Pháp, hoàn cảnh nước Pháp… Chủ tịch nói chuyện với mẹ tôi, qua đó so sánh với điều kiện sống của dân Việt Nam”, ông Aubrac nhớ lại.

Mỗi buổi sáng, người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp, tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ hàng giờ liền. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…

Ông kể lại rằng, ngày 31/7/1946, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước. Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, vợ ông sinh người con gái thứ ba, Elizabeth, Người đã đến nhà hộ sinh thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu.

“Đó là ngày 15/8/1946. Từ đó trở đi, cả trong thời gian chiến tranh, chúng tôi luôn nhận được một món quà hay một cử chỉ nào đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho con gái tôi”, ông Aubrac bồi hồi.

9 năm sau kể từ năm 1946, ông Aubrac mới có cơ hội gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1955 khi công tác tại Bắc Kinh, ông Aubrac vô tình đọc được trên tờ báo Bắc Kinh bằng tiếng Anh dòng chữ rất to “Chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nước CHND Trung Hoa”. Ngay lập tức, ông gọi điện đến Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc nhờ gửi đến Chủ tịch Hồ Chí Minh lời chào của người bạn sau 9 năm chưa gặp lại. 15 phút sau, điện thoại đổ chuông, một người nói với ông “Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông 6 giờ sáng mai đến ăn sáng”.

Ông Raymond Aubrac (phải) nhận được tình cảm nồng nhiệt từ những người bạn Việt Nam. Trong ảnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thân mật bắt tay và trò chuyện với ông bên lề Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh giữa tháng 5. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Sáng hôm sau, lái xe đón ông đến gặp Bác Hồ. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ôm hôn ông và hỏi thăm tình hình gia đình, các con của ông Aubrac. Khi biết ông Aubrac đến Bắc Kinh để đàm phán về một hiệp định thương mại Pháp – Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị ông giúp đỡ trong việc đàm phán hiệp định thương mại đầu tiên giữa Pháp và Việt Nam.

“Hồ Chủ tịch nói nếu như tôi ở Hà Nội thì có thể giúp Việt Nam được việc này vì hai phái đoàn Pháp – Việt đều biết tôi. Tôi đã trả lời rất vui nếu được giúp nối lại cuộc đàm phán này. Ngay sau đó tôi sang Hà Nội”, ông Aubrac kể.

Ông Aubrac đã vượt quãng đường dài 5 ngày 4 đêm từ Bắc Kinh qua cửa khẩu Lạng Sơn bằng tàu hỏa đến Việt Nam lần đầu tiên. Đến Hà Nội, ông Aubrac đã gặp ông Phạm Văn Đồng và đại diện đoàn Pháp. Trong vòng 5 phút sau khi ông Aubrac đưa ra ý kiến trọng tài về cuộc đàm phán này, hai bên đã ký Hiệp định thương mại đầu tiên. Sau đó, ông lại bắt tàu hỏa từ Lạng Sơn về Bắc Kinh.

“Thế là tôi đi mất 10 ngày, 8 đêm chỉ để làm việc 5 phút”, ông nói vui khi nhớ lại.

Năm 1967 cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt. Dư luận thế giới bày tỏ sự lo lắng, trong số đó có Pugwash, Tổ chức chống chiến tranh hạt nhân gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực chế tạo bom nguyên tử. Hội nghị ở Paris năm đó có bàn về vấn đề Việt Nam và nhất trí cử hai nhà khoa học Pháp làm “sứ giả” giữa Washington và Hà Nội. Mục tiêu là tiến tới sự gặp gỡ giữa người đại diện có thẩm quyền của hai Chính phủ để bàn về việc ngừng leo thang chiến tranh.

Khi đó, ông Aubrac đang làm việc cho Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) ở Rome (Italy). Ông nhận được yêu cầu trở về Pháp và cùng giáo sư người Pháp Herbert Marcovich thực hiện nhiệm vụ này. Hai ông phải dừng chân tại Phnom Penh (Campuchia) để xin visa vào Hà Nội vì khi đó Việt Nam chưa có đại diện ngoại giao ở châu Âu.

Sau khi tới Hà Nội, ông đã tới nhà sàn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi thăm bà Lucie Aubrac và các cháu, nhất là Elisabeth. Sau câu chuyện hàn huyên, ông Aubrac nói về cuộc họp của Pugwash ở Paris và nói ông có nhiệm vụ chuyển tới Chủ tịch một “bức thông điệp miệng” của Tổ chức này nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Chủ tịch nói: “Không thể chấp nhận được, trừ khi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá Việt Nam”. Trước khi về nhà sàn nghỉ, Bác Hồ chuyển cho ông một tấm lụa và nói: “Đây là quà tôi gửi cho Elisabeth” rồi ôm hôn ông thắm thiết.

Sau đó, trong vai trò sứ giả ông Aubrac nhiều lần tiếp xúc với đại diện Mỹ và Việt Nam ở Paris. Tháng 8/1967, Nhà Trắng gửi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa công hàm bày tỏ sẵn sàng ngừng ném bom miền Bắc với điều kiện “việc làm này không bị lợi dụng và đưa đến những cuộc thảo luận có kết quả”.

Lần gặp năm 1967 là lần cuối cùng ông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đó không phải lần cuối cùng ông đến Việt Nam. Đến nay ông đã sang Việt Nam 16 lần. Vào ngày 30/4/1975, ông cũng có mặt tại Hà Nội để chứng kiến thời khắc lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Gắn bó với Việt Nam từ năm 1946, khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris, Raymond Aubrac là người đã giúp đỡ ký kết Bản thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống Việt Nam (năm 1967); kêu gọi và góp phần làm chấm dứt ném bom xuống các đê sông Hồng (năm 1972).

Nguyễn Hưng
vnexpress.net

Tượng Bác Hồ giữa lòng thủ đô Mexico lịch sử và văn hoá.

Thật là xúc động và vui mừng khi mà đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất, ở nước ngoài” vừa được Bộ Ngoại giao phát động trong năm “Ngoại giao văn hóa 2009” thì từ miền đất xa phía Tây bán cầu, tại Trung tâm Lịch sử của Thủ đô Mexico, đất nước của nhiều nền văn hóa cổ, đã tiến hành trang trọng và ấm cúng Lễ khánh thành tượng đài Hồ Chí Minh và Công viên “Tự do cho các dân tộc”.

Đại sứ Việt Nam tại Mexico Phạm Văn Quế (bên phải), Thị trưởng Mexico Marcelo Ebrand cùng các cháu thiếu nhi tại Lễ khách thành Tượng Bác, ngày 16/1 tại Thủ đô Mexico.

Đó là bức tượng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phỏng theo bức ảnh Bác bên bộ bàn ghế mây giản dị, đọc báo trong vườn Chủ tịch Phủ được nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định ghi lại năm 1960. Đằng sau và bên trên bức tượng là hàng chữ vàng quen thuộc “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây Ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ trên bức tường thành bán nguyệt ốp đá trắng ngọc, soi bóng trên mặt gương nước lung linh, cùng những cánh bèo xanh và đóa hoa súng hồng rung rinh, làm ấm lòng hàng trăm vị quan khách đến với ngày hội tôn vinh Hồ Chí Minh.Ngày 16 tháng 1 năm 2009 “ngày thiên hỷ” theo lịch cổ Việt Nam, trong cái rét ngọt và dưới làn mưa xuân lất phất như đón Bác về chúc Tết, mừng xuân năm nào, hàng trăm bạn bè, dân chúng thủ đô và quan chức Mexico cùng hàng chục người con Việt Nam đang sinh sống xa Tổ quốc đã tận mắt chứng kiến ông thị trưởng thành phố Mexico, Marcelo Ebrad và Đại sứ Việt Nam tại Mexico, Phạm Văn Quế vén tấm lụa hồng, chính thức khánh thành Công viên và Tượng Bác trong tiếng vỗ tay và hò reo không ngớt “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”. Hàng chục phóng viên, nhà nhiếp ảnh, quay phim chuyên nghiệp và nghiệp dư của cả hai nước đã xúc động ghi lại những giây phút thiêng liêng, nhất là cảnh nhiều lượt người chen nhau len vào chỗ đặt tượng Bác bởi người nào cũng muốn tranh thủ lưu lại bên Người ít giây phút để có được những tấm hình lưu niệm đẹp nhất. Chúng tôi, những người con Việt Nam xa xứ hoàn toàn ấn tượng và bị cuốn hút bởi tình cảm mà người dân Mexico dành cho Việt Nam nói chung và Bác Hồ nói riêng. Ai ai cũng thầm cám ơn nghệ sĩ tạc tượng trẻ tài ba Ponzanelli, người đã khắc họa hình tượng Bác rất có thần thái, ở đó toát lên những đức tính cao quý của một nhà hiền triết, một vĩ nhân, người cha già dân tộc giản dị, nhân ái và gần gũi thân quen.

Phát biểu trong buổi lễ, ông Thị trưởng Marcelo Ebrard đã khẳng định những chiến công lẫy lừng của dân Việt Nam thắng quân xâm lược trong thế kỷ 20 đã đi vào lịch sử nhân loại như những trang chói lọi nhất. Việt Nam, Hồ Chí Minh là những biểu tượng sống đã thôi thúc các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh, giành độc lập tự do. Hồ Chí Minh xứng danh là lãnh tụ thế giới… Tượng đài Hồ Chí Minh ở đây là dành cho tất cả các dân tộc đã và đang đấu tranh vì độc lập tự do của mình.

Đại sứ Phạm Văn Quế đã cám ơn Ngài Thị trưởng và nhân dân Thủ đô Mexico, với những tình cảm tốt đẹp và sự ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam và cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cho xây dựng công viên “Tự do cho các dân tộc” và đặt tượng đài Hồ Chí Minh tại Thủ đô bằng chính kinh phí của mình. Đại sứ cũng nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là chiến sĩ lỗi lạc đấu tranh vì độc lâp, tự do cho các dân tộc, mà Người còn là nhà văn hóa lớn được UNESCO công nhận trên toàn thế giới. Câu nói bất hủ của Người “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.

Ông Virgilio Caballero, Chủ tịch Hội Hữu nghị và hợp tác Mexico – Việt Nam, người đã chọn bức ảnh Bác làm đề tài để nghệ nhân tạc tượng Mexico sáng tác, với mái tóc bạc trắng đã không ít lần nghẹn ngào bày tỏ: thật là tuyệt vời! Thế hệ chúng tôi xuống đường những năm 60 để phản đối chiến tranh Việt Nam đâu nghĩ tới có ngày được tạc và đặt tượng Bác Hồ giữa lòng Thủ đô Mexico; giấc mơ bấy lâu chờ mong nay đã thành hiện thực! Bác ngồi đó dung dị trong lòng bạn bè quốc tế và nhân dân chứ không cao xa, cách biệt trên bệ cao quyền lực.

Công viên “Tự do cho các dân tộc” với kiến trúc chủ đạo mang đậm nét Việt Nam là kết quả của sự vận động, phối hợp và hợp tác chặt chẽ giữa tập thể cán bộ nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico, đứng đầu là kiến trúc sư – Đại sứ Phạm Văn Quế cùng với Viện Hữu nghị và hợp tác Mixico – Việt Nam và các cơ quan chức năng của thành phố Mexico. Rất khẩn trương và quyết tâm, chỉ trong vòng hơn hai tháng làm việc liên tục và miệt mài, từ một khu vườn um tùm và tối bụi, các bạn Mexico đã cải biến thành một công viên tươi xanh với hệ thống chiếu sáng hiện đại, đậm nét á đông, nhất là với các cây trồng Việt Nam quen thuộc như tre, trúc, sả, sen, bèo, muống cạn và nhiều cây thảo dược nhiệt đới… và giữa thiên nhiên tuyệt vời ấy, nổi lên hình ảnh Bác Hồ rất đời thường, đang thư thái làm việc.

Tượng đài Hồ Chủ tịch trong công viên “Tự do cho các dân tộc” thực sự là biểu tượng cao quý của tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai thủ đô và hai nước Việt Nam – Mexico, một không gian độc đáo giữa thành phố Mexico cổ kính. Đây là một công trình văn hóa và công cộng nằm trong khu Trung tâm lịch sử của Thủ đô mà bạn đã quy hoạch dài lâu để hướng tới những hoạt động thiết thực cho lễ kỷ niệm 200 năm ngày phát động cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc vào năm 2010.

Từ nay trở đi, bất kỳ người con Việt nào khi đặt chân lên miền đất của các nền văn hóa cổ lớn là Azteca và Maya, quê hương của những vũ điệu trữ tình Mariachi và của những vị anh hùng đã chiến đấu vì độc lập tự do của Mexico như Miguel Hidalgo, Benito Juarez, … đều có thể tự hào và vinh dự đến thăm công viên “Tự do cho các dân tộc”, ngắm tượng Bác Hồ và thậm chí ngồi bên Bác, lâng lâng trong tình cảm bao la của bạn bè quốc tế.

Năm nay mùa xuân như đến sớm hơn với cộng đồng Việt Nam nhỏ bé nhưng gắn kết tại Mexico. Bác ơi, thế là tết này chúng con đã có thể dâng lên Bác những cành đào hồng thắm, bánh chưng xanh, chút mứt sen và ấm trà thơm thắm đậm tình quê và thắp cho Người nén hương trong khuôn viên Việt giữa trời đất Mexico để cầu chúc cho dân tộc Việt Nam mãi trường tồn, mãi hạnh phúc, an khang và thịnh vượng. Tượng đài Hồ Chí Minh giữa Trung tâm lịch sử của Thủ đô Mexico thực sự là món quà sớm của năm “Ngoại giao Văn hóa 2009”.

Thành phố Mexico. 17/1/2009
Ngô Tiến Dũng, Tham tán công sứ
Đại Sứ quán Việt Nam tại Mexico.

lamdong.gov.vn