Thư viện

Sức lan tỏa của đợt sinh hoạt chính trị đầy tâm huyết và trách nhiệm

Kể từ thời điểm triển khai Nghị quyết của Quốc hội, Chỉ thị của Bộ Chính trị về việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đến nay chúng ta đã cảm nhận được một không khí sôi nổi, tâm huyết đầy trách nhiệm của một đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Hàng trăm cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã được tổ chức. Những ý kiến tâm huyết và trách nhiệm của nhân dân cả trong và ngoài nước cũng đã được gửi đến các tổ chức, cơ quan chức năng. Theo đánh giá của Ban Biên tập – Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thì công tác thông tin, tuyên truyền về tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được tiến hành bài bản, kịp thời, thường xuyên, rộng khắp và đầy đủ trên cả báo nói, báo hình, báo viết và mạng Internet.

Các báo, đài, tạp chí đã mở chuyên trang, chuyên mục thông tin về hoạt động tổ chức lấy ý kiến ở các bộ, ngành, địa phương, đăng tải ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các chuyên gia và người dân về các nội dung cụ thể của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nội dung mang tính xây dựng, tích cực, phục vụ trực tiếp cho việc sửa đổi Hiến pháp đảm bảo đúng định hướng. Nhiều bài viết có những lập luận sâu sắc, thuyết phục về những nội dung cơ bản góp phần tăng thêm chất lượng, trí tuệ vào quá trình xây dựng Hiến pháp.

Riêng trên Báo CAND, ngoài việc có hàng trăm tin, bài tuyên truyền, thông tin kịp thời các hội nghị, hội thảo, tọa đàm góp ý Dự thảo Hiến pháp, chuyên mục của “Góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” của Báo đã có gần 100 bài viết tâm huyết, trí tuệ của cán bộ, nhân dân và bạn đọc khắp trong và ngoài nước được đăng tải. Đó là những dòng thông tin ấm nóng tinh thần trách nhiệm, tâm huyết trước một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Những ý kiến đóng góp đều đã được nghiên cứu kỹ, tập trung đi sâu, làm rõ những vấn đề quan trọng của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Trong đó đều bày tỏ sự tán thành, nhất trí cao với nội dung Điều 4 trong Dự thảo về vai trò lãnh đạo của Đảng vì đã thể hiện súc tích, rõ ràng và sát với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhất trí cần phải Hiến định sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với Đảng. Điều đó đã minh chứng cụ thể cho thấy vai trò lãnh đạo của Đảng có đầy đủ cơ sở, chính trị tư tưởng và pháp lý vững chắc.

Tuy nhiên, bên cạnh những dòng thông tin ấm nóng đó vẫn có những dòng chảy lệch lạc, đi ngược lại với tuyệt đại đa số nhân dân. Một số cá nhân đã lợi dụng sự kiện này để tuyên truyền quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm gây ảnh hưởng tiêu cực, làm mất lòng tin trong quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Theo Ban Biên tập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, thời gian qua đã có một số trang thông tin trên Internet, một số blog cá nhân đăng tải những góp ý, nhận định chưa phù hợp với định hướng chung. Có một số cá nhân không góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 do Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 công bố mà tự ý đưa lên mạng một bản dự thảo Hiến pháp mới và kêu gọi mọi người tham gia ký tên ủng hộ.

Bản dự thảo này có nội dung kêu gọi không quy định quyền lãnh đạo của Đảng; đa dạng hóa hình thức sở hữu đất đai, thực chất là muốn tư nhân hóa về đất đai; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, thay đổi toàn bộ mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình Cộng hòa Tổng thống…

Theo Nghị quyết của Quốc hội, tổ chức, cá nhân có quyền và trách nhiệm gửi đến Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 những ý kiến, kiến nghị về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp thể hiện sự tâm huyết và tinh thần trách nhiệm công dân đối với đất nước, nhưng việc tự ý đăng tải một dự thảo Hiến pháp khác với bản Dự thảo do Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 công bố để kêu gọi mọi người ký tên ủng hộ là trái pháp luật.

Bởi vì, theo Nghị quyết của Quốc hội, Quốc hội là chủ thể quyết định việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân và dự thảo Hiến pháp để lấy ý kiến nhân dân là bản Dự thảo do Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 công bố. Tự ý là một việc không đúng pháp luật, thậm chí còn đăng tải cả những danh sách ký tên không có thật. Đó là những việc làm lạc lõng trong dòng chảy đầy tâm huyết và trách nhiệm của cả dân tộc đối với một công việc hệ trọng của đất nước. Dĩ nhiên là những tiếng nói lạc lõng và sai lệch đó sẽ chẳng nhận được sự hưởng ứng và nhanh chóng bị đào thải, lãng quên.

Đánh giá của Ban Biên tập – Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thì việc tổ chức lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được triển khai khẩn trương, kịp thời, nhận được sự quan tâm sâu sắc, đồng thuận của đông đảo các tầng lớp nhân dân, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trị.

Con số hơn 860.000 lượt người tham dự hội nghị, hội thảo, tọa đàm và gửi thư góp ý; hơn 33.000 lượt người góp ý trực tiếp vào Dự thảo trên trang Dự thảo online; hàng trăm thư, bài góp ý trực tiếp gửi về Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, hàng trăm bài viết trên các báo, tạp chí… là minh chứng cụ thể, sinh động của một đợt sinh hoạt chính trị đầy tâm huyết và trách nhiệm của người dân đối với một sự kiện quan trọng của đất nước

Thanh Hải
cand.com.vn

Thiếu khách quan, thừa định kiến

QĐND – Không ngạc nhiên khi báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ về tình hình nhân quyền năm 2012, được công bố ngày 20-4 (giờ Việt Nam), đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ nhiều nước. Bản báo cáo năm nay không có gì mới và vẫn như những năm trước, chủ yếu đề cập đến cái gọi là “tình trạng vi phạm nhân quyền” tại không ít quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trước hết cần khẳng định rằng, đây là một báo cáo thiếu khách quan, định kiến và không phản ánh đúng tình hình của Việt Nam. Báo cáo là một kiểu áp đặt trong quan hệ quốc tế mà Việt Nam phải gánh chịu trong những năm qua và đi ngược lợi ích song phương cũng như xu hướng phát triển tốt đẹp trong quan hệ Việt Nam – Mỹ  hiện nay.

Dưới nhãn quan bị chi phối bởi thành kiến chính trị, lại dựa trên những thông tin sai lệch một cách có chủ ý về Việt Nam, những người soạn thảo Báo cáo nhân quyền tiếp tục coi Việt Nam là một nhà nước “chuyên chế” mà ở đó  “quyền chính trị của công dân, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo bị hạn chế”…

Hãy nhìn sang nước Mỹ. Không thể phủ nhận rằng nước Mỹ giàu có. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là nước Mỹ không có những vấn đề về quyền con người. Trong những năm qua, rất nhiều tổ chức quốc tế đã đưa ra những báo cáo về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Mỹ liên quan đến việc tra tấn và đối xử ngược đãi tù nhân, phân biệt chủng tộc, hay khởi xướng những cuộc chiến tranh tàn khốc… Nhưng ở đây, chỉ xin bàn đến một trong những quyền cơ bản nhất của con người: Quyền được sống.

Có lẽ, chưa có nước nào mà người dân lại dễ dàng sở hữu súng đạn như ở Mỹ. Cũng chính từ sự lỏng lẻo trong việc kiểm soát súng đạn, bắt nguồn từ chính sách lợi ích nhóm, Mỹ đã “vinh dự” được sở hữu vị trí “quán quân” về số người chết do bạo lực trong số 17 quốc gia phát triển được khảo sát. Với 310 triệu khẩu súng đang lưu hành tự do trên thị trường, số người chết hằng năm vì súng đạn ở Mỹ lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm nghìn người với những vụ xả súng dường như đã trở thành “cơm bữa”.

Ấy vậy mà cho tới giờ, sau quá nhiều cái chết oan uổng, giới làm luật ở xứ Cờ hoa mới chỉ “quyết tâm” bỏ phiếu tán thành việc thảo luận một dự luật an toàn súng đạn. Nhưng, đó mới chỉ là thảo luận, bởi còn nhiều rào cản đến từ những khoản “đóng góp” mà giới chính khách trót nhận từ giới vận động hành lang. Và từ giờ cho tới khi dự luật (may mắn) được thông qua, ai biết được sẽ còn bao nhiêu cái chết oan uổng vì những “cân đo đong đếm” giữa lương tâm và “đồng bạc xanh” của những chính khách Mỹ? Vậy thì quyền cơ bản nhất của người dân Mỹ ở đâu khi mạng sống của đa số họ lại phụ thuộc vào một nhóm thiểu số?

Quay trở lại vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Báo cáo năm 2012 của Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh rằng, “tình hình nhân quyền Việt Nam trong năm qua đã xấu đi…”. Như thế nào là xấu?

Nhân quyền là vấn đề rộng lớn mang tính nhân văn xã hội. Chính vì thế, một báo cáo về tình hình nhân quyền muốn có sức thuyết phục, trước hết phải dựa trên những đánh giá về những việc mà Chính phủ, quốc gia đó đã làm để người dân có cuộc sống ngày càng đầy đủ hơn cả về vật chất và tinh thần, nhất là ở những nước nghèo, đang phát triển. Đó là những nội hàm rất cơ bản của nhân quyền. Thế nhưng, các nhà soạn thảo báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ lại chỉ dựa trên những thông tin một chiều mang tính chất định kiến, vô trách nhiệm và áp đặt. Báo cáo đã chỉ trích Việt Nam về “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí”; thậm chí đánh đồng những kẻ vi phạm pháp luật bị xử lý với các “nhà hoạt động chính trị”. Đáng nói là, những “nhà hoạt động chính trị”  được gắn mác là “bất đồng chính kiến”, mà bản báo cáo tung hô lại là những kẻ thời gian qua đã có nhiều hành động chống phá Nhà nước Việt Nam. Việc chính quyền các cấp có những biện pháp ngăn chặn những hành vi chống đối đó, không phải là vi phạm nhân quyền, mà chính là nhằm cho người dân được sống trong đất nước hòa bình, ổn định – một trong những quyền thiêng liêng nhất của con người.

Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn đáng tự hào trong việc bảo đảm quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được LHQ và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ðó là những thành tựu không thể phủ nhận trong việc thực hiện hiệu quả các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs); giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống mọi mặt cho người dân, đồng thời thực hiện hiệu quả các công ước về bảo đảm quyền phụ nữ, trẻ em. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam liên tục trong những năm gần đây được nâng lên. Báo cáo về phát triển con người năm 2013 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố hôm 17-4 cho biết, Việt Nam là nước đứng thứ ba trong ASEAN về chỉ số bình đẳng giới, đồng thời đứng thứ 48 trên toàn thế giới về chỉ số này.

Bên cạnh đó, mọi quyền của người dân Việt Nam, trong đó có quyền làm chủ, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tôn giáo… đều được Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam bảo đảm. Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện để báo chí phát triển bằng cách tạo dựng khuôn khổ pháp lý đầy đủ và chính sách thuận lợi nhằm bảo đảm tự do báo chí và tự do ngôn luận. Điều phối viên thường trú LHQ tại Việt Nam, bà Pratibha Mehta trong cuộc trả lời phỏng vấn báo giới đầu tháng 4 vừa rồi đã nhận xét, Việt Nam đã không ngừng cải thiện hệ thống pháp luật và tư pháp, xây dựng một nhà nước pháp quyền, tăng cường các thể chế quốc gia bảo vệ quyền con người. Trước đó, Nghị sĩ E.Faleomavaega – thành viên Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, trong chuyến thăm Việt Nam tháng 12 năm ngoái, cũng đánh giá rằng, Việt Nam đang làm tất cả những gì tốt nhất cho vấn đề nhân quyền. Lời nói của những người có uy tín như thế liệu đã đủ để Bộ Ngoại giao Mỹ thay đổi cách nhìn và cách tiếp cận về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hay chưa?

Không phủ nhận rằng, vẫn còn những điều bất cập trong đời sống kinh tế-xã hội ở Việt Nam, ví dụ như nạn tham nhũng, tình trạng quan liêu…. Nhưng đó là những vấn đề mà bất cứ một xã hội nào trong quá trình phát triển của mình cũng phải đối mặt. Và Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống tư pháp của mình để đẩy lùi và xử lý triệt để tệ nạn này.

Cũng không phủ nhận rằng, giữa Việt Nam và Mỹ đang tồn tại một khoảng cách nào đó về nhân quyền. Điều này bắt nguồn từ nhiều lý do, như sự khác biệt về văn hóa, về truyền thống lịch sử, trình độ phát triển… Nhưng cần phải nói rõ rằng, thực hiện về nhân quyền ở mỗi nước dựa trên những đặc thù về lịch sử văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Không có một quốc gia nào trên thế giới được coi là hình mẫu nhân quyền cho quốc gia khác. Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn về quyền con người của nước này cho nước khác.

Với tinh thần hòa hiếu, Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác và đối thoại với các nước và các tổ chức quốc tế, trong đó có Mỹ về các vấn đề còn có những cách nhìn khác biệt, trong đó có vấn đề quyền con người. Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Mỹ không ngừng phát triển như hiện nay, thiết nghĩ, việc cần làm là tăng cường đối thoại và hiểu biết lẫn nhau, thu hẹp bất đồng. Có như vậy, quan hệ hợp tác Việt Nam – Mỹ mới được thúc đẩy và phát triển, đáp ứng lợi ích của nhân dân hai nước.

SONG ANH
qdnd.vn

Những vụ đánh bom vào Ngày Yêu nước

Vụ đánh bom Boston vừa xảy ra khiến nhiều người Mỹ tự hỏi, tại sao tháng 4 và Ngày Yêu nước dường như lại chứng kiến nhiều tội ác xảy ra đến vậy.Vụ nổ bom liên hoàn xảy ra đúng Ngày Yêu nước, là ngày khởi đầu của một tuần đặc biệt quan trọng với các nhóm chống chính phủ cực đoan ở Mỹ, tờ Thời báo New York cho biết. Sau đây là bốn vụ bạo lực chấn động nước Mỹ diễn ra vào đúng hoặc gần Ngày Yêu nước:

FBI bao vây khu liên hợp Waco: Vụ việc diễn ra ngày 19.4.1993. FBI với sự hỗ trợ của xe bọc thép, đã tiến hành vây hãm một khu liên hợp ở vùng nông thôn do nhóm tôn giáo gọi là Branch Davidians chiếm giữ. Cuộc đụng độ khiến khu liên hợp chìm trong biển lửa, 4 điệp vụ và 76 người khác tử nạn.

Đánh bom tòa nhà liên bang ở thành phố Oklahoma: Đây là vụ đánh bom khủng bố vào tòa nhà liên bang Alfred P. Murrah tại trung tâm thành phố Oklahoma ngày 19.4.1995. Nó là vụ khủng bố tàn phá lớn nhất trên đất Mỹ cho đến khi xảy ra vụ khủng bố 11.9.2001. Vụ nổ cướp đi 168 sinh mạng, trong đó có 19 trẻ em dưới 6 tuổi và khiến hơn 680 người bị thương. Quả bom tự tạo trong vụ này chứa 2.200kg ammoni nitrat và dầu, đặt trong một chiếc xe tải thuê. Động cơ vụ tấn công rõ ràng là để trả đũa chính phủ vì kết thúc cuộc bao vây đẫm máu gần Waco, Texas cách đó đúng 2 năm. Hai kẻ được xác định là nhân vật chủ chốt trong nhóm khủng bố này là Timothy McVeigh và Terry Nichols. Terry Nichols đã bị tuyên án chung thân và không bao giờ được ân xá cho tội danh giết người. Kẻ đặt bom Timothy McVeigh bị tuyên án tử hình ngày 11.6.2001.

Xả súng tại trường trung học Columbine: xảy ra ngày 20.4.1999 tại trường Trung học Columbine, quận Jefferson, tiểu bang Colorado, gần Littleton, và Denver, thủ phủ bang Colorado. Thủ phạm gây ra vụ tàn sát là học sinh, Eric Harris và Dylan Klebold. Hai kẻ thủ ác mang theo bom ống và bốn khẩu súng, giết chết 1 giáo viên, 12 học sinh, và gây thương tích cho 24 người khác, trước khi tự sát. Đây là là vụ bắn giết trong trường học có số thương vong cao thứ năm trong lịch sử Mỹ.

Thảm sát Virginia Tech: Giống như vụ việc Waco, vụ thảm sát Virginia Tech (còn gọi là thảm sát Đại học Bách khoa Virginia) xảy ra vào Ngày Yêu nước (16.4.2007). Đây là vụ bắn giết trong trường học gồm hai lần tấn công riêng lẻ cách nhau gần hai tiếng đồng hồ tại khuôn viên Đại học Bách khoa Virginia ở Blacksburg, Virginia.

Sát thủ Cho Seung-Hui giết 32 người và làm bị thương nhiều người khác trước khi tự sát. Cho đến nay, đây là vụ thảm sát thực hiện bởi một thủ phạm, bên trong hoặc ngoài khuôn viên đại học, gây nhiều thương vong nhất trong lịch sử nước Mỹ.

QT tổng hợp
daibieunhandan.vn

Sức mạnh của Quân đội ta gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng

Quân đội ta do Đảng, Bác Hồ sáng lập và rèn luyện. Sức mạnh của Quân đội ta trong suốt chiều dài lịch sử gần 70 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó đã làm cho Quân đội ta bách chiến bách thắng, góp phần cùng với dân tộc làm nên những thắng lợi huy hoàng vẻ vang nhất trong lịch sử”, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn – Cục trưởng Cục Tuyên huấn – Bộ Quốc phòng nhấn mạnh.

– PV: Qua nghiên cứu bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, Trung tướng cảm tâm đắc nhất là những vấn đề gì?

– Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn: Điều tôi tâm đắc nhất là Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bám sát Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các văn kiện khác của Đại hội lần thứ XI của Đảng và kết quả tổng kết 20 năm đổi mới. Chính Hiến pháp đã thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng bằng pháp luật của Nhà nước, bằng ý chí của nhân dân.

Đặc biệt Hiến pháp lần này chủ yếu đi sâu, làm rõ quyền dân chủ của nhân dân. Dự thảo đã cố gắng đưa vào những vấn đề về thể chế hóa và thực hiện toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vấn đề này không phải phủ nhận những Hiến pháp trước đó như Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 1980… mà lần này Dự thảo đã cố gắng cụ thể hóa hơn, sát hơn phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ hai điều tôi tâm đắc Dự thảo quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước với vai trò thống lĩnh các lực lượng vũ trang nói chung cũng như Quân đội nói riêng.

– PV: Vai trò, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang đã được cụ thể trong Dự thảo, Trung tướng có suy nghĩ như thế nào về nội dung này?

– Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn: Quân đội ta do Đảng, Bác Hồ sáng lập và rèn luyện. Sức mạnh của Quân đội ta trong suốt chiều dài lịch sử gần 70 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng.

Điều đó đã làm cho Quân đội ta bách chiến bách thắng, góp phần cùng với dân tộc làm nên những thắng lợi huy hoàng vẻ vang nhất trong lịch sử. Quân đội và nhân dân ta đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước vừa qua và hiện nay. Việc Đảng lãnh đạo Quân đội đã trở thành truyền thống, lịch sử. Đó cũng là một trong những nguyên nhân có ý nghĩa quyết định làm nên sức mạnh của quân đội.

Vừa qua có một số người cho rằng phi chính trị hóa quân đội. Điều này không mới. Vì ngay từ khi đất nước ta giành được hòa bình thống nhất cho đến nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tuyên truyền phát động tư tưởng phi chính trị hóa quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Và hôm nay những người đó chỉ nhắc lại cái mà các thế lực thù địch đã nói.

Về mặt lý luận chẳng có quân đội nào phi chính trị bởi vì quân đội là công cụ của một nhà nước mà nhà nước bao giờ cũng đại diện cho một giai cấp thống trị. Chẳng có nhà nước nào phi giai cấp.

Chỉ khác là giai cấp vô sản, giai cấp công nhân đã công khai quyền lãnh đạo, còn giai cấp tư sản, phong kiến che giấu việc này. Lý do đơn giản là họ đại diện cho một thiểu số trong cộng đồng quốc gia, dân tộc. Nếu công khai việc này vô hình trung họ thừa nhận nhà nước đó không đại diện quyền lợi và lợi ích của cả dân tộc bởi vậy họ che giấu. Còn giai cấp vô sản đại diện cho lợi ích của cả dân tộc vì họ là tuyệt đại đa số cho nên đảng của giai cấp vô sản công khai tuyên bố là đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước và quân đội.

Rất đơn giản thôi nếu quân đội Mỹ phi chính trị thì cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hay những cuộc chiến tranh sau này như cuộc chiến tại Iraq, Afghanistan, Libya… có sự tham gia quân đội Mỹ đều vì mục đích chính trị của nhà nước cầm quyền của giai cấp tư sản, chế độ tư bản. Cho nên mọi luận điệu tuyên truyền phi chính trị hóa quân đội đều nhằm mục đích tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa và cơ hội để thay đổi chế độ.

Như tôi đã nói ở trên, Hiến pháp lần này là cụ thể hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở đất nước ta, do đó sự lãnh đạo của Đảng và nguyên tắc Hiến định sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với Đảng phải được cụ thể trong Hiến pháp.

– PV: Từ góc độ một nhà nghiên cứu quân sự, theo Trung tướng Hiến pháp cần phải bổ sung và làm rõ thêm những vấn đề đối với chế định bảo vệ Tổ quốc?

– Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn: Theo tôi Hiến pháp lần này cần khẳng định rõ hơn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đi liền với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chứ không bảo vệ Tổ quốc chung chung.

Thứ hai cần làm rõ vai trò vị trí của lực lượng vũ trang nói chung, của Quân đội nói riêng. Đây là lực lượng đang làm nhiệm vụ thiêng liêng cao quý nhất bởi vì bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng cao quý của mỗi công dân.

Thứ ba là Hiến pháp cần làm rõ Quân đội nói riêng và lực lượng vũ trang nói chung sinh ra để bảo vệ Tổ quốc.

Quan điểm quốc phòng là tự vệ, bảo vệ sự nghiệp lao động hòa bình của nhân dân, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Nêu những vấn đề này để từ đó nhà nước cần có những chế độ chính sách phù hợp nhằm thu hút nhân tài trực tiếp tham gia nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Có chính sách đầu tư thỏa đáng, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

Ngoài ra, tôi cũng muốn nêu thêm một vấn đề là cần khẳng định trong Hiến pháp đất đai là sở hữu toàn dân và cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân đối với đất đai. Bởi vì khi nói đất đai là của toàn dân thì quyền quyết định sử dụng đất đai phải được toàn dân tham gia thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Khắc phục tình trạng tùy tiện ở một số nơi, một số lúc, ở cấp này, cấp khác thay đổi mục đích, quyền sử dụng đất không tính đến vai trò sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Đặc biệt là đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp, cụ thể là trồng lúa. Chúng ta biết rằng đất trồng lúa là đất bờ xôi ruộng mật được bồi trúc qua hàng nghìn năm gắn bó với người nông dân qua hàng nghìn đời nhưng chúng ta chuyển đổi mục đích sử dụng có nơi còn lãng phí, đưa tài sản quý giá này sang mục đích khác là phải tính đến hiệu quả phải được cao hơn song thực tiễn có nhiều địa phương đã để xảy ra lãng phí rất lớn.

Chính vì vậy Hiến pháp lần này cần phải chế định rõ ràng vấn đề đó.

– PV: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí Trung tướng!

Xuân Luận (thực hiện)
cand.com.vn

Cần làm rõ hành vi gây nhiễu chính sách Nhà nước về bất động sản

Chúng tôi cho rằng, việc sử dụng khái niệm “cứu bất động sản” là sai lệch chủ trương của Chính phủ. Gói hỗ trợ 30 nghìn tỉ đồng nhằm vào đối tượng nào, cần phải xác định rõ. Chính phủ không sử dụng gói 30 nghìn tỉ để hỗ trợ bất động sản, hay cứu bất động sản như nhiều thông tin đưa.

Liên tục trong thời gian từ cuối năm 2012 tới nay, trên nhiều diễn đàn, cụm từ “giải cứu bất động sản” xuất hiện nhan nhản và nó trở thành điệp khúc được nhiều chuyên gia bất động sản (BĐS) vin vào để biện luận về chính sách của Chính phủ trước tình trạng BĐS hiện hành. Tuy nhiên, khi chúng tôi rà soát lại các văn bản liên quan, không hề văn bản nào của Nhà nước có từ “giải cứu bất động sản”… Điều này cũng nhiều lần được lãnh đạo bộ chức năng lưu ý, việc tùy tiện nói Chính phủ dùng nguồn vốn giải cứu bất động sản là sai sự thật, gây tâm lý không tốt và ảnh hưởng nhiều mặt.

Đầu năm 2013, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP, ngày 7/1/2013, nhiều diễn đàn đồng loạt đưa tin, Chính phủ đã quyết định dùng Nghị quyết 02 để cứu bất động sản, cứu thị trường tài chính, nhà đất vốn đang rất ảm đạm. Việc đưa ra các ý trên làm nhiễu loạn thông tin về chính sách của Nhà nước đối với thị trường bất động sản, gây ra những hiệu ứng không tốt trong đời sống xã hội.

Thực tế, Nghị quyết 02/NQ-CP, ngày 7/1/2013 của Chính phủ không có nội dung nào đề cập chuyện “giải cứu” thị trường bất động sản, không có gói kích cầu, rót vốn “cứu” bất động sản. Nghị quyết 02 của Chính phủ quy định một số chính sách mới với 3 nhóm: tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ thị trường; giải quyết nợ xấu. Có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân tham gia phát triển nhà ở xã hội và nghiên cứu, ban hành chính sách tín dụng ưu đãi để người thu nhập thấp, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, công nhân, người lao động có thể mua, thuê và thuê mua nhà để ở phù hợp với thu nhập chính đáng.

Thị trường bất động sản đang xuất hiện nhiều thông tin gây nhiễu loạn.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước đưa ra dự thảo Thông tư quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội theo Nghị quyết 02 của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khẳng định mức lãi suất ưu tiên 6%/năm trong 3 năm là phù hợp và sẽ không tăng thêm hạn mức cho gói tín dụng hỗ trợ thị trường bất động sản, hiện nay là 30.000 tỷ đồng. Theo đó, NHNN khẳng định chỉ có người thu nhập thấp, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2 mới nằm trong diện được vay ưu tiên. Đối tượng mua nhà ở xã hội chưa nằm trong lần xem xét này.

Mặc dù quy định của Chính phủ và dự thảo Thông tư của NHNN như vậy nhưng trên nhiều diễn đàn bất động sản, hàng loạt ý kiến cho rằng, Chính phủ tung gói kích cầu trị giá 30 nghìn tỉ đồng để cứu bất động sản, nhằm giúp thị trường này “phá băng”. Từ suy luận đó, nhiều bài phản biện nói rằng, rót 30 nghìn đồng cứu bất động sản tức là “cứu nhà giàu”, “cứu doanh nghiệp”, từ đó đặt ra nghi ngờ về tính hiệu quả của nguồn vốn mà Chính phủ bỏ ra.

Chúng tôi cho rằng, việc sử dụng khái niệm “cứu bất động sản” là sai lệch chủ trương của Chính phủ. Gói hỗ trợ 30 nghìn tỉ đồng nhằm vào đối tượng nào, cần phải xác định rõ. Chính phủ không sử dụng gói 30 nghìn tỉ để hỗ trợ bất động sản, hay cứu bất động sản như nhiều thông tin đưa. Ở đây có sự nhầm lẫn lớn về đối tượng được hỗ trợ. Nếu nói 30 nghìn tỉ hỗ trợ, cứu bất động sản, tức đối tượng nhằm vào thị trường bất động sản, vào doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh bất động sản.

Trong khi đó, thực chất của chủ trương Chính phủ là nhằm hỗ trợ người nghèo, người chưa có nhà ở có điều kiện thuê, mua nhà bằng gói hỗ trợ 30 nghìn tỉ. Tạo điều kiện cho người nghèo, người thu nhập thấp có nhà ở là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta và được đưa ra từ nhiều nhiệm kỳ nhưng chưa có điều kiện thực hiện đồng bộ do giá bất động sản quá đắt đỏ. Khi thị trường này trầm lắng, giá bất động sản hạ xuống, giao dịch ít, thì đây là điều kiện tốt nhất để người nghèo, người thu nhập thấp có điều kiện tiếp cận nhà ở.

Hướng dẫn mới nhất của NHNN cho rằng, dự thảo Thông tư quy định rõ, việc cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm do ngân hàng xem xét, quyết định. Ngoài ra, các quy định về giao dịch bảo đảm đã đầy đủ quy định về các tài sản và hình thức bảo đảm, vì vậy nếu chỉ quy định bảo đảm bằng chính căn nhà mua hoặc dự án đang xây dựng vào Thông tư là không đầy đủ và có thể hạn chế việc tiếp cận vốn của khách hàng.

Đối với một số ý kiến đề nghị mở rộng thêm nội dung đã được quy định trong Nghị quyết 02 như đề nghị cho vay ưu đãi với những căn hộ dưới 80m2, thay vì tối đa 70m2; thời hạn cho vay hỗ trợ là 20 năm, thay vì 10 năm; mua đất nền, mua nhà riêng lẻ trong khu dân cư cũng nằm trong đối tượng được vay hỗ trợ…, NHNN chuyển cho Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu và tham mưu cho Chính phủ theo chức năng. Ngoài ra, một số ý kiến lo ngại việc không quy định tỷ lệ cho vay giữa doanh nghiệp và cá nhân, hộ gia đình sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp vay nhiều hơn. Tuy nhiên, theo NHNN, việc quy định cụ thể tỷ lệ, ví dụ 65% cho doanh nghiệp và 35% cho cá nhân, hộ gia đình trong Thông tư là không khả thi.

Thực tế, để gói 30 nghìn tỉ của Nhà nước đến đúng đối tượng cần vay mua nhà còn là quá trình không đơn giản. Rất nhiều lo ngại việc thủ tục hành chính lòng vòng, phát sinh nhũng nhiễu, tiêu cực khi người nghèo tiếp cận được nguồn vốn. Thêm nữa, dù lãi suất chỉ 6%/năm, nhưng một căn hộ ở Hà Nội ít nhất cũng 1-2 tỉ đồng, đồng nghĩa lãi suất 60-120 triệu/năm. Người thu nhập thấp, thu nhập trung bình để trả được số tiền lãi 60-120 triệu đồng mỗi năm là bài toán quá khó, chưa kể để họ tiếp cận được nguồn vốn đó, còn phải “đi vòng” như thế nào

Đăng Trường
cand.com.vn

Trung thành với Đảng, với chế độ cũng có nghĩa là trung thành với Tổ quốc, với nhân dân

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

Ngọc Thư
Trong tính hiện thực của nó, Tổ quốc luôn luôn gắn liền với một chế độ chính trị, với một lực lượng cầm quyền. Nói cách khác Tổ quốc luôn luôn mang tính lịch sử cụ thể. Nói về Tổ quốc mà không nói đến chế độ xã hội, không nói đến lực lượng cầm quyền chẳng khác nào nói về sở hữu mà không nói đến chủ thể sở hữu là ai.

Thời Lý, Tổ quốc là nơi Vua Nam ở – “Nam đế cư” (Thơ Thần – Lý Thường Kiệt); Thời Trần, Tổ quốc trước hết là “thái ấp”, là “xã tắc tổ tông” nhà Trần (Hịch tướng sỹ của Trần Hưng Đạo). Khi Pháp cướp được nước ta có nghĩa những ông chủ thực sự của Tổ quốc ta lúc đó là thực dân Pháp. Bởi vậy có thể nói ngày nay Quân đội ta “trung với Đảng”, “bảo vệ Tổ quốc” cũng có nghĩa là trung thành với Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân.

Đối với dân tộc ta, Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng những là người khai sinh mà còn là người rèn luyện, giáo dục Quân đội, Công an là người đề ra đường lối quân sự cách mạng, thống lĩnh các lực lượng vũ trang. Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là người lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp các mặt trận đấu tranh, quân sự, chính trị, ngoại giao mà còn là người chỉ đạo chiến lược, trực tiếp chỉ đạo quân đội ta trong những cuộc tiến công, những chiến dịch, chiến lược lớn như chiến dịch Điện Biên Phủ, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Trong các xã hội hiện đại, không có quân đội nào không gắn với đảng chính trị cầm quyền. Ở một số quốc gia, quân đội còn tuyên thệ trung thành với người đứng đầu nhà nước (đương nhiên cũng là người đứng đầu đảng chính trị cầm quyền).

“Form”, mẫu kịch bản đảo lộn chính trị hoặc cách mạng xã hội ở nhiều quốc gia, khu vực khởi đầu thường là những cuộc binh biến. Nếu đi sâu nghiên cứu thì ở đó đằng sau quân đội là những tổ chức chính trị, những đảng chính trị đang hoạt động… Tiếp đó là sự can thiệp dưới những hình thức khác nhau của những lực lượng chính trị từ bên ngoài, vì lý do “dân chủ”, “nhân quyền” (chẳng hạn), nhằm chuyển chế độ xã hội hoặc chí ít là lực lượng cầm quyền hiện hữu sang lực lượng chính trị mới mà người ta mong đợi.

Trong thời đại ngày nay, các quốc gia – dân tộc không chỉ đối diện với nguy cơ an ninh truyền thống mà còn đối diện với nguy cơ an ninh phi truyền thống, không chỉ đối diện với những cuộc chiến tranh xâm lược bằng lực lượng vũ trang chớp nhoáng từ bên ngoài mà còn phải đối diện với những cuộc chiến tranh “không khói súng”, “diễn biến hòa hình”, bạo loạn lật đổ, gắn với các hình thức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và chiến tranh kinh tế – giành giật “biên giới mềm”. Trong đó không loại trừ có tình huống “đối tác” có thể trở thành “đối tượng” đấu tranh. Đó là những cuộc chiến tranh không còn theo nghĩa đen mà là thay đổi chế độ xã hội hoặc thay đổi ê-kíp lãnh đạo, cầm quyền. Chính vì vậy mà ngày nay chiến lược bảo vệ Tổ quốc không chỉ là xây dựng quân đội tinh nhuệ, bảo đảm trang thiết bị hiện đại mà còn phải có Bộ tham mưu kiên định về chính trị, tuyệt đối trung thành với dân tộc, với chế độ xã hội, có khả năng đánh giá đúng tình hình, phân tích tình huống, không sa vào cạm bẫy, các thủ đoạn chính trị, quân sự xảo quyệt của đối phương. Điều này càng nói lên rằng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân ngày nay, quân đội càng không thể nằm ngoài chính trị, không thể thoát ly sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng lãnh đạo, cầm quyền.

Với tầm tư duy chính trị sâu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội ta đã nói: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng chiến thắng” (Hồ Chí Minh tuyển tập, T II, NXB ST, HN, 1980. Tr 345).

Đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế và trong nước hiện nay, Điều 70 của Dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi dựa trên nội dung chủ yếu câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện trên: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế” chẳng những là phù hợp, hơn nữa còn là cần thiết.

Tất nhiên nội dung trung thành với Đảng ngày nay có nội dung cụ thể. Trung thành với Đảng lúc này là trung thành với Cương lĩnh, đường lối của Đảng được Đại hội XI thông qua. Trung thành với Đảng là kiên định mục tiêu và con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH hướng đến xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đồng thời thực hiện đường lối đối ngoại: “Độc lập tự chủ… giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển”. Trung thành với Đảng trong lúc này còn có nghĩa Quân đội ta là lực lượng ủng hộ tích cực và kiên quyết cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống lợi ích nhóm.

Không phủ nhận rằng xã hội ta còn rất nhiều vấn đề mà cán bộ đảng viên, nhân dân không hài lòng, thậm chí là bức xúc như tình trạng phân hóa giàu nghèo, tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một số cán bộ đảng viên như Hội nghị TW 4 (khóa XI) của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra. Song chỉ vì vậy mà phủ nhận những vấn đề có tính quy luật trong chính trị, cho rằng: “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào” hoặc “Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc;… không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào” là sai lầm về nhận thức… Về khách quan, điều đó, việc làm đó chỉ làm phương hại đến an ninh quốc gia, đến sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân của Quân đội.

Nói Tổ quốc, nhân dân trừu tượng, chung chung thoát ly khỏi hoàn cảnh lịch sử lúc này nếu không phải là một sự ngây thơ thì cũng là một sự ngụy biện, là sai lầm về khoa học và nguy hại về chính trị. Chưa bao giờ quân đội trung lập về chính trị được thực tiễn xác nhận. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ người ta có nói và viết ra điều đó công khai hay không mà thôi. Còn làm thế nào để có được một chế độ xã hội, một đảng cầm quyền, một nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân như mọi người mong muốn lại là một vấn đề khác

N.T.
cand.com.vn

Đảng phải được xây dựng mạnh về mọi mặt

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”:

Phạm Văn Thạch
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong Điều 4 đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam, đó là niềm tin, ý chí và nguyện vọng của mỗi người dân Việt Nam ta.

Gần đây, bên cạnh đại đa số những ý kiến phát biểu nhất trí đồng tình với dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi thì cũng có những ý kiến chính danh, mạo danh và của các thế lực thù địch đòi bỏ Điều 4 trong dự thảo Hiến pháp, nghĩa là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tuy chỉ là một số ít nhưng những ý kiến này được các thế lực thù địch thổi phồng làm nóng lên trong một bộ phận xã hội. Nhiều bài viết đã phân tích, phê phán và vạch rõ những mưu toan hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thực ra không phải chỉ dịp này mà đã từ mấy chục năm nay, cứ mỗi khi trên đất nước ta diễn ra những sự kiện chính trị lớn, mỗi khi đất nước đứng trước khó khăn thách thức thì các thế lực thù địch thường tung ra các “bài ca lạc điệu” này. Có thời điểm đáng chú ý như sau khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, chúng hô hào xóa ngay những nước XHCN còn lại, tung ra các luận điệu “giật gân” như chế độ XHCN ở các nước này được chúng tính bằng ngày.

Trớ trêu thay, thực tế đã hoàn toàn ngược lại với những ảo tưởng của chúng. Do vậy, đối với những quan điểm đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng lần này cũng chỉ là những quan điểm cũ rích, xa lạ đối với nhân dân ta, với đất nước ta – một đất nước mà đã có trên 80 năm Đảng và nhân dân gắn bó máu thịt với nhau để làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

So với Hiến pháp năm 1992, dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này đã cụ thể hơn về nội dung yêu cầu Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Bên cạnh khẳng định bản chất ưu việt, sứ mệnh lịch sử, dự thảo còn nêu rõ trách nhiệm của Đảng là phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Những nội dung ấy chính là đã phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân, thể hiện rõ hơn bản chất cầm quyền của Đảng ta là Đảng được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy vậy theo tôi cần phải bổ sung thêm một nội dung nữa trong điều 4 của dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Nội dung đó là: ĐẢNG PHẢI ĐƯỢC XÂY DỰNG VỮNG MẠNH VỀ MỌI MẶT ĐỂ LÀM TRÒN TRÁCH NHIÊåM LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI.

Điều này đặt ra rất cần thiết không chỉ xuất phát từ yêu cầu trước mắt mà còn là một đòi hỏi lâu dài. Yêu cầu trước mắt: như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng) đã nêu, khắc phục những biểu hiện suy thoái hiện nay trong Đảng đang là một vấn đề lớn của Đảng vì nó chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến sinh mệnh của Đảng. Nhưng yêu cầu về lâu dài mới là quan trọng.

Lãnh đạo một đất nước với gần trăm triệu dân, một đất nước có truyền thống Anh hùng để đứng lên ngang hàng với những cường quốc trên thế giới là một việc hết sức khó khăn. Trong tình hình bối cảnh quốc tế có những thuận lợi và những khó khăn thách thức xen kẽ, những vấn đề về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, những xung đột, nguy cơ bất ổn và diện mạo những cuộc chiến tranh hiện đại không cho phép chúng ta chủ quan.

Trước tình hình đó, yêu cầu Đảng ta phải có trí tuệ, bản lĩnh, tài năng, nhanh nhạy, phải có một đội ngũ đảng viên thật sự gương mẫu, tiên phong, thật sự phải có đạo đức thì mới có khả năng lãnh đạo đất nước vừa ổn định vừa phát triển đi lên nhanh chóng và bền vững.

Việc xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt không phải chỉ làm trong một giai đoạn mà là thường xuyên liên tục và ráo riết. Trách nhiệm đó trước hết là của Đảng. Đảng phải chăm lo rèn luyện, không ngừng trau dồi về mọi mặt, trong đó tính gương mẫu và phẩm chất đạo đức là những nhân tố mang tính quyết định. Mặt khác đó cũng là trách nhiệm của nhân dân đối với Đảng.

Đảng ta đã hơn 80 năm gắn bó máu thịt với nhân dân thì những kỳ vọng và tâm huyết của nhân dân để xây dựng Đảng là một tiềm năng rất lớn, một khả năng hiện thực rất cao. Vấn đề ở chỗ là Đảng phải tổ chức tốt sự tiếp thu đó và thể hiện nó bằng hiệu quả lãnh đạo của mình

P.V.T.
cand.com.vn

Không nên thành lập Hội đồng Hiến pháp

T.S Trần Thành Hưng – Trưởng Khoa, Trường Đại Học CSND
Việc bổ sung Hội đồng Hiến pháp như dự thảo là bổ sung một cơ quan mới trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp nhưng chưa rõ vị trí, tổ chức, nguyên tắc hoạt động, cơ chế phối hợp với các cơ quan khác và nhiệm vụ không có gì khác hơn dễ dẫn đến sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, cồng kềnh bộ máy mà chưa dự liệu được hiệu quả là điều nên tránh trong sửa đổi Hiến pháp, như quan điểm của Đảng đã chỉ đạo.

Theo chúng tôi, bảo vệ Hiến pháp nghĩa là bảo đảm các quy định của Hiến pháp phải được thực hiện trong thực tế theo đúng tinh thần của nó. Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của Hiến pháp đều bị coi là vi phạm Hiến pháp. Với tinh thần đó, để Hiến pháp không bị vi phạm phụ thuộc vào nhiều vấn đề, trong đó nổi lên:

Một là: các quy định của Hiến pháp phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, năng lực tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định. Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó có những quy định mang tính định hướng phấn đấu.

Thực hiện Hiến pháp phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và trình độ, năng lực quản lý xã hội của bộ máy nhà nước cũng như những điều kiện liên quan khác. Vì vậy, trong Hiến pháp tồn tại những quy định chưa phù hợp với những điều kiện nói trên sẽ là mầm mống tạo ra sự vi phạm.

Hai là: có cơ chế bảo đảm quá trình xây dựng luật và các văn bản dưới luật để không vi phạm Hiến pháp. Luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Các cơ sở này luôn vận động biến đổi để phù hợp với tình hình đất nước trong từng giai đoạn nên các quy định của pháp luật cũng phải thay đổi theo để bảo đảm việc quản lý, phát triển đất nước. Trong khi đó, các quy định của Hiến pháp tương đối ổn định về mặt thời gian, chậm sửa đổi bổ sung. Đây là mâu thuẫn dễ dẫn đến vi phạm Hiến pháp, phải có cơ chế phản biện, kiểm tra ngay trong quá trình xây dựng luật.

Thứ ba: phát hiện kịp thời những quy định của văn bản luật và dưới luật trái Hiến pháp. Hoạt động lập pháp hết sức phức tạp, mặc dù có nhiều biện pháp, quy trình chặt chẽ nhưng không loại trừ khả năng tồn tại quy định của pháp luật trái Hiến pháp nên phải thường xuyên rà soát để phát hiện, xử lý kịp thời những quy định nói trên nhằm bảo đảm Hiến pháp không bị vi phạm.

Trong ba nội dung nói trên, hoạt động xây dựng Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và các văn bản dưới luật là yếu tố cơ bản, quyết định cho việc bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật.

Có thể nói: bảo vệ Hiến pháp phụ thuộc chính vào quá trình lập hiến và lập pháp. Vì vậy, để Hiến pháp không bị vi phạm cần phải chú trọng hiệu quả của quá trình xây dựng, sửa đổi bổ sung Hiến pháp và pháp luật. Việc kiểm tra, rà soát phát hiện văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp để sửa chữa hoặc đình chỉ là giải quyết phần ngọn của vấn đề, không cơ bản.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, hiện nay không nên thành lập Hội đồng Hiến pháp như trong dự thảo (nên bỏ điều 120 trong dự thảo Hiến pháp). Bởi lẽ, thực tiễn hoạt động lập hiến, lập pháp ở nước ta trong thời gian qua tương đối chặt chẽ, có cơ chế để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng vi phạm Hiến pháp. Nhìn chung hoạt động và cơ chế này đã và đang phát huy hiệu quả.

Xuất phát từ bản chất của Quốc hội Việt Nam – cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động lập pháp của Quốc hội là thống nhất vì mục đích chung của cả dân tộc.

Việc bổ sung Hội đồng Hiến pháp như dự thảo là bổ sung một cơ quan mới trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp nhưng chưa rõ vị trí, tổ chức, nguyên tắc hoạt động, cơ chế phối hợp với các cơ quan khác và nhiệm vụ không có gì khác hơn dễ dẫn đến sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, cồng kềnh bộ máy mà chưa dự liệu được hiệu quả là điều nên tránh trong sửa đổi Hiến pháp, như quan điểm của Đảng đã chỉ đạo.

Nhiệm vụ kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật mà dự thảo trao cho Hội đồng Hiến pháp có thể giao cho cơ quan đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp thực hiện

T.T.H.
cand.com.vn

Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội là đáp ứng nguyện vọng của nhân dân

TAND tối cao tổ chức Hội nghị góp ý kiến đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992:

Ngày 18/3, TAND tối cao đã tổ chức Hội nghị góp ý kiến đối với dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (khu vực phía Bắc). Đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND tối cao chủ trì hội nghị.

Sau một thời gian phổ biến, quán triệt, lấy ý kiến triển khai kế hoạch lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của toàn cán bộ, công chức, lãnh đạo các cấp trong ngành Tòa án, đến nay TAND tối cao đã nhận được 73 báo cáo của Tòa án các địa phương, đơn vị thuộc TAND tối cao phản ánh hơn 2.000 ý kiến về các nội dung của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Các ý kiến đóng góp đều nhất trí với dự thảo và có thêm quan điểm về nội dung quan trọng và khẳng định, dự thảo đã giải quyết được những vấn đề bất cập, tồn tại của thực tiễn đặt ra trong quá trình tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992; đảm bảo quyền lực Nhà nước là thống nhất, đồng thời phân định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; thể hiện rõ nội dung đổi mới bộ máy tổ chức Nhà nước, đổi mới hoạt động tổ chức của chính quyền địa phương theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp.

Đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND tối cao chủ trì hội nghị.

Kết luận Hội nghị, đồng chí Trương Hòa Bình nêu rõ: Các ý kiến đóng góp đề cập rất toàn diện, đầy đủ và cụ thể đến toàn bộ nội dung của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Điều đó thể hiện trách nhiệm cao của cán bộ, công chức và lãnh đạo các cấp ngành Tòa án.

Việc tiếp tục khẳng định sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội trong Hiến pháp đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với lịch sử và những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta.

Việc quy định lực lượng vũ trang có nhiệm vụ tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội là đúng đắn

Nguyễn Hưng
cand.com.vn

Góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội

Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố:

Để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm nói chung và tội phạm khủng bố nói riêng, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, Chính phủ đã giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố. Sau nhiều lần chỉnh sửa, Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết luận đồng ý trình dự án Luật Phòng, chống khủng bố để Quốc hội khóa XIII cho ý kiến vào kỳ họp thứ 4. Nếu được Quốc hội thông qua, Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố sẽ có hiệu lực từ cuối năm 2013.

Trong những năm qua, đặc biệt là sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ, tình hình khủng bố quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định và gây hậu quả nặng nề cho nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo thống kê chưa đầy dủ, tính từ năm 2001 đến nay, trên thế giới đã xảy ra 5.774 vụ khủng bố làm 47.173 người thiệt mạng, 86.045 người bị thương và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.

Ở Việt Nam mặc dù chưa xảy ra vụ khủng bố nào do các tổ chức khủng bố quốc tế gây ra, tuy nhiên cơ quan An ninh đã phát hiện hàng trăm đối tượng phản động lưu vong xâm nhập nội địa, mang theo hàng tấn thuốc nổ, vũ khí và phương tiện kỹ thuật nhằm thực hiện khủng bố, phá hoại.

Để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm nói chung và tội phạm khủng bố nói riêng, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, Chính phủ đã giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố. Sau nhiều lần chỉnh sửa, Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết luận đồng ý trình dự án Luật Phòng, chống khủng bố để Quốc hội khóa XIII cho ý kiến vào kỳ họp thứ 4. Nếu được Quốc hội thông qua, Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố sẽ có hiệu lực từ cuối năm 2013.

Một số hình ảnh về lực lượng Công an tham gia diễn tập phòng, chống khủng bố năm 2012.

Theo Bộ Công an, Luật Phòng, chống khủng bố góp phần thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội nói chung và phòng, chống khủng bố nói riêng. Các quan điểm, chủ trương này được thể hiện trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, trong đó đã đề ra “ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về phòng, chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng”.

Việc xây dựng, ban hành Luật Phòng, chống khủng bố là một bước tiến trong quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vục đảm bảo an ninh, trật tự, tiếp tục góp phần thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Mặt khác, Luật Phòng, chống khủng bố cũng góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm sự thống nhất đồng bộ với các Luật khác có liên quan. Việc Việt Nam ban hành Luật Phòng, chống khủng bố nhận được sự quan tâm, ủng hộ của dư luận quốc tế và các nước có thù địch với khủng bố.

Dự thảo Luật quy định các biện pháp, cơ chế vận hành, lực lượng, quản lý Nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống khủng bố nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác phòng, chống khủng bố. Luật được ban hành sẽ có tác động tích cực và là công cụ hữu hiệu bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời góp phần kiện toàn, củng cố lực lượng cán bộ, chiến sĩ làm công tác phòng chống khủng bố.

Dự thảo Luật xác định rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, cá nhân trong công tác phòng, chống khủng bố, giúp các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp chủ động phòng ngừa, ứng phó, xử lý với các vụ việc khủng bố, bảo vệ tốt nhất tính mạng, sức khỏe, tài sản của tổ chức, cá nhân. Luật ban hành sẽ tạo cơ sở pháp lý thống nhất để tổ chức và hoạt động phòng, chống khủng bố, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, thu hút đầu tư, du lịch nước ngoài, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước…

Ở nội dung chống khủng bố, dự thảo Luật quy định về: phát hiện khủng bố, tin báo và tố giác khủng bố; biện pháp chống khủng bố; chống khủng bố tại trụ sở cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế và nhà ở của thành viên các cơ quan này; chống khủng bố cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; điều tra, xử lý khủng bố.

Ngoài ra, trong dự thảo Luật còn quy định về tổ chức lực lượng phòng, chống khủng bố; phòng, chống tài trợ khủng bố và hợp tác quốc tế về phòng, chống khủng bố…

Dự thảo Luật Phòng, chống khủng bố gồm 8 Chương, 57 Điều. Ở nội dung phòng, ngừa khủng bố quy định 9 nhóm biện pháp là: Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống khủng bố; quản lý về an ninh, trật tự; kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh; kiểm soát hoạt động giao thông vận tải; kiểm soát giao dịch tiền, tài sản; kiểm soát hàng hóa, phương tiện nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh; kiểm soát hoạt động báo chí, bưu chính, viễn thông, Internet và các hình thức khác; kiểm soát hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm và các hành vi làm lây lan bệnh dịch gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người; xây dựng và tổ chức thực hiện phương án về phòng, chống khủng bố.

Nguyễn Hưng
cand.com.vn

Hội nghị đánh giá kết quả lấy ý kiến đóng góp về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Ngày 15/3 tại Hà Nội, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả lấy ý kiến đóng góp về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đồng chí Hà Hùng Cường, Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì hội nghị.

Thông qua việc lấy ý kiến, Bộ Tư pháp có đánh giá chung về bản Dự thảo Hiến pháp 1992 như: Có nhiều đổi mới trong việc phân công thực hiện quyền lực, xác lập cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Cơ chế đảm bảo dân chủ đã có những bước tiến bộ. Xác lập cơ chế bảo đảm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN…

Về cơ bản, dự thảo Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền móng pháp lý cho việc giải quyết những vấn đề bất cập, tồn tại của thực tiễn được đúc kết trong quá trình tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992. Đồng thời, đảm bảo là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có tính dự báo và ổn định lâu dài, kế thừa với sự điều chỉnh hợp lý những giá trị phản ánh đặc thù chính trị – pháp lý được ghi nhận tại các bản Hiến pháp của nước ta.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng cho rằng, có một số quan điểm, định hướng lớn của Đảng, Nhà nước thể hiện trong Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội Đảng khóa XI, Nghị quyết TW2 và 5 khóa XI và trong Nghị quyết của Quốc hội về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 chưa được thể chế hóa triệt để, nhất là về kiểm soát quyền lực, về phân công nhiệm vụ giữa các cơ

C. Hồng
cand.com.vn

Chế định Bảo vệ Tổ quốc cần được thiết lập một cách chặt chẽ trong Hiến pháp

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

PGS,TS Hà Việt Dũng (Thiếu Tướng, Hiệu Trưởng Trường Đại Học ANND)
Qua nghiên cứu các quy định của Hiến pháp 1992 và Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi năm 2013), PGS,TS Hà Việt Dũng Thiếu tướng, Hiệu trưởng Trường Đại học ANND kiến nghị sửa đổi, bổ sung chế định Bảo vệ Tổ quốc.

Thực tế đã cho thấy, lịch sử lập hiến của nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn với sự ra đời của bản Hiến pháp đầu tiên – Hiến pháp 1946 – một đạo luật căn bản, “luật gốc” và đã trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi. Với vị trí là một chế định quan trọng nên từ trước tới nay, chế định Bảo vệ Tổ quốc luôn được đề cập và từng bước bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn. Qua nghiên cứu các quy định của Hiến pháp 1992 và Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi năm 2013), chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung chế định Bảo vệ Tổ quốc trên một số nội dung cụ thể sau:

Một là, cần thiết nên bổ sung thêm một nội dung quy định về khái niệm bảo vệ Tổ quốc. Trên thực tế, Bảo vệ Tổ quốc là một chế định quan trọng được đề cập đến trong nội dung tất cả các Hiến pháp từ Hiến pháp 1946,1959, 1980 và Hiến pháp 1992, song từ trước đến nay chưa có bản Hiến pháp nào có nội dung quy định giải thích về khái niệm Bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, cần thiết nên có một điều hoặc có nội dung giải thích về thuật ngữ này trong chương IV. Theo chúng tôi, có thể hiểu khái niệm bảo vệ Tổ quốc như sau: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN

Hai là, cần thiết nên bổ sung quy định rõ trong Hiến pháp lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm những lực lượng nào. Thực tế cho thấy, tại chương IV của dự thảo, tất cả các điều đều có liên quan đến thuật ngữ “lực lượng vũ trang nhân dân”, song lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm những lực lượng nào lại không có điều khoản nào xác định rõ. Theo đó, cần xác định ngay trong Hiến pháp lực lượng vũ trang bao gồm các lực lượng cụ thể là: Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng dân quân tự vệ.

Ba là, cần thể chế quan điểm Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội vào chế định bảo vệ Tổ quốc trong Hiến pháp sửa đổi. Đây là nội dung quan trọng xác định nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, chỉ rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ở nước ta.

Bốn là, đối với Điều 44 Hiến pháp 1992 (Điều 69 Dự thảo). Từ những vấn đề đã nêu trên (điểm 1, 2, 3), theo chúng tôi cần thiết bổ sung sửa đổi Điều 69 của dự thảo là: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là sự nghiệp của toàn dân. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong đó lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ giữ vai trò nòng cốt; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới”.

Năm là, đối với Điều 45 Hiến pháp 1992 (Điều 70 Dự thảo). Cần bổ sung nội hàm về tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời của Tổ quốc, giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống. Đây là vấn đề đã được Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định rõ. Do vậy, Hiến pháp cần bổ sung vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo, vấn đề an ninh phi truyền thống nhằm tạo cơ sở pháp lý cao nhất để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Như vậy, Điều 45 (Điều 70 của dự thảo) sẽ được sửa đổi là: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, biển đảo, biên giới, vùng trời, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.

Sáu là, đối với Điều 46 Hiến pháp 1992 (Điều 72 dự thảo) và Điều 47 Hiến pháp 1992 (Điều 73 dự thảo). Điều 46 và 47 Hiến pháp 1992 (Điều 72 và 73 dự thảo) quy định việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng cách mạng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Theo chúng tôi không cần giữ cụm từ “cách mạng” trong các điều này. Theo đó, các điều này được chỉnh sửa như sau: Điều 46 (Điều 72 dự thảo): Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại; lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ được xây dựng hùng hậu, rộng khắp, cùng với Quân đội nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Điều 47 (Điều 73 dự thảo): Công an nhân dân Việt Nam được xây dựng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm.

Bảy là, đối với Điều 48 Hiến pháp 1992 (Điều 73 Dự thảo). Điều này cần bổ sung thêm vấn đề “công nghiệp an ninh” và khái quát hơn về chế độ chính sách với lực lượng vũ trang. Theo đó, cần thể chế hóa quan điểm của Đảng về “xây dựng nền công nghiệp an ninh” và bổ sung mối quan hệ giữa kinh tế với an ninh vào Điều 48 Hiến pháp 1992 (Điều 73 dự thảo) cụ thể như sau:“Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương đối với lực lượng vũ trang, xây dựng công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sĩ, công nhân, nhân viên lực lượng vũ trang, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước”.

Sửa đổi Hiến pháp là vấn đề cần thiết nhưng cũng rất hệ trọng nên phải tiến hành một cách chặt chẽ, khoa học, có sự tham gia của các chuyên gia và lấy ý kiến rộng rãi nhân dân. Về chế định Bảo vệ Tổ quốc, chúng tôi nêu một số nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung trong Hiến pháp để cùng trao đổi

H.V.D.
cand.com.vn