Thư viện

Giới thiệu cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử”

(VOV) – Cuốn sách gồm 25 chương, dài gần 300 trang tái hiện tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh do dịch giả Đinh Hương và Thiên Hà biên dịch.

Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 35 năm thiết lập ngoại giao Đức – Việt, chiều 19/5/2010 tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức giới thiệu cuốn sách “Hồ Chí Minh – Biên niên sử” của tác giả người Đức Hellmut Kapfenbeger. Cuốn sách viết về các thời kỳ hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuốn sách Hồ Chí Minh – Một biên niên sử” gồm 25 chương, dài gần 300 trang tái hiện tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh do dịch giả Đinh Hương và Thiên Hà biên dịch. Dưới ngòi bút của tác giả Hellmut Kapfenbeger, người đọc được dẫn dắt qua những chặng đường hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là quá trình học tập của Hồ Chí Minh để tiếp thu truyền thống yêu nước của gia đình, của dân tộc, tinh hoa văn hóa Phương Đông và Phương Tây; khoảng thời gian Hồ Chí Minh ra đi bôn ba khắp thế giới để tìm hiểu xã hội tư bản và cuộc sống tại các nước thuộc địa; quá trình trưởng thành trong nhận thức và tư duy thông qua hoạt động xã hội – chính trị tại Pháp, Liên Xô…

Nhà báo Kapfenberger (trái) tại nhà riêng với cuốn sách và bức phù điêu
Hồ Chí Minh

Phát biểu tại buổi giới thiệu sách, ông Trần Đoàn Lâm, Giám đốc Nhà xuất bản Thế giới nói: “Điểm nổi bật của cuốn sách chính là viết và kết hợp một cách rất khéo léo giữa nghiên cứu lịch sử và kể truyện lịch sử nhưng kể truyện lịch sử không rơi vào hoang đường, dã sử mà kể truyện lịch sử trên cơ sở tư liệu lịch sử rất dễ chấp nhận với bạn đọc phương Tây. Ai đọc cuốn sách này cũng nhận biết được quan điểm và thái độ của tác giả khi đánh giá và tiếp cận những chi tiết và lịch sử về Bác Hồ”.

Qua tác phẩm, tác giả Hellmut Kapfenbeger cũng khẳng định rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến sỹ cộng sản, nhà yêu nước vĩ đại đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do hạnh phúc cho dân tộc mình và cho toàn bộ những người lao động bị áp bức bóc lột mà là một con người mẫu mực về phẩm chất đạo đức cách mạng./.

Phương Thoa

vov.vn

70 năm trước Bác Hồ về nước

QĐND – Sau khi tìm được con đường cứu nước, trở về nước “giúp đồng bào” luôn là nỗi canh cánh bên lòng Hồ Chí Minh. Tháng 6 năm 1923, khi rời Pa-ri đi Mát-xcơ-va, Người đã để lại cho những người bạn chiến đấu của mình trong Hội liên hiệp thuộc địa một lá thư thắm tình đồng đội, chứa chan sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ và bày tỏ khát vọng của mình: “Chúng ta phải làm gì? Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Song, từ khát vọng đến hiện thực là một khoảng cách dài, rất dài, có khi không đến được. Hồi hoạt động ở Pháp, trong một lá thư gửi Nguyễn Ái Quốc ngày 18-2-1922, cụ Phan Chu Trinh không tán thành phương pháp hoạt động của Nguyễn mà Cụ gọi là “Ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội” và khuyên Nguyễn ” trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công!”. Cụ Phan rất chân thành, nhưng tỏ ra chưa hiểu hết lòng dạ của đối phương. Cho nên, dù rất kính trọng cụ Phan, bậc cha chú, nhưng Nguyễn đã không hành động theo lời khuyên đó. Bởi trở về nước lúc đó tức là tự nộp mình cho thực dân Pháp, phải “đãi thời” mới có thể “đột nội” được.

Bác Hồ về nước. Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Trong những năm hoạt động cách mạng ở Xiêm đã một đôi lần Nguyễn Ái Quốc tìm đường về nước, nhưng không thành. Trong một bản báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Người có nói tới sự nỗ lực đó: “Hai lần tôi thử về Việt Nam nhưng đều phải quay trở lại. Mật thám và cảnh sát ở biên giới rất cảnh giác, đặc biệt là từ khi có vụ Việt Nam Quốc dân Đảng”. Thời cơ cho sự đột nội chưa đến với Người.

Tháng 9-1935, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Xô-viết I-li-a Ê-ren-bua về những ấn tượng mùa Xuân trên đất nước Lê-nin và những mong muốn của mình, Nguyễn Ái Quốc một lần nữa lại thốt lên: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc”. Vậy là, cho đến năm 1935, trở về nước vẫn là niềm khát vọng cháy bỏng của Người.

Tháng 9-1938, sau khi được sự chấp nhận của Quốc tế Cộng sản, Người rời Liên Xô về Diên An, Trung Quốc, xích gần lại quê hương, tìm cơ hội trở về nước. Năm 1940, những biến cố thế giới đã tạo ra dấu hiệu xuất hiện cơ hội. Ngày 20-6-1940, nước Pháp đầu hàng Hít-le và Người đã nhìn thấy trong biến cố đó như một cơ hội tốt cho sự “đột nội” của Người. Người liền triệu tập cuộc họp tại tòa soạn Báo Đ.T bàn về các giải pháp tận dụng cơ hội đó. Đoạn hồi ký của Trịnh Đông Hải (Vũ Anh) cho chúng ta biết cái tài, sự nhạy bén của nhà cách mạng từng trải Nguyễn Ái Quốc trong việc nắm bắt và xử lý thông tin quan trọng đó:” Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ, chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Tiếp đó, Người điện cho Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp) và Cao Hồng Lãnh đang trên đường đi học ở Diên An quay lại, chuẩn bị về nước.

Thoạt đầu, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về nước theo hướng Côn Minh-Lào Cai bởi hướng này có tuyến đường sắt từ Côn Minh nối với Lào Cai có nhiều gia đình công nhân người Việt làm việc và sinh sống thành từng làng mà Người đã chứng kiến qua cuộc khảo sát do Phùng Chí Kiên tháp tùng. Vì thế mà Người đã phái Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc về Hà Khẩu để điều tra, nắm tình hình trong nước và đặt cơ sở liên lạc. Nhưng rồi cầu Hồ Kiều, một chiếc cầu lớn trên tuyến đường sắt Việt-Điền nối hai nước Việt-Trung, bị máy bay Nhật đánh sập ngày 10-9-1940. Cửa khẩu lớn giữa hai nước bị đóng lại. Vậy là, ý định về nước theo hướng Lào Cai không còn. Người tin cho Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc trở lại Côn Minh, tìm hướng mới. Và hướng mới đó là Cao Bằng.

Trong suy nghĩ của Nguyễn Ái Quốc, Cao Bằng hội tụ 3 yếu tố quan trọng cho sự đột nội của Người: Địa, Nhân và sự gợi ý của Ban Thường vụ Đảng trong nước. Về Địa, Cao Bằng ở vào vị trí tiến thoái đều thuận lợi. Cách mạng phát triển, từ Cao Bằng theo tuyến đường bộ thông với Thái Nguyên, thông với Lạng Sơn về Hà Nội. Nếu gặp khó khăn, Cao Bằng thông sang Trung Quốc với những con đường mòn, những con suối nhỏ mà dân vùng biên thường qua lại. Cao Bằng còn là vùng đất hiểm trở mà trước đây các thế lực chống đối các triều đại phong kiến biến thành nơi dung thân, đợi thời, điển hình là nhà Mạc. Về Nhân, người dân cư trú trên mảnh đất này có truyền thống yêu nước và cách mạng sớm, đặc biệt có chi bộ Đảng sớm nhất ở Việt Bắc. Ngoài ra, trên bước đường hoạt động cách mạng của mình, người dân tộc thiểu số đầu tiên mà Người gặp là Hoàng Văn Nọn, người Tày Cao Bằng tại Mát-xcơ-va, đã để lại trong Người những ấn tượng tốt đẹp về người Tày và vùng quê của anh. Cuối cùng, trong thời điểm quyết định, đầu tháng 1-1941 diễn ra cuộc gặp gỡ kỳ thú giữa Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Hoàng Văn Thụ, đại diện của Ban Thường vụ Trung ương Đảng từ trong nước sang tại làng Tân Khư, Tĩnh Tây (Trung Quốc). Tại cuộc gặp đó, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã đề nghị Người về nước theo hướng Cao Bằng vì trình độ giác ngộ của dân chúng tương đối cao và đội ngũ cán bộ lãnh đạo khá vững vàng.

Theo sự chỉ dẫn của Bác, trước đó một tháng, Vũ Anh đã tìm được một nơi “bí mật, có hàng rào quần chúng bảo vệ và có đường rút lui”. Đó là hang Cốc Bó thuộc bản Pác Bó, huyện Hà Quảng, địa thế hiểm trở. Hang thông ra một con đường kín dẫn sang bên kia biên giới, có thể rút lui an toàn khi bị lộ. Cách đó không xa là bản Pác Bó, một hàng rào quần chúng bảo vệ rất tốt.

Ngày 28-1-1941, sau một thời gian chuẩn bị chu tất, Nguyễn Ái Quốc cùng Phùng Chí Kiên được Dương Đại Lâm dẫn đường, vượt biên giới Việt-Trung ở cột mốc 108 về nước. Đầu tiên Người được bố trí sống trong nhà dân ở bản Pác Bó. Từ ngày 8-2-1941, Người sống và làm việc tại hang Cốc Bó. Từ đó Cốc Bó trở thành đầu nguồn của cách mạng. Tại lán Khuổi Nậm, cách hang không xa, tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ Tám, hoàn thiện sự chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam đã được khởi động từ Hội nghị Trung -ương VI dưới sự chủ trì của Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ tháng 11-1939. Hội nghị chủ trương tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi sau đó mới làm cách mạng tư sản dân quyền. Vấn đề dân tộc được đặt lên trên hết và trước hết: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Lần đầu tiên, mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc được giải quyết một cách thấu đáo như vậy. Không chỉ thế, hội nghị này còn chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của từng nước Đông Dương: “Sau lúc đánh đuổi Pháp-Nhật, ta sẽ thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý… Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng… Riêng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đông và mạnh hơn hết ở Đông Dương, sau lúc đánh đuổi được Pháp-Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ”. Vì thế, hình thức tập hợp lực lượng cách mạng cũng thay đổi – Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, được thành lập thay cho Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương không còn thích hợp. Cùng với hai vấn đề chiến lược trên, Hội nghị quyết định chuyển công tác Đảng về nông thôn là nơi chính quyền thực dân lỏng lẻo và chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Tám chính là sự chuẩn bị đường lối chính trị quyết định cho sự thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Và Cao Bằng với “Ba mặt “Tam giang” trôi cuồn cuộn. Bốn bề “Tứ trụ” đứng chon von” đã trở thành chỗ đứng chân đầu tiên khi Nguyễn Ái Quốc về nước sau 30 năm hoạt động nơi góc bể chân trời. Từ đó mà đến tháng 6-1945 ta có Khu Giải phóng gồm 6 tỉnh (Cao – Bắc – Lạng – Hà – Tuyên – Thái) để đến tháng 8 năm 1945 ta được cả nước Việt Nam từ Lũng Cú đến mũi Cà Mau. Được tất cả những điều đó thực sự bắt đầu từ chọn đúng đột phá khẩu – Cao Bằng

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Tết Mậu Thân 1968 – 2008: Mùa xuân năm ấy

(Dân trí) – Kết thúc chiến dịch X2, tôi được cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng 3 và được tập thể đơn vị chọn đi báo cáo điển hình ở Đại hội chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Đà.

Đại hội xong, tôi mới vừa về đến đơn vị Đặc công tiểu đoàn 489, thì được cấp trên điều sang nhận nhiệm vụ đặc biệt, với chức vụ Đại đội trưởng đại đội Đặc công biệt động (Lê Độ) vào Đà Nẵng hoạt động đơn tuyến hợp pháp, nhiệm vụ được giao là điều tra một số cơ quan đầu não của Mỹ – Ngụy ở Quảng Nam – Đà Nẵng.

Hoạt động được một thời gian, tôi trở ra vùng giải phóng gặp đồng chí Phạm Như Hiền (Kim) quận đội trưởng quận 2 Đà Nẵng để báo cáo kết quả những việc đã làm và nhận lệnh khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch mùa xuân Kỷ Dậu.

Báo cáo và nhận lệnh xong, với giấy thông hành hợp pháp, tôi về lại Đà Nẵng vào những ngày thời gian sắp gõ cửa nàng xuân. Hoa mai vàng cùng với các loài hoa khác nở rộ, khoe sắc, đua màu như để đón chào một mùa xuân mới.

Năm đó, lần đầu tiên trong quãng đời binh nghiệp của mình, tôi phải ăn tết xa đồng đội: ở nơi đô thành hoa lệ, nơi sào huyệt của quân thù ở vùng I chiến thuật, nơi mà bọn chúng từng rêu rao “bất khả xâm phạm” đối với “Việt cộng”.

Nhưng chính nơi này, chúng đã kinh hồn, khiếp vía, phải chui rúc, náu mình vào các hầm ngầm cố thủ. Vì những tiếng súng của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng, cùng với tiếng súng của quân và dân toàn miền Nam trong đợt tổng tiến công nổi dậy đêm giao thừa của Tết Mậu Thân 1968 và các chiến dịch kế tiếp. Nên tết này, chúng ra sức bố phòng rất nghiêm ngặt, sợ Việt cộng lặp lại mùa xuân năm trước.

Chiều 30 Tết, tôi xuất hiện trên đường phố Đà Nẵng với bộ binh phục rằn ri của lính biệt động, mang lon thiếu uý, đi honda trong thành phố, qua các nơi: khách sạn Đà Nẵng, nơi có nhiều lính Mỹ đồn trú, Nha cảnh sát Trung phần, Ty cảnh sát Gia Long để quan sát, kiểm tra về cách bố phòng của chúng trong dịp Tết.

Sau đó tôi chạy thẳng đến chợ Vườn Hoa, chọn mua một cành hoa mai, chạy ra đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) vào nhà ông Võ Xuân Định và bà Lê Thị Dưa (cháu của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn) ở số 90B, là cơ sở cách mạng. Chủ nhà nhận cành mai đặt ở phòng khách ngày Tết, cài lên cành mai vàng những thiếp Cung chúc Tân Xuân.

Bữa cơm chiều 30 đón ông bà xong, chủ nhà dẫn tôi lên tầng 2 đưa cho tôi một chiếc radio nhỏ. Tắt điện, rồi bước nhanh xuống tầng dưới, tôi nằm áp sát máy vào tai, lắng nghe những bài hát ngợi ca Đảng, ngợi ca mùa xuân bất tận, mà lòng nao nao, mong sao chóng đến giờ giao thừa, để nghe Bác Hồ chúc tết.

Bỗng tiếng chuông đồng hồ ở phòng dưới reo lên như “tiễn chân” năm cũ. Tiếng Bác Hồ ấm áp vang xa:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến ắt càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Tôi không cầm được nước mắt, vì quá xúc động với những lời thơ chúc tết của Bác Hồ. Đó là mệnh lệnh, tiếng kèn xông trận trên khắp các chiến trường miền Nam, là niềm tin tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

Tôi càng thấy trách nhiệm của mình rất nặng nề, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của trận tuyến ngầm mà cấp trên đã giao phó để góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân, sớm đón Bác vào thăm miền Nam. Nhưng có ngờ đâu, lần chúc tết năm đó cũng là tết cuối cùng của Bác trước lúc đi xa…

Sáng ngày mùng 1 tết, tôi mặc bộ veston thẳng tắp, với giấy thông hành là thương gia, giả đi chúc tết một số gia đình bà con tộc họ, nhưng thực ra là đi kiểm tra cơ sở, vũ khí và quân đã chuyển vào đến đâu, để đảm bảo cho trận đánh thắng lợi, khi có lệnh.

Sau khi cưỡi honda chạy quanh thành phố một vòng, soát xét lại toàn bộ tình hình địch, tối mùng 1 tết, tôi nhận được mật lệnh từ vùng giải phóng giao nhiệm vụ tiếp theo, tôi hợp pháp ra vùng giải phóng ở thôn 1, xã Điện Ngọc, gặp anh Phạm Như Hiền để báo cáo kế hoạch và kết quả công tác chuẩn bị.

Anh Hiền phê duyệt phương án tác chiến do tôi trình bày, rồi giao từng nhiệm vụ cụ thể, bổ sung thêm một số chi tiết trong phương án tác chiến và quy định giờ hợp đồng nổ súng. Chia tay anh, tôi trở lại Đà Nẵng.

Sáng mùng 5 tết, không khí vui tết, đón xuân vẫn còn ấm cúng trong mỗi gia đình, trầm hương nghi ngút trên bàn thờ tổ tiên, nhưng ngoài đường thì người đi vãn cảnh, du xuân rất ít. Vì khắp các nẻo đường, góc phố, ở đâu cũng có trạm kiểm soát giấy tờ và lục soát khi có nghi vấn của bọn cảnh sát dã chiến, làm cho không khí ngày xuân lắng xuống rất nhanh.

Trước giờ G (23 giờ) là giờ các chiến sĩ đặc công biệt động nổ súng, thì lúc 21 giờ, tôi chẳng may sa vào tay giặc, vì một tên phản bội chỉ điểm. Chúng đưa tôi vào giam ở sở an ninh quân đội để khai thác suốt một tuần, rồi chuyển tôi về giam ở Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình.

Tên Lê Văn Tiến trưởng phòng thẩm vấn trực tiếp tra khảo, khai thác tôi. Dùng đủ ngón nghề ác độc, hòng bắt tôi phải khai ra những cơ sở cách mạng trong thành phố và kế hoạch hoạt động của ta trong mùa xuân này, nhưng tôi cắn răng chịu đựng những cực hình đòn roi thiếu sống, thừa chết.

Chúng không moi được lời nào của tôi ngay từ khi mới bị bắt, nên giờ G, các điểm nằm trong kế hoạch tác chiến đồng loạt nổ súng, làm cho kẻ địch bất ngờ với lối đánh “xuất quỷ, nhập thần” của đặc công biệt động.

Sau mấy ngày giam cầm, tên Tiến lại tra hỏi tiếp: Đêm giao thừa, mày có nghe thơ chúc tết của ông Hồ không?

Sao lại không – Tôi sảng giọng – Đối với những người cách mạng thì đó là mệnh lệnh, là niềm tin tất thắng để chiến đấu quét sạch bọn Mỹ xâm lược ra khỏi đất nước.

Nó lại hỏi tiếp: Mày tin à?

Sẽ có mùa xuân Bắc – Nam sum họp như lời thơ của Bác, chứ không như ông (tên phản bội) nên ông mới làm tay sai cho bọn Mỹ, can tâm bắt tôi tra tấn.

Nghe tôi trả lời vậy, tên Tiến nhột ý, vứt dùi cui xuống đất, kêu bọn cấp dưới đưa tôi về xà lim, rồi lần lượt đưa đi giam khắp các lao tù. Và cuối cùng mở phiên toà quân sự lưu động đặc biệt kết án tử hình.

Nhưng tôi kiên quyết đấu tranh với bọn chúng. Tôi nói: “Nều các ông xử tôi, thì lập tức các đồng đội của tôi sẽ bắt 2 tù binh Mỹ thế mạng”. Chắc chúng sợ quan thầy của chúng nên sau khi nghị án, chúng hạ mức tù xuống còn chung thân, đầy ra Côn Đảo “hưởng” trọn 5 “mùa xuân” tại phòng biệt giam cấm cố ở địa ngục trần gian.

Đến tháng 2/1974, theo Hiệp định Paris, tôi được chúng trao trả về với cách mạng, tham gia giải phóng thành phố Đà Nẵng trong mùa xuân đại thắng năm 1975.

Xuân Mậu Tý này là tròn 39 mùa xuân, nhân dân và tôi được hưởng những mùa xuân trong khung cảnh đất nước thành bình, tự do, không còn những mùa xuân u ám, súng nổ, bom rền của thời Mỹ – Ngụy nhưng tôi không làm sao quên được những kỷ niệm đẹp đẽ của đời mình trong mùa xuân năm ấy.

Phạm Thành Nghi
(Ghi theo lời Nguyễn Đình Tham kể)
dantri.com.vn