Thư viện

Sự chỉ đạo sáng tạo, linh hoạt của Đảng với Đường Hồ Chí Minh trên biển

QĐND – Ngay từ khi mới bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã sớm khẳng định công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định.

Năm 1959, sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Cách mạng miền Nam có bước phát triển mạnh mẽ. Yêu cầu về người và vũ khí ngày càng lớn.

Nhằm đáp ứng yêu cầu trên, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, đầu tháng 5-1959, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) và Bộ Tổng tư lệnh thành lập Đoàn 559, có nhiệm vụ mở đường giao liên và vận tải trên bộ, đưa người, vũ khí cùng những mặt hàng thiết yếu từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường.

Bác Hồ thăm Bộ đội Hải quân tại đảo Vạn Hoa (Quảng Ninh), năm 1962. Ảnh tư liệu.

Đồng thời với việc tổ chức tuyến đường trên, tháng 7-1959, Bộ Chính trị giao cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nghiên cứu mở tuyến vận chuyển chi viện chiến lược trên biển. Theo nhận định của Bộ Chính trị, trong 3 đến 4 năm tới, dù cố gắng đến mức cao nhất, Đoàn 559 cũng chưa thể mở được đường vận tải dọc theo dãy Trường Sơn vào các chiến trường xa là Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Đường biển sẽ là hướng rất quan trọng vì có thể vận chuyển từng chuyến tương đối lớn, nhanh hơn, kịp thời hơn vào các chiến trường trên. Vì vậy, một mặt Bộ Chính trị giao cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo các cơ quan khẩn trương khảo sát hàng hải, nắm địch, tổ chức bến bãi, mặt khác chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ đưa thuyền ra miền Bắc nhận vũ khí.

Sau một thời gian nghiên cứu chuẩn bị, ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759 vận tải quân sự đường biển. Được sự quan tâm chỉ đạo của cấp trên, sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của cấp ủy, chính quyền và nhân dân một số địa phương, Đoàn 759 nhanh chóng xây dựng lực lượng, chuẩn bị phương tiện, tổ chức trinh sát nhằm nắm chắc quy luật tuần tra, ngăn chặn trên biển của địch; hiệp đồng với các tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ xây dựng các bến bãi tiếp nhận và tổ chức lực lượng vận chuyển vũ khí. Theo yêu cầu của đoàn, Bộ Quốc phòng làm việc với Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ cho Xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng bí mật nghiên cứu đóng loại tàu vỏ gỗ gắn máy đúng theo kiểu dạng ngư dân Nam Bộ vẫn sử dụng để phục vụ cho công tác vận chuyển.

Tổng bí thư Lê Duẩn thăm Đoàn 125. Ảnh tư liệu.

20 giờ ngày 11-10-1962, chiếc tàu vỏ gỗ đầu tiên chở hơn 30 tấn vũ khí mang mật danh Phương Đông I do đồng chí Lê Văn Một làm Thuyền trưởng, đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên, cùng 13 cán bộ, đảng viên rời bến Vạn Sét (Đồ Sơn) lên đường vào Nam Bộ. Do tính chất quan trọng của chuyến đi, cán bộ, chiến sĩ tàu Phương Đông I được các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phạm Hùng (Phó thủ tướng Chính phủ); Nguyễn Chí Thanh (Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương) và các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Ung Văn Khiêm (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao); Phan Trọng Tuệ (Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải); Nguyễn Văn Vịnh (Trưởng ban Thống nhất Trung ương); Trần Văn Trà (Phó tổng Tham mưu trưởng) xuống tận nơi động viên, đưa tiễn. Sáng 19-10, tàu Phương Đông I vào cửa Bồ Đề và cập bến Vàm Lũng (xóm Rạch Gốc, xã Tân An, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau) an toàn.

Tuyến chi viện chiến lược – Đường Hồ Chí Minh trên biển chính thức được khai thông. Khu ủy Khu 9 lập tức điện báo cho Trung ương. Nhận được tin vui, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngay điện khen ngợi những người trực tiếp góp công sức lập nên chiến công đầu tiên. Người chỉ thị: “Hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh hơn nữa, nhiều hơn nữa vũ khí cho đồng bào miền Nam giết giặc, cho Nam Bắc sớm sum họp một nhà”(1). Tin vui đến với Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông đang chủ trì cuộc họp Quân ủy Trung ương. Quá mừng vui và xúc động, ông đề nghị hội nghị tạm giải lao, liên hoan nhẹ để mừng thành công của chuyến đi lịch sử này(2).

Xuất phát từ tình hình thực tế không thể cứ dùng tàu vỏ gỗ, Bộ Chính trị giao cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Quốc phòng nghiên cứu đóng tàu vỏ sắt có khả năng chịu đựng sóng gió tốt hơn, tốc độ cao hơn, trọng tải lớn hơn. Xưởng đóng tàu 3 Hải Phòng vinh dự được giao nhiệm vụ đóng loại tàu mới này. Ngày 8-12-1963, chiếc tàu vỏ sắt có trọng tải 100 tấn đầu tiên đã được đóng xong và được giao cho Đoàn 759. Trong năm 1964, các tàu 2, 3, 4, 5, 6 lần lượt được hạ thủy và được sử dụng ngay. Sau này, Bộ tư lệnh Hải quân còn đặt các xưởng đóng tàu ở Hải Phòng và nước bạn Trung Quốc đóng hàng chục tàu vỏ sắt trọng tải từ 50 tấn đến 100 tấn để phục vụ cho hoạt động của Đoàn 759.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện với Tiểu đoàn 1, Đoàn 125, năm 1969. Ảnh tư liệu.

Đồng thời với việc vận chuyển vào Nam Bộ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Hải quân nghiên cứu mở đường vận chuyển vũ khí bằng đường biển vào Nam Trung Bộ – một chiến trường có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Vận chuyển bằng đường biển vào Nam Trung Bộ tuy cung đường ngắn hơn nhưng lại hết sức khó khăn, nguy hiểm. Khó khăn lớn nhất là tìm địa điểm tổ chức bến bãi. Địa hình vùng ven biển Nam Trung Bộ trống trải, độ dốc lớn, không có nhiều kênh rạch và rừng ngập mặn như ở Nam Bộ. Các cửa sông mà tàu ta có thể vào để giao hàng thì đã dày đặc đồn bốt và căn cứ hải quân của địch. Đây lại là vùng nằm dọc theo Quốc lộ 1 nên địch tổ chức tuần phòng rất gắt gao. Cũng giống như ở Nam Bộ, việc tổ chức xây dựng các bến bãi ở Nam Trung Bộ đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của cấp ủy Đảng và nhân dân các địa phương. Tính đến năm 1965, hàng chục bến bãi tiếp nhận vũ khí đã được bí mật xây dựng ở một số tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chính hệ thống bến bãi tiếp nhận kể trên cùng với các bến xuất phát ở Hải Phòng, Quảng Ninh… đã góp phần rất quan trọng cùng các con tàu không số làm nên những chiến công huyền thoại.

Sau khi Tàu 143 bị địch phát hiện ở Vũng Rô, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương chỉ thị: Phải dừng ngay việc vận chuyển bằng đường biển vào miền Nam. Cần tổ chức rút kinh nghiệm sâu sắc về việc này từ cơ quan cấp trên đến đơn vị cơ sở để tiếp tục làm tốt hơn. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Quân ủy Trung ương chỉ đạo Bộ tư lệnh Hải quân và Đoàn 125 khẩn trương tiếp tế đạn dược cho các chiến trường. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc, ngày 3-5-1972, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết về nhiệm vụ chống phong tỏa thủy lôi bảo đảm giao thông vận tải biển. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ngày 24-3-1975, Quân ủy Trung ương báo cáo với Bộ Chính trị: Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo do quân ngụy đang chiếm giữ…

Như vậy, từ đầu cho đến kết thúc chiến tranh, trong từng thời điểm, giai đoạn cụ thể, Đảng ta luôn chỉ đạo sát sao, cụ thể và có những quyết sách chính xác với Đường Hồ Chí Minh trên biển. Cùng với Đường Hồ Chí Minh trên bộ, Đường Hồ Chí Minh trên biển là một sáng tạo chiến lược của Đảng và là kỳ công chiến lược của dân tộc ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

————

(1)Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb QĐND, H, 1992, tr.162.

(2)Dẫn theo: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2006, tr.151.

Đại tá, TS Vũ Tang Bồng
qdnd.vn

Chân tướng đối phương trên chiến trường Khu 5

QĐND – Với phương châm “biết địch biết ta”, đội ngũ cán bộ địch vận các đơn vị thuộc chiến trường Liên khu 5 đã phác họa những nét chân dung cơ bản về đối tượng sĩ quan Quân đội Sài Gòn nhằm phục vụ cho cuộc chiến “tâm công” vào hàng ngũ đối phương. Tư liệu dưới đây đề cập tới các viên tướng thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn 1, việc khai thác được tiến hành vào thời điểm tháng 12-1973.

Ngô Quang Trưởng khi đang là Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn 1 của Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Viên Tư lệnh Quân đoàn 1 Ngô Quang Trưởng xuất thân trong một gia đình điền chủ giàu có ở tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), tháng 11-1953 Trưởng tình nguyện đi lính cho Pháp, sau đó được cho đi học sĩ quan. Là sĩ quan gốc lính dù do Pháp đào tạo, năm 1954 Trưởng đã được chuyển ra Bắc bổ sung cho Tiểu đoàn 5 nhảy dù – một đơn vị lính ngụy sừng sỏ thời đó. Thật không may, lúc đó quân Pháp ở Điện Biên Phủ đang có nguy cơ bị tiêu diệt và khi Trưởng ra tới ngoài Bắc thì hai phần ba Tiểu đoàn dù 5 đã được ném xuống lòng chảo Điện Biên. Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, người Pháp thua trận, Trưởng may mắn sống sót và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn dù còn sót lại. Khi Tiểu đoàn dù 5 được lệnh chuyển vào Nam, Ngô Quang Trưởng lại được coi như một viên sĩ quan trẻ “dày dạn trận mạc”, từng “chết hụt” ở lòng chảo Điện Biên… Cứ thế, đường binh nghiệp của viên sĩ quan dù này tiếp tục trở nên hanh thông. Năm 1964, Trưởng là Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù 5, đầu năm 1966 được thăng cấp Đại tá và làm Lữ trưởng Lữ dù.

Sau khi tham gia vụ đàn áp Phật giáo, tháng 6-1966, Trưởng được điều sang làm Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh. Tháng 2-1967, Trưởng được thăng cấp Chuẩn tướng. Sau sự kiện Mậu Thân 1968, Sư đoàn 1 do Trưởng làm Tư lệnh được Mỹ trang bị vũ khí tối tân, được huấn luyện chiến thuật mới nhằm phô trương thanh thế. Nhờ vậy, hình ảnh “cần mẫn” của Trưởng luôn cặp kè cùng các chuyên viên huấn luyện Mỹ và gây tiếng vang lớn trên báo chí cũng như dư luận Sài Gòn. Viên Tư lệnh sư đoàn đã được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng, trở thành một viên Tư lệnh “tài ba” nắm giữ Sư đoàn “Anh cả đỏ” của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Năm 1971, Trưởng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 4 thuộc Vùng 4 Chiến thuật. Tháng 4 năm sau, Trưởng được điều ra làm Tư lệnh Quân đoàn 1 và sau đó được thăng cấp Trung tướng.

Theo tù hàng binh cung cấp và qua dư luận báo chí Sài Gòn, ở thời điểm cuối năm 1973, Ngô Quang Trưởng được coi là một viên tướng “xông xáo”, hăng tác chiến, được sĩ quan dưới quyền và binh sĩ kính nể, được Tổng thống Thiệu tin dùng. Cũng có thông tin sở dĩ viên tướng 3 sao này được nhanh cất nhắc và thường được giao những nhiệm vụ quan trọng còn do Trưởng luôn coi phu nhân Tổng thống là “người nhà”.

“Thành đạt” hơn anh trai

Tư lệnh phó Quân đoàn 1 Lâm Quang Thi sinh năm 1932, quê ở Bạc Liêu, đi lính tháng 10-1950 và tốt nghiệp Khóa 3 Trường Võ bị Đà Lạt. Là lính gốc binh chủng pháo binh.

Sau khi tốt nghiệp, Thi được cho đi học pháo binh ở Pháp, sau đó về chỉ huy pháo binh cho quan thầy trong các năm từ 1946-1954. Năm 1963, với quân hàm Trung tá, Thi được điều về Bộ tư lệnh Pháo binh, sau đó làm Phụ tá hành quân ở Tiền Giang. Hai năm sau, khi ở tuổi 33, Thi được phong Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 9 bộ binh; năm 1967 được phong Chuẩn tướng.

Cũng thuộc phe cánh, “người nhà” của Nguyễn Văn Thiệu nên trong năm 1969 Thi được phong Thiếu tướng và về làm Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt từ 1969-1972. Sau đó, người về thay Lâm Quang Thi ở vị trí Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt (từ tháng 3-1972 cho tới ngày thất thủ Sài Gòn) lại chính là anh trai Thi – Thiếu tướng Lâm Quang Thơ – trước đó Thơ đang là Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh.

Thi được thăng cấp Trung tướng năm 1972 và được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Quân đoàn 1 kiêm Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1. Theo khai báo của tù binh, Thi là người tính tình nóng nảy, mặc dù là lính gốc binh chủng pháo binh nhưng lại khá dày dạn, có nhiều kinh nghiệm chiến trường và trình độ tham mưu được quan thầy đánh giá đạt mức khá.

Tướng “xây dựng nông thôn”

Tư lệnh phó Quân đoàn 1 Huỳnh Văn Lạc sinh năm 1927, quê ở Nam Định. Lạc xuất thân từ một thiếu sinh quân rồi đi lính cho Pháp từ năm 1947, sau đó được cử đi học sĩ quan tại Trường Sĩ quan Huế.

Năm 1957, Lạc đã là Trung tá, Tư lệnh Lữ đoàn liên minh phòng vệ Tổng thống, hai năm sau được giao chức Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Giang. Năm 1961 Lạc được phong Đại tá và được cử làm Đặc ủy viên phụ trách kế hoạch bình định ở Vùng 3 chiến thuật; năm 1966 là Tổng ủy viên xây dựng nông thôn, sau đó là Thứ trưởng xây dựng nông thôn. Hai năm sau, Huỳnh Văn Lạc được phong Chuẩn tướng và vẫn làm Thứ trưởng xây dựng nông thôn. Tới năm 1970, khi ở tuổi 43, Lạc nhận lon Thiếu tướng và được giao làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung – một Trung tâm làm nhiệm vụ “san sẻ” gánh nặng đào tạo sĩ quan cho các Trường bộ binh, nơi các khóa sinh phải trải qua khóa học 9 tuần trước khi được đào tạo tại các trường sĩ quan.

Năm 1973, Huỳnh Văn Lạc leo lên chức Tư lệnh phó Quân đoàn 1. Viên tướng này có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và luôn tỏ ra là một người kín đáo.

Vũ Minh
qdnd.vn

Từ Hội thề Rừng Rong năm ấy

QĐND-Tại xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh có một địa danh đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia, đó là Căn cứ cách mạng Rừng Rong. Tại đây, vào đêm 30 Tết Ất Dậu, nhằm ngày 1-2-1946, nhóm thanh niên yêu nước An Tịnh gồm 27 người, đã tổ chức cắt máu ăn thề, thành lập tổ chức cách mạng Hội thề Rừng Rong, tham gia kháng chiến chống Pháp. Một trong những thanh niên tham gia sáng lập Hội thề là Nguyễn Thới Bưng (Út Thới).

Khẩu súng Klip và trận chiến “Châu chấu đá xe”

Thật may mắn cho chúng tôi khi đang liên lạc để xin gặp Trung tướng Nguyễn Thới Bưng thì cũng là lúc nhà báo lão thành Đinh Phong và ê kíp làm phim đang thực hiện bộ phim tài liệu về vị tướng già miền Đông Nam Bộ. Ở tuổi 87, sức khỏe của Trung tướng Nguyễn Thới Bưng không cho phép ông làm việc nhiều. Mà cuộc đời binh nghiệp của ông thì mỗi giai đoạn gắn với những sự kiện lịch sử của quân đội và đất nước đều ăm ắp những tư liệu sống. Nhà báo Đinh Phong là người gần gũi, thân thiết với Trung tướng Nguyễn Thới Bưng từ nhiều năm nay. Tôi gặp nhà báo Đinh Phong để xin ông tư vấn, viết về Trung tướng Nguyễn Thới Bưng thì nên chọn giai đoạn nào để có một “lát cắt” điển hình? Nhà báo Đinh Phong nói: “Đó là giai đoạn khởi đầu sự nghiệp. Những giai đoạn lịch sử sau này có thể còn nhiều nhân chứng, nhiều tư liệu, nhưng thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và Nam Bộ kháng chiến thì những chứng nhân lịch sử như Trung tướng Nguyễn Thới Bưng hiện còn rất ít. Những người làm báo, viết văn như chúng ta cần phải biết chạy đua với thời gian”.

Nhà báo Đinh Phong đã rất tận tình dẫn tôi đến gặp Trung tướng Nguyễn Thới Bưng và hỗ trợ, cung cấp cho tôi nhiều thông tin, tư liệu quý về vị tướng già trưởng thành từ thời kỳ tiền khởi nghĩa. Tác phẩm điện ảnh về Trung tướng Nguyễn Thới Bưng của nhà báo Đinh Phong đang trong giai đoạn gấp rút hoàn thành. Trong đó, ông dành thời lượng đáng kể tái hiện, khắc họa chân dung vị tướng của quê hương Tây Ninh trong thời kỳ đầu được giác ngộ cách mạng. Câu chuyện được lấy cảm hứng từ cụm công trình tưởng niệm ở Di tích Rừng Rong, nổi bật là tượng đài thể hiện hình tượng những thanh niên trai tráng, vạm vỡ, giơ cao cánh tay xin thề “Chết tự do hơn sống nô lệ” mà Nguyễn Thới Bưng là một nguyên mẫu nhân vật gắn với khu rừng huyền thoại này.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể chuyện với các nhà báo về ký ức Rừng Rong.

Dù tuổi cao, sức yếu nhưng Trung tướng Nguyễn Thới Bưng vẫn còn khá minh mẫn. Ông sinh năm 1925 nhưng trong hồ sơ thì khai sinh năm 1927. Ông kể: “Hồi đó tui đã quá tuổi đi học nên muốn đến trường thì phải khai “ăn gian” 2 tuổi. Hồi đó được đi học là một vinh dự lớn lắm”.

Nhưng rồi được một thời gian, người thanh niên Út Thới đã từ bỏ con đường học hành để đi theo cách mạng. Sự kiện đầu tiên ghi dấu tinh thần giác ngộ cách mạng của Út Thới là vào ngày 25-8-1945, anh hăng hái tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại huyện Trảng Bàng. Tham gia vào lực lượng Thanh niên tiền phong An Tịnh từ tháng 7-1945 nhưng Trung tướng Nguyễn Thới Bưng lại lấy ngày 23-9-1945 làm ngày nhập ngũ. Chuyện này được ông giải thích: “Lớp bạn bè của tui ngày đó đều lấy ngày 23-9-1945 làm ngày nhập ngũ để kỷ niệm dấu mốc quan trọng trong cuộc đời mình”. Đó cũng là ngày tổ chức Giải phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa tổ chức lực lượng tham gia Nam Bộ kháng chiến, quyết tâm chặn bước tiến của quân Pháp đánh vào tỉnh lỵ Tây Ninh. Út Thới tham gia vào Chi đội 12 thuộc tổ chức liên quận, do đồng chí Tô Ký làm Chi đội trưởng. Ngày 23-9-1945, khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, lực lượng Giải phóng quân liên quận ở Tây Ninh tổ chức triển khai đội hình, xây dựng các tuyến phòng thủ sẵn sàng chiến đấu. Trước đó, để chuẩn bị cho cuộc tấn công, quân đội Pháp yêu cầu lực lượng của Nhật ở Tây Ninh phá hoại các căn cứ, trận địa phòng tuyến của ta nhưng trước sự kháng cự quyết liệt của ta và ở cái thế rệu rã, bạc nhược của kẻ thất trận, giặc Nhật không làm gì được. Hưởng ứng lời kêu gọi đánh Pháp của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam bộ, ngày 25-9-1945, Út Thới cùng lực lượng thanh niên Trảng Bàng gồm hơn 100 người lập phòng tuyến mặt trận Suối Sâu – chiến lũy địa đầu của tỉnh Tây Ninh, chặn đánh địch. Họ đào công sự, lập phòng tuyến phòng thủ linh hoạt và phục kích địch ở những nơi bất ngờ. Toàn đội chỉ có một khẩu súng Klip 12, còn lại là lựu đạn và những vũ khí thô sơ. Út Thới được cấp trên tin tưởng, tín nhiệm giao cho trọng trách sử dụng khẩu súng này. Ngày 8-11-1945, địch huy động đội hình hành quân lên đến hàng trăm xe quân sự, trong đó có nhiều xe tăng, bọc thép rầm rộ tiến quân theo Quốc lộ 1 (nay là Quốc lộ 22) từ Sài Gòn tiến lên Tây Ninh.

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng nhớ lại thời khắc oanh liệt đó: “Nhìn thấy đoàn xe địch như những con trâu mộng ầm ầm tiến vào, từ phòng tuyến hai bên vệ đường, chúng tôi đồng loạt tung bộc phá, ném lựu đạn. Tôi nâng khẩu súng Klip nhắm thẳng vào những chiếc xe đi đầu nhả đạn. Địch trên xe bắn ra như vãi trấu. Trận chiến chẳng khác gì “châu chấu đá xe” nên chúng tôi không thể ngăn được bước tiến quân địch. Giặc Pháp sau đó đã chiếm được tỉnh lỵ Tây Ninh.

Vang danh Hội thề Rừng Rong

Sau khi chiếm đóng Tây Ninh, thực dân Pháp dựng lại bộ máy tay sai từ các chủ đồn điền phản động. Chúng tăng cường đàn áp, đốt nhà, bắn giết những người dân vô tội. Trước tình thế quân thù quá mạnh, Út Thới và đồng đội phải rút về rừng Rong xây dựng căn cứ, củng cố lực lượng. Toàn đội có 27 đồng chí, chia thành 4 nhóm. Út Thới làm trưởng của một nhóm. Anh em họp bàn bạc phương hướng tổ chức, đặt ra chương trình hành động cụ thể để phát triển lực lượng, tiến hành hoạt động chính trị kết hợp vũ trang, kháng chiến lâu dài. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng hồi tưởng: “Phương châm hoạt động của đội vũ trang là dựa vào dân, tiến hành nhiều hình thức hoạt động uy hiếp tinh thần địch và tạo niềm tin cho nhân dân như trừ gian, giải tán Hội tề tay sai bù nhìn, tuyên truyền vận động cách mạng trên địa bàn 7 xã của huyện Trảng Bàng. Được sự đùm bọc của nhân dân, chúng tôi đã tổ chức thành công nhiều cuộc cướp súng địch để trang bị cho ta. Sau một thời gian chuẩn bị, chúng tôi đã có trong tay 17 khẩu súng, trong đó có 2 khẩu tiểu liên và nhiều lựu đạn. Đêm Giao thừa Tết Bính Tuất, trước sự chứng kiến của đông đảo bà con nhân dân An Tịnh, 27 chiến sĩ Rừng Rong tuyên bố thành lập tổ chức vũ trang lấy tên là “Hội thề Rừng Rong”. Đứng dưới cờ đỏ sao vàng, anh em cắt máu ăn thề quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, đọc lời tuyên thệ gồm 5 lời thề do anh em tự viết:

1: Độc lập hay là chết. 2: Chết tự do hơn sống nô lệ: 3: Dù đầu râu tóc bạc vẫn còn chiến đấu. 4: Dù phải hy sinh đời cha thì con cháu tiếp tục chiến đấu. 5: Ai phản bội đầu hàng phải bị xử tử.

Gần 3 tháng sau, trước yêu cầu nhiệm vụ phải mở rộng địa bàn, tăng cường các hình thức hoạt động vũ trang, Hội thề chỉ để lại 8 đồng chí bám căn cứ Rừng Rong xây dựng cơ sở cách mạng, làm nòng cốt cho phong trào du kích địa phương. Út Thới và 18 đồng chí còn lại, do đồng chí Trần Văn Chói làm đội trưởng, gia nhập vào Chi đội 12 tham gia chiến đấu trên địa bàn Hóc Môn – Trảng Bàng. Cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra hết sức cam go. Khốc liệt nhất là những trận anh em tổ chức phục kích chống càn, chống quét của quân Lê Dương. Giữ trọn lời thề sắt son với Tổ quốc, anh em của Hội thề đã chiến đấu ngoan cường, lập nhiều chiến công xuất sắc. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể: “Bây giờ, dù đã vào tuổi gần đất xa trời nhưng nghĩ đến anh em đồng đội ngày đó, tui vẫn không cầm lòng được. Chỉ trong 2 năm (1946 – 1947), trong số 19 anh em Hội thề gia nhập Chi đội 12, đã có đến 12 đồng chí hy sinh trong các trận đánh trên quê hương Trảng Bàng”.

Thanh

Cùng với hành trình gian nan, trường kỳ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những chiến sĩ trong Hội thề Rừng Rong về sau đã phát triển giữ những cương vị trọng trách trong các tổ chức chính quyền, cơ quan, đơn vị. Người chiến sĩ Nguyễn Thới Bưng ngày ấy sau này là Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Vị tướng già tâm sự với chúng tôi, giọng bùi ngùi: “Hội thề Rừng Rong ngày ấy, bây giờ chỉ còn lại 4 người, hiện đều sinh sống ở tỉnh Tây Ninh. Đó là anh Lâm Quang Vinh, anh Tô Văn Ri, chị Trần Thị Đường và tui. Cứ vào dịp đầu Xuân hằng năm, anh chị em tụi tui lại tụ hội về chiến trường xưa, dâng hương tri ân đồng đội. Mấy năm trước còn đi được đông đủ nhưng dịp Tết vừa rồi, chỉ có 3 anh em tui, còn chị Đường không đi được vì sức khỏe yếu. Chẳng ai chống được quy luật nghiệt ngã của thời gian. Điều khiến tụi tui thấy ấm lòng là thế hệ trẻ hôm nay ngày càng có nhiều người quan tâm, tìm hiểu, đề cao giá trị của lịch sử, truyền thống. Mỗi lần gặp đồng đội cũ, thăm chiến trường xưa hay có những cuộc tiếp xúc như thế này, tui lại thấy cái thời trai trẻ ấy vẫn đang ở trong tim mình”.

Bia đá, tượng đài đã được xây dựng, uy nghi, hùng tráng giữa đất trời An Tịnh. Di tích lịch sử cấp quốc gia này đã trở thành một địa chỉ về nguồn, hằng năm thu hút hàng vạn lượt du khách đến tham quan, tưởng niệm. Trên văn bia vinh danh các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trên mảnh đất An Tịnh, có đến 54 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 7 Anh hùng LLVT nhân dân, hơn 1000 liệt sĩ. Tất cả đều là những người chiến sĩ kiên trung đã ngã xuống trên mảnh đất An Tịnh đầy máu và hoa.

Bài và ảnh: Hạnh Dương
qdnd.vn

Đô đốc Giáp Văn Cương trong ký ức của những người giữ biển

QĐND-Đô đốc Giáp Văn Cương, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hải quân kính trọng, bởi ông là một vị tướng có tầm nhìn chiến lược với những quyết sách táo bạo, đúng đắn. Ông cũng là một tấm gương về lòng nhân ái, có lối sống trung thực, thẳng thắn, giản dị và tiết kiệm.

Vị Tư lệnh có tầm nhìn chiến lược

Đại tá Nguyễn Trương, nguyên Chánh Văn phòng Bộ tư lệnh Hải quân-kiêm Bí thư cho Đô đốc Giáp Văn Cương xúc động khi nhớ lại những ngày tháng được giúp việc cho Tư lệnh: “Dường như Tư lệnh không có ngày nghỉ. Ông luôn dành nhiều thời gian và tâm huyết theo dõi và nắm chắc tình hình biển, đảo để có cơ sở vững chắc hoạch định chính xác phương hướng xây dựng Quân chủng Hải quân vững mạnh toàn diện. Chính vì vậy, từ những ngày đầu làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương đã có những quyết sách đúng đắn, đề ra phương hướng xây dựng hải quân toàn diện, đồng bộ, có nhiều thành phần lực lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo”.

Ngay từ khi nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương chỉ đạo tập trung xây dựng lực lượng tàu mặt nước phù hợp với nền kinh tế của đất nước và điều kiện biển, đảo của Việt Nam, trong đó quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ thuyền. Xác định đất nước ta có bờ biển dài và có nhiều đảo xa bờ nên ông quan tâm đến lực lượng Hải quân đánh bộ, đặc công nước, pháo binh – tên lửa bờ biển. Các lực lượng này giữ vai trò quan trọng trong cấu thành lực lượng của hải quân hiện đại nói chung và Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng.

Đô đốc Giáp Văn Cương (ngoài cùng, bên trái) đón Đại tướng Lê Đức Anh thăm Trường Sa.

Trong tầm nhìn chiến lược của mình, Đô đốc Giáp Văn Cương cho rằng: Hải quân Việt Nam không thể thiếu các binh chủng không quân hải quân và tàu ngầm. Cùng với việc xây dựng các trung đoàn, lữ đoàn cơ động trực thuộc Quân chủng vững mạnh toàn diện, ông luôn quan tâm đến chất lượng các căn cứ, các vùng hải quân, các lữ đoàn thuộc vùng và các cơ sở bảo đảm kỹ thuật trên bờ để phục vụ các lực lượng của vùng, của Quân chủng thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất.

Nhiều cán bộ cao cấp của hải quân làm việc cùng thời với Tư lệnh Giáp Văn Cương đều nói rằng: Những năm làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, ông đặc biệt quan tâm đến hoạt động tác chiến. Để các lực lượng tác chiến thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, xử lý nhanh nhạy các tình huống trên biển, ông chỉ đạo cơ quan, đơn vị chăm lo bổ sung, kiện toàn, mở rộng và nâng cấp lực lượng bảo đảm cho tác chiến như: Thông tin, ra-đa, quan sát biển, trinh sát, bảo đảm hàng hải, công binh chiến đấu… Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, vũ khí trang bị của hải quân còn nhiều mặt hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong Quân chủng, đồng thời phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả nước để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Vị tướng của Trường Sa, nhà giàn DK1

Ở Trường Sa và nhà giàn DK1 cuối những năm 80 của thế kỷ 20, không ai có thể quên hình ảnh vị tướng già mặc quần đùi đu lên nhà giàn quá đơn sơ lúc ấy để kiểm tra độ an toàn cho chiến sĩ, rồi vị Tư lệnh 68 tuổi chào cờ cùng anh em và xắn quần lặn lội để kiểm tra việc gia cố nhà giàn cho đảo chìm… Trong xây dựng lực lượng phòng thủ trên biển, điều ông rất quan tâm là bảo vệ thềm lục địa phía Nam. Theo đề nghị của ông, ngày 5-7-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị về việc xây dựng Cụm Kinh tế – Khoa học – Dịch vụ, tiếp tục khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa của Tổ quốc. Chủ trương này có ý nghĩa vô cùng to lớn, cả trước mắt và lâu dài.

Thẳng thắn, giản dị và tiết kiệm

Đối với cấp trên cũng như cấp dưới, ông luôn thẳng thắn góp ý phê bình. Ông ghét những kẻ nịnh bợ, kéo bè, kéo cánh. Ông là người bao dung và độ lượng, hiểu thấu những khó khăn của cấp dưới, không trù dập những người mắc khuyết điểm.

Ông rất thích những người dám tranh luận phân biệt đúng sai, luôn lắng nghe ý kiến cấp dưới để giải quyết có tình, có lý.

Tư lệnh Giáp Văn Cương kiểm tra sẵn sàng chiến đấu tại Trường Sa, tháng 5-1988. Ảnh tư liệu.

Một hôm, Tư lệnh Giáp Văn Cương cùng một số cán bộ cơ quan Quân chủng xuống kiểm tra Tàu HQ-01. Khi phát hiện bệ tên lửa cải tiến han gỉ, ông nhắc anh em trên tàu: Lần sau tôi xuống kiểm tra các đồng chí còn để vũ khí han gỉ thế này sẽ bị kỷ luật. Nghe vậy, một đồng chí phó thuyền trưởng đã ý kiến: Báo cáo Tư lệnh, nếu cấp trên cung cấp đầy đủ vật tư, dầu mỡ cho chúng tôi mà Tư lệnh kiểm tra vẫn thấy han gỉ thì chúng tôi hoàn toàn chịu kỷ luật. Nhưng nếu cấp trên không cung cấp đầy đủ mà Tư lệnh kỷ luật thì oan cho chúng tôi quá.

Lúc này, ông quay sang hỏi đồng chí Chủ nhiệm Cục Kỹ thuật Hải quân: “Anh Phúc đã nghe rõ anh em nói gì chưa?”.

Là một Đô đốc nhưng Giáp Văn Cương luôn sống cuộc sống giản dị và tiết kiệm. Đại tá Nguyễn Trương kể: “Mỗi khi đi công tác xa, Đô đốc Giáp Văn Cương luôn nói với vợ chuẩn bị cơm nắm, tôm rang thịt, lọ muối lạc và bi đông nước sôi để nguội. Tôi chưa bao giờ thấy ông vào quán ăn khi đi công tác, dù lúc đó đến bữa hoặc quá bữa, ông đều về nhà hoặc đến đơn vị để ăn. Ông thường dặn lái xe khi nào đường vắng, có bóng cây mát đến giờ ăn dừng chân để cùng ăn, trong đó có tôi, y sĩ và lái xe”.

Năm 1986, khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, Tư lệnh Giáp Văn Cương vẫn sống một cuộc đời bình dị. Ông vẫn sử dụng ti-vi đen trắng với những tiện nghi sinh hoạt hết sức bình thường.

Đô đốc Giáp Văn Cương sinh năm 1921 tại thôn Thép Thượng, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội như: Cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn, quân khu, Phó tư lệnh mặt trận Quảng Đà, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 3-1977, ông được cấp trên điều về làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Năm 1988, ông được phong Đô đốc đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam. Ông mất năm 1990. Ngày 7-5-2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Trịnh Văn Dũng
qdnd.vn

Phó đô đốc Đỗ Xuân Công nhớ về trận đầu đánh thắng

Xứng danh Bộ đội Cụ Hồ

QĐND-Chúng tôi gặp Phó đô đốc Đỗ Xuân Công, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân khi ông ở Thành phố Hồ Chí Minh ra thăm lại những người bạn ở thành phố Hải Phòng. Tuy đã trở về với đời thường nhưng hình ảnh về chiến thắng trận đầu ngày 2 và ngày 5-8-1964 của Hải quân nhân dân Việt Nam luôn hiện hữu trong lòng vị tướng.

Ngày 5-8-1964, Tàu T-161 của ông và đồng đội đang đậu tại cảng Sông Gianh chuẩn bị vũ khí, lương thực thực phẩm sẵn sàng chiến đấu thì nhận được thông báo: Để ngăn chặn chi viện của miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ sẽ tập kích bằng không quân vào các mục tiêu quân sự của ta ở miền Bắc, nhất là các quân cảng và tàu của Hải quân. Vì vậy, toàn bộ lực lượng của Hải quân được chuyển sang trạng thái thời chiến. Các tàu Hải quân ở cảng sông Gianh triển khai sơ tán theo đội hình phòng không. Chỉ có tàu trực ban chiến đấu là được đỗ tại cảng. Hôm ấy Tàu T-161 mới sửa chữa xong nên đỗ tại cảng để tiếp nhận nhiên liệu, đạn dược và lương thực thực phẩm. Cán bộ, thủy thủ của tàu làm việc không kể thời gian giờ giấc; ai cũng động viên nhau cố gắng làm việc thật nhanh để sẵn sàng chiến đấu. Lúc đó, Phó đô đốc Đỗ Xuân Công là Binh nhất, Tiểu đội trưởng hàng hải (lái chính) của tàu. Bỗng tiếng kẻng báo động vang lên. Các tàu đồng loạt kéo còi báo động phòng không làm náo động cả một dòng sông. Binh nhất Đỗ Xuân Công vác quả bom chìm nặng khoảng 30kg chạy về tàu đặt vào giá cố định thì vừa đúng lúc nghe lệnh của Thuyền trưởng Nguyễn Duy Khiêm:

– Rời bến khẩn cấp!

Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công (giữa) gặp lại CCB Hải quân tại Hải Phòng. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Đỗ Xuân Công vội nhảy vọt lên đài chỉ huy và lái tàu rời bến theo lệnh của thuyền trưởng. Tàu T-161 vừa rời khỏi vị trí neo đậu thì đúng lúc tiếng bom nổ ầm ầm bên cạnh. Từng cột nước tung lên rồi đổ xuống rào rào như trận mưa lớn. Các tàu của ta gần như đồng loạt nổ súng đánh trả rất quyết liệt vào các “Thần sấm”, “Con ma” của Mỹ. Lúc đó vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 5-8-1964. Đỗ Xuân Công vừa lái tàu vừa quan sát bầu trời để kịp thời báo cáo hướng mục tiêu cho thuyền trưởng. Máy bay phản lực Mỹ gầm rú và thay nhau từng chiếc một bổ nhào thả bom và bắn súng 20,6mm như vãi đạn xuống dòng sông Gianh. Các loại pháo 40mm, 37mm, 20mm, 14,5mm của ta trên các tàu 79 tấn của Phân đội 7, Phân đội 5, Phân đội 6 đồng loạt bắn xối xả vào các máy bay của Mỹ. Bầu trời như xé ra từng mảng, lưới đạn của ta dày đặc. Đỗ Xuân Công lái tàu theo lệnh thuyền trưởng để vừa bảo đảm phát huy được hết hỏa lực trên tàu đồng thời tránh được các đợt thả bom của máy bay địch. Đợt chiến đấu chỉ diễn ra khoảng vài chục phút, các máy bay Mỹ rút chạy ra hướng biển. Các tàu của ta nhanh chóng củng cố sức chiến đấu, giải quyết vấn đề thương binh liệt sĩ và sơ bộ rút kinh nghiệm sau đợt chiến đấu vừa rồi. Mọi người kiểm tra vũ khí, máy móc rất khẩn trương để chuẩn bị sẵn sàng cho đợt chiến đấu tiếp theo.

Đúng như dự đoán của cấp trên, vào khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, từng tốp máy bay Mỹ lại bổ nhào ném bom xuống dòng sông Gianh. Bầu trời và dòng sông lại ầm ầm những tiếng bom rơi đạn nổ xen lẫn nhưng tiếng gầm rú xé tai của máy bay phản lực Mỹ. Do đã có kinh nghiệm nên các tàu chiến đấu đĩnh đạc hơn, pháo bắn đồng loạt và giòn giã hơn nên máy bay địch không dám xuống thấp. Đợt chiến đấu này cũng chỉ diễn ra vài chục phút rồi máy bay Mỹ lại tháo chạy ra biển, để lại đằng sau 2 chiếc bị bắn rơi xuống cửa sông Gianh. Trong trận chiến đấu này có rất nhiều gương chiến đấu dũng cảm. Có đồng chí bị thương nặng vào chân nhưng vẫn tự băng bó rồi tiếp tục giữ vững vị trí. Có đồng chí bị thương vào bụng nhờ đồng chí khác băng bó lại rồi tiếp tục chiến đấu…

Những tấm gương chiến đấu dũng cảm của đồng chí, đồng đội trên con tàu T-161 như ngọn lửa thiêng thôi thúc Binh nhất Đỗ Xuân Công phấn đấu vươn lên hoàn thành nhiệm vụ trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình. Từ một binh nhất, ông đã trở thành Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam. Ông là một vị tướng nhân hậu, mẫn cán và dành trọn đời mình cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

Trịnh Văn Dũng
qdnd.vn

Và đây là việc không ai có thể làm thay Nhà nước

Cho rằng cần phải đủ dũng cảm và thông thái để nhìn nhận rõ từng trạng thái kinh tế thực tế. Phải có những cơ quan nghiên cứu để xác định những giới hạn hợp lý trong từng trạng thái phát triển kinh tế một, để giúp Nhà nước thấy rõ những cái ngưỡng, và ngoài những cái ngưỡng ấy thì Nhà nước buộc phải có sự chuẩn bị tinh thần để đối phó với rủi ro. Và đây là việc không ai có thể làm thay Nhà nước được, Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt đã nhấn mạnh như vậy tại Hội thảo đầu tư và thị trường tài chính vừa qua.

>> Cần phải hiểu Nhà nước là một khối thống nhất, không phải chỉ của riêng từng bộ

Môi trường đầu tư mất cân đối

Việt Nam là nước có tỷ lệ vốn đầu tư/GDP luôn ở mức khoảng 40% trong những năm gần đây, thuộc nhóm cao nhất trong khu vực Đông Nam Á và tỷ lệ tăng trưởng vẫn được duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, nếu nhìn vào các chỉ số đầu vào của tăng trưởng, như các chuyên gia đã chỉ rõ thì tăng trưởng của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào vốn, còn các yếu tố về lao động và năng suất, các yếu tố tổng hợp, trong đó có năng suất lao động vẫn còn ở mức khiêm tốn. Chỉ số năng lực canh tranh của Việt Nam theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), hiện đang xếp ở mức 75/144 nền kinh tế được khảo sát. Trong đó, 2 trong 3 nhóm tiêu chí để đánh giá là các yếu tố thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế và các yếu tố thúc đẩy sự đổi mới của nền kinh tế của Việt Nam đều rơi vào mức rất thấp (lần lượt xếp hạng 90 và 91).

Theo nhận định của chuyên gia Nguyễn Trần Bạt tại Diễn đàn đầu tư và tài chính ngân hàng được tổ chức mới đây, sự mất cân đối vĩ mô của Việt Nam thể hiện ở chỗ mất cân đối trong mục tiêu phát triển công nghiệp. Hiện chúng ta chỉ mải mê kiếm tìm các dự án chứ chưa xác lập được các ngành công nghiệp. Thế nên, sau thời gian dài phát triển, chưa có một ngành công nghiệp nào được định hình rõ rệt, mặc dù tên gọi của chúng đã xuất hiện, chẳng hạn như công nghiệp ô tô, đóng tàu, thép… Cái gốc là nền tảng của công nghệ chưa hề có, chưa có những chỉ tiêu công nghiệp để kêu gọi, để khuyến khích, để ưu tiên.

Tiếp đến là mất cân đối trong đầu tư kinh tế và đầu tư vào các lĩnh vực xã hội phát triển con người; giữa phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Đầu tư cho kinh tế thời gian qua luôn chiếm trên 75% trong khi đầu tư cho xã hội cực kỳ khiêm tốn. Mặt khác, trong khi chiếm đến 70% dân số cả nước làm trong khu vực nông nghiệp nhưng nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực này kém xa so với các lĩnh vực khác. Cụ thể, nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này luôn biến thiên trong khoảng 10% tổng nguồn lực đầu tư. Việc đầu tư công nghiệp ồ ạt thời gian qua đã dẫn đến thu hẹp diện tích đất nông nghiệp và những bất ổn xã hội liên quan đến thu hồi đất. Điều này không được giải quyết triệt để có thể kéo theo nhiều bất ổn khác.

Nguồn lao động của nước ta cũng đang mất cân đối nghiêm trọng. Lao động của Việt Nam còn rất nhiều vấn đề như trình độ thấp, kỷ luật lao động thấp và một chế độ quản lý người lao động rất lỏng lẻo. Đa phần các doanh nghiệp khi tuyển lao động đều phải tiến hành đào tạo lại. Theo kết quả khảo sát Thiếu hụt lao động kỹ năng ở Việt Nam do Viện Khoa học lao động và xã hội, Bộ LĐ, TB và XH khảo sát trên 6.000 doanh nghiệp, chất lượng lao động của nước ta xếp ở mức 10% – mức đáy so với khu vực. Và như vậy, khi muốn và kêu gọi đầu tư các dự án công nghệ cao thì lực lượng lao động không thể đáp ứng và làm chủ được công nghệ thì ước muốn kia thật khó có thể thực hiện được!

Cũng theo chuyên gia Nguyễn Trần Bạt, môi trường đầu tư của Việt Nam đang mất cân đối lớn về năng lực phục vụ tài chính. Các ngân hàng hiện nay có thể quản lý 10 tỷ, 20 tỷ USD, nhưng quản lý một dự án 10 tỷ USD thì không thể vì phải có năng lực thẩm định công nghiệp. Nước ta chưa có bất kỳ một tổ chức tín dụng nào đủ trình độ chuyên nghiệp để quản lý một dự án công nghiệp 10 tỷ USD, mà hiện nay, nước ta càng ngày càng có nhiều dự án như thế.

Năng lượng hiện cũng đang được dự báo có sự mất cân đối lớn. Sự mất cân đối chủ yếu do việc không thể bảo đảm cung cấp đủ năng lượng đối với nhu cầu ngày càng tăng của đất nước. Theo số liệu thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI mới đây, dự kiến đến năm 2015, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu năng lượng và đến năm 2025 thì Việt Nam chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu tiêu thụ năng lượng trong nước. Sự thiếu hụt này đòi hỏi một sự gắn kết

Ổn định vĩ mô cho môi trường đầu tư từ đâu?

Trong việc xác lập lại ổn định vĩ mô cho môi trường đầu tư, chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho rằng, cần phải xác lập sự cân đối cho không gian kinh tế, đồng thời xác lập lại cách nhìn nhận đối với vấn đề tài chính và quan niệm về phân cấp quản lý và thẩm định đầu tư. Mặt khác, chất lượng môi trường đầu của Việt Nam có được nâng cao được hay không phải trông chờ vào sự thành công của công cuộc cải cách giáo dục đào tạo.

Nhìn từ không gian kinh tế Việt Nam cho thấy, hiện đang có dấu hiệu biến một nền kinh tế thống nhất thành 63 nền kinh tế khi mà chúng ta mở rộng phân cấp cho các địa phương. Trong quá trình phân cấp, nếu như thiếu một bản quy hoạch thống nhất, khoa học cho nền kinh tế sẽ dẫn tới sự phát triển tự phát mất cân đối vĩ mô. Bối cảnh mà tỉnh nào cũng đua nhau làm sân golf, cảng biển, khu công nghiệp, khu kinh tế cạnh tranh nhau thay vì có một sự phân công dựa vào nguồn lực cụ thể và sự kết nối thống nhất giữa các khu vực kinh tế. Điều cần nhất là tất cả các đối tượng đầu tư, nội dung đầu tư ở mỗi địa phương phải nằm trong một quy hoạch đầu tư chuẩn, cái đấy chính là hạt nhân, là nền tảng của sự ổn định vĩ mô của một nền kinh tế.

Bên cạnh sự mất cân đối giữa không gian kinh tế vùng, còn có sự mất phân công giữa không gian kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân. Hiện nay kinh tế của chúng ta phát triển theo thế lực của nó. Mà xét trên các yếu tố từ chủ trương, tín dụng, mặt bằng đất đai… tất cả các ưu thế chính trị xã hội và vật chất đều nằm ngoài khu vực kinh tế tư nhân. Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt đặt câu hỏi: vậy ai sẽ làm ăn với “người yếu” như những doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam? Ông kết luận, khu vực tư nhân không chỉ bị các định kiến thông thường ở trong nước bỏ rơi mà còn bị cả đầu tư nước ngoài bỏ rơi nữa. Đấy là một “thảm trạng” của sự phát triển.

Trong không gian kinh tế, hiện cũng đang diễn ra tình trạng mất cân đối kinh tế giữa không gian nội địa và không gian hướng ngoại. Khi nền kinh tế bị xô lệch theo hướng xuất khẩu, thị trường trong nước bị bỏ ngỏ cho hàng hóa chất lượng thấp của nước ngoài tràn ngập. Đã đến lúc cần phải có những đầu tư đủ mạnh để có thể kiến thiết, có thể đặt nền móng cho những ngành công nghiệp tiêu dùng với một thế hệ công nghệ cao hơn, với một chất lượng hàng hóa tốt hơn, sẵn sàng đón lõng sự phát triển của chất lượng tiêu dùng cho thị trường nội địa 100 triệu dân trong những năm tới. Tóm lại, xác lập lại sự cân đối của một tổng phổ kinh tế để biến nó trở thành một ý chí chính trị của tất cả các nhánh quyền lực là công việc quan trọng. Công việc này gắn liền với trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Về phân cấp quản lý và thẩm định đầu tư, việc tổ chức lại quy trình thẩm định các dự án cần phải dựa trên một kế hoạch phát triển nền kinh tế rõ ràng. Do vậy, cần phải nghiên cứu lại chế độ phân cấp; phải có các quy định rõ ràng rành mạch về các giới hạn, đến tỉnh thì làm đến bao nhiêu, động chạm đến bao nhiêu tài nguyên, bao nhiêu đất đai, bao nhiêu tín dụng; trên mức ấy thì thuộc về quyền của Chính phủ. Tất cả các giới hạn như vậy phải nằm trong sự kiểm soát của Quốc hội, dự án nhỏ cũng phải kiểm soát chứ không phải 35.000 tỷ đồng mới bắt đầu kiểm soát.

Ngoài ra, cũng cần quan niệm lại vấn đề trách nhiệm trong phân cấp đầu tư. Trách nhiệm của những người đứng đầu ở các địa phương trong việc thẩm định các dự án đầu tư cần phải được quy định trong luật. Hiện nay, chưa có một hệ thống pháp luật đủ để quy định trách nhiệm, kể cả thưởng lẫn phạt những người chỉ huy ở các cấp độ khác nhau của hệ thống nhà nước. Đặc biệt, trong các dự án đầu tư, cần đạt được sự đồng thuận xã hội, đặc biệt là trong vấn đề thu hồi đất. Sự đồng thuận xã hội chính là thước đo thực chất và sự hiệu quả trong hoạt động của Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Cuối cùng, vấn đề cốt lõi, vấn đề vẫn được coi là quốc sách hàng đầu là giáo dục làm sao để có thể hoàn thành đầy đủ 2 sứ mệnh là dạy người và dạy nghề. Câu hỏi đặt ra là tại sao lao động nước ta lại đang khủng hoảng về chất lượng như vậy, tại sao chỉ số thông minh của dân tộc không hề thấp, người lao động cần cù, khéo léo mà năng suất lao động vẫn xếp ở đáy của khu vực và thế giới? Và mục tiêu tạo ra đội ngũ lao động có kỹ năng, đáp ứng nhu cầu của thị trường cũng như đủ bản lĩnh để làm chủ chính mình và phát huy sức sáng tạo trong các môi trường lao động khác nhau bao giờ sẽ trở thành hiện thực?

Tự Cường
daibieunhandan.vn

Những người con của danh nhân Lương Khải Siêu

QĐND – Lương Khải Siêu (1873-1929) là một trong 20 nhân vật nổi tiếng trong Tủ sách “Danh nhân Tân Hợi” vừa được xuất bản ở Trung Quốc, nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).

Nhân dịp này, từ nguồn tư liệu của Báo điện tử Tân Hoa xã (www.xinhuanet.com) và Từ điển điện tử Bách Độ (www.baidu.com), chúng tôi chọn dịch và giới thiệu một số người con của nhà tư tưởng, nhà văn, học giả Lương Khải Siêu, một trong những lãnh tụ của Phong trào Duy Tân trong lịch sử cận đại Trung Quốc.

Danh nhân Lương Khải Siêu có 9 người con trai, con gái, thứ tự là: Lương Tư Thuận, Lương Tư Thành, Lương Tư Vĩnh, Lương Tư Trung, Lương Tư Trang, Lương Tư Đạt, Lương Tư Ý, Lương Tư Ninh, Lương Tư Lễ. Trong đó, Tư Thuận, Tư Thành, Tư Trang là do bà Lý Huệ Tiên (1868-1923), vợ đầu của Lương Khải Siêu sinh ra; Tư Vĩnh, Tư Trung, Tư Đạt, Tư Ý, Tư Ninh, Tư Lễ là do bà Vương Quế Toàn (1885-1924), vợ hai của Lương Khải Siêu sinh ra.

Lương Khải Siêu và các con: Tư Thuận, Tư Thành, Tư Vĩnh (năm 1905). Ảnh: Quảng Châu Nhật báo

Trưởng nam Lương Tư Thành (1901-1972): Nhà kiến trúc học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Năm 1915, Lương Tư Thành vào học tập tại Trường Thanh Hoa, năm 1923 cùng Lâm Huy Nhân sang Mỹ lưu học, sau đó tốt nghiệp Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Pen-xin-va-ni-a (Pennsylvania), giành được học vị Thạc sĩ. Sau khi về nước năm 1928, ông tới Đại học Đông Bắc sáng lập Khoa Kiến trúc đầu tiên ở miền Bắc Trung Quốc. Ông là người đầu tiên vận dụng phương pháp khoa học hiện đại tiến hành phân tích, nghiên cứu kiến trúc Trung Quốc, mở ra con đường nghiên cứu lịch sử kiến trúc Trung Quốc. Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật nổ ra, ông biên soạn bộ “Lịch sử kiến trúc Trung Quốc” đầu tiên của Trung Quốc, đồng thời dùng Anh văn viết một cuốn sách “Trung Quốc kiến trúc sử đồ lục” phổ thông dễ hiểu, phục vụ độc giả ngoại quốc, làm cho kiến trúc Trung Quốc tỏa sáng trên trường quốc tế.

Năm 1945, sau khi kháng chiến thắng lợi, ông sáng lập Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Thanh Hoa. Sau giải phóng, ông dấn thân vào công cuộc xây dựng đất nước Trung Quốc mới, lãnh đạo và tham gia công tác thiết kế đồ án Quốc huy và Bia kỷ niệm Anh hùng nhân dân, chỉ đạo chỉnh sửa Hoài Nhân Đường (Hội trường lớn trong Trung Nam Hải, Bắc Kinh).

Là người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy kiến trúc cổ đại, Lương Tư Thành là một trong những người đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục kiến trúc Trung Quốc về các phương diện lý luận kiến trúc, tư tưởng giáo dục kiến trúc, lý luận quy hoạch thành phố. Năm 1947, ông được tiến cử là đại biểu Trung Quốc trong Đoàn Cố vấn thiết kế tòa nhà Trụ sở Liên hợp quốc. Cùng năm, Trường Đại học Prin-xtơn (Princeton-Mỹ) đã trao học vị Tiến sĩ danh dự cho ông vì những cống hiến quan trọng của ông về học thuật kiến trúc Trung Quốc. Ông được bầu làm Viện sĩ, Ủy viên Ban Khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Ông là Đại biểu Quốc hội Trung Quốc khóa 1, khóa 2, Ủy viên Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khóa 3, Ủy viên thường vụ Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 2, Ủy viên Mặt trận dân tộc Trung Quốc khóa 3.

Thứ nam Lương Tư Vĩnh (1904-1954): Nhà khảo cổ học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Lương Tư Vĩnh sinh ra tại Ma Cao, nhưng tuổi thơ của anh sống tại Nhật Bản. Năm 1923, Lương Tư Vĩnh từ Trường Đại học Thanh Hoa sang Mỹ lưu học và tốt nghiệp Lớp dự bị đại học, rồi sang Mỹ học chuyên ngành khảo cổ học và nhân loại học, nghiên cứu khảo cổ Đông Á, tại Viện Nghiên cứu Trường Đại học Ha-vớt (Harvard), đã từng tham gia khai quật Di chỉ cổ đại người Anh-điêng (Indians). Trong thời gian này, ông đã từng có một dịp trở về nước làm trợ giáo tại Sở Nghiên cứu quốc học Trường Đại học Thanh Hoa. Mùa hè năm 1930, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Ha-vớt (Mỹ), Lương Tư Vĩnh trở về nước tham gia công tác tại Tổ Khảo cổ Sở Nghiên cứu Ngôn ngữ Lịch sử Viện Nghiên cứu Trung ương (trước đây).

Lương Tư Vĩnh suốt đời dốc sức cho sự nghiệp khảo cổ, là một trong những người khai thác khảo cổ học cận đại và giáo dục khảo cổ học cận đại Trung Quốc, là một học giả Trung Quốc đầu tiên được huấn luyện chính thức khảo cổ học cận đại của phương Tây, có tác phẩm truyền đời “Lương Tư Vĩnh khảo cổ luận văn tập”. Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đợt đầu tiên; Tháng 8 năm 1950 được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở Nghiên cứu khảo cổ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Ngày 2-4-1954, ông Lương Tư Vĩnh ốm đau lâu ngày vẫn kiên trì làm việc, bệnh tim phát tác, qua đời tại Bắc Kinh, hưởng dương 50 tuổi.

Con trai thứ 3 Lương Tư Trung (1907-1932): Thượng tá pháo binh

Lương Tư Trung từ Nhật Bản về nước không lâu lại sang Mỹ, lần lượt học tập tại Học viện Lục quân Vớc-gi-ni-a (Virginia) và Trường Quân sự Oét-poi (West Point).

Đầu thập niên 30 thế kỷ 20, tốt nghiệp về nước, tham gia Quân Cách mạng quốc dân. Sau khi nhập ngũ, do được học bài bản tại nước ngoài và có tài nên ông nhanh chóng được thăng cấp Thượng tá pháo binh Lộ quân 17, Quân cách mạng quốc dân. Trong cuộc chiến dịch Tùng Hộ năm 1932, Lương Tư Trung chiến đấu và chỉ huy khá xuất sắc.

Đáng tiếc là sau đó không lâu, Lương Tư Trung mới 25 tuổi vì mắc bệnh viêm phúc mạc, uống nhầm thuốc, chạy chữa chậm nên đã qua đời.

Con trai thứ tư Lương Tư Đạt, sinh năm 1912: Nhà kinh tế học nổi tiếng.

Năm 1935, Lương Tư Đạt tốt nghiệp Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nam Khai, ngay sau đó thi đỗ Nghiên cứu sinh Thạc sĩ của trường này và năm 1937 giành được học vị Thạc sĩ.

Ông hoạt động nghiên cứu kinh tế lâu ngày, trong thời gian kháng chiến đã từng nhậm chức tại Sở quản lý Ngân hàng Trung ương Trung Quốc và Chi nhánh Trường Sa Ngân hàng Trung Quốc. Năm 1949, ông được điều động đến Cục doanh nghiệp nước ngoài đầu tư của Quốc Vụ viện (sau này đổi tên là Cục Quản lý hành chính công thương Trung ương) làm Chánh văn phòng, sau đó được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Thống kê Sở Điều tra nghiên cứu kiêm nhiệm công tác biên tập tư liệu nội bộ.

Ông đã từng tham gia công tác biên soạn “Lịch sử kinh tế cận đại Trung Quốc” của Sở Kinh tế Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và năm 1965 chủ biên bộ sách “Tư liệu thống kê công nghiệp bột mì trong cơ chế Trung Quốc cũ”.

Lương Tư Đạt nghỉ hưu năm 1972, thường trú tại Bắc Kinh.

Con trai thứ năm Lương Tư Lễ, sinh năm 1924: Chuyên gia điều khiển hệ thống tên lửa, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Lương Tư Lễ sinh ra tại Bắc Kinh. Năm 1941, theo chị ba Lương Tư Ý sang Mỹ lưu học, chủ yếu học chuyên ngành Vô tuyến điện, Khoa Công trình điện cơ, Trường Đại học Pơ-điu (Purdue), sau lại học thêm Điều khiển tự động. Trong thời gian học tại Trường Đại học Pơ-điu, ông chỉ dùng thời gian hai năm hoàn thành chương trình 3 năm và năm 1945 đã giành được học vị Tiến sĩ của trường này.

Tiếp theo, ông lại giành được học vị Thạc sĩ (năm 1947) và học vị Tiến sĩ (năm 1949) của Trường Đại học Xin-xi-na-ti (Cincinnati).

Ngày 1-10-1949, sau khi về nước Lương Tư Lễ được bố trí làm công tác kỹ thuật tại Sở Nghiên cứu kỹ thuật điện tín Bộ Bưu điện và Sở Nghiên cứu khoa học điện tử Bộ Thông tin quân sự, đồng thời tham gia công tác khởi thảo “Quy hoạch viễn cảnh khoa học 12 năm” do Quốc Vụ viện tổ chức. Ông phụ trách khởi thảo “Nguyên tắc lâu dài nghiên cứu chế tạo tên lửa vận tải Trung Quốc”.

Năm 1956, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu hệ thống tên lửa đạn đạo Viện Nghiên cứu 5, Bộ Quốc phòng. Từ đó về sau, ông lần lượt lãnh đạo và tham gia nghiên cứu chế tạo thí nghiệm hệ thống điều khiển nhiều loại tên lửa đạn đạo và tên lửa vận tải. Ông là một trong những người phụ trách hệ thống điều khiển quả tên lửa đất đối đất đầu tiên thực nghiệm thành công năm 1964 do Trung Quốc tự thiết kế chế tạo và sau đó lãnh đạo nghiên cứu cải tiến chế tạo ra hệ thống điều khiển hoàn toàn quán tính mang đặc sắc Trung Quốc. Ông đã tham gia thí nghiệm vũ khí hạt nhân, tiến hành trên lãnh thổ Trung Quốc ngày 27-10-1966, gây chấn động thế giới. Dưới sự chủ trì của ông, Trung Quốc lần đầu tiên đưa đường điện tập thành dùng vào máy tính trên tên lửa, đồng thời dùng nó tiến hành trắc nghiệm tự động hóa hoàn toàn tên lửa. Ông còn tham gia cuộc thí nghiệm chuyến bay của tên lửa viễn trình phóng ra Thái Bình Dương năm 1980.

Năm 1985, Lương Tư Lễ được trao “Giải thưởng hạng đặc biệt Tiến bộ khoa học kỹ thuật quốc gia”. Năm 1987, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Khoa học hàng không vũ trụ Quốc tế; Năm 1993 được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và Ủy viên Thường vụ Ủy ban Dân tộc toàn quốc khóa 8; Năm 1994 được bầu làm Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Hàng không vũ trụ quốc tế; Tháng 9-1997, ông vinh dự được trao “Giải thưởng cống hiến Khoa giáo hưng quốc cho các giáo sư lão thành Trung Quốc”.

Vũ Phong Tạo trích dịch

(Theo http://www.xinhuanet.comhttp://www.baidu.com)
qdnd.vn

Hồ Chí Minh và Hiến pháp 1946

QĐND – Thế là đã 65 năm Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta, ngày 9-11-1946. Thời gian là vị quan tòa nghiêm khắc và công minh nhất thẩm định sự đúng sai của những tư tưởng, những quyết sách và nhất là hướng đi. Nhìn lại một chặng đường lịch sử gần hai phần ba thế kỷ, càng hiểu ra sự minh triết của Hồ Chí Minh, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cha đẻ của Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền đích thực của quốc gia ấy.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”! Trong bộn bề những việc cấp bách hằng ngày với thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp và cho ra đời bản Hiến pháp 1946 mà cho đến nay, giới nghiên cứu về luật pháp đánh giá là bản Hiến pháp mẫu mực nhất: Một hiến pháp dân chủ.

Là người bôn ba khắp năm châu bốn biển, thông hiểu nền văn hóa Tây phương từ một sự hiểu biết sâu sắc triết lý phương Đông và truyền thống văn hóa nước mình, Hồ Chí Minh có điều kiện trải nghiệm để nhìn ra những điều mà người khác có thể không nhìn thấy. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì nhất. Điều đó quy định nội dung của Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946 – lời tuyên bố đĩnh đạc của nhân dân Việt Nam trước thế giới, khẳng định ý chí và khát vọng của dân tộc mình.

Dân chủ nằm ngay trong tên nước và mục tiêu hướng tới, tức cũng là hướng đi, được ghi rõ ngay dưới tên nước: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nước có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc. Dân chủ là điều kiện tiên quyết để có tự do và có tự do mới thực sự có hạnh phúc!

Bác Hồ bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960. Ảnh tư liệu.

Thế nhưng, “dân chủ không thể được áp đặt bởi sự màu nhiệm những cơ chế của chính nó, dân chủ cần những người mang nó, sống động trong con người họ, và làm cho nó tồn tại sống động đối với tất cả mọi người”(1), ý tưởng ấy có sức gợi mở cho những tìm tòi về phương thức thực hành dân chủ mà Hồ Chí Minh tìm cách thực hiện. Hiến pháp 1946 là một minh chứng cho điều đó.

Thực ra Hồ Chí Minh hiểu rằng: “trong nhiều xã hội ngoài châu Âu, thông điệp đấu tranh giai cấp nghe xuôi tai hơn thông điệp dân chủ; sự phê phán nhân quyền dễ trót lọt hơn ý tưởng về dân quyền. Và như vậy là vì những lý do lịch sử: Ý tưởng về nhân quyền do bọn thực dân mang tới cho họ, áp đặt bằng nòng súng. Nhân quyền thuộc về kẻ chiến thắng, đương nhiên, trước mắt kẻ thua trận, đó là thứ ngụy trang cho sự thống trị thực dân”(2). Tuy nhiên, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã dẫn ra tư tưởng về nhân quyền, bởi vì “ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người… là một ý tưởng phổ quát, đáp ứng một hy vọng toàn cầu”(3).

Cần nhớ rằng, trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Véc-xây năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã đòi “thay đổi chế độ sắc luật bằng chế độ luật…”. Trong “Việt Nam yêu cầu ca” cũng đã có câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(4) [phải chăng đây là từ nguyên ngữ “l’esprit des lois” của Montesquieu?].

Trước đó, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra: “nếu có một đảng độc lập tồn tại thì đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ”… “Rất ôn hòa cả về nội dung lẫn hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi, và nhằm vào những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn”(5).

Dẫn ra những điều trên để hiểu rằng, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước dân chủ cộng hòa của mình bằng những câu tiêu biểu nhất về quyền con người, về khát vọng cháy bỏng của con người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp: “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ “quyền con người”, quyền đương nhiên không phải do ai ban phát cả, Hồ Chí Minh dẫn đến quyền của dân tộc với nội dung như đã dẫn ra ở trên.

Những ý tưởng tiêu biểu ấy được thể hiện một cách thật giản dị, dễ hiểu trong Hiến pháp 1946 với 70 điều. Nội dung tập trung về xác lập quyền của công dân và quyền của nhà nước, quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau, ở đó nổi bật lên hai vấn đề cơ bản nhất: Ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Để làm được điều đó, nội dung của Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản: Đặt pháp quyền ở trên nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền ấy phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau. Cơ quan Nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà những Hiến pháp sau này không làm rõ được, thậm chí bỏ quên! Công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Trong nội dung của Hiến pháp 1946, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống Việt Nam. Ngay tại Điều 1 đã nổi rõ lên tinh thần ấy. “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng những đường nét tư duy về cái mà ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Định chế luật sư cũng đã được đề ra. Thậm chí, trong bối cảnh của một nhà nước mới thành lập, đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài mà đã chững chạc khẳng định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam” trong Điều 16 của Hiến pháp 1946! Càng nghĩ càng thấm thía về tầm nhìn Hồ Chí Minh.

Và rồi, ở một đất nước mà nhà nước mang nặng “truyền thống” quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi xây dựng một “nhà nước đày tớ của dân”, điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã từng ấp ủ, nhưng vấn đề là Hồ Chí Minh đã sớm đưa ngay ý tưởng đó vào việc tổ chức nhà nước và cố gắng thực hiện. Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày chính quyền còn trong trứng nước: “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân… Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Có thể nói, cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp sắp tới chỉ có ý nghĩa khi trung thực và nghiêm cẩn quán triệt điều ấy. Cũng có nghĩa là phải dám chỉ ra những bất cập của các bản Hiến pháp ra đời sau Hiến pháp 1946 và nguyên nhân cơ bản về những bất cập đó. Có như vậy thì việc sửa đổi Hiến pháp 1992 mới có ý nghĩa thiết thực, khỏi lãng phí sức người, sức của khi mà cuộc sống của dân đang còn quá nhiều khó khăn. Mọi sự khoa trương hình thức đều đi ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh và sẽ đánh mất niềm tin của dân.

(1) Đại bách khoa toàn thư Pháp

(2, 3) Francois Furet. “Số phận một ý tưởng”. Người đưa tin UNESCO. Hà Nội, 1989, số 6, tr.5

(4, 5) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.5 và tr.10

GS Tương Lai
qdnd.vn

Giá – lương – tiền câu chuyện không chỉ của một thời…

Tiến sĩ Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

QĐND – Cách đây hơn 1/4 thế kỷ, việc thực hiện cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền đã đẩy nền kinh tế Việt Nam đứng trước vòng xoáy của sự hỗn loạn. Tuy nhiên, “dĩ cùng tắc biến”, sự thất bại đó đã đưa Đảng ta đến một sự lựa chọn: “Đổi mới hay là chết” với những quyết định lịch sử tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trò chuyện với Tiến sĩ (TS) Trần Xuân Giá, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, người đã trực tiếp chứng kiến và tham gia các cuộc điều chỉnh này với vai trò là Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước thời kỳ đó…

Phóng viên (PV): Nhiều người vẫn nghĩ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường bắt đầu từ Đại hội VI. Thế nhưng, qua ý đồ của các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, rõ ràng, tư duy quản lý kinh tế của Đảng đã có sự thay đổi từ trước năm 1986?

TS Trần Xuân Giá: Tôi có thể khẳng định thế này: Tư duy của Đảng ta về việc chuyển sang nền kinh tế thị trường có từ sớm, trước năm 1986 và nhất quán. Thực tiễn sôi động đã cho thấy mô hình cũ không còn phù hợp và đang cản trở quá trình đi lên của đất nước. Những năm 1979, 1980, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã có nhiều cuộc làm việc, trao đổi, tranh luận thẳng thắn về vấn đề này với các nhà khoa học, nghiên cứu, tổ tư vấn… Ngay từ khi đó, ông đã nhìn thấy những bất ổn của mô hình và lường trước những khó khăn sẽ tới. Được dự một số buổi làm việc của Tổng bí thư, tôi thấy ông thường xoay quanh hai câu hỏi: “Làm gì để đối phó với cuộc khủng hoảng tới?” và “Bắt đầu từ đâu?”. Có thể nói, đó là một tầm nhìn rất mới và sớm khi đó. Năm 1980, ông ký ban hành Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, tháng 6-1985, Hội nghị Trung ương 8 (khóa V) tiếp tục ra nghị quyết về điều chỉnh giá – lương – tiền, với mục tiêu từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong giá và lương, xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới…

TS Trần Xuân Giá. Ảnh: Thanh Tuấn.

2 thị trường và kế hoạch 3 phần

PV: Thưa TS Trần Xuân Giá, hai cuộc điều chỉnh ở vào thời kỳ “tiền đổi mới” ấy có gì khác nhau không?

TS Trần Xuân Giá: Thực hiện các nghị quyết nói trên của Đảng, chúng ta đã tiến hành 2 cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền. Lần 1 vào năm 1980 – 1981 và lần 2 vào năm 1985. Hai cuộc điều chỉnh này gần như giống nhau về mục tiêu, nguyên tắc và cách làm. Chỉ khác là năm 1985 có phạm vi rộng hơn, quy mô lớn hơn, có đổi tiền, còn trước đó thì không.

PV: Có thể hình dung như thế nào về bối cảnh dẫn đến các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền khi đó, thưa ông?

TS Trần Xuân Giá: Trước năm 1980, thị trường miền Bắc chỉ có chủ thể duy nhất đó là nhà nước. Nhà nước mua, nhà nước bán; lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù. Do đó, giá cả không có ý nghĩa gì. Còn tiền lương thì một phần được trả bằng hiện vật, thông qua các mặt hàng thiết yếu (ban đầu có 45, sau còn 9, rồi 3 mặt hàng). Ở miền Nam, bên cạnh giá nhà nước thì thị trường tự do vẫn tiếp tục hoạt động mặc dù đã bị co hẹp nhiều khi chúng ta tiến hành cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước.

Bước sang năm 1980 ở ngoài nước có một sự kiện tác động rất mạnh đến nền kinh tế nước ta. Đó là khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa) thay đổi nguyên tắc tính giá các mặt hàng mà chúng ta nhập khẩu. Nghĩa là từ việc chúng ta nhập khẩu với giá rất thấp nay phải chuyển sang giá mua bán thông thường trên thị trường với giá nhập khẩu cao hơn trước rất nhiều. Việc thay đổi này làm chúng ta mất khoảng 1 tỷ rúp chuyển nhượng mỗi năm (tương đương khoảng 1,6 đến 1,7 tỷ USD). Từ chỗ làm không đủ ăn, ngân sách thu không đủ chi, một phần phải vay cho tiêu dùng trong điều kiện giá nhập khẩu tăng lên tiếp tục là một sức ép cho một nền kinh tế vốn đang rất ốm yếu…

Lúc này trong nước đã xuất hiện hai loại thị trường với tên gọi: Thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức. Trong hệ thống quản lý nhà nước cũng xuất hiện một yếu tố rất mới, đó là có thêm kế hoạch 2 (kế hoạch liên doanh liên kết) và kế hoạch 3 (kế hoạch làm ăn kiểu thị trường). Trước chỉ có kế hoạch 1 phần, nhà nước giao toàn bộ chỉ tiêu đầu vào cho sản xuất, đồng thời quyết định đầu ra của sản phẩm (bán cho ai, bán khi nào và bán theo giá nào). Trên thị trường hình thành 3 loại giá: Giá cứng của nhà nước, giá do nhà nước định một phần và giá do doanh nghiệp tự định theo nguyên tắc thỏa thuận (giá thỏa thuận). Ban đầu, 3 loại giá này chênh nhau không nhiều nhưng càng ngày chênh càng lớn, dẫn đến nhiều biểu hiện tiêu cực, khó kiểm soát như tuồn vật tư ra ngoài, vào trong rất phức tạp…

PV: Phương án của cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã được đưa ra như thế nào?

TS Trần Xuân Giá: Việc điều chỉnh được thực hiện theo nguyên tắc: Trừ một số mặt hàng rất quan trọng, còn lại tính đủ chi phí hợp lý vào sản xuất; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá cả; đảm bảo tiền lương thực tế và xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành và các cơ sở y tế. Phương án điều chỉnh được đưa ra là:

Về giá, để tiện cho tính toán, lấy giá thóc làm chuẩn, các mức giá của hàng hóa khác được quy ra theo giá thóc. Năm 1985, giá thóc được các chuyên gia tính toán trên thực tế bình quân là 25 đồng/kg (trước đổi tiền 14-9-1985). Các địa phương khác nhau thì mức giá thóc quy đổi này có thể cao hơn hoặc thấp hơn. Nhà nước ban hành mức giá mới của một số vật tư như xăng, dầu, xi măng, sắt…

Về lương, thực hiện nâng giá đến đâu thì tăng lương theo đó (bù giá vào lương theo cách nói lúc bấy giờ).

Về tiền, để đáp ứng giá mới, lương mới thì phải in thêm tiền, bảo đảm tổng tiền lưu thông trong cuộc điều chỉnh năm 1985 là 120 tỷ đồng. Nhưng vì không tự in được tiền và để in ít tiền mà vẫn có sức mua lớn, Chính phủ chủ trương đổi tiền. Một đồng mới sẽ đổi lấy 10 đồng hiện hành. Như thế, 12 tỷ đồng in mới và đem đổi sẽ tương đương 120 tỷ đồng hiện hành.

Như vậy, với việc điều chỉnh này trên thị trường đã hình thành mặt bằng giá mới, lương mới và tiền mới.

“Vỡ trận”, do đâu?

PV: Mong muốn của các nhà cải cách khi đó là khi nâng giá lên theo giá thị trường thì có thể cố định và quản lý theo cơ chế một giá đó nhưng cuối cùng đã thất bại. Giá cả tăng vọt, lạm phát phi mã. Tiền lương không còn ý nghĩa…

TS Trần Xuân Giá sinh năm 1939 tại Thừa Thiên – Huế. Năm 1980 khi đang là Chủ nhiệm Khoa Vật giá, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, ông được điều về làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước. Ông đã qua các cương vị: Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, Ủy viên Trung ương Đảng (khóa VIII), Đại biểu Quốc hội (khóa X), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996 – 2002), nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, TS Trần Xuân Giá là Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Á Châu (ACB).

TS Trần Xuân Giá: Ban đầu kế hoạch tăng lương là 20% nhưng các bộ và tỉnh cho rằng mức đó là quá ít. Chính phủ chấp nhận tăng lương 100%. Trong khi đó, mức giá mới được Chính phủ quyết định đã rút xuống còn khoảng 70% so với kế hoạch ban đầu. Kết quả là chi ngân sách cho tiền lương tăng vọt nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức như dự kiến. Để cứu ngân sách, tiền được phát hành hơn rất nhiều so với kế hoạch làm cho vật giá tăng mạnh (riêng với nông sản, năm 1986 tăng 2000% so với năm 1976) và lạm phát bùng nổ (đỉnh điểm năm 1986 lên đến 774%), làm kiệt quệ kinh tế. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng hóa khan hiếm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Để điều chỉnh tình trạng suy thoái với những biện pháp giảm lượng hàng buôn qua ngả chợ đen đã dẫn đến việc “ngăn sông cấm chợ” và lùng bắt hàng “lậu”. Nhưng những biện pháp hành chính đó càng làm lệch lạc hệ thống giá cả…

PV: Nói như nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Đặng Phong thì cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã bị “vỡ trận”. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính của thất bại này?

TS Trần Xuân Giá: Chúng ta đề ra chủ trương thực hiện các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, đặc biệt là cuộc tổng điều chỉnh năm 1985 trong tình hình kinh tế đang biến động mạnh, song lại thiếu biện pháp đồng bộ và các giải pháp cụ thể, tiến hành thiếu chuẩn bị chu đáo, không phù hợp với tình hình thực tế nên khi triển khai nghị quyết vào cuộc sống đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Mà nguyên nhân mấu chốt ở đây chính là chắp vá giữa tư tưởng cải cách với mô hình, cơ chế quản lý cũ đã lạc hậu… Nhưng thất bại này đã giúp Đảng ta có thêm những căn cứ, cơ sở quan trọng để đưa ra quyết định lịch sử tại Đại hội VI.

PV: Sau hơn 1/4 thế kỷ, câu chuyện giá – lương – tiền vẫn là đề tài nóng bỏng hôm nay. Tất nhiên bối cảnh và tình hình đất nước cũng như quốc tế đã khác trước nhiều.

TS Trần Xuân Giá: Tôi nghĩ cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền không chỉ là câu chuyện của một thời mà nó vẫn thời sự trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là những kinh nghiệm, bài học, có thể nói là “xương máu” trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta nói chung, cũng như gần đây Đảng chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng mô hình tăng trưởng mới nói riêng, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI và Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) vừa qua.

PV: Xin cảm ơn ông!

Trần Hoàng Tiến thực hiện
qdnd.vn

Vài hình ảnh kháng chiến chống Pháp do phía Pháp chụp

Bi-gia là đại úy quân đội Pháp, có mặt tại Việt Nam từ 1945, trải qua các trận chiến đấu ở Tây Bắc, ở Đồng Bằng rồi Điện Biên Phủ 1954; Bị bắt làm tù binh sau chiến thắng Điện Biên Phủ với quân hàm đại tá. Trở về Pháp làm việc trong quân đội Pháp, thăng cấp tướng, Bộ trưởng Quốc phòng. Hai vợ chồng Bi-gia, tháng 6-1994 đã trở lại thăm chiến trường Điện Biên Phủ.

Tháng 9-1945, quân Nhật giao nộp vũ khí cho quân đội Anh tại Sài Gòn.

Tháng 10-1945, quân Pháp tấn công Kim Long Tự (chùa Rồng Vàng, Mỹ Tho).

Tháng 3-1946, lính gác Pháp-Việt-Quốc dân Đảng tại Hải Phòng.

Ngày 8-3-1946, quân Pháp vào Hải Phòng.

Tháng 3-1946, lính gác Pháp-Việt-Tàu Tưởng tại Hải Phòng.

Lính Pháp chuẩn bị vượt qua một cây cầu vừa bị xe tăng của Bán Lữ đoàn số 2 phá hủy.

Lính Pháp chuẩn bị vượt qua một cây cầu vừa bị xe tăng của Bán Lữ đoàn số 2 phá hủy.

Một toán quân Tàu Tưởng trên Đường số 4 (ngày 18-12-1949).

Năm 1950, quân Pháp tấn công Thái Nguyên.

Dẫn giải tù binh Pháp, ngày 18-6-1954.

Từ sách ảnh “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi” – Tác giả: Bi-gia, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Pháp.
qdnd.vn

Cuộc đời bình dân của con cháu Tôn Trung Sơn

QĐND – Báo điện tử Trung Quốc bbs.cri.cn, ngày 2-6-2009, đăng tải bài Con cháu Tôn Trung Sơn bước ra khỏi vòng hào quang vĩ nhân, lánh xa chính trị ồn ào, hòa mình vào cuộc sống bình dân đã đăng trên báo Trung Quốc Vĩ nhân tiền bối quốc tế (Quốc tế tiên khu đạo báo).

Tôn Trung Sơn (12-11-1866 / 12-3-1925).

Chúng tôi giới thiệu bài báo trên để bạn đọc tham khảo, hiểu biết thêm về gia tộc vĩ nhân Tôn Trung Sơn (1866-1925), một nhà cách mạng dân chủ vĩ đại, chẳng những được tôn vinh là “Người cha của đất nước” (quốc phụ) Trung Hoa, mà còn có ảnh hưởng lớn lao trên thế giới.

Tôn Huệ Phấn ra sức tuyên truyền tư tưởng Tôn Trung Sơn

Trong ánh hoàng hôn buông xuống phía tây, Tôn Huệ Phấn ngồi trên chiếc xe lăn cót két kêu nhè nhẹ, trong lòng ôm một tập văn của ông nội. 115 năm trước, ông nội của bà – Tôn Trung Sơn tiên sinh cũng ở tại đây sáng lập ra Hưng Trung Hội, với tôn chỉ “Đánh đuổi ngoại bang, khôi phục Trung Hoa”, sau đó ảnh hưởng lớn đến vận mệnh của Trung Quốc.

“Ngày nay, sự an nguy tồn vong của Trung Quốc, hoàn toàn là do quốc dân Trung Quốc chúng ta ngủ hay là thức”. Tôn Huệ Phấn gần tuổi thất tuần lắng nghe hết lần này đến lần khác băng ghi âm tiếng nói của ông nội năm xưa đang hùng hồn diễn giảng. Nước mắt đầm đìa trên đôi gò má của bà.

Tôn Huệ Phấn.

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm từ trần của Tôn Trung Sơn (1925-2005), con cháu của ông tại khắp nơi trên thế giới kỷ niệm Tôn Trung Sơn bằng mọi phương thức. Là một Đại tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc, gia đình của Tôn Trung Sơn khi ấy thuộc về “Gia tộc số 1 Dân Quốc” (Dân Quốc đệ nhất gia). Thế mà, cuộc đời của con cháu ông thực ra không chói sáng như Tôn Trung Sơn tiên sinh, mà là bi hoan ly hợp, tràn đầy sắc thái huyền thoại.

Xa lánh chính trị ồn ào, hòa mình vào cuộc sống bình dân

Tôn Trung Sơn tiên sinh suốt đời trải qua ba lần hôn nhân, để lại người con trai độc nhất Tôn Khoa và hai người con gái Tôn Diên, Tôn Uyển, tất cả đều do bà Lư Mộ Trinh, người vợ thứ nhất sinh ra. Trưởng nữ Tôn Diên chết sớm, và không có con trai nối dõi. Con gái út Tôn Uyển lần lượt sinh ra 4 người con trai con gái. So sánh, cây đời của chi tộc trưởng nam Tôn Khoa là cành lá xum xuê nhất, tổng cộng sinh ra hai con trai, bốn con gái.

Con cháu của Tôn Trung Sơn thực ra không nổi trội trên vũ đài chính trị. Trong thế hệ thứ hai, chỉ có trưởng nam Tôn Khoa (1891-1973) dưới vòng hào quang của phụ thân đã từng đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu trong Chính phủ Dân quốc: Phó chủ tịch Chính phủ Trung ương Quốc dân đảng; Người duy nhất trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc đã từng đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng của 3 Viện (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp), công nhiên đối kháng với Tưởng Giới Thạch. Cuối đời tại Đài Loan, ông vẫn đảm nhiệm các chức vụ “Tư vấn chính trị Phủ Tổng thống”, “Viện trưởng Viện Khảo thí”.

Hai người con trai của Tôn Khoa: Tôn Trị Bình đã từng ra làm Ủy viên Hội đồng Thi đua của Quốc dân đảng và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Truyền hình Đài Loan; Tôn Trị Cường thì chỉ đảm nhiệm Thư ký “Cục Tín thác Trung ương” và Cố vấn Viện Bảo tàng Cố Cung (Đài Bắc). Đến thế hệ thứ tư, con trai của Tôn Trị Bình là Tôn Quốc Hùng, năm 2005 đã từng được mời ra làm “Cố vấn Quốc sách” cho người đứng đầu Đài Loan Trần Thủy Biển.

Đại đa số con cháu của Tôn Trung Sơn đều sống cuộc đời bình dân tại nước ngoài. Lâm Luân, cháu dâu của Tôn Trung Sơn đã từng giới thiệu rằng: “Tuy là con cháu của vĩ nhân, song chúng tôi không nghĩ đến chuyện đòi đặc quyền đặc lợi, thường ngày đều sống rất bình lặng. Tất cả bà con hàng xóm láng giềng ở nước ngoài cũng đều biết chúng tôi là con cháu của Tôn Trung Sơn, song mọi người sống một cuộc sống bình thường, nên đi làm thì đi làm, nên sinh hoạt thì đi sinh hoạt”.

Đoàn đại biểu thân tộc của nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn về thăm thành phố Trung Sơn nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).

Bà Tôn Huệ Phấn, cháu gái của Tôn Trung Sơn thì rất không thích được gọi danh hiệu là “Cháu gái Tôn Trung Sơn”. Mấy năm trước, khi bà theo người nhà về Nam Kinh bái yết Lăng Tôn Trung Sơn, trông thấy du khách đứng chờ đón chào ở dưới chân núi, Tôn Huệ Phấn bèn nói: “Tôi không cần những đặc quyền như vậy!”.

Bà còn nói rằng: “Tôi chính là tôi. Tôi là con cháu của ai, thực ra không quan trọng lắm, điều quan trọng chính là bản thân tôi có năng lực gì”.

Sau đấy, Tôn Huệ Phấn ra làm Lãnh sự Thương vụ của Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc. Bằng tài ngoại giao xuất sắc của mình, bà đã chứng minh: Mình không cần sống dưới vòng hào quang “con cháu danh gia vọng tộc”, cũng có thể sống một cuộc đời tươi đẹp.

“Tôn Trung Sơn không phải của một cá nhân tôi”

Tôn Trung Sơn suốt đời lưu ly ghềnh thác, con cháu của ông thì sống tản mát ở trong và ngoài nước, trong đó đại đa số định cư tại Mỹ. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, con cháu của Tôn Trung Sơn ngày nay cũng ngẫu nhiên trở về Tổ quốc bái yết ông, có người còn quyên góp ủng hộ sự nghiệp giáo dục của Tổ quốc.

“Tôi không được tai nghe trực tiếp lời dạy bảo của ông nội, song tôi vô cùng kính yêu ngưỡng mộ ông tôi”. Bà Tôn Huệ Phấn nói như vậy khi trả lời phỏng vấn qua điện thoại vượt đại dương của báo “Vĩ nhân tiền bối quốc tế”.

Bà Tôn Huệ Phấn hiện nay đảm nhiệm Chủ tịch Quỹ Giáo dục Hòa bình Tôn Trung Sơn, Hội trưởng Hội Từ thiện Phụ nữ Trung Quốc tại Ha-oai (Hawaii).

Bà Tôn Huệ Phấn bị bệnh phong thấp nặng, phải ngồi trên xe lăn, nhưng vẫn không từ gian khổ đi theo vết chân ngày xưa của Tôn Trung Sơn tới khắp nơi trên thế giới như: Đại lục Trung Quốc, Đài Loan, Đông Nam Á và Âu Mỹ, v.v.. diễn giảng trên một nghìn cuộc, tích cực tuyên truyền phát huy tư tưởng của ông nội Tôn Trung Sơn. Hiện tại, bà Tôn Huệ Phấn truyền giao nhiệm vụ nặng nề tuyên truyền tư tưởng Tôn Trung Sơn cho con trai của bà là Vương Tổ Diệu, hy vọng tư tưởng Tôn Trung Sơn có thể truyền thừa mãi mãi.

Bà Tôn Huệ Phấn nói: “Suốt cuộc đời này của tôi, điều tôi cảm thấy hạnh phúc sung sướng nhất là có một người ông nội như thế. Nhưng, ông không phải là của một cá nhân tôi, mà ông thuộc về nhân dân toàn Trung Quốc. Tôi hy vọng tinh thần của ông nội có thể khích lệ những người trẻ tuổi ngày nay, không được buông lơi bất cứ mục tiêu nào”.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Vì sao tướng Mỹ Brinh “tự sát”

QĐND – Năm 1952, khi phe diều hâu ở Oa-sinh-tơn đang đẩy mạnh cuộc can thiệp quân sự vào Việt Nam, các báo Mỹ đột ngột đưa tin Trưởng phái bộ quân sự Mỹ ở Sài Gòn, tướng Brinh “tự sát” trong một tình huống không rõ ràng. Tướng Brinh có phải là nạn nhân của một âm mưu “diệt khẩu”, hay thậm chí là quân nhân Mỹ “phản chiến” đầu tiên, như dư luận đồn đoán? Năm 2012, tròn 60 năm sau sự kiện trên, liệu Nhà Trắng có giải mật nguyên nhân cái chết này?

Khi “Việt cộng” tiến công cư xá Brink đúng đêm Nô-en 1964, truyền thông phương Tây mới chợt nhớ về cái chết kỳ quặc của một tướng Mỹ xảy ra vào trước đó một giáp – thời kỳ Oa-sinh-tơn nhúng tay vào Đông Dương, để cấp cứu “ông bạn” Pháp đang “chìm tàu” ở đây. Đó là tướng Phrăng-xít Brinh (Francis Brink) (1893–1952).

Tướng Phrăng-xít Brinh (1893 – 1952). Nguồn: http://www.generals.dk

Trái với một truyền thống rùm beng về quân sử, các trang tư liệu, lưu trữ của Hoa Kỳ về một người hùng trận mạc như tướng Brinh có vẻ sơ sài. Chỉ thấy nói ông ta tốt nghiệp trường quân sự có tiếng Coóc-neo (Cornell), từng nổi danh trong các cuộc chiến thuộc nửa đầu thế kỷ XX của Mỹ. Brinh đã từng giảng về chiến thuật quân sự ở Đại học quốc gia Lu-i-di-a-na (Louisiana) 1928-1934, nơi ông cũng làm huấn luyện viên quyền anh.

Cuối thế chiến II, Brinh được vinh thăng chuẩn tướng trên cương vị Trưởng phòng Tác chiến của Bộ chỉ huy chiến trường Đông Nam Á. Nơi đây đã xảy ra các chiến dịch của quân Mỹ tại Miến Điện (Burma, nay là Mi-an-ma) với các xung đột chống quân Nhật ở Thái Lan và Ma-lai-xi-a.

Chọn mặt gửi vàng

Nhân những cơn lốc chiến tranh lạnh, Oa-sinh-tơn ra mặt bênh vực quyền lợi thực dân của Pháp ở Đông Dương, những quan tâm nửa vời về độc lập cho các dân tộc thuộc địa ở đây của Tổng thống Ru-giơ-ven ở Cai-rô và Tê-hê-ran (1943) đã chìm vào sương mờ quá khứ. Viện trợ Mỹ cho Pháp bắt đầu bằng 10 triệu đô-la năm 1950 và vọt lên trên 1 tỷ đô-la năm 1954, chiếm tới 78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương.

Hiện thực hóa một ý đồ của kế hoạch Rơ-ve (Revers) (1949) là ngụy tạo “chủ quyền” cho các chính quyền bù nhìn, tại Sài Gòn ngày 23-9-1950, đã rùm beng lễ ký các Hiệp định quân sự giữa Mỹ với Pháp và các “chính phủ thuộc khối Liên hiệp Pháp” ở Đông Dương. Theo quân sử Mỹ, từ đây đã thiết lập được nền móng cho viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ đổ vào Đông Dương. Cơ chế hành chính của nó là Phái bộ hiệp trợ và cố vấn quân sự Mỹ (viết tắt là MAAG). MAAG do tướng Brinh cầm đầu từ 10-10-1950, với chức trách là quản trị chương trình viện trợ Mỹ cho Đông Dương, và bảo đảm hậu cần cho “quân đội thuộc Khối liên hiệp Pháp”. Huấn luyện cho “quân đội Việt Nam” (ngụy) vẫn do Pháp thực hiện.[1]

Nửa chừng xuân…

Học giả hôm nay không được ưu ái về tư liệu lưu trữ về vụ tướng Brinh “tự tử” xảy ra vào sáng 24-6-1952 ngay tại Lầu Năm Góc. Tin này hầu như được đưa một lần với nội dung gần như nhau cùng ngày 25-6-1952, trên hầu hết các báo địa phương, không mấy tên tuổi.

Cụ thể, báo Ban Ngày (The Day) ra 25-6-1952 tiết lộ rằng, bạn bè của tướng Brinh nói nguyên nhân là do ông ta “đã vô cùng thất vọng với tình hình ở Đông Dương, nhưng lại không biết làm gì (để cải thiện)” (“…Brink had been badly depressed but that the Indochina situation had nothing to do with it”); rằng khẩu súng ngắn Brinh dùng tự sát “cỡ nhỏ”, nên nhà đương cục cho rằng ông ta vẫn đủ sức chịu đựng để tự thực hiện tới ba phát bắn, đến khi chết hẳn[2]. Báo Trạng sư vùng Victoria (Victoria Advocate), bang Tếch-xát (Texas), nói thêm Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ, tướng Lao-tơn Côn-lin (Lawton Colins) gần như là chứng nhân của vụ này vì phòng làm việc của Brinh nằm cùng tầng với phòng của Côn-lin. Ca ngợi Brinh là một quân nhân tận tụy, tướng Côn-lin dường như cho rằng viên thủ trưởng MAAG tuẫn tiết vì đã “kiệt sức khi cáng đáng đặc nhiệm này”[3].

Tướng Brinh vừa mới từ Sài Gòn về Oa-sinh-tơn dự một hội nghị quân sự liên quan đến tình hình quân sự phía Đông (gồm cả chiến trường Đông Dương). Các báo cho hay, nhân viên điều tra các vụ đột tử (coroner) của khu vực, ông Ma-grút-đơ Mác Đô-nan (A.Magruder McDonald) nói rằng, có thể tướng Brinh tự sát thật, nhưng ông chưa đưa ra kết luận chính thức cho đến khi kết thúc điều tra.

Những phát súng trong sương mù

Việc tìm kiếm các kết luận pháp lý chính thức về cái chết của tướng Brinh bằng truy cập qua lưu trữ truyền thông Mỹ không có kết quả. Một trang điện tử điều tra về các vụ việc tiêu cực trong quân đội Mỹ[4] cũng khẳng định, rằng gần 6 thập kỷ đã qua, nhưng “vụ tướng Brinh” vẫn thuộc khái niệm sương mù chiến tranh.

Sách “Nhận thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam: Truyền thuyết, bóng tối, người hùng”, Nxb Christopher Pub House (1998).

Militarycoruption.com đưa ra một loạt những câu hỏi nhưng tờ báo điện tử chuyên về các vụ bê bối trong quân đội Mỹ này chưa hề được câu trả lời. Thứ nhất, tới nay không có nguồn nào nói rõ có dấu ngón tay của tướng Brinh trên cò khẩu súng được xem là đã được ông ta dùng để tự sát hay không? Thứ hai, “chẳng ai dám to giọng hỏi xem tại sao một quân nhân làm đến cấp tướng lại cố bắn được tới ba phát đạn súng lục cỡ nhỏ vào ngực mình”, trong khi ai cũng biết chỉ cần một viên đạn súng Colt tự động 45 bắn vào hàm dưới đem lại hiệu quả cao hơn, Militarycoruption.com chia sẻ sự thắc mắc đó.

Cuối cùng, không có một hồ sơ nào về cái chết của tướng Brinh được lưu tại quê nhà ông. Văn phòng Các vụ đột tử cho hay, toàn bộ giấy tờ của vụ này đã được chuyển về Bộ Quốc phòng. Để rồi năm 1973 (năm Nhà Trắng buộc phải ký Hiệp định Pa-ri), toàn bộ các hồ sơ bệnh sử và cả biên bản điều tra vụ chết bất thường theo luật định (coroner) đã bị hủy hoại trong một hỏa hoạn tại Trung tâm Lưu trữ quân sự tại Xanh Lu-i (St. Louis), bang Mi-du-ri (Missouri), theo sách “Nhận thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam: Truyền thuyết, Góc khuất, và người hùng” (Vietnam Military Lore: Legends, Shadows & Heroes) của tác giả Rây Bao-dơ (Ray Bows).

Tướng Brinh đã không hề để lại thư tuyệt mệnh. Ngay trước khi xảy ra vụ tự sát, viên tướng này còn gọi điện cho Lây-la-ni (Leilani) con gái mình, báo ông sắp tới thăm gia đình cô. Phu nhân tướng Brinh lúc đó vẫn ở Sài Gòn. Lây-la-ni nói chưa bao giờ thấy cha mình đeo súng phòng thân hay vũ khí cá nhân. Bà cũng cho biết, ban đầu gia đình đã được quân đội Mỹ cho hay tướng Brinh “đã tự bắn xuyên qua miệng”, rằng quân đội Mỹ sau đó đã không thể đưa ra một tường thuật mạch lạc vụ việc này. Các thành viên khác của gia đình cũng cho biết đã cố tìm hiểu nguyên nhân cái chết đầy bí hiểm (mystery) của tướng Brinh, nhưng vô vọng. Cháu của viên tướng này nói với tác giả Rây Bao-dơ rằng trong lễ tang “Ở Oa-sinh-tơn, không ai muốn nói gì về chuyện này (vì sao tướng Brinh tự sát)”.

60 năm mồ yên mả lặng?

Nay nhìn lại, tờ báo điện tử Militarycoruption.com cho rằng tướng Brinh chẳng có cớ gì đến nước phải tự vẫn. Cho dù ai đó loan trên truyền thông thời 1952, rằng viên tướng này chán đời do bệnh tật, nên đã tự bắn 3 viên đạn vào người ngay trên bàn làm việc. “Vụ này kết luận rồi, hãy tiến về phía trước” người ta khuyên. Tờ Militarycoruption.com không hiểu vì sao viên tướng này lại giấu vợ con chuyện mình bị “trọng bệnh”, và nếu ai bị bệnh như tiểu đường, xơ cứng động mạch cũng tự sát thì thế giới này đã đầy xác chết…

Con một người bạn của tướng Brinh kể lại: “Trong lần cuối cùng từ Đông Dương về tới thăm cha tôi, Phrăng-xít Brinh bảo cha tôi rằng tình hình Việt Nam rất đáng lo ngại, và quan điểm của ông ta không được ưa chuộng… Ông ta cảm thấy cuộc sống của mình có thể bị đe dọa, do biết quá nhiều”.

Rây Bao-dơ viết: “Tướng Brinh là một quân nhân đúng nghĩa, ông ta hiểu rõ sự khác biệt giữa các quân lệnh hợp luật và không hợp luật… chắc là ông ta đã khăng khăng đưa các vụ việc, như buôn lậu thuốc phiện (dùng máy bay quân sự) và vũ khí Mỹ (mà người Pháp làm ở Đông Dương) ra Quốc hội Mỹ và Nhà Trắng”. “Bảo vệ” Pháp lúc đó đồng nghĩa với thực hiện học thuyết Truman – “chống sự xâm lược trực tiếp và gián tiếp của cộng sản”.

Brinh chết, tướng Tô-mát Tráp-neo (Thomas Trapnell) sang nhậm chức đứng đầu MAAG, cổ động cho quan điểm tăng cường sự có mặt của Mỹ ở Đông Dương. Tiếp sau là những gì, thì cả thế giới đều biết.

Militarycoruption.com nói rõ hơn, cho rằng nếu tướng Brinh kịp tiết lộ những điều ông biết ra công luận Mỹ, “hẳn là cuộc thảm sát dài hạn dành cho nước Mỹ ở Việt Nam đã được ngăn chặn”.

Ai đó sẽ bảo rằng vẫn chỉ là những giả thuyết mà thôi. Nhưng công luận Mỹ vẫn tự hỏi[5] vì sao lại có những nỗ lực bất thường đến thế để gia cố những bức tường yên lặng đáng sợ bao quanh nấm mồ của tướng Brinh trong suốt sáu thập kỷ?

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

[1] http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Comm-Control/ch01.htm

[2]http://news.google.com/newspapers?nid=1915&dat=19520625&id=gewgAAAAIBAJ&sjid=PHIFAAAAIBAJ&pg=5135,3936073

[3]http://news.google.com/newspapers?nid=861&dat=19520625&id=NSocAAAAIBAJ&sjid=yVoEAAAAIBAJ&pg=6678,6459970

[4]http://www.militarycorruption.com/brink.htm

[5]http://www.militarycorruption.com/brink.htm