Thư viện

Đồng đội còn nằm đó, sao đành…

Nghĩa tình đồng đội

QĐND-Bị thương trong chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975, buộc phải trở về tuyến sau điều trị không thể tiếp tục cầm súng chiến đấu đã là một nỗi day dứt khôn nguôi của CCB Dương Xuân Hà-nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 7, Đại đội 5, Trung đoàn 85, Sư đoàn 325. Điều trăn trở khiến ông luôn tìm cách trở lại chiến trường xưa là mong muốn tìm kiếm những đồng đội đang còn nằm dưới cỏ.

Bắt đầu cuộc trò chuyện với chúng tôi, CCB Dương Xuân Hà nhắc đi nhắc lại yêu cầu: “Đừng viết gì về tôi cả, hãy giúp tôi đưa thông tin về đồng đội lên báo. Biết đâu người thân của các anh đọc được để có thể đưa các anh về”. Gợi mở mãi chúng tôi mới kéo được ông trở về một trận đánh mà sau đó ông đã phải tự tay chôn cất 5 liệt sĩ.

Ngày 31-12-1972 tại làng Như Lệ, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, chiến sĩ Dương Xuân Hà cùng đồng đội nhận nhiệm vụ bảo vệ chốt ở giữa làng. Gần sáng có một nhóm 5 chiến sĩ của Sư đoàn 312 mới về tăng cường sau khi chốt của họ ở phía trên bị địch đánh chiếm. Thế là hai nhóm sáp nhập thành một, chia ra ở hai chiếc hầm chữ A theo bố trí trận địa của đơn vị. Gần hết nửa ngày ở chốt, họ có dịp trò chuyện và biết tên của nhau. Đến gần trưa, địch bắt đầu đánh đến, phi pháo của chúng bắn liên hồi. Ở hầm bên này nhóm của Hà nhanh chóng chuẩn bị tác chiến. Bên kia cũng vậy. Nhưng khi súng vừa trên vai thì trúng hai quả phi pháo của địch. Căn hầm bên cạnh sập xuống. Nhóm của Hà vội chạy sang nhưng không kịp, cả năm đồng chí đều hy sinh.

CCB Dương Xuân Hà. Ảnh: Tuấn Tú.

Kể đến đây, giọng nói của CCB Dương Xuân Hà chợt trùng xuống. Ông lại nhớ về chuyện xưa. Sau khi chôn cất cho năm đồng chí hy sinh xong, ông cùng đồng đội lại vào vị trí chiến đấu. Hành quân đi khắp các chiến trường đến khi bị thương buộc phải xuất ngũ. Sau nhiều năm bươn chải, lăn lộn với cuộc sống, cứ tích cóp được ít tiền là ông tại tìm cách về lại chiến trường xưa, không gì ngoài mục đích kiếm tìm đồng đội. Cùng với ông, còn có anh Lâm, anh Thái – những người cùng đơn vị năm xưa, họ kết thành ban liên lạc hễ khi nào có đủ điều kiện là sẵn sàng lên đường.

Bắt đầu công việc tri ân đồng đội từ năm 2005 đến nay, chỉ bằng nguồn kinh tế tự có họ đã đưa được 4 trong số 5 liệt sĩ về nơi an nghỉ cuối cùng. CCB Dương Xuân Hà kể: “Năm đó khi chôn cất các đồng chí chúng tôi đã đánh dấu từng vị trí cụ thể. Sau nhiều năm làng Như Lệ vẫn không thay đổi nhiều nên việc tìm kiếm không khó khăn lắm. Anh Thoại nhà ở Hàng Khoai, Hà Nội; anh Ngọc quê ở Vân Đồn, Hà Nội đã được đưa vào nghĩa trang Quảng Trị rồi. Anh Vũ Trọng Kiêm gốc Khoái Châu, Hưng Yên và anh Hiệp người Thanh Trì, Hà Nội thì được đưa về quê nhà”.

Vậy là 4 liệt sĩ trong số năm người hy sinh đã được đồng đội và gia đình chuyển về nơi yên ấm hơn. Còn một người nữa. Sao anh vẫn còn nằm lại chân hàng rào gần căn hầm cũ. Ông Hà nói: “Vì năm đó chúng tôi không kịp trao đổi với nhau nhiều. Chỉ biết anh ấy tên là Hào, người Kinh Môn, Hải Dương gì đó. Khi hy sinh mọi thứ tan tác hết nên chúng tôi không tìm thấy giấy tờ tùy thân của anh ấy”.

CCB Dương Xuân Hà còn nhớ rõ, liệt sĩ Hào ngày đó khoảng chừng 20 tuổi, dáng người không cao lắm, da trắng, mặt nhiều mụn trứng cá. Cuộc trò chuyện ngắn ngủi chỉ vừa đủ cho ông biết anh là người kín đáo, chín chắn, vừa chiến đấu bên Lào về… Chưa kịp hiểu về nhau thì trúng pháo địch, anh Hào hy sinh.

Trong những phút cuối của buổi trò chuyện, người CCB ấy gửi tới chúng tôi mong muốn chân thành là tìm được thông tin về gia đình anh Hào để đưa anh trở về với quê nhà. Ông Hà nói: “Thà mình không nhìn thấy thì thôi, giờ biết đồng chí còn nằm đó, sao đành…”.

Từ những thông tin trong bài viết, bạn đọc và cộng tác viên nào biết về liệt sĩ Hào xin liên hệ với CCB Dương Xuân Hà theo số điện thoại 01662266407.

Bích Trang – Lê Na
qdnd.vn

Đời thực của một “huyền thoại” Mũ nồi xanh

QĐND – Trong một số tiểu thuyết hư cấu về chiến tranh và nhất là trong kịch bản phim hành động, có những “lính kín” (sĩ quan tác nghiệp chiến tranh bí mật) của Mỹ được tụng ca như huyền thoại. Nhưng học giả phương Tây nhận thấy ngay cả những sách không hư cấu (non – fiction: sách người thật việc thật) viết về chiến tranh ngầm ở phương Tây cũng ngấm ngầm thần thánh hóa những nguyên mẫu của “Rambo”.

Những hơi thở đầy sát khí của “Chiến tranh lạnh” và nhất là khói súng của cuộc chiến Triều Tiên đã đẩy nhanh tiến trình xây dựng Lực lượng đặc biệt Mỹ (LLĐB). Ra đời tháng 5-1952, đơn vị đầu tiên, SFC 10, của LLĐB được đặt dưới quyền Trung tâm chiến tranh tâm lý (Psychological Warfare Center) của quân đội Hoa Kỳ. Những người “biết cách hoạt động sau lưng đối phương” lại được cần đến, để giữ cho các quân cờ đô-mi-nô khỏi đổ. Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia cho rằng, một số người gốc Âu từng chiến đấu chống Hồng quân Liên Xô trước đó đã được đặc cách tuyển mộ vào “Mũ nồi xanh”, bất chấp cả quá khứ phát xít(1).

La-ry Thoóc-nơ, 3 ngày trước điệp vụ cuối cùng, tháng 10-1965. Ảnh tư liệu

Sách “Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội”(2) của Giáo sư R.Sun-dơ (R.Shultz), từng được khen ngợi bởi cả các cựu chỉ huy Mỹ trong chiến tranh Việt Nam lẫn các tác gia và ký giả nổi tiếng, đã viết những dòng đầy cảm thán về La-ry Thoóc-nơ (Larry Thorne, tên thật là Lauri Allan Tôrni), sĩ quan điều hành trại LLĐB Khâm Đức, Quảng Nam năm 1965.

Từ miền núi quanh năm tuyết phủ

Sun-dơ viết: “Lai lịch của La-ry Thoóc-nơ là nguồn chất liệu cho tiểu thuyết. Sinh ở Phần Lan năm 1919, Thoóc-nơ gia nhập quân đội Phần Lan năm 1938 và trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai, tiến hành hoạt động không quy ước chống quân đội Xô-viết… Khi Đức xâm lược Liên Xô 1941 và Phần Lan liên minh với Béc-lin, Thoóc-nơ tiếp tục đầu quân cho Quốc xã”.

Theo từ điển bách khoa điện tử Wikipedia, phe Hồng quân treo giải thưởng tương đương với 560 nghìn USD cho ai loại trừ được Thoóc-nơ – sĩ quan phát xít thuộc diện “đặc biệt nguy hiểm”.

R.Sun-dơ viết tiếp, “Tháng 9-1944, Phần Lan đầu hàng Liên Xô, nhưng Thoóc-nơ thì không. Thoóc-nơ nhập vào quân đội Đức Quốc xã, theo học tại trường chiến tranh du kích, rồi cùng lính thủy đánh bộ của Hít-le chống lại Hồng quân cho đến khi kết thúc chiến tranh.

Muốn trừng phạt Thoóc-nơ, Liên Xô yêu cầu chính phủ Phần Lan phải bắt Thoóc-nơ. Liên Xô có kế hoạch dẫn độ Thoóc-nơ về Mát-xcơ-va và xét xử như tội phạm chiến tranh. Thoóc-nơ chạy trốn được sang Hoa Kỳ, và với sự giúp đỡ của Bin Đô-nô-van (Bill Donovan), Thoóc-nơ trở thành công dân Mỹ. Đô-nô-van, đứng đầu OSS lúc đó biết về những chiến tích của com-măng-đô Thoóc-nơ. Đô-nô-van hình dung chiến tranh không khác gì việc kinh doanh ở phố Uôn (Wall). Hoa Kỳ sẽ cần tới những con người như La-ry Thoóc-nơ, trong những năm tới”.

Buổi đầu trong LLĐB Mỹ, Thoóc-nơ dạy các môn như trượt tuyết, leo núi, chiến thuật du kích. Từ đó, Thoóc-nơ thăng tiến dần với bậc sĩ quan cấp úy, phục vụ cùng SFG 10 ở Tây Đức, rồi càng ngày càng nổi trội trong hoạt động ngầm trên dãy núi Da-grốt (Zagros) ở Vịnh Ba Tư…

Đến rừng rậm nhiệt đới

Tháng 11-1963, Thoóc-nơ nhập vào đơn vị LLĐB Mỹ A-734 đóng ở Đồng bằng sông Cửu Long và được gắn hai mề đay.

Chiến tranh cục bộ bắt đầu cùng với sự thăng hạng của “chiến tranh bí mật” ở Lào, La-ry Thoóc-nơ nay đã được thăng cấp đại úy, nhưng thuộc quân Mỹ, được Tổ nghiên cứu và quan sát thuộc Bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACVSOG, hoặc SOG) giao chỉ huy một đơn vị đặc biệt Mỹ chuyên đánh phá tuyến đường Trường Sơn.

R.Sun-dơ viết: “Vào mùa thu 1965, các chi tiết đã được nhất trí, và 5 toán thám báo đã sẵn sàng “xé rào” (cross the fence – vượt biên giới miền Nam Việt Nam – Lào). Nhiệm vụ là phá hoại ngầm. Họ không đeo quân hàm, phù hiệu đơn vị, trang phục được đặt riêng cho SOG, không rõ may ở đâu. Vũ khí mang theo không sản xuất ở Mỹ, mà kiếm được từ nguồn bí mật, không thể tìm được xuất xứ. Các toán biệt kích không mang bất cứ thứ gì để cho phép xác định họ là ai… Từ tháng 10 cho đến hết năm 1965, 7 điệp vụ thám báo được thực hiện”.

Theo Trung tá Ray-mơn Con-lơ (Raymond Call), những chiến dịch sớm sủa này được tiến hành khi đối phương chưa phòng bị, nên SOG có được yếu tố bất ngờ. “Kết quả thật khích lệ. Các toán thám báo đã phát hiện được nhiều mục tiêu cho máy bay Mỹ ném bom”. 80-100% mục tiêu bị phá hủy, theo tài liệu về MACVSOG của Hội đồng tham mưu Liên quân Mỹ, phụ lục D, phần “Hoạt động vượt biên giới Việt – Lào”.

Sự khởi đầu nhanh chóng này, theo R.Sun-dơ, cũng không thể không trả giá.

Kết cục tất yếu

Trong điệp vụ ngày 18-10-1965, hai chiếc trực thăng H-34 chở một toán biệt kích chuẩn bị xâm nhập vào Lào. Cố vấn La-ry Thoóc-nơ bay trên chiếc H-34 thứ ba. Sau khi toán biệt kích đổ bộ được xuống địa điểm định trước, hai chiếc trực thăng đầu quay về căn cứ Khâm Đức. Chờ đến khi nhận được tín hiệu cho biết toán biệt kích đã vượt biên an toàn, Thoóc-nơ lệnh cho phi công quay về căn cứ. Lúc đó, sương mù hầu như che khuất tầm nhìn. Chiếc H-34 và Thoóc-nơ biến mất trong màn đêm, không để lại dấu vết gì…

Mãi đến năm 1999, sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, Tổ chức tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam mới xác định được hài cốt của La-ry Thoóc-nơ trong số hàng nghìn hài cốt lính Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Và hài cốt của Thoóc-nơ chính thức được xác nhận năm 2003.

Thần tượng hóa kiểu dối trá

Cuốn “Mũ nồi xanh”, in lần đầu năm 1965, với một nhân vật chính là Sven Cớc-ni (Sven Kornie), được xem là La-ry Thoóc-nơ hóa thân(3).

Mặc dù nhân vật sống Thoóc-nơ ngay sau đó biến mất trong “sương mù chiến tranh”(4) (Brouillard de guerre), nhưng “Mũ nồi xanh” vẫn kịp trở thành sách bán cực chạy thời điểm năm 1966.

Năm 1968, khi cuộc chiến ở Việt Nam lại bắt đầu lòi ra các điểm nhấn “Thiên Nga, Phượng Hoàng” dựa trên “chủ bài” LLĐB, thì “Mũ nồi xanh” lại được chuyển thể thành phim cùng tên, do diễn viên điện ảnh Giôn Uây-nơ (John Wayne) thủ vai chính theo nguyên mẫu La-ry Thoóc-nơ.

Như vậy vẫn chưa đủ, các nỗ lực “đánh bóng” tội ác chiến tranh của giới truyền thông phương Tây vẫn chưa chịu dừng bước. Năm 2004, có nguồn truyền thông phương Tây tiếp tục đánh giá khá cao “công trạng” của La-ry Thoóc-nơ. Trong bài “Một đánh giá về khủng bố của Mỹ ở Việt Nam” (An account of American terrorism in Vietnam)(5), tác giả Pa-trích Mác-tin (Patrick Martin) viết: “Câu chuyện về La-ry Thoóc-nơ cho thấy, bản chất thực sự của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đó là sự kết hợp giữa tư tưởng chống Cộng, bài châu Á, và sự dã man chống nhân dân Việt Nam. Nó vạch ra sự tương đương giữa các cuộc tàn sát do Mỹ chỉ đạo ở Việt Nam, và sự hung bạo của Quốc xã ở mặt trận phía Đông. Ấy thế mà tác giả Sun-dơ trong “Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội” đã miêu tả công trạng của La-ry Thoóc-nơ như một người hùng…”.

Thật đáng nực cười cho bộ máy truyền thông phương Tây, bởi Thoóc-nơ cũng chỉ là một lính Mỹ như hàng vạn lính Mỹ khác đã phải đền tội trong cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược Việt Nam.

Lê Thành

1. http://en.wikipedia.org/wiki/The_Green_Berets_%28film%29
qdnd.vn

2. Sách The secret war against Hanoi, NXB Harper Collins, 2000. Bản tiếng Việt của NXB Văn hóa-Thông tin, 2002

3. Mô tả sách “Mũ nồi xanh” trên Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/The_Green_Berets_%28book%29

4. Brouillard de guerre, khái niệm được Clausewitz đưa ra từ thế kỷ 19 để chỉ các yếu tố không rõ ràng trong chiến tranh do cảm nhận chủ quan và các yếu tố khách quan, và các thách thức mà các bên của cuộc chiến áp đặt cho đối phương. Cũng là tên của một DVD về hồi ức và suy nghĩ sau chiến tranh Việt Nam của Mắc Na-ma-ra.

5. http://www.wsws.org/articles/2000/jun2000/viet-j06.shtml

Tại sao bà Tống Khánh Linh không an táng tại Lăng Tôn Trung Sơn?

QĐND – LTS: Báo điện tử “Lịch sử văn hóa Trung Hoa” (www.xyz6666.com), ngày 19-12-2010, đã đăng bài “Nội tâm lấn cấn? Vì sao bà Tống Khánh Linh không chịu an táng chung tại Lăng Trung Sơn”.

Chúng tôi trích dịch tư liệu trên, để bạn đọc tham khảo tìm hiểu thêm về quan điểm xử thế của bà Tống Khánh Linh, một đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch danh dự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, được mệnh danh là “Người phụ nữ vĩ đại trong thế kỷ 20 của thế giới”.

Bà Tống Khánh Linh (27-1-1893 / 29-5-1981).

Trong những phần mộ an táng bao quanh Lăng Trung Sơn, nơi bảo quản thi hài của Vĩ nhân Tôn Trung Sơn, người được mệnh danh là Người cha của đất nước Trung Hoa cận đại (Quốc phụ), có phần mộ hợp táng của nhân sĩ Liêu Trọng Khải và phu nhân Hà Hương Ngưng. Diện tích lăng không lớn (diện tích 20 mẫu, trong khi đó phần mộ của Đàm Diên cách đó không xa rộng đến hơn 300 mẫu đất), nhưng phong cách rất đặc biệt, vô cùng hấp dẫn khách tham quan. Phần mộ này cũng là tác phẩm của Lã Nhan Trực, kiến trúc sư thiết kế Lăng Trung Sơn, một tài hoa trẻ qua đời sớm.

Nhân sĩ yêu nước Liêu Trọng Khải bị ám sát và tử vong vào buổi chiều ngày 20-8-1925, sau khi Tôn Trung Sơn từ trần chưa đầy 6 tháng. Năm ấy, ông mới 48 tuổi; vợ ông – bà Hà Hương Ngưng năm ấy 46 tuổi (lớn hơn Tống Khánh Linh 14 tuổi). 47 năm sau, ngày 1-9-1972, bà Hà Hương Ngưng ốm chết tại Bắc Kinh. Theo di nguyện của bà “sống cùng phòng, chết cùng huyệt”, linh cữu của bà Hà Hương Ngưng được chuyển đến Nam Kinh an táng chung một mộ với Liêu Trọng Khải.

Hai vợ chồng chí sĩ yêu nước Liêu Trọng Khải đều là Hội viên sớm nhất của Đồng Minh hội, là chiến hữu và trợ thủ thân cận nhất của Tôn Trung Sơn tiên sinh. Theo chính sử ghi chép, khi hấp hối, Tổng thống Tôn Trung Sơn đã trực tiếp căn dặn bà Hà Hương Ngưng: “Sau khi tôi chết, nhờ chị chăm sóc Tôn phu nhân…”.

Sau khi nghe trả lời chắc chắn, Tôn Trung Sơn tiên sinh nắm tay bà Hà Hương Ngưng: “Liêu Trọng Khải phu nhân, tôi cảm ơn chị…”.

Cùng chung số phận, kinh lịch và sự nghiệp, khiến cho Tống Khánh Linh và Hà Hương Ngưng “vận mệnh đan kết thân mật như vậy”, mối quan hệ giữa hai bà bất luận là riêng hay chung đều khác thường. Con trai, con gái của Hà Hương Ngưng từ bé đều tôn kính gọi bà Tống Khánh Linh là “thím”, hoặc thân mật gọi bằng tiếng Anh “dì Anne”.

Chín năm sau, khi bà Hà Hương Ngưng từ trần, năm 1981, bà Tống Khánh Linh ốm nặng rồi qua đời tại Bắc Kinh. Trước khi qua đời nửa tháng, bà Tống Khánh Linh được thụ phong danh hiệu Chủ tịch danh dự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Có người đặt câu hỏi, liệu bà có an táng chung tại Khu lăng mộ Trung Sơn, như bà Hà Hương Ngưng không?

Ngoài sự dự đoán của mọi người, thi hài của bà Tống Khánh Linh sau khi được hỏa thiêu hai ngày, tro xương được chuyên cơ chuyển về Thượng Hải, an táng tại khu mộ họ Tống trong nghĩa trang Vạn Quốc. Làm như vậy, hoàn toàn là tôn trọng di nguyện và sắp xếp của bà Tống Khánh Linh khi còn khỏe mạnh.

Tại sao bà Tống Khánh Linh không đề xuất an táng chung trong lăng với Tôn Trung Sơn hoặc bên cạnh Lăng Trung Sơn?

Bà Ismail Demirel Epstein, tác giả “Truyện Tống Khánh Linh” đã viết:

“Bà cho rằng, sự nghiệp lịch sử của Tôn Trung Sơn là công lao của ông ấy, bà không nên chia hưởng hạnh phúc ấy. Ngoài ra trước giải phóng, trong Quốc Dân đảng đã từng có người phê phán cạnh khóe về địa vị quả phụ Tôn Trung Sơn của bà (năm 1922, tuy đã kết hôn 7-8 năm, song trong Quốc Dân đảng vẫn có người cố ý gọi bà là “Tống tiểu thư”, tỏ thái độ không thừa nhận thân phận “Tôn phu nhân” của bà. Sau đó, luận điệu vô lý ấy không còn nữa, song vấn đề “danh phận” vẫn chưa bị dập tắt).

Ba điều bổ sung của nữ nhà văn Epstein cũng rất thận trọng cân nhắc sử dụng từ ngữ, nào là “có thể bà cho rằng”, nào là “đây cũng có thể”, hoặc “phải chăng vì thế mà bà cảm thấy…” tức là phán đoán quan điểm của nhân vật chính của tác phẩm.

Xem ra, đối với bà Tống Khánh Linh, một người có cá tính nhàn tĩnh, hướng nội, song tư tưởng không hề khép kín, hời hợt, đã để lại một câu đố không nhỏ cho những nhà nghiên cứu.

Song theo nhãn quan thế tục, khi sinh mệnh ở những giây phút cuối đời, người ta đều có khát vọng trở về với nguồn gốc, khát vọng “lá rụng về cội”, cũng là thường tình “thánh nhân không cấm”. Miền Bắc Trung Quốc có câu tục ngữ nói: Con gái là “áo bông nhỏ lót mình” của mẹ. Bà Tống Khánh Linh nhớ song thân với tình cảm ăn năn, nhất là đối với mẫu thân. Khi tuổi đã trên bát tuần, trong một lá thư riêng, bà vẫn nhớ lại khi bà đã 22 tuổi lặng lẽ rời khỏi Thượng Hải (theo khảo chứng của nữ nhà văn Epstein, bà chỉ “lén lút trốn ra khỏi phòng”, chứ không tồn tại cảnh tượng lãng mạn “bắc thang leo ra khỏi ban công”), đi theo Tôn Trung Sơn đang lưu vong ở Nhật Bản và tổ chức lễ cưới:

“Sau khi xem lá thư từ biệt của tôi để lại, cha mẹ tôi bèn lên một chiếc tàu biển đi sang Nhật Bản, muốn khuyên tôi rời khỏi chồng, cùng họ trở về. Mẹ tôi khóc, cha đang bị bệnh gan khuyên tôi…”.

Năm 1949, phái đương quyền Quốc Dân đảng giữa lúc “hấp hối chính trị” xuất phát từ mục đích vừa nhìn đã biết, ra sức tuyên truyền bà Lư Mộ Trinh, người vợ cũ và đã ly hôn với Tôn Trung Sơn từ lâu, mới là Tôn phu nhân chân chính và duy nhất. Báo chí đã cho biết, bà Tống Khánh Linh biểu thị: “Bọn họ có thể nói tôi không phải là Tôn phu nhân, nhưng không có ai có thể phủ nhận tôi là con gái của cha mẹ tôi”.

Nữ nhà văn Epstein phân tích rằng: “Đây có khả năng là quan điểm của bà được thổ lộ sớm nhất, quan điểm này khiến cho bà lúc bệnh tình nguy cấp đã đề xuất yêu cầu an táng cùng một nơi với cha mẹ bà”.

Điều kích thích tâm can sâu thẳm nhất đối với bà Tống Khánh Linh vẫn là thời kỳ “cách mạng văn hóa” phá bỏ bốn cũ, Hồng vệ binh của Thượng Hải đã “phá nát” phần mộ song thân của bà tại nghĩa trang Vạn Quốc, “đẩy đổ bia mộ, đào xương trong mộ lên, thực hành “đánh xác”.

Trong “Truyện Tống Khánh Linh” kể lại: “Khi tấm ảnh phần mộ bị phá hoại từ Thượng Hải gửi lên Bắc Kinh, những người làm việc bên cạnh bà Tống Khánh Linh lần đầu tiên thấy bà tinh thần không đứng vững mà khóc thảm thiết.

Liêu Mộng Tỉnh đưa tấm ảnh ấy cho Thủ tướng Chu Ân Lai. Thủ tướng Chu Ân Lai hạ lệnh cho ngành hữu quan của thành phố Thượng Hải lập tức sửa chữa lại phần mộ họ Tống và sau khi sửa xong đã chụp ảnh gửi cho bà Tống khánh Linh. Song không sửa chữa lại đúng nguyên như cũ. Trên bia mộ cũ có ghi tên của 6 người con, mà trên bia mộ mới chỉ có tên một người Tống Khánh Linh… Sau khi cách mạng văn hóa kết thúc, lại thay đổi bia mộ mới, hoàn toàn khôi phục như cũ”.

Đúng như tác giả bài viết này trước đây không lâu đã viết một bài rằng: Ba năm cuối cùng cuộc đời của bà Tống Khánh Linh lại là thập niên có hy vọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tháng 2 năm 1979, trong một lá thư gửi cho một người bạn Mỹ, bà đã viết:

“Dân chủ và pháp chế bắt đầu chiếm thế thượng phong và đã hiển hiện ra… Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ ba của Đảng tổ chức gần đây là một thắng lợi”.

Một người già chìm nổi này là một cán bộ lãnh đạo cao cấp, dù có cưỡi sóng to gió lớn, cũng khó tránh khỏi có những lo lắng đến những thăng trầm sóng gió của quãng đường trước mắt. Trong những bức thư khác nhau, Bà đã nói thẳng đến những tệ nạn của xã hội hiện tại:

“Loại trừ chế độ ủy phái cán bộ và chế độ giáo dục của chúng ta trước mắt đã được cải thiện, tôi dám khẳng định rằng: Mọi nỗ lực mà chúng ta thực hiện bốn hiện đại hóa đều sẽ thất bại!

Bất kỳ lợi ích tập thể nào, đều phải cho phép tự do và lựa chọn của cá nhân”.

Phải chăng trong lúc hấp hối, bà Tống Khánh Linh đã cảm khái thấy rõ vận mệnh của mình ở phía sau người bạn đời và người thầy của mình, nên đã quyết định nêu ra di nguyện trở về an táng tại nghĩa trang gia tộc, quyết định một cách hàm súc dứt khoát rõ ràng rằng: Bản thân mình quyết đoạn tuyệt và cảnh báo về những cố tật mang tính dân tộc quen cố tạo ra hình ảnh thần thánh và mù quáng tin theo mê tín?

VŨ PHONG TẠO dịch và giới thiệu
qdnd.vn

Trận đánh xác nhận chủ quyền đảo Côn Lôn năm 1702

QĐND – Theo Đại Nam nhất thống chí, năm Kỷ Mùi (1679), Thái tông Hiếu triết Hoàng đế sai tướng mở đất dựng đồn ở địa phận gần Tân Mỹ. Năm Mậu Dần (1698), Hiến tông Hiển Minh Hoàng đế lại sai Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất ấy, đặt phủ Gia Định, lấy xứ Sài Gòn đặt làm huyện Tân Bình, dựng Dinh Phiên trấn. Vậy là, đến cuối thế kỷ XVII, cương vực nước ta được mở rộng như ngày nay. Và cũng vào thời kỳ đó, ta mới làm chủ những đảo ngoài Biển Đông như: Côn Đảo, Phú Quốc v.v.. Quần đảo Côn Lôn thời đó chưa có người ở. Nhưng do vị trí quan trọng của nó-nằm trên con đường hàng hải từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại, nên quần đảo Côn Lôn tiếp xúc với các nước phương Tây khá sớm, vào thế kỷ XVII. Như ta biết, đội quân tiên phong của chủ nghĩa thực dân được núp dưới lá cờ truyền đạo một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản: Truyền bá Thiên chúa giáo và tiến hành thu thập, điều tra, cung cấp những thông tin cần thiết cho đội quân xâm lược đang túc trực ở phía sau.

Bộ đội biên phòng tuần tra Côn Đảo.

Giám mục A-lếch-xăng đờ Rốt đặt chân tới Nam Kỳ năm 1624 với cả hai nhiệm vụ trọng yếu đó. Hai mươi lăm năm sinh sống ở nước ta, lúc vào Nam lúc ra Bắc, ông ta đã mang về Pháp một tấm bản đồ đầu tiên của xứ này và cho in tại Li-ông ba cuốn sách liên quan đến nước ta: Từ điển Việt-Bồ-La, Lịch sử xứ Đàng Ngoài và Hành trình truyền đạo, trong đó ông cho biết những khả năng buôn bán: “Ở đây, có một chỗ cần chiếm lấy và đặt cơ sở tại đó, thương nhân châu Âu có thể tìm thấy một nguồn phong phú tiền lời và của cải”(1) Theo A-lếch-xăng đờ Rốt, chỗ cần chiếm lấy là Côn Đảo. Hơn 15 năm sau một người đồng hương của đờ Rốt, thương nhân Vê-rê (Véret) đã xác nhận điều đó. Vê-rê đã tới Côn Lôn. Nhận thấy vị trí quan trọng của quần đảo này trên hải trình Âu-Á nên Vê-rê đã đề nghị với Công ty Đông Ấn của Pháp đóng tại Pông-đi-sê-ri (thuộc địa Pháp ở Ấn Độ) chiếm lấy quần đảo này. Trong một lá thư đề ngày 5-1-1686 gửi Công ty Đông Ấn của Pháp, Vê-rê đã viết: “Ở đây có nhiều hòn đảo không có người ở, tất cả các hương liệu ở đây rất tốt và rất nhiều. Côn Đảo là một hòn đảo thuận tiện nhất để làm các việc đó. Côn Đảo có 3 cửa biển tốt, nhiều con suối nhỏ và một con sông nhỏ, một vùng cây cối đẹp nhất thế giới. Các tàu của Trung Hoa, Bắc Kỳ, Ma Cao, Ma-ni-la, Nam Kỳ v.v.. muốn sang buôn bán với Ấn Độ phải đến hết sức gần hòn đảo này; các tàu ở Ấn Độ, tàu của Anh và của Hà Lan muốn đến biển Trung Hoa cũng phải qua lại ở đây. Chiếm được nơi này cũng lợi như chiếm được hai eo biển La Sông-đơ và Ma-lắc-ca vậy. Hơn nữa, phải tính đến việc buôn bán với nước Cao Miên và nước Lào như là cái gì to lớn vì các mặt hàng như của nước Xiêm”.(2)

Nhưng vì công ty này đang bị tư bản Anh chèn ép và tìm cách hất cẳng ra khỏi Ấn Độ nên không còn tâm trí nào để chiếm đảo. Thế rồi, năm 1700, Công ty Đông Ấn của Anh đã nẫng tay trên. Một thương nhân tên là Đao-ty (Doughty) được cử làm chúa đảo. Quân Anh gồm hơn 200 người, phần đông là người Ma-lai-xi-a, dựng doanh trại và mở thương điếm buôn bán với các nước quanh vùng. Thương nhân Trung Hoa đã đánh hơi được và đã mò tới buôn bán kiếm lời: “Có thuyền Trung Hoa chở gạch ngói đến đổi lấy hàng hóa của Hồng Mao (nước Anh) vì vốn ít mà lãi nhiều”(3). Một điều chắc chắn là tư bản Anh muốn biến Côn Lôn thành bàn đạp lợi hại để xâm chiếm những vùng đất mới, trước hết là nước ta. Nhận thấy nguy cơ đó đang tới gần, chúa Nguyễn Phúc Chu đã tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo, xác định chủ quyền của ta trên đảo và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Từ trước tới nay, sự kiện này được miêu tả như một cuộc binh biến của lính đánh thuê Ma-lai-xi-a nổi lên giết chúa đảo để trở về quê quán(4). Sự thực hoàn toàn không phải như vậy mà chính là việc chúa Nguyễn Phúc Chu tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo, qua đó xác định chủ quyền của ta đối với quần đảo, dù chưa có người ở. Trong Đại Nam nhất thống chí có chép một đoạn về sự kiện này như sau:

“Năm Nhâm Ngọ Hiển tông thứ 11 (1702), giặc biển An Liệt (Anh) đi thuyền đến đảo Côn Lôn, người tù trưởng là Tô Lạt Gia Thi (Thomas Doughty) 5 người chia làm 5 ban cùng đồ đảng hơn 200 người, kết dựng trại sách, của cải rất nhiều, bốn mặt đều dựng súng, ở hơn một năm. Trấn thủ Trấn biên là Trương Phúc Phan chiêu mộ 15 người Chà Và, bí mật sai họ trá hàng, rồi nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết Nhất ban, Nhị ban, bắt được Ngũ ban, còn Tam ban, Tứ ban theo đường biển trốn thoát. Nhận được tin báo, Trương Phúc Phan sai lính đi ra đảo thu hết của cải dâng nộp”(5).

Côn Đảo nhìn từ trên cao. Ảnh: Đoàn Hoài Trung

Đoạn trích dẫn trên cho ta biết những thông tin quan trọng sau đây: 1) Người tổ chức đánh đuổi quân Anh ra khỏi Côn Đảo năm 1702 là Trấn thủ Trấn biên Trương Phúc Phan dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu; 2) Phương thức đánh là dùng người Chà Và, cùng sắc tộc với lính Ma-lai-xi-a, trá hàng, nhân đêm tối phóng hỏa đốt trại, tạo thế bất ngờ, rồi giết quân lính Anh, làm cho chúng hoảng sợ phải tháo chạy khỏi đảo; 3) Đã giết và bắt sống 3/5 quân lính, thu nhiều của cải và súng đạn, chỉ có 2/5 binh sĩ chạy thoát.

Rõ ràng, đó là một trận đánh đuổi quân xâm chiếm lãnh thổ, xác định chủ quyền của ta trên quần đảo Côn Lôn, mặc dù chưa có người ở, nhưng hoàn toàn không có nghĩa là một quần đảo vô chủ mà kẻ nào muốn chiếm cũng được.

Thực dân Anh sau hơn một năm chiếm đảo trái phép đã phải gánh chịu hậu quả đó. Cũng từ bấy giờ, thực dân Anh, Hà Lan, mặc dù ở cách đảo này không xa (Ma-lai-xi-a, Nam Dương) đã không dám bén mảng tới hòn đảo có chủ này nữa. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, chủ quyền các đảo ở Biển Đông như: Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn và các đảo trong vịnh Xiêm La vẫn thuộc về ta. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết năm 1776, có chép: “Họ Nguyễn sai đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tư Chính ở Bình Định, hoặc người xã Cảnh Dương (Ròn, Quảng Bình), ai tình nguyện thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu, cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu (đắm) và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai các đội Hoàng Sa kiêm quản”(6).

Và Pô-lanh Vi-an, một quan cai trị cấp cao ở Nam Kỳ thời kỳ các Đô đốc trong một công trình khảo cứu của mình giữa thế kỷ XIX về xứ thuộc địa đã xác nhận: “Hòn đảo này (Côn Lôn) ở trước cửa sông Cửu Long, một thế kỷ trước đây đã do người Anh chiếm đóng… Một đồn quân nhỏ của họ lẻ loi, xa bờ một quãng ngắn trên đường của thương thuyền từ Trung Quốc tới Ma-lai-xi-a là mục tiêu tiến công không ngừng của người bản xứ. Các vua An Nam vẫn là người chủ hợp pháp của đảo ấy”(7).

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

1. A.Tômadi. Cuộc chinh phục xứ Đông Dương. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 7.

2. A. Septan. Thời kỳ đầu của xứ Đông Pháp. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 30-31.

3. Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Nxb Khoa học xã hội. Hn, 1971, tr. 147.

4. Chẳng hạn như Trần Văn Giàu. Chống xâm lăng. Xây dựng phát hành. HN, 1956, tr. 15.

5. Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Nxb. Khoa học xã hội, HN, 1971, tr.127.

6. Lê Quý Đôn, toàn tập, tập 1. Nxb khoa học xã hội. HN, 1977, tr. 120.

7. Paulin Vial. Những năm đầu của xứ Nam Kỳ thuộc Pháp. Bản dịch của Tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tr. 82.

Mắc Na-ma-ra – một số phận bị “ma làm”

QĐND – Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra (McNamara 1916 – 2009) tên đầy đủ là Robert Strange McNamara. Trong tiếng Anh, Strange có nghĩa là “kỳ lạ”, “kỳ quặc”. Các luồng đánh giá trái nghịch nhau về nhân cách của Mắc Na-ma-ra đồng thuận ở một điểm: Ông ta bị ám ảnh (haunted – ma nhập) bởi cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Cái búa đóng cọc nhồi

Tháng 11-1961, một ngày sau khi thắng cử, Tổng thống Ken-nơ-đi (Kennedy) nghe tin Mắc Na-ma-ra đắc cử Chủ tịch hãng Ford, bất chấp truyền thống chỉ người trong gia đình Ford mới giữ cương vị chủ chốt. Một chuyên gia thống kê, trung tá giải ngũ, do “hoàn cảnh” phải bỏ ngang nghiệp giáo sư ở Ha-vớt (Havard) để làm quản trị gia mà đã lập tức chói sáng trong nghiệp kinh doanh. Ken-nơ-đi quyết định vời Mắc Na-ma-ra làm chủ Lầu Năm Góc trong nhiệm kỳ tổng thống của mình.

Mắc Na-ma-ra trong một hội nghị ở Lầu Năm Góc năm 1965. Ảnh: The New York Times

Ken-nơ-đi xem Mắc Na-ma-ra là người thông minh nhất trần đời ông ta từng gặp được[1]. Ông ta đã quân sư cho tổng thống trẻ tuổi chủ động loại trừ những thách thức bên miệng vực một cuộc xung đột hạt nhân với Liên Xô. Người ta ghi nhận rằng, Mắc Na-ma-ra là Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên đã lấn át được phe diều hâu trong Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ (HĐTMLQ), trong tiến trình cuộc khủng hoảng tên lửa Cu-ba năm 1962.

Tổng thống kế tiếp Giôn-xơn nhận định về Mắc Na-ma-ra: “Anh ta là một cái búa đóng cọc nhồi (jackhamme), không ai có thể đảm đương những gì Mắc Na-ma-ra gánh vác. Anh ta lái quá nhanh”.

Xoay như chong chóng

Lưu trữ Nhà Trắng cho biết theo Giôn-xơn, trong chính phủ Mỹ không ai sánh được với Mắc Na-ma-ra[2]. Ray Clai-nơ (Ray Cline), Phó giám đốc CIA thời kỳ “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, nhớ lại rằng, ông ta đã lấy những thông tin còn “sống sít” (raw) của trinh sát điện tử Mỹ (SIGINT) làm căn cứ về một “cuộc tiến công vào tàu Mỹ của Bắc Việt Nam” vào cái đêm 4-8 để báo cáo với Quốc hội Mỹ về cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”. “Đây chính là điều Giôn-xơn đang tìm kiếm”, ông Clai-nơ nhận định.

Lưu trữ của Nhà Trắng cho thấy Mắc Na-ma-ra đã “xoay xở nhanh” như thế nào. Tháng 2 và tháng 3 năm 1964, “thầy trò” Giôn-xơn và Mắc Na-ma-ra còn đang mày mò tìm cách leo thang xung đột thì tháng 8 năm ấy, kịch bản “các cuộc tiến công vô cớ liên tiếp” của Hà Nội đã được soạn thảo bởi Mắc Na-ma-ra đã giúp Tổng thống diều hâu Giôn-xơn giành quyền “tự tung tự tác” ở Việt Nam.

Ngập vào “sương mù” chiến tranh

Một cuộc họp báo vào tháng 2-1966 cho thấy vẻ tự tin đã không còn trên mặt Mắc Na-ma-ra. Ông ta khẳng định: “Không một số lượng bom nào có thể kết thúc được cuộc chiến tranh này”. Chiến dịch Sấm Rền, với 55 nghìn lượt chiếc máy bay và 33 nghìn tấn bom ném xuống miền Bắc năm 1965 (năm 1966 là 148 nghìn lượt chiếc và 128 nghìn tấn), đã không thể chặn dòng chảy của binh lực và vũ khí của đối phương vào miền Nam Việt Nam.

Cùng năm 1966, Mắc Na-ma-ra bận rộn trong việc xây dựng một hàng rào điện tử dọc theo vùng nam khu phi quân sự. Lính Mỹ gọi đó là “Chiến lũy Mắc Na-ma-ra”. Sự trù úm có chủ ý này dường như đã làm cho “chiến lũy Mắc Na-ma-ra” lặp lại số phận của “Chiến lũy Ma-gi-nốt” – phòng tuyến vô dụng mà Pháp đã xây để chắn quân phát xít Đức. Nhưng, trong khi say sưa với những cuộc leo thang chống phá Việt Nam thì nước Mỹ cũng như gia đình Mắc Na-ma-ra đã chia rẽ sâu sắc với những làn sóng chống đối. Con gái của ông ta tham gia cuộc tuần hành của Lút-thơ King (Luther King) suốt một ngày rưỡi trời, không ăn nghỉ. Con trai của ông ta là thành viên phong trào phản chiến tại Trường Đại học Stanford nổi tiếng nhất nước Mỹ. Ngày 2-11-1965, từ cửa sổ phòng làm việc ở Lầu Năm Góc, Mắc Na-ma-ra chứng kiến Mo-ri-xơn (Norman Morrison) tự thiêu để phản đối chiến tranh[3].

Sự thất bại của Mỹ trên chiến trường hay ảnh hưởng của phong trào phản đối chiến tranh ngay trong gia đình mà ngày 19-5-1967, Mắc Na-ma-ra viết một phúc trình dài “đầy mâu thuẫn”, như chính ông ta tự nhận, gửi Giôn-xơn, thúc giục tổng thống đàm phán. Ông ta cảnh báo các nỗ lực mà Oét-mo-len (Westmoreland) đang tiến hành ở Việt Nam “sẽ dẫn đến một tai họa lớn cho dân tộc (Hoa Kỳ)”. Báo The New York Times (NY) nghĩ rằng đây là giọt kiên nhẫn cuối cùng của Giôn-xơn, người vẫn ngờ rằng Mắc Na-ma-ra đang chơi trò “con ngựa thành Troy” cho Rô-bớt Ken-nơ-đi (em trai cố Tổng thống Ken-nơ-đi) đang chạy đua vào Nhà Trắng năm 1968 với tư cách ứng cử viên hòa bình. Ngày 29-11-1967, Tổng thống Mỹ công bố “thuyên chuyển công tác” cho Mắc Na-ma-ra từ Lầu Năm Góc sang ghế Chủ tịch Ngân hàng Thế giới.

Một số phận bị “ma làm”

Mắc Na-ma-ra có cố gắng trong thực hiện một “cuộc cách mạng về quản lý” ở Bộ Quốc phòng Mỹ, đã “máy tính hóa” bộ máy chiến tranh này. Nhưng phong thái không chan hòa và cách cư xử ngạo mạn khiến ông ta không có được nhiều người cùng chí hướng, nhất là khi cuộc chiến “rơi vào vũng bùn” (từ của Mắc Na-ma-ra). Trong cuộc tiệc trưa chia tay Bộ trưởng Quốc phòng do Ngoại trưởng Đin Rát-cơ (Dean Rusk) chủ trì, Mắc Na-ma-ra đã khóc, than rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là vô nghĩa. Nhiều đồng nghiệp của Mắc Na-ma-ra đã kinh hoàng khi nghe cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng buộc tội cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam, mà chính ông ta thủ một trong những vai chính.

Năm 1995, Mắc Na-ma-ra lại thử thách sự trớ trêu của số phận bằng cách xuất hiện với cuốn Hồi ký. Trong đó, Mắc Na-ma-ra đối chọi với cuộc chiến tranh do chính ông ta chỉ đạo, thú nhận rằng cuộc chiến này là “sai lầm, sai lầm khủng khiếp”.

Khi bộ máy chiến tranh Mỹ bắt đầu ậm ạch trong vũng lầy mới ở I-rắc, bộ phim DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mắc Na-ma-ra” được công chiếu, đoạt giải Oscar năm 2003.

Nhìn chung, mỗi sản phẩm truyền thông viết về Mắc Na-ma-ra đều lôi cuốn hàng trăm người vào một cuộc thảo luận khá sâu rộng trên trên các diễn đàn.

Luồng ý kiến phản hồi lớn nhất vẫn gồm những chỉ trích nặng nề không thương tiếc. Ở đoạn cuối DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mắc Na-ma-ra”, ông ta đã nghẹn ngào nhận định rằng, bất chấp những hối tiếc sâu đậm của mình về cuộc chiến tranh, “nhiều người vẫn nghĩ tôi là đồ chó đẻ” (A lot of people think I’m a son of a bitch).

Luồng ý kiến thứ hai không thật nhiều về số lượng, nhưng khá sâu về suy luận. Họ nghi ngờ đối với sự chân thành trong những dằn vặt hậu chiến của Mắc Na-ma-ra. Cơ sở cho sự bất tín này hẳn là Mắc Na-ma-ra biết ông ta có thể làm nhiều hơn để kết thúc chiến tranh ở Việt Nam, nhưng lại không làm[4]. Trong phim DVD “Sương mù chiến tranh”, ông ta bày tỏ đã muốn làm nhiều hơn để kết thúc chiến tranh, nhưng không chịu nói vì sao lại chọn cách im lặng sau khi rời Lầu Năm Góc.

Có những ý kiến cho rằng các bài học của Mắc Na-ma-ra đã không gây được ảnh hưởng đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Răm-xpheo (Rumsfeld) (triều đại Bút-sơ “con) và các “kiến trúc sư” và “thần đồng” khác của cuộc chiến tranh I-rắc. Sự sâu cay lên tới mức cao độ, với những ý kiến cảnh báo không khéo cũng sẽ “hối hận” viết hồi ký và sẽ diễn tích “Sương mù chiến tranh” I-rắc[5].

Nhưng trùm lên hết thảy vẫn là những ý kiến ghi nhận sự phục thiện và mạnh dạn trực diện với những lỗi lầm khủng khiếp của chính mình của Mắc Na-ma-ra, điều mà các chính khách cùng “cảnh ngộ” đã không làm được.

Cựu trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng L. Ko-bơ nói với Hãng thông tấn Mỹ WGBH rằng Mắc Na-ma-ra đã dũng cảm thú nhận rằng cuộc chiến tranh là sai lầm khủng khiếp, rằng ông chưa thấy chính khách Mỹ nào đủ dũng khí “thú lỗi” và giải thích vì sao đất nước đi sai đường. Nhưng Ko-bơ cho rằng có những điều mà Mắc Na-ma-ra không thể được tha thứ[6].

Cũng có thể dẫn ý kiến của những người dân Mỹ độ lượng đối với nhân vật mà nhiều người dân khác của họ xem là một trong những tội phạm chiến tranh:

“Nhiều người chỉ trích phê phán Mắc Na-ma-ra từ trên đỉnh cao của phẫn nộ. Thật là dễ để nhìn nhận ông ta là hiện thân của Quỷ dữ. Tôi hy vọng rằng linh hồn của ông ta được an tịnh, nhưng điều này là khó tin sau khi xem DVD “Sương mù chiến tranh”. Đây là giọng nói và khuôn mặt của một kẻ nhận thấy mình bị đày xuống địa ngục”.

Lê Thành
qdnd.vn

[1] http://www.nytimes.com/2009/07/07/us/07mcnamara.html?pagewanted=all

[2] http://whitehousetapes.net/exhibit/former-secretary-defense-robert-mcnamara-dies.

[3] DVD “Sương mù chiến tranh: Những bài học cuộc đời Mcnamara” (The fog of war: lessons from the life of Robert S. McNamara) NXB Rowman & Littlefield Publishers.

[4] http://www.thefilmbrief.com/2009/07/fog-of-war.html

[5] Phản hồi bài điếu McNamara trên tờ The New York Times, có tới ngót 397 ý kiến phản hồi.

http://community.nytimes.com/comments/www.nytimes.com/2009/07/07/us/07mcnamara.html

[6] news.bbc.co.uk/2/hi/8136595.stm

“Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc”

QĐND – Hội nghị Cung cấp toàn quân lần thứ nhất họp tại ATK Việt Bắc từ ngày 22-6-1952 đến 3-7-1952. Hội nghị rất vinh dự, phấn khởi được Bác Hồ đến thăm và nói chuyện.

Bác căn dặn:

Hồi kháng Nhật ở khu giải phóng, Tổng cục Cung cấp là nhân dân Cao-Bắc-Lạng. Bây giờ chúng ta tiến bộ, có Tổng cục Cung cấp, công việc ngày càng phải hợp lý, khoa học”.

Người cán bộ cung cấp nói riêng và Tổng cục Cung cấp nói chung phải phụ trách trước bộ đội, trước nhân dân, trước Đảng, trước Chính phủ”.

“Bổn phận của cán bộ cung cấp là phục vụ chiến sĩ đi đánh giặc và những người dân công đi giúp chiến dịch. Đối với chiến sĩ, phải chăm sóc họ, làm sao cho họ đủ ăn, đủ mặc, đủ súng, đủ thuốc. Đối với dân công cũng phải như vậy, nếu họ đói, họ ốm, ảnh hưởng tới công tác của các chú trước, rồi ảnh hưởng tới cả chiến dịch”.

“Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng tới chiến sĩ”.

Bút tích bức thư của Bác Hồ gửi đồng chí Trần Đăng Ninh.

“Các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt, chăn nuôi để tự túc phần nào, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân”.

Phải tiết kiệm sức người như dân công, tiết kiệm tiền, tiết kiệm của. Mọi thứ đều phải tiết kiệm. Tiết kiệm mà không tăng gia thì lấy gì mà tiết kiệm. Mục đích tiết kiệm không phải là bớt ăn, mà là thêm ăn, làm cho bộ đội no”.

“Phải chống tham ô, lãng phí, quan liêu… Phải dân chủ, tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình và dám phê bình người…”.

Sau Hội nghị Cung cấp toàn quân lần thứ nhất, hoạt động hậu cần trong quân đội có bước chuyển biến mạnh mẽ. Cơ quan hậu cần các cấp được kiện toàn từ Tổng cục đến đại đội. Phong trào thi đua “Ngành hậu cần quân đội làm theo lời Bác dạy” phát triển sâu rộng với nhiều nội dung phong phú. “Lương y như từ mẫu”, “Giữ tốt dùng bền”, “Yêu xe như con, quý xăng như máu”, “Thi đua hai tốt, ba tốt, bốn tốt” (ăn uống tốt, ngủ nghỉ tốt, vệ sinh phòng bệnh tốt, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm tốt), “Rèn luyện cán bộ, cải tiến kỹ thuật”…

Giữa lúc đó, Văn phòng Tổng cục nhận được lá thư Bác Hồ gửi cho đồng chí Trần Đăng Ninh. Một cuộc họp được triệu tập do đồng chí Trần Đăng Ninh chủ trì để bàn các biện pháp chấp hành chỉ thị của Bác.

Anh Ninh đọc thư Bác, nhắc lại kỷ niệm ngày Bác giao nhiệm vụ đi làm cung cấp. Bác căn dặn nhiều điều. Thực túc binh cường, ăn no đánh thắng, người xưa đã dạy, chú cố gắng làm cho tốt; bộ đội, bụng có no, thân có ấm, mới đánh được giặc; luyện quân, nuôi quân, dùng quân, các mặt ấy làm tốt, mới mong tranh được nhiều thắng lợi; hậu phương sản xuất tăng gia, cũng là kháng chiến, cũng là vẻ vang… Bác quan tâm đến mọi vấn đề.

Tiếp lời anh Ninh, anh Trần Hữu Dực, Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp kể những kỷ niệm về Bác đối với ngành hậu cần.

Anh cho biết: Cứ mỗi lần sang họp với Tổng quân ủy, bao giờ Bác cũng đến trước một tối, nghỉ đêm ở chỗ anh Trần Đăng Ninh. Bác thường xuống ngựa bên kia Đèo De, đi bộ tới Bản Búc, Tổng cục đưa xe đến đón Bác.

Đêm nghỉ ở hậu cứ anh Trần Đăng Ninh, Bác hỏi kỹ tình hình Tổng cục, đời sống, sức khỏe bộ đội và dân công, những vấn đề đặt ra cần được Trung ương, Hội đồng Chính phủ giải quyết…

Anh Dực trực tiếp làm Chủ nhiệm cung cấp tiền phương chiến dịch Trung Du và Đường số 18. Anh xúc động nhớ lại lời căn dặn của Bác khi Người đến dự Hội nghị kiểm thảo chiến dịch Đường số 18-một chiến dịch mà “ta đã không hoàn thành nhiệm vụ thật đầy đủ, địch thiệt hại nặng nhưng ta lại tiêu hao”.

Bác nhấn mạnh:

“Cán bộ không có đội viên, lãnh đạo không có quần chúng thì không làm gì được. Bởi vậy cần thương yêu đội viên. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn, cán bộ không được kêu mình đói; bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét; bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới là dân chủ, là đoàn kết, là tất thắng”.

Các anh Nguyễn Thanh Bình, Trần Thọ, Nguyễn Tấn, Vũ Xuân Chiêm, Đinh Trọng Nĩu, Nguyễn Ngọc Minh, Ngô Vi Thiện… lần lượt phản ảnh tình hình đời sống bộ đội ở tiền tuyến qua mấy chiến dịch và ở hậu phương, đề xuất nhiều phương án, ý kiến khả thi chấp hành chỉ thị, gợi ý của Bác “Làm sao để bộ đội có thịt ăn”, góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn.

Lá thư góp ý của Bác thể hiện tình cảm đặc biệt của Bác dành cho bộ đội, các chiến binh ngoài mặt trận.

Từ sau khi có thư Bác, cùng với việc chấp hành nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn, chế độ cung cấp Bộ Quốc phòng ban hành, các đơn vị phía trước, phía sau đều có kế hoạch nâng cao đời sống, sức khỏe bộ đội bằng nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực.

Đời sống cán bộ, chiến sĩ không ngừng được cải thiện, góp phần đưa công cuộc kháng chiến tiến dần đến thắng lợi. Bộ đội ta càng đánh, càng mạnh, càng trưởng thành.

Trần Tiệu
qdnd.vn

Bốn câu đố lớn về bà Tống Mỹ Linh

QĐND – Báo điện tử “Lịch sử Trung Hoa” (www.xyz6666.com) ngày 19-12-2010 đăng tải bài “Tại sao không hợp táng với Tưởng Giới Thạch? Bốn câu đố lớn về Tống Mỹ Linh”. Chúng tôi trích dịch tư liệu trên, giúp bạn đọc tham khảo, hiểu thêm về một người phụ nữ phương Đông đã từng được mệnh danh là “Người đàn bà thép”. Tống Mỹ Linh (sinh ngày 5-3-1897, mất ngày 24-10-2003), thọ 106 tuổi, đã từng là Tưởng phu nhân, Đệ nhất phu nhân của Trung Hoa Dân quốc.

Câu đố thứ nhất: Vì sao không về Đài Loan an táng?

Trước kỷ niệm sinh nhật lần thứ 106, do tình hình sức khỏe của bà Tống Mỹ Linh đã xấu đi, cho nên khi ấy đã có rất nhiều thông tin về chuyện hậu sự của bà phát tán ra ngoài.

Những tin tức ấy đều chưa được chứng thực, nhưng có một điều đã được khẳng định, đó là bà hy vọng sau khi mình chết không đưa về Đài Loan an táng. Vì sao lại có yêu cầu như vậy, bên ngoài có rất nhiều dư luận.

Bà Tống Mỹ Linh tại Niu Y-oóc sinh nhật 100 tuổi.

Cách nói thứ nhất là: Bà Tống Mỹ Linh là một người rất sùng tín đạo Cơ đốc, trước đó đã từng biểu thị, tất cả đều giao cho Thượng đế, sau này bản thân sẽ không theo Tưởng Giới Thạch an táng tại Đài Loan. Không ai biết đích xác vì sao bà dứt khoát không trở về Đài Loan. Nhưng có người phân tích rằng, sau khi qua đời, Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc vẫn chưa an táng, điều này có thể liên quan đến việc Tưởng Giới Thạch luôn luôn muốn “lá rụng về cội”, trở về đại lục. Tưởng Kinh Quốc chỉ rõ, khi còn sống Tưởng Giới Thạch đã lựa chọn 3 địa điểm: Tử Kim Sơn, Phương Sơn, Tứ Minh Sơn. Tưởng Kinh Quốc hy vọng trở về an táng bên cạnh mộ phần của mẫu thân tại Phụng Hóa, Chiết Giang. Khi ấy, là người phát ngôn hợp pháp duy nhất đời thứ ba của gia tộc họ Tưởng là Tưởng Hiếu Dũng đã nói rõ: Di chuyển linh cốt là chuyện nội bộ gia đình, Tưởng gia có phương thức xử lý của Tưởng gia.

Cách nói thứ hai là Tống Mỹ Linh hy vọng “lá rụng về cội”. Bởi vì nghĩa trang họ Tống đặt tại Thượng Hải, ngoài mộ phần của Tống Khánh Linh, chị hai trong ba chị em họ Tống, cha mẹ của ba chị em họ Tống cũng đều an táng tại đây. Do bị hạn chế bởi nhân tố chính trị của hai bờ eo biển, Tống Mỹ Linh chưa có cách nào trực tiếp đến nghĩa trang bái tế cha mẹ, cho nên mấy năm trước, bà đặc biệt ủy thác người khác thay mặt bà kính viếng vòng hoa, bày tỏ lòng thành kính với đấng sinh thành. Bởi vậy, có người suy đoán, bà Tống Mỹ Linh có thể lựa chọn sau khi qua đời, bà có thể yên ngủ lâu dài bên cạnh cha mẹ tại nghĩa trang họ Tống tại Thượng Hải.

Cách nói thứ ba là giới Hoa Kiều ở Niu Y-oóc (Mỹ) đưa tin rằng, Tống Mỹ Linh đã mua xong một phần mộ tại đây, làm nơi an táng mình. Do bà Tống Mỹ Linh đã từng nói rõ sau khi chết muốn an táng tại Niu Y-oóc, nghĩa trang Phin-cơ Ri-vơ (Fink Reeve) tại bang Niu Y-oóc Thượng đã chuẩn bị tốt phần mộ nội thất của bà Tống Mỹ Linh.

Câu đố thứ hai: Vì sao không để lại bất cứ văn tự nào?

Khi còn sống, bà Tống Mỹ Linh không để lại bất cứ một truyện ký hoặc dòng hồi ức nào, cũng không để lại tư liệu băng ghi âm hoàn chỉnh. Cũng có người khuyên bà Tống Mỹ Linh viết một số truyện để lại, nhưng đều bị bà khéo léo từ chối, nói rằng tất cả đều để lại cho lịch sử. Bà kiên trì cho rằng, thời gian sẽ cho phép lịch sử trả lại các sự kiện như nó vốn có (lịch sử hoàn nguyên).

Nhưng, trước mắt, những người quan tâm ở Đài Loan lại căn cứ vào những bộ phim tài liệu tản mạn vụn vặt chiếu trên truyền hình công cộng Đài Loan, trong đó có phim “Thế kỷ Tống Mỹ Linh”. Bộ phim này chia làm 3 tập, tập 1 là “Phương Đông và phương Tây”, mở màn thời kỳ chói sáng nhất của cuộc đời Tống Mỹ Linh đến thời kỳ năm 1943, Trung Quốc đối mặt với thời kỳ khó khăn gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Nhật, Tống Mỹ Linh diễn thuyết bằng tiếng Anh với giọng miền Nam nước Mỹ lưu loát tại Quốc hội Mỹ. Tiếp đó là cuộc phỏng vấn của đoàn làm phim “Thế kỷ Tống Mỹ Linh” với giáo sư Thạc Chi Du, giáo sư hệ Chính trị, Trường Đại học Đài Loan phân tích về “hiện tượng Tống Mỹ Linh” thịnh hành tại nước Mỹ khi ấy.

Câu hỏi thứ ba: Cuối đời tại sao kiên trì ở Mỹ?

Ngày 21-9-1991, bà Tống Mỹ Linh lại một lần nữa rời khỏi Đài Loan, sang Niu Y-oóc. Bà Tống Mỹ Linh vốn không muốn sang Mỹ, vì sao lại thay đổi chính kiến?

Tưởng Giới Thạch, Tống Mỹ Linh và tướng Mỹ Stin-oen thăm Miến Điện, tháng 4-1942.

Theo phân tích của báo chí Đài Loan, thì có mấy nguyên nhân dưới đây:

Thân tộc của bà Tống Mỹ Linh tại Đài Loan ít ỏi, sinh hoạt tịch mạc. Trong thời gian 5 năm, kể từ sau khi bà Tống Mỹ Linh từ nước Mỹ trở về Đài Loan vào tháng 10-1986 đến tháng 9-1991, gia tộc họ Tưởng gặp 3 biến cố lớn: Một là Tưởng Giới Thạch qua đời, hai là trưởng nam Tưởng Kinh Quốc qua đời, ba là cháu trai Tưởng Hiếu Vũ rất có tài cũng đột nhiên từ trần. Đặc biệt là sự qua đời của Tưởng Hiếu Vũ, gián tiếp ảnh hưởng đến tuyên cáo của mọi người: “Gia tộc họ Tưởng khống chế cục diện chính trị Đài Loan lâu dài đến 40 năm, đã chính thức rút khỏi vũ đài chính trị.”

Tuy bà Tống Mỹ Linh tỏ ra “tương đối kiên cường”, nhưng sau cái chết của Tưởng Hiếu Vũ, nhân vật quan trọng của đời thứ ba của gia tộc họ Tưởng rõ ràng là một đòn nặng nề đối với bà. Hơn nữa, sự mất mát ấy lại có quan hệ mật thiết với sự nổi dậy của phong trào “độc lập của Đài Loan”.

Từ sau năm 1978, Tống Mỹ Linh thị lực, thính lực suy thoái nghiêm trọng, bác sĩ cho rằng khí hậu của Đài Loan không thích nghi với bà, mà khí hậu ở Niu Y-oóc tương đối thích hợp.

Tống Mỹ Linh đã từng bị coi là “một vị tượng trưng tinh thần cuối cùng của gia tộc họ Tưởng”, bà đi Mỹ chuyến này coi như viết dấu chấm hết về sự ảnh hưởng của gia tộc họ Tưởng trên chính trường Đài Loan.

Câu hỏi thứ tư: Khoản chi khổng lồ tại Mỹ dựa vào ai?

Tờ “Thời báo Chu San” (Đài Loan) đưa tin: Dưới cái tên Tống Mỹ Linh không có một chút tài sản, cũng không có bất cứ khoản thu nhập nào, thế thì những năm này bà dựa vào đâu mà sinh hoạt, mỗi năm cần khoảng bao nhiêu tiền?

Sau khi rút ra khỏi vũ đài chính trị Đài Loan, bà Tống Mỹ Linh có quan hệ mật thiết nhất với một số bộ ngành ở Đài Loan mà cái chính là “Tổng thống phủ”, ngoài ra, còn nhà trường và bệnh viện mà bà trực tiếp ra tay sáng lập.

Bà tuy sống tại nước Mỹ, năm 2003 “Tổng thống phủ” lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) vẫn biên chế cho bà 3 nhân viên phục vụ và 2 người lái xe, với tổng dự toán khoảng 4,16 triệu TWD (đô-la Đài Loan, 1 đô-la Đài Loan tương đương 28,88TWD-ND). Hơn nữa, còn phái nhân viên y tế thường trú tại Mỹ, tiền lương mỗi người mỗi tháng chí ít cũng 5 vạn TWD, cộng thêm tiền thưởng ngày Tết ngày nghỉ phép, 6 người mỗi năm chí ít cũng tiêu tốn 60 triệu TWD. Cho nên, để chăm sóc phục vụ bà Tống Mỹ Linh, mỗi năm phải chi ít nhất cũng là 100 triệu TWD.

Đãi ngộ hậu hĩnh với bà Tống Mỹ Linh như vậy, đương nhiên có cơ sở của nó. Sau khi Tưởng Giới Thạch qua đời, tháng 5-1978, nhà đương cục Đài Loan ban bố “Biện pháp thực thi Điều lệ đãi ngộ Tổng thống mãn nhiệm”, quy định vợ (hoặc chồng) của “Tổng thống mãn nhiệm” ngoài việc được mời tham gia các cuộc lễ lớn, còn có thể được thụ hưởng 2 xe giao thông và 2 lái xe; 3 hoặc 4 nhân viên giúp việc và kinh phí sự vụ; điều trị bệnh tật trong và ngoài khu vực Đài Loan, bao gồm tất cả những chi phí cần thiết trả lương cho bác sĩ riêng và kinh phí kiểm tra sức khỏe, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế sẽ do “Cục An ninh quốc gia” cung cấp cảnh vệ an ninh.

Nhưng, cũng có tin truyền miệng nói rằng, bà Tống Mỹ Linh không hoàn toàn dựa vào chi tiêu do phía Đài Loan cung cấp, mà còn có “nguồn tài chính bí mật” năm xưa của những người trong gia tộc họ Tưởng, về chân tướng việc này như thế nào, có lẽ chỉ có bà Tống Mỹ Linh tự mình am hiểu.

“Đây là một người đàn bà cứng như thép”

Sau khi cuộc nội chiến giữa Quốc dân đảng với Đảng Cộng sản Trung Quốc nổ ra, Tống Mỹ Linh làm sứ mệnh đặc sứ ngoại giao con thoi giữa Quốc dân đảng và những nhân vật chóp bu của chính phủ Mỹ.

Ngày 18-2-1943, Tống Mỹ Linh trở thành người nước ngoài đầu tiên đăng đàn diễn thuyết tại Hội nghị liên tịch Hạ viện và Thượng viện Mỹ.

Khi tại Mỹ, Tống Mỹ Linh cố ý giữ gìn hình ảnh về cử chỉ lời nói biểu lộ phái dân chủ kiểu Trung Quốc, nhưng người Mỹ rất nhanh nhận ra sự chuyên chế độc tài ẩn giấu trong nội tâm bà ta.

Một lần, trong một bữa tiệc chiêu đãi ban trưa tại Nhà Trắng, đúng vào lúc bàn luận về công hội của công nhân mỏ Mỹ đang bãi công, Tổng thống Ru-dơ-ven (Roosevelt) bèn hỏi Tống Mỹ Linh: “Nếu như Tưởng Giới Thạch gặp chuyện như thế này, thì sẽ xử lý ra sao?”. Tống Mỹ Linh không nói, trái lại dùng móng tay dài thoa son đỏ vạch một đường cong vào cổ họng. Ru-dơ-ven bất giác thót tim, nghĩ thầm may mà mình ngồi đối diện với bà ta, mà không phải ngồi cùng trên một ghế sô-pha.

“Đây là người đàn bà cứng rắn như thép”. Sau này, Tổng thống Ru-dơ-ven đã nhận định bà ta như vậy.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Làm điệp viên vì tình yêu với Cu-ba

QĐND – Năm 2010, Bộ Tư pháp Mỹ đã chính thức tuyên bố sự vụ một đôi vợ chồng người Mỹ từng làm việc tại Bộ Ngoại giao bị bắt vì tội làm gián điệp cho Cu-ba suốt 30 năm. Đó là cựu quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao Mỹ Uôn-tơ Ken-đô Mai-ơ (Walter Kendall Myers) 72 tuổi và vợ là Goen-đô-lin Xtên-gra-bơ Mai-ơ (Gweldolyn Steingraber Myers) 71 tuổi.

Hai vợ chồng Mai-ơ đã bị FBI (Cơ quan Điều tra liên bang Mỹ) bắt giam vào 4-6-2009 vì bị nghi làm gián điệp cho Cu-ba. Đây là kết quả của chiến dịch mà các nhân viên phản gián Mỹ đã chuẩn bị kỹ lưỡng trong suốt nhiều tháng. Uôn-tơ từng có chân trong biên chế Bộ Ngoại giao Mỹ từ năm 1977 đến năm 2007. Vào năm 1985, ông được phép tiếp cận với thông tin mật, từ năm 1999 ông được sử dụng các tài liệu có đóng dấu “đặc biệt quan trọng”. Theo khẳng định của các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ, việc phát giác thành công hai điệp viên của La Ha-ba-na sau khi một nhân viên FBI mạo nhận là điệp viên Cu-ba và liên lạc với họ vào tháng 4-2009. Hai vợ chồng Mai-ơ đã tin tưởng người này và đã gặp ông ta vài lần tại các khách sạn ở Oa-sinh-tơn. Tổng hợp các tội danh được đưa ra thì họ có nguy cơ bị kết án không dưới 30 năm tù. Theo giới báo chí Mỹ khẳng định thì Mai-ơ và vợ ông đã làm việc cho Cu-ba gần 30 năm.

Uôn-tơ và Goen-đô-lin Mai-ơ.

Uôn-tơ Mai-ơ là cựu viên chức ngoại giao Mỹ đã có cuộc tiếp xúc với các cơ quan đặc vụ Cu-ba ngay từ năm 1978 trong thời gian đi thăm Cu-ba. Theo khẳng định của ông thì chuyến đi này được thực hiện vì những lợi ích cá nhân và chỉ mang tính khoa học thuần túy. Mai-ơ có bằng tiến sĩ luật của Trường Đại học tổng hợp Giôn Hốp-kin (John Hopking). Theo như thông báo của Bộ Tư pháp Mỹ thì 6 tháng sau chuyến thăm Cu-ba của ông Mai-ơ, có một nhân viên của một trong những cơ quan mật vụ Cu-ba đã tới nhà vợ chồng Mai-ơ khi đó còn ở bang Nam Dacota và đề nghị họ cộng tác. Hai người này đã đồng ý. Uôn-tơ được mang bí số “Điệp viên 202”, còn bà Goen-đô-lin có bí số “Điệp viên 123”. Họ đã duy trì mối liên hệ với tình báo Cu-ba qua những phương tiện đã được kiểm tra từ lâu. Hai vợ chồng Mai-ơ đã sử dụng đài thu phát sóng ngắn, bảng chữ cái moóc-xơ và những bức điện được viết bằng loại mực đặc biệt. Chỉ mãi những năm gần đây họ mới dùng thư điện tử để gửi tin tức hợp tác với La Ha-ba-na. Họ gửi những thông báo dạng mật mã từ quán cafe-internet. Những buổi gặp gỡ của hai vợ chồng điệp viên với các nhân viên đặc vụ Cu-ba được thực hiện trong các chuyến đi khắp Nam Mỹ và các nước vùng biển Ca-ri-bê.

Sau khi bị bắt, Uôn-tơ Mai-ơ kể với các nhà điều tra rằng những tin tức mật được họ chuyển cho giới lãnh đạo Cu-ba được ông thuộc lòng, hoặc là được đánh dấu để không bỏ qua những chi tiết quan trọng. Theo tin tức của báo chí, chỉ trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu, điệp viên Uôn-tơ đã cung cấp cho La Ha-ba-na 200 tài liệu mật của Bộ ngoại giao Mỹ. Theo tuyên bố của một cựu nhân viên cơ quan đặc vụ Mỹ thì mọi người đều biết rằng, chính quyền Cu-ba không trả một khoản đáng kể nào cho những người cung cấp thông tin. Và quả thật là trong quá trình điều tra sơ bộ đã xác định được rằng, đôi vợ chồng này chỉ nhận được một khoản thưởng không đáng kể cho công lao của họ. Ông bà Mai-ơ khẳng định rằng động cơ chính cho những hoạt động của họ là tình yêu sâu sắc đối với đất nước Cu-ba và cơ cấu xã hội ở Hòn đảo Tự do.

Vợ chồng Mai-ơ đã sống ở một trong những vùng có đặc quyền đặc lợi của Oa-sinh-tơn trong nhiều năm và được tự do đến phòng của các thành viên chính phủ, các nghị sĩ, thượng nghị sĩ và các viên chức cấp cao của Bộ Tư pháp. Họ đã tích cực tiếp xúc với cả cựu ứng cử viên tổng thống Mỹ Ba-ry Gôn-oát-tơ (Barry Goldwater). Theo thông báo của đại diện các cơ quan bảo vệ pháp luật, Cu-ba đã tặng vợ chồng Mai-ơ một số huy chương.

Uôn-tơ Mai-ơ là cháu trai của Gin-bớc Grô-xvơ-nơ (Gilbert Grosvenor), người được công nhận là tác giả kinh điển của ảnh phóng sự Mỹ, hơn 50 năm làm lãnh đạo Hội Địa lý Mỹ, là Tổng biên tập và là nhà xuất bản tạp chí nổi tiếng National Geographic Magzine – tạp chí Địa dư quốc gia. Mai-ơ cũng là chắt của một nhà khoa học Mỹ về đại dương cũng không kém phần nổi tiếng – nhà sáng chế và kinh doanh gốc Xcốt-len, người đặt nền móng chính của công nghệ điện thoại A-lếch-xăng Beo (Aleksandr Bell), người sáng lập công ty Bell Telephone Company, định ra toàn bộ sự phát triển tương lai của ngành truyền thông Mỹ.

(Theo Báo Độc lập – Nga)

Ngọc Bích
qdnd.vn

Sĩ quan Việt Nam Cộng hòa dưới mắt các nhà địch vận

QĐND – Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cơ quan địch vận các đơn vị đã tiến hành nghiên cứu đội ngũ sĩ quan Quân đội Sài Gòn (nhất là số sĩ quan từ cấp đại tá trở lên), đi sâu khai thác về lai lịch, xu hướng, thái độ chính trị, quan hệ phe phái và cả… cách kiếm tiền của đội ngũ này. Qua phân tích, tổng hợp từ các nguồn tài liệu và khai thác tù, hàng binh, các cán bộ của ta đã có những đánh giá về thực chất đội ngũ sĩ quan đối phương để phục vụ cho công tác địch vận.

Dưới đây là vài nét “chân dung” những sĩ quan chóp bu thuộc Quân đoàn 3 địch, những sĩ quan từng nằm trong “hồ sơ nghiên cứu” của các cơ quan địch vận ở thời điểm tháng 11-1973.

Viên Tư lệnh thích tiệc tùng

Phạm Quốc Thuần khi đang là Trung tướng, Tư lệnh Quân đoàn 3 của Quân đội Sài Gòn. Ảnh tư liệu

Phạm Quốc Thuần quê gốc miền Bắc (tỉnh Hà Đông cũ). Tháng 8-1951, Thuần đi lính cho Pháp, sau đó theo học và tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt. Thuần đã trải qua các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 – Sư đoàn 21; Tham mưu trưởng Sư đoàn 22; Tham mưu trưởng Sư đoàn 5; Đổng lý Văn phòng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tháng 6-1966, khi ở tuổi 40, Thuần được thăng cấp chuẩn tướng, Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh; 3 năm sau được thăng cấp thiếu tướng và về làm Chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan bộ binh Thủ Đức. Sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, Thuần được cử làm Trưởng phái đoàn quân sự của chính quyền Sài Gòn tại Ban Liên hiệp quân sự bốn bên, đến tháng 10-1973 được Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3 và nhận lon trung tướng.

Thuần là người có dáng mập, thường hay đeo kính trắng, ăn nói hoạt bát nhưng tác phong làm việc của viên tướng này lại ít sâu sát cấp dưới, có tính gia trưởng và thường ham thích tiệc tùng. Qua khai thác, các tù binh từng là lính của Thuần cho biết: Trình độ chỉ huy của Thuần ở mức khá và anh ta thường xuyên viết sách phổ biến những kinh nghiệm của mình trong cuộc chiến chống lại Quân giải phóng. Là người thuộc phe thân cận với Tổng thống Thiệu, Thuần đã trực tiếp đề xuất nhiều ý kiến về việc cải tổ quân đội và từng được Thiệu, Mỹ tín nhiệm. Nhà riêng viên tướng 3 sao này nằm trong khu vực dành cho chỉ huy Trường Sĩ quan Thủ Đức, gia đình Thuần thuộc loại giàu có.

Tướng một sao không ưa Mỹ

Viên Tư lệnh phó Quân đoàn 3 Đào Duy Ân sinh năm 1932, quê ở Cần Thơ. Trưởng thành từ “lò” thiếu sinh quân do Pháp đào tạo ở Vũng Tàu, Ân vào học khóa 4 Trường Võ bị Đà Lạt. Sau khi tốt nghiệp, Ân về Binh chủng Pháo binh và sau đó nhận chức Chỉ huy trưởng Pháo binh của Quân đoàn 3. Năm 1960 Ân được cử đi học chuyên ngành pháo binh ở Mỹ, một năm sau về nước giữ chức Chỉ huy trưởng pháo binh Quân đoàn 2 và 4 năm sau là Tham mưu trưởng Trường Sĩ quan Thủ Đức. Tháng 7-1970, Ân được phong chuẩn tướng, Tư lệnh phó Quân đoàn 3.

Ân có dáng người thấp bé, nước da trắng và là người thích đọc sách. Theo thông tin khai thác từ tù binh, Ân có cảm tình với Pháp nhiều hơn với người Mỹ, đồng thời thái độ chính trị của anh ta đối với chính quyền Sài Gòn cũng không rõ ràng. Leo tới chức Tư lệnh phó Quân đoàn nhưng Ân luôn là kẻ được bạn bè tin tưởng và cả trên, dưới đều được lòng. Khác với số đông những gia đình tướng lĩnh Quân đội Sài Gòn, đời sống gia đình Ân không thuộc diện giàu có mà chỉ ở mức trung bình.

Tướng dù “thất thế”

Viên tướng một sao Hồ Trung Hậu sinh năm 1931, quê ở Kiến Hòa (nay là tỉnh Bến Tre). Hậu đi lính từ tháng 11-1953, sau đó tốt nghiệp Trường Sĩ quan bộ binh Thủ Đức. Năm 1970, Hậu leo dần tới chức Tư lệnh Sư đoàn dù và tháng 5-1971 được thăng chuẩn tướng.

Viên tướng gốc dù này có vóc dáng cao lớn và nổi tiếng với các cuộc nhậu nhẹt, rượu chè. Binh lính dưới quyền từng kể lại rằng Hậu có thể nhậu từ sáng tới tận khuya. Hậu thường có thói quen chửi đổng và không ưa ai trong đội ngũ các tướng tá. Ít sâu sát cấp dưới nhưng lại là kẻ ham danh vọng, Hậu từng nhờ vả Cao Văn Viên và Ngô Quang Trưởng – những người thuộc phe cánh của Thiệu – lo lót, chạy chọt để leo lên chiếc ghế Tư lệnh Sư đoàn 21 – Quân đoàn 4. Đầu năm 1972, Hậu được giao chức Tư lệnh Sư đoàn 21, nhưng sau 7 tháng cầm quân ở địa bàn nóng bỏng thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà không “thể hiện” được vai trò của mình, Hậu bị đưa đi học tại Trường Cao đẳng Quốc phòng. Sau đó, viên tướng dù “thất thế” này được cử về Quân đoàn 3 giữ chức Chánh Thanh tra. Đời sống gia đình Hậu thuộc diện giàu có do cô vợ luôn biết dựa vào thế của chồng để kiếm tiền thông qua những phi vụ áp phe, buôn lậu…

Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

Trần Bá Di và “bài thu hoạch” trong trại cải huấn

Trần Bá Di. Ảnh tư liệu

QĐND – Trong số các viên tướng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Trần Bá Di không phải là một tên tuổi nổi bật bởi trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Di đang là Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Song trong những ngày ở lớp cải huấn dành cho sĩ quan cấp tướng, viên tướng 2 sao này lại gây chú ý cho các cán bộ ở lớp cải huấn bởi một “bài thu hoạch” dài tới 15 trang viết tay. Trong bản “tổng kết chiến tranh” ấy, Di đã rút ra một số “kinh nghiệm” và không ít những bài học đắt giá trong quãng đời binh nghiệp của mình…

Hồ sơ “Khai thác sĩ quan Quân đội Sài Gòn” của Cục Địch vận (tháng 11-1973) có ghi: Trần Bá Di sinh năm 1931, quê ở tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang). Tháng 8-1951, Di đi lính cho Pháp và sau đó theo học Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Năm 1957, Di được cử làm Tiểu khu trưởng Gò Công rồi leo lên chức Trưởng phòng 3 Quân khu Thủ Đức. Các năm 1958-1961, Di lần lượt được cử làm Phó tỉnh trưởng, rồi Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh (nay là tỉnh Hậu Giang). Năm 1966, Di được cử đi học Tham mưu cao cấp ở Mỹ, hai năm sau về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 4; đến tháng 7-1968, là Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 9 bộ binh (thế chỗ của Lâm Quang Thơ được cử về làm Chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan Đà Lạt). Tháng 4-1970, Trần Bá Di được thăng cấp chuẩn tướng, một năm sau được điều về làm Phó tư lệnh Quân đoàn 4 và nhận lon thiếu tướng.

Trần Bá Di luôn ra vẻ là một viên tướng có tác phong giao tiếp đàng hoàng, đứng đắn. Nhưng theo thông tin của binh lính dưới quyền và qua khai thác tù binh, được biết: Trong cuộc hành quân sang Cam-pu-chia năm 1970, Di đã tranh thủ vơ vét nhiều tài sản của nhân dân Cam-pu-chia về để làm giàu.

Trong nỗ lực thay tướng nhằm “đổi vận”, ít tháng trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, chính quyền Sài Gòn đã đưa Trần Bá Di về Trung tâm huấn luyện Quang Trung làm Chỉ huy trưởng, để rồi sau ngày 30-4-1975, viên tướng hai sao này đã trở thành học viên trong các lớp cải huấn của chính quyền cách mạng… Giống như các học viên cấp tướng khác, trong lớp cải huấn, Trần Bá Di đã có nhiều thời gian “nghiền ngẫm” để viết ra những bản đánh giá, tổng kết chiến tranh theo yêu cầu của lớp học.

“Kinh nghiệm” từ Sư đoàn 9

Những năm nắm quyền chỉ huy Sư đoàn 9 bộ binh là thời gian mà Trần Bá Di có nhiều va chạm với thực tế, vì thế Di đã rút ra một số “kinh nghiệm” nhằm “nâng cao tinh thần chiến đấu” cho binh sĩ của mình.

Di sớm nhận rõ điểm mạnh, điểm yếu của hai loại binh sĩ dưới quyền, đó là lính quân dịch và lính tình nguyện. Số lính quân dịch được viên Tư lệnh Sư đoàn chia ra thành hai loại: Quân dịch loại A là những thanh niên tự ý trình diện để thi hành nghĩa vụ, số này thường cam chịu số phận, ít đào ngũ, nhưng lại tham chiến rất chiếu lệ, chỉ mong được sống sót chờ ngày giải ngũ; quân dịch loại B là số bị bắt trong các cuộc hành quân, các đợt kiểm soát đột xuất của cảnh sát trên các trục lộ giao thông, số này do sợ hoặc không thích đi lính nhưng do bị cưỡng ép nên thường tìm đủ mọi cách để tự hủy hoại thân thể hoặc trốn tránh. Trần Bá Di đã không lạ lẫm với việc binh sĩ dưới trướng từng tìm cách hủy hoại thân thể bằng cách tự bắn vào chân, vào lòng bàn tay; cho lựu đạn nổ giữa hai ngón chân; buộc dây cao su ở ngón chân để ngón chân bị hoại tử, phải cắt bỏ hoặc bày trò lấy mủ cây xương rồng chà vào mắt để gây hỏng một mắt…

Khi phần đông binh sĩ trong Sư đoàn chủ yếu là lính quân dịch (chiếm 60%-70% quân số tác chiến), Di đã hạn chế tình trạng đào ngũ bằng cách cho kiểm soát chặt chẽ số lính quân dịch thông qua các tổ “đồng tâm”, tức tổ ba người, gồm: Một lính tình nguyện, hai lính quân dịch. Trong các đơn vị trực thuộc, Di còn thường xuyên “hâm nóng” các sắc luật trừng phạt tội đào ngũ và chỉ cho số binh sĩ của mình những “tấm gương” là các “lao công chiến trường” đang bị kỷ luật ngay tại đơn vị để họ từ bỏ ý định đào ngũ. Ngoài ra, Di còn xây dựng một đội ngũ hạ sĩ quan nòng cốt và bắt buộc các cấp chỉ huy từ Tư lệnh sư đoàn cho tới chỉ huy trung đội đều phải quan tâm, đảm bảo từ quân trang cho tới thực phẩm hằng ngày, tìm cách để các binh sĩ có gia đình riêng được vào hết trong trại gia binh… bởi theo Trần Bá Di, cách làm hiệu quả nhằm nâng cao tinh thần binh sĩ chính là dùng quyền lợi vật chất để lôi kéo và đề cao cá nhân thông qua những đợt khen thưởng đột xuất trong chiến đấu; cùng đó là một hệ thống “kìm kẹp” lẫn nhau bằng chính các binh sĩ và bộ máy an ninh chìm.

Bản “tổng kết chiến tranh” do Trần Bá Di viết trong thời gian ở trại cải huấn. Ảnh: Vũ Minh

Nhằm mục đích “lên dây cót tinh thần” cho binh sĩ, Sư đoàn 9 của Di còn tổ chức những buổi nói chuyện do các “hồi chánh viên” lên lớp với nội dung chính là cách thức đưa người vào hoạt động nội tuyến của đối phương, những hình thức mua chuộc, lôi kéo binh sĩ hoạt động cho cách mạng và một nội dung không thể thiếu là phần mô tả về “đời sống cực khổ” của người dân miền Bắc…

Thất trận vì tướng-quân “rệu rã”

Trong “bản thu hoạch” của mình, Di đã dành khá nhiều trang để kể về các hoạt động đấu tranh, phản chiến trong binh lính dưới quyền và khái quát thành 3 hình thức chính là: Chống hành quân; binh biến khởi nghĩa; đứng về phía nhân dân nhằm chống lại âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Khi Trần Bá Di về làm Tư lệnh Sư đoàn 9, cũng là khoảng thời gian chiến sự đang trở nên khốc liệt và các lực lượng từ quân chủ lực cho tới quân địa phương đều ghi nhận nhiều trường hợp binh sĩ tham gia vào các hoạt động phản chiến. Tại sư đoàn của Di, đã có biểu hiện một số sĩ quan cấp úy thường cố tình trình diện muộn lúc bắt đầu xuất phát hành quân hoặc giả ốm vào phút chót. Một số khác lấy lý do bỏ đơn vị không xin phép ngay trước lúc chuẩn bị hành quân rồi ở trong tình trạng vắng mặt trái phép tới 14 ngày (vì 15 ngày vắng mặt sẽ bị báo cáo đào ngũ và bị đưa ra tòa án quân sự). Sau 14 ngày, số này trở về đơn vị để rồi sau đó tiếp tục diễn lại trò “vắng mặt” trước khi có đợt hành quân mới…

Trong các năm từ 1969-1973, ở các tỉnh: Vĩnh Bình, Vĩnh Long, Chương Thiện, Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau, Định Tường, Kiến Hòa – những nơi mà Sư đoàn 9 thường đến tăng cường, chính Trần Bá Di đã phát hiện nhiều lần tại những đơn vị quân địa phương – nhất là cấp đại đội – có tình trạng binh sĩ tránh né các vùng căn cứ của cách mạng. Trên đường hành quân, chỉ cần gặp sự kháng cự nhỏ từ phía Quân giải phóng thì các đơn vị này đã tìm cách né sang hướng khác. Di viết: “Có tới 2/3 số báo cáo của các đơn vị trực thuộc sư đoàn thường hay phóng đại hoặc báo cáo hoàn toàn sai về các cuộc chạm súng để xin yểm trợ hỏa lực hoặc tăng viện. Nhiều lúc các bản báo cáo còn cho ra những số liệu “ẩu” là đã tới mục tiêu, trong khi họ vẫn còn ở cách mục tiêu chạm súng với Quân giải phóng tới 1-2 cây số…”. Theo Di, sở dĩ quân lính dám làm ẩu như vậy là vì họ biết lợi dụng những lúc sư đoàn không có máy bay lên thẳng hoặc máy bay kiểm soát vị trí của các đơn vị dưới mặt đất.

Năm 1973, khi hoạt động ở vùng Lái Hiếu (Long Mỹ, Chương Thiện) và vùng Hồng Ngự (Kiến Văn, Kiến Phong), có từ 4-6 tiểu đoàn của Sư đoàn 9 đã tìm cách tiến quân một cách chậm chạp. Lúc chạm súng, số này chỉ tham gia lẻ tẻ rồi ém quân nằm một chỗ, sau đó xin hỏa lực yểm trợ, tới sáng hôm sau khi Quân giải phóng ngưng nổ súng thì mới tiến vào trận địa trống. Khoảng tháng 3-1974, Tiểu đoàn quân địa phương thuộc Tiểu khu Phong Dinh xuất phát từ Hòa An hành quân vào vùng Xáng Bộ (Long Mỹ, Chương Thiện) có 30 lính và hạ sĩ quan đã bỏ súng, quân trang, lẩn trốn về nhà để tránh hành quân. Tình trạng này sau đó xảy ra đều khắp ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, trầm trọng nhất là tại các tỉnh: Chương Thiện, Phong Dinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Bình.

Trần Bá Di chua chát thừa nhận: “Khi Mỹ rút, quân lính Việt Nam Cộng hòa bắt đầu lo ngại, tinh thần chống đối cách mạng có khuynh hướng giảm. Trước những chiến thắng dồn dập của cách mạng ở Quân khu 2, Quân khu 3, áp lực nặng nề đã ảnh hưởng lên khắp miền Tây Nam Bộ, cả chỉ huy lẫn binh sĩ đều mất tinh thần. Số quân chủ lực tuy vẫn còn nòng cốt kìm kẹp nhưng phần lớn đã không còn muốn chiến đấu nữa. Tình trạng đào ngũ tăng vọt, cộng với việc tuyển mộ khó khăn, nên quân số ở các đơn vị chiến đấu đã trở nên hết sức bi đát”. Trong phần cuối bản “báo cáo tổng kết chiến tranh” của mình, Trần Bá Di còn nêu lên một thực trạng ở thời điểm những năm 1973-1975: “Số lính quân dịch vẫn còn bị kiểm soát nhưng trong thực tế họ không còn tinh thần chiến đấu nữa; với số lính bảo an, dân vệ, tình trạng còn bi đát hơn, họ rút khỏi các vùng chiến sự hoặc tìm cách tiếp xúc với Quân giải phóng cả bằng cách gặp trực tiếp lẫn qua máy truyền tin”.

Những lời thú nhận của viên tướng hai sao Trần Bá Di đã cho thấy phần nào nguyên nhân thất trận của một bộ máy mà trong đó các “tướng” đã từng được huấn luyện, đào tạo bài bản còn “quân” thì luôn được lên dây cót tinh thần bằng đủ mọi hình thức. Vậy mà bộ máy ấy đã sớm rệu rã và trở thành “đứa con rơi” ngay sau khi các “quan thầy” rút lui khỏi chiến trường miền Nam…

Bùi Quang Huy
qdnd.vn

Cảng Phòng Thành – tuyến hàng hải bí mật trung chuyển hàng viện trợ Việt Nam

QĐND – Ông Bao Văn Sinh không thể nào quên hai quyết sách mang tầm chiến lược của Thủ tướng Chu Ân Lai: Phê chuẩn “Công trình 322 Quảng Tây”, xây dựng cảng Phòng Thành trở thành khởi điểm của “Tuyến hàng hải bí mật chi viện Việt Nam” (22-3-1968) và Tiếp tục xây dựng mở rộng cảng Phòng Thành hiện đại cho tương lai (11-11-1972).

Nơi trung chuyển hàng viện trợ Việt Nam

Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, đế quốc Mỹ leo thang trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1967, hai nước Trung -Việt đã ký kết Nghị định thư về sử dụng tuyến hàng hải bí mật trên biển hai nước Trung-Việt và tàu, thuyền Việt Nam sơ tán đến cảng biển Trung Quốc.

Ngày 5-6-2009, Đồng chí Huỳnh Đảm, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khách mời của Liên hoan hữu nghị thanh niên hai nước Trung-Việt, thăm Cảng Phòng Thành.

Nhằm viện trợ tốt hơn cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc xem xét tình thế, quyết định xây dựng một cảng biển tại vùng duyên hải Quảng Tây. Thông qua thám trắc thực địa nhiều nơi, cuối cùng nhận định đảo Ngư Vạn cửa sông Phòng Thành khá lý tưởng.

Đây là một vịnh che giấu tốt, tránh gió tốt, mà cách đảo Cái Lân của tỉnh Quảng Ninh chỉ có 35 hải lý, rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa sang Việt Nam.

Sau khi lựa chọn xác định địa điểm, ngày 22-3-1968, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra văn bản phê chuẩn xây dựng cảng biển này, đặt tên là “Công trình 322 Quảng Tây”, bao gồm hai hạng mục phụ thuộc Xưởng đóng tàu Vệ Đông và Kho chứa dầu Ngưu Đầu.

Tháng 6-1968, công trình chính thức xây dựng. Cũng chính vào lúc này, anh Bao Văn Sinh đang làm kế toán đội sản xuất Bạch Sa của công xã Phòng Thành quê hương, từ biệt vợ yêu và hai đứa con nhỏ, với 28 tuổi xuân phơi phới, theo đại đội xây dựng, hăng hái đi đến công trường xây dựng “Công trình 322 Quảng Tây”.

Ông Bao Văn Sinh nhớ lại, đảo Ngư Vạn khi ấy không có đường, không có nước ngọt, không có điện, nơi người ở là lều gỗ, tắm giặt là nước biển, điều kiện công tác, sinh hoạt vô cùng gian khổ. Những việc này chưa thấm tháp gì. Điều khiến anh khó chấp nhận nhất là nhà ở gần trong gang tấc mà mấy tháng không được về nhà một lần, thậm chí không được thư từ, không được thổ lộ đơn vị công tác của mình với người ngoài.

Mặc dầu đại quân xây dựng gần một vạn người đến từ các địa phương trong cả nước, cùng hô vang khẩu hiệu “Nhiều, nhanh, tốt, rẻ”, lòng hướng về một chỗ, sức dồn vào một việc, không oán than, không nuối tiếc. Máy móc thiết bị không đủ, họ sử dụng công cụ thô sơ, lực lượng kỹ thuật mỏng yếu, họ tập trung bồi dưỡng huấn luyện tại chỗ; kinh nghiệm xây dựng cảng thiếu thốn, họ vừa làm vừa học. Không ít người vốn là công nhân xây dựng cầu đường, tại đây lại trở thành thợ cả chế tạo tàu xi măng; có người vốn là công nhân khoan thăm dò địa chất, ở đây cũng lại trở thành kỹ thuật viên khoan giếng nước ngọt; có người vốn là nông dân, tại đây lại trở thành công nhân làm đường…

Trải qua hơn một năm phấn đấu đổ mồ hôi và xương máu, đầu năm 1970, các nhiệm vụ của công trình xây dựng bước đầu cảng Phòng Thành đã hoàn thành mỹ mãn: Xây dựng thành công một cảng nổi cơ động cấp 2000 tấn, 4 cảng nhỏ cấp 500 tấn, một loạt hạng mục phối hợp như đường quốc lộ đi vào cảng, v.v…

Ngày 20-5 cùng năm, Cục Cảng vụ Phòng Thành thành lập.

Ngày 1-8-1972, cảng Phòng Thành đưa vào sử dụng, gánh vác nhiệm vụ trọng đại vận chuyển vật tư, vũ khí, trang bị kỹ thuật của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa chi viện cho cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Từ ấy, cảng Phòng Thành đóng vai trò là khởi điểm của tuyến hàng hải bí mật trung chuyển hàng viện trợ cho Việt Nam.

Vừa thiết kế vừa thi công, vừa vận chuyển hàng hóa

Theo đà khói lửa chiến tranh Mỹ-Việt loãng dần, công năng phục vụ chiến tranh của cảng Phòng Thành cũng ngày càng giảm đi.

Toàn cảnh thành phố cảng Phòng Thành (Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) hiện nay.

Có người lúc ấy cho rằng: Cảng Phòng Thành chỉ có thể duy trì hiện trạng, bảo lưu là một cảng nhỏ của địa phương.

Nhưng, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nhìn xa trông rộng. Ngày 11-11-1972, trên văn kiện “Tóm tắt báo cáo tình hình vận tải viện trợ Việt Nam”, ông đã hạ bút phê chuẩn và chỉ thị: “Bất luận Việt Nam đình chiến hay không, cảng Phòng Thành phải lập tức bí mật mở rộng xây dựng, hoàn thành đúng kỳ hạn”. Thủ tướng đã chỉ rõ phương hướng chiến lược xây dựng cảng Phòng Thành cho tương lai.

Tháng 10-1973, công trình xây dựng mở rộng giai đoạn 1 cảng Phòng Thành chính thức khởi công.

Đương nhiên, ông Bao Văn Sinh không sao quên được, khi ấy thi công dưới nước là vô cùng gian nan. Toàn bộ đội thi công vừa không có máy móc, thiết bị lớn đáp ứng nhu cầu xây dựng bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn, cũng thiếu thốn nghiêm trọng lực lượng kỹ thuật xây dựng cảng và kinh nghiệm thi công trên biển.

Những thứ họ có chỉ là máy trộn, máy cuốn, máy bơm nước giản đơn, và mỗi người có đôi bàn tay chưa thạo nghề.

Cuối cùng, vẫn là những kỹ sư của Viện Thiết kế thám sát giao thông Quảng Tây tham chiếu nguyên lý thi công xây dựng cầu đường, tự thiết kế ra phương án kết cấu giếng chìm trọng lực hai tay đòn, mới làm cho công việc xây dựng bến đỗ của cảng được đẩy cao tiến độ một cách hữu hiệu.

Mà nói đến phương pháp nội địa xây dựng hải cảng như vậy, đến nay ông Bao Văn Sinh vẫn không khỏi thấp thỏm trong lòng. Ông nói: Sau khi đặt giếng chìm hình lục giác, toàn bộ dựa vào thủ công cạo gỉ bên trong giếng, có lúc van không chặt, hoặc chân giếng mất thăng bằng, thì sẽ phát sinh hiện tượng nước phun lên, người ở bên trong chẳng khác nào những con kiến rơi vào trong máy giặt đang quay, nếu không kịp níu chặt dây thừng leo lên, thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Đưa đá xuống giếng ngầm cũng làm theo cách thủ công, không gánh thì vác, toàn dựa vào “chiến thuật biển người”, từng gánh một, từng khối một, từ trên bờ chuyển vào trong giếng chìm, cứ đi đi lại lại, có lúc làm như một người máy.

Chính là nhờ vào tinh thần cách mạng “khắc phục mọi khó khăn” ấy, những người xây dựng đã sáng tạo một kỳ tích trên biển Trung Quốc.

Ngày 22-3-1975, đã xây dựng thành công bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn đầu tiên của tỉnh Quảng Tây, chẳng những kết thúc lịch sử không có bến đỗ nước sâu cấp vạn tấn trên tuyến dọc bờ biển Quảng Tây dài 1.478km, mà còn viết nên một chương mới trong lịch sử xây dựng hải cảng của Trung Quốc.

Vừa xây dựng vừa vận chuyển, từ năm 1968 đến năm 1975, từ cảng Phòng Thành, vật tư viện trợ của các nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN bí mật xuyên qua khu vực đế quốc Mỹ phong tỏa thủy lôi, vận chuyển đến cảng Hải Phòng và cảng Cẩm Phả, đã có đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Chỉ trong từ năm 1970 đến năm 1972, tuyến này đã trung chuyển hơn 300 chiếc xe tăng, xe bọc thép, 8 vạn bộ áo chống đạn, rất nhiều thiết bị để lắp đặt 3000km đường ống dẫn dầu trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại.

Sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri về hòa bình ở Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ủy nhiệm Bộ trưởng Bộ Giao thông Việt Nam trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho cảng Phòng Thành.

Đến tháng 7-1983, Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phê chuẩn cảng Phòng Thành mở cửa cho tàu thuyền nước ngoài, dần dần vén lên bức màn thần bí của “tuyến hàng hải bí mật”.

Ngày 1-10 cùng năm, cảng Phòng Thành chính thức mở cửa đối ngoại.

Tháng 4-1984, Quốc vụ viện phê chuẩn cảng Phòng Thành là một trong 14 thành phố mở cửa đối ngoại của toàn quốc.

Đến khi ấy, ông Bao Văn Sinh vẫn là một thuyền trưởng có thâm niên.

Ông Bao Văn Sinh không thể nào quên hai quyết sách mang tầm chiến lược của Thủ tướng Chu Ân Lai: Phê chuẩn “Công trình 322 Quảng Tây”, xây dựng cảng Phòng Thành trở thành khởi điểm của “tuyến hàng hải bí mật chi viện Việt Nam” (22-3-1968) và Tiếp tục xây dựng mở rộng cảng Phòng Thành hiện đại cho tương lai (11-11-1972).

Nhờ hai quyết sách chiến lược ấy, Trung Quốc mới có thành phố cảng đối ngoại hiện đại hóa Phòng Thành như ngày nay: Có bến đỗ cấp 20 vạn tấn, có sức mạnh cạnh tranh trên trường quốc tế, với nhiều cái “nhất”: Cảng công-ten-nơ thứ nhất Quảng Tây, cảng cấp 20 vạn tấn thứ nhất Quảng Tây, cảng nhập khẩu lưu huỳnh lớn nhất toàn quốc, cảng vận chuyển lưu huỳnh chuyên nghiệp hóa duy nhất toàn quốc, v.v…

Vũ Phong Tạo (trích dịch theo http://www.xinhuanet.com, 22-2-2011)
qdnd.vn

Vì sao Hải quân ngụy Sài Gòn không chặn nổi “những chiến binh bí mật”?

QĐND – Hải quân Sài Gòn được phương Tây xem là một lực lượng phát triển nhanh nhất, rất hiện đại vào đầu những năm 70 của thế kỷ 20, nhưng lực lượng này đã không ngăn chặn được những “chiến binh bí mật” của Đoàn 125 Hải quân nhân dân Việt Nam, làm nhiệm vụ tiếp tế đường biển cho cách mạng miền Nam.

Di sản thực dân cũ

Trần Văn Chơn thời là Trung úy Hải quân của Pháp đầu những năm 50 của thế kỷ trước. Ảnh: Lưu trữ Hoa Kỳ

Cuối những năm 40 của thế kỷ 20, hải quân (ngụy) thuộc Pháp và chỉ có vỏn vẹn dăm tàu thuyền nhỏ.

Cuối năm 1954, người Pháp cho “Quân đội quốc gia” của Bảo Đại thừa hưởng một phần gia tài ở Đông Dương của họ. Đáng kể có 70 tàu chở quân và chiến xa (LCM), 3 tàu quét mìn, hai tàu tuần duyên (garde côtière GC), 200 ca-nô tuần tiễu nhỏ (vedette) các loại, và 3 tàu tuần tiễu (PC), 15 sà lan, trong đó chỉ có một sà lan máy, 3 tàu dắt (remorqueur)… Tất cả đều đã được khai thác nhiều năm.

Trong số sĩ quan hải quân (ngụy) của Pháp, chỉ có một đại úy, còn lại là trung úy, thiếu úy, trong đó có một số vừa tốt nghiệp Trường Hải quân Bơ-rét (Brest) (École Navale de Brest). Trần Văn Chơn, năm 1953 còn giữ chức Phó chỉ huy Biệt đoàn Hải giang xung kích số 23, tới 1956 đã được đôn lên Tư lệnh phó Hải quân cho chế độ Ngô Đình Diệm.

Tới tháng 7-1955, Hải quân Việt Nam cộng hòa (VNCH) chia làm Hải lực và Giang lực, có 3.858 quân, kể cả 1.291 lính thủy quân lục chiến (quân Sài Gòn lúc đó khoảng 150.000). Có 22 tàu chiến loại lớn. Hải quân VNCH bắt đầu nhận được sự chi viện ồ ạt của Mỹ về vật chất và các cố vấn, thông qua Cơ quan Viện trợ và Cố vấn quân sự Mỹ (MAAG).

Các căn cứ hải đoàn của Sài Gòn thời Diệm đặt ở Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên, Cát Lái. Các căn cứ của lực lượng tuần tiễu ven bờ (duyên khu), đặt ở Phú Quốc, Nha Trang (gồm cả Trung tâm huấn luyện Hải quân), Vũng Tàu, Đà Nẵng.

Khởi chiến chống “Đoàn tàu không số”

Theo Nach Jim (Nát-sơ Gim) trong Lịch sử hình thành cơ cấu chỉ huy và lực lượng vũ trang của VNCH(1), từ cuối những năm 50 (thế kỷ 20), Bắc Việt Nam bắt đầu đưa người và vũ khí vào lãnh thổ VNCH bằng đường biển. Để ngăn chặn, chính quyền Sài Gòn đã thành lập Lực lượng Hải thuyền (Coastal Junk Force), lấy quân từ lực lượng bán chính quy để tuần biển, sau đổi tên thành các Duyên đoàn (Costal Groups). Lực lượng này được điều binh bố trận bởi các Vùng chiến thuật, hơn là thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của Hải quân VNCH.

Năm 1964, khi “Chiến tranh đặc biệt” thất bại, quân số là 8.100 lính; năm 1967, hải quân Sài Gòn đã lên tới 16.300 quân, 639 tàu chiến. Phương Tây đánh giá: “Với sự hiệp trợ của Mỹ, hải quân Sài Gòn đã nhanh chóng trở thành một trong những hải quân lớn nhất thế giới, với 4,2 vạn quân, gần 1.500 chiến thuyền (672 tàu xuồng đổ bộ, 20 tàu rải thủy lôi, 450 tàu tuần tiễu, 56 tàu hậu cần trợ chiến, và 242 ca-nô chiến đấu(2)).

Về các chiến dịch chống Đường Hồ Chí Minh trên biển như Market Times (Phiên chợ) hải quân Sài Gòn hợp lực với hệ thống kiểm soát của hải quân và không lực Mỹ đồ sộ, dày đặc, hiện đại. Tuy vậy, một câu hỏi lớn đặt ra: “Chiến hạm của Hoa Kỳ nhập cuộc rất đông, xem như vây kín duyên hải VNCH. Thế nhưng Cộng sản Bắc Việt có chịu chùn bước xâm nhập không?”.

Theo các cố vấn Mỹ, ngay sau Hiệp định Pa-ri, hải quân Sài Gòn được đánh giá đứng hàng thứ tư thế giới về trang bị. Nhưng Sài Gòn vẫn “xin” thêm tàu to hơn, hiện đại hơn. Theo tờ Vietnam Courrier (Tin tức Việt Nam), phỏng vấn các cựu “đô đốc, đề đốc Sài Gòn”, họ làm thế chủ yếu để làm giàu.

Nguyễn Văn Thiệu xây dựng Hải quân VNCH như… thương vụ tỷ đô, ém sẵn các tay chân của mình. Đề đốc Chung Tấn Cang (Tư lệnh những năm 1963-1965), đã trục lợi trong vụ cứu trợ nạn nhân lụt năm 1965; Lâm Ngươn Tánh, bạn đồng khóa với Thiệu tại Trường Hàng hải cuối những năm 40 của thế kỷ 20, đã khét tiếng buôn lậu từ hồi còn chỉ huy cụm căn cứ Rạch Sỏi – Tân Châu – Long Xuyên. Trần Văn Chơn, hai lần tư lệnh, không hẳn do hai lần làm Giám đốc Binh xưởng Hải quân và từng là Tư lệnh Hải quân thời Diệm, mà có lẽ do luôn “bao (và) che” Thiệu, khi “tổng thống” này xuống Ô Cấp (Vũng Tàu) du hí.

Gần đây, các cựu chỉ huy hải quân Sài Gòn vẫn còn ca ngợi Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ thời “Việt Nam hóa”, đã cấp tốc chuyển giao hơn 500 chiến hạm, tàu chiến các loại cho hải quân VNCH, theo đúng lịch trình của kế hoạch ACTOV (Accelerated Turnover to the Vietnamese)(3).

Tư lệnh Hải quân VNCH Trần Văn Chơn (trái) và Đô đốc Mua-rơ (T. Moore) Tư lệnh các chiến dịch Hải quân Mỹ, thanh tra một đơn vị hải quân Sài Gòn vừa nhận bàn giao tuần tiễu từ một đơn vị Hải quân Mỹ, tháng 9-1969. Lưu trữ quân đội Mỹ

Đó là vì tài sản của họ từng tăng vọt nhờ “Việt Nam hóa”? Các chuyến đi Gu-am, Phi-líp-pin, Ô-ki-na-oa, Hồng Công, ngay cả Oa-sinh-tơn hay Niu Y-oóc để nhận tàu, để huấn luyện trên các tàu chiến hay tại các công xưởng hải quân Mỹ, thường kéo dài hàng tuần, hàng tháng, có khi nửa năm. Đây là dịp tốt cho các sĩ quan cao cấp đầu cơ ngoại tệ, vàng và bạch phiến. Họ thường trở về trong túi đầy ắp đô-la sau những chuyến đi này. Như Trần Văn Chơn thừa nhận với Vietnam Courrier, những chiến hạm do Mỹ chuyển giao gồm cả những chiếc cũ, cần sửa chữa thường xuyên, những dịp này cũng trở thành “thương vụ” béo bở cho sĩ quan hải quân.

Theo Vietnam Courrier, các vụ buôn lậu bạch phiến qua công cán chính thức của Hải quân VNCH khiến công luận Mỹ xôn xao. Bạch phiến phát xuất từ vùng Tam Giác Vàng (Miến Điện – Thái Lan – Lào) được buôn lậu Thái Lan đưa lên các chiến hạm của hải quân VNCH, hoặc từ Hạ Lào qua các tàu chiến trên sông Cửu Long trong lãnh thổ Cam-pu-chia. Đường dây này do Thiệu và tướng Đặng Văn Quang tổ chức, bảo kê, đem lại lời lãi lớn hơn đường buôn lậu hàng không của Nguyễn Cao Kỳ.

Mỗi Bộ tư lệnh Vùng Hải quân (Coastal Zone), mỗi bến cảng quân sự là một cấm địa dành riêng cho một tướng tá. Viện lẽ “an ninh quốc gia”, hay “bảo mật quân sự” cấm dân chúng bén mảng tới các khu tàu đậu. Trên thực tế, đó là những địa điểm bốc dỡ hàng nhập cảng lậu. Hàng hóa càng thuộc loại quốc cấm, càng đầy rẫy tại những khu vực này.

Năm 1976, tại trại cải tạo dành cho các tướng Sài Gòn, có một nhân vật tròn trĩnh, hồng hào, tuổi trạc 55, trông vẻ trẻ trung. Đó là Trần Văn Chơn, cựu Tư lệnh Hải quân Sài Gòn. Ông ta cố sống tách biệt, ăn uống một mình, làm bộ kiêng khem, “tu tại gia”. Ông ta tự giới thiệu mình rất ham đọc sách Kinh Phật “để tìm thấy niết bàn trong tâm hồn”. Tuy nhiên, những cựu sĩ quan các binh chủng khác của Sài Gòn kháo nhau: “Mẹ kiếp, cả một đời sống trong chùa cũng không tẩy rửa được những hành động xấu xa trong hải quân (Sài Gòn)”, Vietnam Courrier viết tiếp.

Đặng Lê
qdnd.vn

(1)http://www.buttondepress.com/secretstuff/ttu2006/Units.pdf, tr. 31.

(2)http://en.wikipedia.org/wiki/Republic_of_Vietnam_Navy

(3)http://haisu.tripod.com/toanthe.htm