Thư viện

Bại tướng Dư Quốc Đống

QĐND – Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ-Quân đội Sài Gòn, ngoài lực lượng chính là Quân đoàn l-Quân khu l, giới chóp bu Sài Gòn còn tăng cường hai lực lượng được xem là “thiện chiến” nhất trong quân lực Việt Nam cộng hòa là Sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Sư đoàn dù. Tư lệnh Sư đoàn dù lúc đó là Trung tướng Dư Quốc Đống.

Dư Quốc Đống. Ảnh tư liệu

Dư Quốc Đống sinh năm 1932 tại tỉnh Rạch Giá. Y cầm súng theo thực dân Pháp từ khi còn rất trẻ. Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Đà Lạt năm 1952, Đống được điều về Tiểu đoàn 4 Vệ binh Sơn cước đóng tại Plei-cu. Một năm sau, y tình nguyện xin về Tiểu đoàn 1 nhảy dù.

Con đường làm tay sai hết Pháp đến Mỹ của Dư Quốc Đống chủ yếu trong lực lượng “mũ nồi đỏ” khét tiếng gian ác từng gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta. Từ năm 1953 đến cuối năm 1972, Đống lần lượt leo qua các chức Đại đội trưởng, Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng, Tư lệnh Lữ đoàn… đến Trung tướng, Tư lệnh Sư đoàn dù. Dư Quốc Đống từng tham gia chiến dịch tảo thanh lực lượng Bình Xuyên năm 1955, từng nhiều lần đụng độ với Quân Giải phóng trong trận Ia Đrăng, Tết Mậu Thân 1968, Đồi 1416 ở Đắc Tô, cuộc tiến quân sang Cam-pu-chia… và cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971.

Như vậy, cuộc đời binh nghiệp làm tay sai cho ngoại bang của Đống chủ yếu ở Sư đoàn dù, lực lượng “con cưng” của chính quyền Sài Gòn, được trang bị hiện đại, được quan thầy Mỹ tuyển chọn nhân sự và đào tạo bài bản, kỹ lưỡng. Vì có “thâm niên” nhất trong lực lượng, lại có vóc dáng cao lớn, thêm tính cách biết giữ chữ tín theo kiểu giang hồ nên y được cấp dưới vì nể. Nói một cách công bằng, Dư Quốc Đống được Pháp và Mỹ đào tạo cơ bản về chiến thuật của lực lượng dù, có kinh nghiệm trong hành quân tác chiến càn quét và đối phó với lực lượng Quân Giải phóng. Nhưng tại cuộc hành quân Lam Sơn 719, Sư đoàn dù do y chỉ huy đã bị Quân Giải phóng quần cho tơi tả.

Trong “Lệnh hành quân Lam Sơn 719” của Sư đoàn dù ký ngày 3-2-1971, Dư Quốc Đống ra lệnh cho thuộc cấp: “Nỗ lực chính trong cuộc hành quân hỗn hợp không lực theo trục DO, nhằm cắt đứt hệ thống tiếp vận của Công sản Bắc Việt, tìm diệt địch và phá hủy tối đa các quân dụng kho tàng của chúng trong căn cứ 604”. Hướng hành quân cũng được Đống chỉ rõ: “Xuất phát từ căn cứ Hàm Nghi, hành quân bộ theo dọc Đường 548 (Đường 9) và trực thăng vận xuất nhập các khu vực mục tiêu A Lưới, A Sầu, thiết lập các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực, tổ chức hành quân tuần thám, lùng diệt địch, phá hủy các kho tàng trong khu vực trách nhiệm”.

Cuộc hành hành quân của Sư đoàn dù cũng được Đống chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn l (Từ ngày 30-1 đến 7-2 năm 1971): Di chuyển toàn bộ sư đoàn nhảy dù và các đơn vị tăng phái đến phối trí xung quanh khu vực căn cứ Hàm Nghi.

Giai đoạn 2 (từ 8-2 đến 14-2): Sử dụng chiến đoàn đặc nhiệm làm nỗ lực chính, xuất phát từ Tà Bạt, tiến quân dọc theo Đường 548 (Đường 9) về phía tây, giao tiếp và hỗ trợ cho 1 tiểu đoàn nhảy dù trực thăng vận chiếm mục tiêu A Lưới (Bản Đông) và thiết lập căn cứ hỏa lực tại đây. Đồng thời Lữ đoàn 3 nhảy dù được trực thăng vận cấp tiểu đoàn chiếm các khu vực cao điểm 30-31 (điểm cao 450-543) phía bắc Đường 9 và thiết lập các căn cứ hỏa lực để hỗ trợ mặt Bắc cho cánh quân cơ giới, chiến đoàn đặc nhiệm.

Giai đoạn 3: Củng cố các căn cứ hành quân và căn cứ hỏa lực tổ chức hành quân lục soát, tiêu diệt lực lượng địch, khám phá và tiêu hủy tới mức tối đa các quân dụng cũng như kho tàng của địch trong phạm vi trách nhiệm.

Giai đoạn 4: Đoạn lệnh hành quân sẽ ban hành sau (sau này thành cuộc tháo chạy vội vã của Sư đoàn dù cũng như toàn bộ lực lượng địch tham chiến).

Tổ chức biên chế của Sư đoàn dù lúc này rất mạnh, gồm 9 tiểu đoàn thuộc 3 lữ đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh… đó là chưa kể các lực lượng của Quân đoàn 1 tăng cường cho Đống gồm Lữ đoàn 1 thiết kỵ, Tiểu đoàn 44 pháo binh (155mm) và tiểu đoàn 101 công binh chiến đấu.

Nhưng, cuộc hành quân hoang tưởng Lam Sơn 719 do quan thầy Mỹ sắp đặt bị thất bại thảm hại. Toàn bộ lực lượng của cái gọi là Cuộc hành quân Lam Sơn 719 trong đó có Sư đoàn dù của Dư Quốc Đống đã lọt vào trong thế trận giăng sẵn của quân và dân ta. Thất bại của chúng là điều không tránh khỏi.

Sáng 9-2-1971, 2 đại đội của chiến đoàn đặc nhiệm dù tại chốt 351 cầu Cha Kỳ bị Quân Giải phóng tiêu diệt. Cùng ngày, Tiểu đoàn dù 2 bị tập kích ở Xê Nam.

Từ ngày 11 đến ngày 13-2, Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 Quân đội nhân dân Việt Nam liên tiếp tiến công khu vực điểm cao 456 và Đồi Không Tên, diệt 3 đại đội của Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn dù 6 (Lữ đoàn dù 3) chốt giữ căn cứ 31 (điểm cao 543), cách Bản Đông 7km về phía bắc.

Trưa 25-2, bằng trận tiến công hiệp đồng binh chủng, Trung đoàn 64 đã làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 dù, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 dù và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn.

Ngày 12 đến ngày 17-3, Quân Giải phóng đại phá Bản Đông do 1 lữ đoàn dù và 2 thiết đoàn quân đội Sài Gòn chốt giữ. Lữ đoàn dù 3 bị xóa sổ.

Ngày 18-3, do bị thất bại nặng nề, quân đội Sài Gòn rút khỏi Bản Đông. Cuộc rút quân trở thành một thảm bại hỗn loạn. Binh sĩ vứt bỏ vũ khí chạy cắt rừng hòng thoát thân nhưng cuối cùng trúng vào các ổ phục kích của Quân Giải phóng.

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 là cuộc hành quân lớn nhất của Liên quân Mỹ-ngụy trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng, khi viết về cuộc đời cầm súng làm tay sai cho hết Pháp và Mỹ của Dư Quốc Đống, đám đàn em của y và thậm chí người cháu gọi Đống bằng cậu ruột là Trần Thái Văn hiện sống ở Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) không một lời nhắc đến cuộc hành quân này. Đây là một trong những thất bại nặng nề nhất trong 26 năm khoác áo lính của Dư Quốc Đống mà thuộc hạ cũng như y muốn quên đi. Cũng có vài kẻ thân tín của y cho rằng, việc đặt Dư Quốc Đống và Lê Nguyên Khang, Trung tướng Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến dưới quyền của Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1 – Vùng 1 chiến thuật là một sai lầm của Tổng thống Thiệu, vì hai viên tướng vốn ngổ ngáo lại quen được chiều chuộng rất coi thường Lãm. Bằng chứng là mặc dù toàn bộ Sư đoàn Thủy quân Lục chiến tham gia cuộc hành quân, nhưng Lê Nguyên Khang giao cho cấp phó chỉ huy, còn mình thì nằm chơi ở Sài Gòn… Sau này, mâu thuẫn giữa Đống và Lãm được bộc lộ trong kế hoạch phòng thủ Bản Đông. Chuyện đó có chăng cũng chỉ là một nguyên nhân nhỏ để bào chữa cho thất bại cay đắng của Đống và Sư đoàn Dù của y.

Trong hồi ký “Sư đoàn nhảy dù Việt Nam và cuộc hành quân Lam Sơn 719” của Trung tướng hồi hưu Giêm B.Vốt-tơ (James B.Vaught), nguyên Cố vấn trưởng Sư đoàn dù trong cuộc hành quân này cũng rất ít khi nhắc đến Đống. Sau khi ba hoa rằng mặc dù bị đối phương bao vây quyết liệt, nhưng cuối cùng nhờ tài cố vấn của mình, Sư đoàn dù đã “triệt thoái có quy củ khỏi đất Lào thành công”, Vốt-tơ chỉ nhắc Đống một chút, nguyên văn như sau: “Tướng Đống trong buổi họp tham mưu đã nói với toàn bộ các đơn vị trưởng trong Sư đoàn dù rằng, từ nay tôi được phép đề nghị các quyết định hành quân chiến thuật cần thiết và mọi người phải tuyệt đối thi hành. Và kể từ ngày đó tướng Đống không bao giờ phản đối bất cứ một đề nghị nào của tôi đưa ra…”.

Không biết Vốt-tơ khen hay… chửi Đống, xem vị tướng này như là bù nhìn dưới quyền điều hành của các cố vấn Mỹ.

Cuối năm 1972, Dư Quốc Đống rời chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn dù để thay Ngô Du làm Trưởng đoàn thương thuyết của Quân đội Sài Gòn trong Ủy ban liên hợp Quân sự bốn bên.

Tháng 11-1974, Dư Quốc Đống được Tổng thống Thiệu cử giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 3-Quân khu 3 bao gồm Sài Gòn và các tỉnh phụ cận. Sau đó 3 tháng, y phải từ chức khi để mất Phước Long vào tay Quân Giải phóng. Ngày 29-4-1975, khi chế độ Sài Gòn trong cơn hấp hối, Đống cùng gia đình vội vã rời khỏi Việt Nam sang tiếp tục sinh sống những ngày tàn cuối đời ở Mỹ. Ngày 22-4-2008, Dư Quốc Đống chết ở một Viện dưỡng lão ở Ca-li-phóoc-ni-a.

Khôi Nguyên (Theo báo chí nước ngoài)
qdnd.vn

Con cháu 10 nguyên soái Trung Quốc đảm nhiệm những công việc gì?

QĐND – Chu Mẫn, con gái nguyên soái Chu Đức, công tác ở Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Chị đã từng làm Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu giáo dục. Nghỉ hưu năm 1986, chị đã sáng lập Học viện Huấn luyện nhân tài lưỡng dụng quân dân Bắc Kinh (hiện nay đổi tên thành Học viện Chuyên tu quân dân Bắc Kinh), đảm nhiệm chức Viện trưởng. Các con trai Chu Mẫn là Lưu Kiến làm Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phòng hóa Quân Giải phóng Trung Quốc; Lưu Khang làm công tác giao lưu thương vụ giữa Trung Quốc và nước Đức; Lưu Mẫn phiên dịch viên tiếng Pháp; Lưu Võ, Đại đội trưởng Sở Nghiên cứu X Quân Giải phóng Trung Quốc).

Bành Cương, cháu gái nguyên soái Bành Đức Hoài, quân hàm Thiếu tướng, Ủy viên thường vụ Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương, Phó bí thư Ủy ban Kỷ luật Quân ủy Trung ương.

Con trai nguyên soái Lâm Bưu là Lâm Lập Quả, tốt nghiệp Khoa Vật lý, Trường Đại học Bắc Kinh. Tháng 3-1967, đảm nhiệm Chánh Văn phòng Đảng ủy Quân chủng Không quân. Ngày 17-10-1969, được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm kiêm Phó trưởng ban Tác chiến Văn phòng Bộ tư lệnh Không quân Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Sáng sớm ngày 13-9-1971, theo cha mẹ đi máy bay vội vàng trốn chạy ra nước ngoài, dọc đường máy bay bị rơi ở Ôn-đô-nhan (Mông Cổ) và bị chết.

Lâm Lập Hằng con gái Lâm Bưu.

Con gái nguyên soái Lâm Bưu là Lâm Lập Hằng, đã từng đảm nhiệm Phó tổng biên tập Báo “Không quân”. Ngày 31-7-1974, Mao Trạch Đông trực tiếp phê chuẩn bãi bỏ thẩm tra cách ly đối với Lâm Lập Hằng. Tiếp theo, chị kết hôn với Trương Thanh Lâm, đồng thời được sắp xếp công tác trong một nhà máy sản xuất xe hơi tại Trịnh Châu. Sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vấn đề của Lâm Lập Hằng được sự quan tâm của Trung ương Đảng, công tác và hộ khẩu tại Bắc Kinh của chị đã được giải quyết, đồng thời được phân công đến Viện Khoa học xã hội Trung Quốc công tác, chồng chị cũng được sắp xếp công tác tại ngành y tế thành phố Bắc Kinh. Từ đó, cả nhà Lâm Lập Hằng đã có cuộc sống bình yên. Ngày 18-5-2001, nhận lời mời của một công ty ở quê hương, chị ra làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Đại tửu lầu Hoàng Hạc.

Con trai trưởng của nguyên soái Lưu Bá Thừa là Lưu Thái Hành, đã từng làm Phó giám đốc Sở Nghiên cứu X Quân chủng Không quân, sau đó làm Phó trưởng ban Ban Tác chiến Bộ đội Tăng thiết giáp. Con trai thứ hai là Lưu Mông đã từng làm Cán sự tham mưu ở Bộ Tổng tham mưu, yêu thích văn học, đã tham gia công tác biên soạn cuốn sách “Truyện ký Lưu Bá Thừa”, sáng tác kịch bản văn học điện ảnh “Tuổi trẻ Lưu Bá Thừa”. Con trai thứ ba Lưu Thái Trì, quân hàm Thiếu tướng, Phó trưởng ban Ban Trang bị Bộ tư lệnh Không quân. Con gái Lưu Hoa Bắc, tháng 6-1945, bị quân địch ám sát khi ở Viện Bảo vệ giáo dục Diên An; Lưu Di Quần, quân hàm Thiếu tướng, Phó viện trưởng Học viện Chỉ huy Không quân; Lưu Giải Tiên, Bác sĩ Ban Chẩn trị số 1 Bệnh viện Tổng bộ Hậu cần tại Bắc Kinh; Lưu Nhạn Vũ, Chuyên viên Khoa học Y học hạt nhân Bệnh viện Trung ương Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, Ủy viên Hội đồng chuyên môn Y học hạt nhân Hội Y học Bắc Kinh.

Con trai nguyên soái Hạ Long là Hạ Bằng Phi, quân hàm Trung tướng, Phó tư lệnh Hải quân, đã từ trần. Con gái Hạ Tiệp Sinh, quân hàm Thiếu tướng, Phó trưởng ban Ban Nghiên cứu Bách khoa quân sự Viện Khoa học quân sự (chồng là Lý Chấn Quân, cựu Chính ủy Bộ tổng Cảnh sát vũ trang).

Con trai trưởng nguyên soái Trần Nghị là Trần Hạo Tô, đã từng làm Phó thị trưởng thành phố Bắc Kinh, hiện làm Hội trưởng Hội Hữu hảo đối ngoại nhân dân Trung Quốc kiêm Hội trưởng Hội Hữu hảo Trung – Nga. Con trai thứ hai Trần Đan Hoài, quân hàm thiếu tướng, Ủy viên Hội đồng khoa học kỹ thuật Tổng bộ Trang bị, Quân giải phóng. Con trai thứ ba Trần Hiểu Lỗ, là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Quản lý đầu tư quốc tế đại lý nhân sự Trung tâm khai thác nhân tài quốc tế Trung Quốc. Con gái Trần San San (chồng là Vương Quang Á, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc.)

Con trai nguyên soái La Vĩnh Hằng là La Đông Tiến, quân hàm Trung tướng, nguyên Phó chính ủy Bộ tư lệnh Pháo binh 2 Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Con trai của nguyên soái Từ Hướng Tiền là Từ Tiểu Nham, quân hàm Trung tướng, đã từng làm Trưởng ban Ban Thông tin Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Con gái nguyên soái Nhiếp Vinh Trăn là Nhiếp Lực, quân hàm Trung tướng, đã từng làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng, hiện nay đảm nhiệm Phó chủ tịch thường trực Hội Phát minh Trung Quốc, Ủy viên thường vụ Quốc hội Trung Quốc (chồng là Đinh Hằng Cao, quân hàm Thượng tướng, Viện sĩ Viện Công trình Trung Quốc, đã từng làm Chuyên viên nghiên cứu, Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm Ủy ban khoa học Quốc phòng. Hiện nay làm Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật quán tính Trung Quốc).

Con trai trưởng của nguyên soái Diệp Kiếm Anh là Diệp Tuyển Bình, Phó chủ tịch Ủy ban mặt trận dân tộc Trung ương (vợ là Ngô Tiểu Lan, cháu gái của Ngô Ngọc Chương, làm Phó chủ nhiệm Hội đồng nhân dân thành phố Thâm Quyến. Con gái Diệp Tân, Tổng giám đốc Công ty Vạn Tín Hồng Công). Con trai Diệp Tuyển Ninh (Nhạc Phong), từng làm Trưởng ban Liên lạc Tổng bộ Chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, quân hàm Trung tướng, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội. Con trai Diệp Tuyển Liêm, Ủy viên Ủy ban mặt trân dân tộc trung ương (Chính hiệp toàn quốc), Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Khải Lợi, một trong những người phụ trách Công ty Bảo Lợi Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng. Con gái Diệp Sở Mai, nguyên Phó cục trưởng Cục Máy cái Bộ Công nghiệp Cơ giới (Chồng là Trâu Gia Hoa, Phó thủ tướng Quốc vụ viện). Con gái Diệp Hướng Chân (chồng là La Đan, cháu ngoại của Tiền Tráng Phi). Con gái Diệp Văn San, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Đầu tư Hoa kiều Hải Nam, đã từng làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Bôn Đức Châu Á-Thái Bình Dương Hồng Công (chồng là Dư Phương con trai của Dư Thu Lý).

VŨ PHONG TẠO biên dịch
qdnd.vn

(Theo Báo mạng Trung Hoa)

Nguyễn Khoa Nam: Cô đơn và đoản mệnh

QĐND – Trong quân đội ngụy Sài Gòn, có hơn 160 người đeo lon tướng, thì Nguyễn Khoa Nam là một trong rất ít tướng được binh sĩ ca ngợi bởi vẻ học thức và sự “trong sạch”. Nhưng vào ngày tàn cuộc chiến, ông ta vẫn bị mê hoặc bởi một thứ “lý tưởng nhập khẩu” từ Mỹ và đã chọn con đường ngu ngốc: tự sát.

Nguyễn Khoa Nam-Viên tướng sống cô đơn, khép kín.

Huế giải phóng ngày 26-3-1975 thì chừng 16 giờ chiều hôm sau, Đoàn công tác đặc biệt của Bộ tư lệnh Pháo binh đã có mặt tại căn cứ Trần Cao Vân. Từ tối ấy, đoàn chúng tôi trú tại Nhà thờ họ Nguyễn Khoa cạnh chùa Bà La Mật, thuộc địa phận xã Phú Hương, huyện Phú Vang trên đường Huế đi Thuận An. Với 38 sĩ quan trung, cao cấp và hai chiến sĩ, vậy mà chúng tôi chỉ sử dụng hết một phần nhỏ diện tích của nhà thờ. Thuở học trường huyện, được tắm gội trong những áng văn của nhà lý luận phê bình văn học Hải Triều-Nguyễn Khoa Văn, mấy năm sau lại ở trong Nhà thờ họ Nguyễn Khoa, thế nên “eng” (anh) giải phóng vừa từ Hà Nội vào là tôi cứ đoán già đoán non tướng Nguyễn Khoa Nam bên kia chiến tuyến có thể là hậu duệ của cụ Tổ tại nhà thờ này, nên lò mò thu thập những điều người ta nói về Nam.

Trong đội ngũ bại tướng của quân đội Sài Gòn, có lẽ Nguyễn Khoa Nam là người được học hành đến nơi đến chốn và đậm chất nghệ sĩ nhất. Nam quê gốc làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh ngày 23-9-1927, tại Đà Nẵng. Bố là Nguyễn Khoa Túc làm Thanh tra giáo dục thời Pháp thuộc tại Đà Nẵng (về hưu năm 1941 tại Huế); mẹ là Tôn Nữ Mộc Cẩn thuộc dòng Tuy Lý Vương. Gia đình có 5 anh chị em, hai anh mất sớm, năm 1975 chị gái là Nguyễn Khoa Diệu Khâm làm ngành y tại Sài Gòn, em trai là Nguyễn Khoa Phước theo ngành giáo dục. Nam học Tiểu học tại Trường École des Garcons (trường dành cho nam học sinh) ở Ðà Nẵng, sau đó ra Huế học Trường Khải Ðịnh, năm 1943 đậu bằng Thành chung và học lên Nhị cấp, năm 1947 tiếp tục học lớp Ðệ nhị Toán và lớp Hành chính tại Huế. Nam giỏi Anh ngữ và Pháp ngữ, lại có năng khiếu hội họa và âm nhạc. Thời gian 1947-1949, Nam tập trung vào hội họa. Chuyện rằng hồi đó Nam ngồi suốt ngày bên khung vải, cặm cụi cho ra đủ các loại tranh sơn dầu, bột màu, bút chì, một số bức tranh được trưng bày. Thời trai trẻ nghe bảo Nam từng yêu một mỹ nữ, về sau người này sang Pháp và lấy chồng là bác sĩ bên ấy, từ đó ông ta “kiêng kỵ” phụ nữ đến suốt đời, nhưng người thân và gia đình vẫn thấy trong các tác phẩm hội họa của chàng trai thất tình này luôn thấp thoáng bóng dáng người tình xưa. Năm 1951, Nam làm tại Sở Ngân sách Trung kỳ.

Tháng 4-1953, Nguyễn Khoa Nam vào học Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức thuộc “Quân đội Quốc gia Việt Nam” trong Liên hiệp Pháp. Mãn khóa, y đeo lon thiếu úy, từ đó con người sống thiên về nội tâm và rêu phong như lăng tẩm Huế đã bị cuốn vào đường binh nghiệp.

Năm 1955, y làm Ðại đội trưởng lính dù, sau đó đi học kỹ thuật khoảng 8 tháng ở Pau (Pháp), trở về đeo lon đại úy. Từ khi đeo lon úy cho đến khi đeo lon tướng vào năm 1972, làm Tư lệnh Quân đoàn 4 kiêm Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, Nam sống độc thân khép kín, hầu như không mấy khi tâm sự với ai, thế nên người ngoài từ cấp trên đến cấp dưới đều khó hiểu, khó gần. Y thuộc tạng “xa lạ giữa những người thân thuộc”.

Việc Nguyễn Khoa Nam cho lập mật khu tử thủ tại Cần Thơ tháng 4-1975 và sau đó tự sát cùng với cấp phó của mình là Chuẩn tướng Lê Văn Hưng về sau được một số tàn quân viết trong hồi ký. Theo Lê Nguyên Bình, cựu đại tá ở Bộ Tham mưu Vùng 4 chiến thuật quân đội ngụy Sài Gòn thì: “Bộ tư lệnh vùng 4 và Quân đoàn 4 đã nỗ lực xây nhiều địa ốc kiên cố chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu (Quân đội Sài Gòn) và các đơn vị khi cần có thể rút về giữ tuyến cuối cùng… Từ ngày 24 đến 30-4-1975, Quân Giải phóng đã chia cắt và chiếm nhiều đoạn dài trên lộ 4 (tức Quốc lộ 1A hiện nay). Tỉnh trưởng Long An nhiều lần gọi điện xin dùng thuốc nổ phá hủy hai cầu Tân An và Bến Lức nhằm cắt đứt bước tiến của Quân Giải phóng, nhưng Nguyễn Khoa Nam nhất quyết không đồng ý vì dự phòng phương án cho chính quyền Sài Gòn và Bộ Tổng tham mưu lui về Cần Thơ bằng đường bộ (!)… Sáng 30-4-1975, một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã cảnh náo loạn đã xảy ra, kế hoạch tử thủ ở Cần Thơ của Nguyễn Khoa Nam cũng không thuận lòng dân địa phương…”.

Trưởng thành từ lính dù (một trong những lực lượng “con cưng” khét tiếng gian ác của quân đội Sài Gòn) từ đại đội trưởng đến lữ đoàn trưởng lữ đoàn nhảy dù, lại làm tay sai cho hết chủ Pháp rồi chủ Mỹ, bàn tay của Nguyễn Khoa Nam từng vấy máu đồng bào ta từ Quảng Ngãi, Kon Tum, Sài Gòn-Chợ Lớn… đến Tiền Giang, Cần Thơ. Thế mà, theo lời kể của Lê Văn Danh (trung úy, trợ lý của Nam), Nam lại là “tín đồ” của đạo Phật: “Tầng dưới sở chỉ huy nơi ông làm việc, khi bước vào cửa: bên trái là phòng thuyết trình cũng là nơi làm việc của tùy viên. Bên phải là phòng thờ Phật. Bàn thờ Phật đặt giữa bức tường phía sau, trên bàn thờ Phật có tượng Phật Thích Ca, phía bên phải bàn thờ Phật có một cái chuông nhỏ, giữa là lư hương được cắm nhang điện, bên trái là đĩa trái cây và hai cây đèn cầy bằng điện ở hai bên bàn thờ. Bên phải phòng thờ Phật là phòng ăn của ông, phòng rất dài, trên 10 thước, đặt một bàn ăn dài, trải vải trắng, tấm vải trắng này đã đắp cho ông sau khi chết… Buổi sáng trước 7 giờ, trước khi đi làm ông đến bàn thờ đốt nhang xá Phật, cắm hương vào lư nhang và gõ vài tiếng chuông, tối về trước khi đi ngủ ông đến bàn Phật đốt nhang như buổi sáng…”.

Phải chăng ghê sợ với chính tội ác của mình mà những ngày cuối cùng của cuộc đời, Nguyễn Khoa Nam đã tìm đến cửa Phật để cầu mong được xá tội?

Trong khi 5 cánh Quân Giải phóng đang như 5 dòng thác tiến về Sài Gòn, nhiều viên tướng của quân đội Sài Gòn đã theo Nguyễn Văn Thiệu chuồn ra nước ngoài, số đông còn lại không thể tháo chạy theo cầu hàng không nên đành ở lại mặt đất để mấy hôm sau chấp hành cải huấn. Thời gian đầu họ sống trong nơm nớp, đến hết thời gian cải huấn họ đã được sống tự do cùng gia đình. Bấy giờ, chính họ tự thốt lên rằng chỉ có “cuộc tắm máu” xảy ra trong hoang tưởng của họ mà thôi.

Riêng Nguyễn Khoa Nam dường như luôn lẻ loi với đời thường hay bị tiêm nhiễm luận điệu tuyên truyền từ bộ máy chiến tranh tâm lý của Mỹ-Thiệu, hoặc lo sợ trước tội ác của mình từng gây cho đồng bào nên đã chọn cái chết. Danh chứng kiến ngày cuối cùng của “chủ tướng” mình: “…Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, ông ngồi trên ghế sô-pha phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt (tùy viên thứ hai của ông) bước ra cửa để về thăm vợ con, còn trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Ông đứng dậy đến bàn thờ lấy 3 cây nhang đốt, vái ba vái cắm vào lư hương, gõ 3 tiếng chuông… xong vái 3 vái tiếp rồi về ngồi lại nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sô-pha như không có chuyện gì sắp xảy ra, bất chợt ông xoay qua bảo:

– Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.

– Dạ.

Tôi thầm nghĩ ông và tôi đều độc thân, chắc ông nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng trung úy Việt. Vừa đi khỏi một chút, tôi nghe tiếng súng nổ từ hướng bàn thờ Phật. Tôi chưa kịp quay trở lại thì trung sĩ Hộ chạy ra la thất thanh:

– Ðại úy! Ðại úy ơi! Thiếu tướng tự sát rồi (trong lúc hoảng sợ trung sĩ Hộ đã gọi nhầm Danh là “đại úy” – GH)

Tôi vội chạy vào phòng hãi hùng chứng kiến: Ông ngã ngửa hơi lệch về phía sau sô-pha, đầu nghiêng về bên trái, khẩu Côn 45 vẫn còn trong tay buông thõng xuống, nhưng các ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên từ tai phải qua trái, mắt ngước nhìn lên trần nhà… Lúc đó là khoảng 7 giờ 30 phút sáng ngày 1-5-1975… (Về thời điểm Nguyễn Khoa Nam tự sát, có tài liệu ghi xảy ra đêm 30-4 rạng sáng 1-5-1975 – GH).

Giao Hưởng
qdnd.vn

(Tài liệu tham khảo: Hồi ký của Lê Ngọc Danh, Lê Văn Hưng đăng trên báo chí nước ngoài)

En-mô Dum-uôn và “hồi chuông màu da cam”

LTS: En-mô Dum-uôn (Elmo Zumwalt, 1920 – 2000) là đô đốc Hải quân Hoa Kỳ từng tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tên tuổi và gia đình ông ta cũng được người Mỹ coi là một trong những bi kịch lớn nhất của thời hậu chiến tranh Việt Nam.

Xanh, nâu và da cam

Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng dưới quyền Dum-uôn không phải là “Hải quân nước xanh” như Hạm đội 7 của Đô đốc Sác-pơ (Sarp), mà là “Hải quân nước nâu”, có nhiệm vụ tuần phòng bờ biển, bến cảng và sông ngòi ở Nam Việt Nam. Dưới quyền Chuẩn đô đốc Dum-uôn lúc đó có hơn 38 nghìn lính thủy Mỹ. Trong số các thuyền trưởng tàu cao tốc có con trai ông ta, Rút-xen Dum-uôn III (Russell Zumwalt III) và Giôn Ke-ri (John Kerry), sau này là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ.

Quân Giải phóng nấp trong các rừng rậm ven biển và ven sông đã gây khó khăn cho các Thủy quân Mỹ và “Việt Nam cộng hòa” bằng các trận phục kích bất ngờ. Oa-sinh-tơn khi đó đã đề xuất Hải quân Mỹ sử dụng một loại thuốc diệt cỏ, gọi là Chất da cam (Agent Orange/dioxin), nếu được rải lên tán cây, có thể làm trụi những lùm cây, bụi rậm từng được đối phương sử dụng rất hiệu quả cho cách đánh của họ. Cho dù tác động của nó lên con người chưa được thẩm định, các công ty Mỹ sản xuất Chất da cam là Đao (Dow) và  Mon-san-tô (Monsanto) mong muốn giành được lợi nhuận kếch xù đã cam đoan rằng, chất này là an toàn cho người sử dụng???

Các nguồn của Hoa Kỳ cho rằng, Đô đốc Dum-uôn đã chấp nhận sử dụng Chất da cam không chỉ để bảo vệ con trai mình mà còn vì những người lính khác của anh ta khỏi một hiểm họa trực diện và rõ ràng. Nhưng trên thực tế, ông ta đã đưa họ vào thế bị phơi nhiễm bởi thứ hóa chất gây ung thư đó. Sử dụng Chất da cam trên chiến trường, ông ta đã dựa trên các nguồn tin có phần áp đặt và thiếu tin cậy. Bản thân cựu đô đốc Dum-uôn đã tự bào chữa với hãng Thông tấn The Associated Press năm 1985 rằng, ông đã lệnh cho sử dụng Chất da cam với kỳ vọng làm giảm thương vong cho quân đội Mỹ nhờ phát quang các quần thể thực vật, vốn là nơi ẩn nấp và hoạt động của đối phương[1].

Trên thực tế, đô đốc Dum-uôn hẳn đã bị dẫn dắt vào một “đoạn trường” đã bày sẵn. Theo sách “Tổng thống Ken-nơ-đi – giai đoạn cầm quyền” (President Kennedy, Profile of Power) tác giả Ri-sớc Ri-vơ (Richard Reeves, NXB Simon and Schuster, 1989), từ đầu thập niên 1960, Nhà Trắng đã bí mật phê chuẩn sử dụng Chất da cam để phát quang cây cỏ trên những lộ trình hoạt động của “VC”.

Cuối 1961, các tàu đại dương đã chuyên chở hàng trăm nghìn ga-lông Chất da cam trong những thùng phuy gửi cho tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Chúng được dán nhãn là “hàng phục vụ nông nghiệp” để tránh sự kiểm tra của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế… Trong 10 năm, đã có tới 20 triệu ga-lông (80 triệu lít) chất diệt cỏ và chất làm trụi lá được rải xuống Việt Nam, miền đông Lào, và một số nơi ở Cam-pu-chia. Nó chỉ được đình chỉ sử dụng năm 1971 dưới sức ép của dư luận tiến bộ quốc tế.

Lính Mỹ chiết rót chất da cam tại miền Nam Việt Nam.

Thăng – trầm

Trở thành Tổng chỉ huy Hải quân Mỹ tháng 7-1970, Dum-uôn là tướng Mỹ trẻ nhất từng giữ chức vụ này. Ông ta lập tức nổi tiếng vì “chương trình Z” (Z – Grams; Z là chữ đầu của danh tính Zumwalt), làm cho binh nghiệp trong Hải quân Mỹ trở thành hấp dẫn, sau khi ông ta nới lỏng những quy định của quân chủng này, từng làm cho các tân binh cho rằng, chúng “hạ thấp nhân phẩm và vô nghĩa”. Chẳng hạn, một trong 121 chỉ lệnh của “chương trình Z” đã khẳng định rằng, người da màu và phụ nữ được phục vụ trong hải quân Mỹ và được bình quyền với các đối tượng khác.

Tuy nhiên, theo tờ Thời báo Niu Y-oóc ra ngày 3-1-2000, nhiều nhân vật, kể cả các đô đốc hồi hưu đã cáo buộc khá quyết liệt rằng “chương trình Z” kiến tạo một không khí dễ dãi, buông lỏng kỷ luật nhà binh. Theo báo  Pít-xbớc (Pittsburgh Post – Gazette) 14-4-1996, “chương trình Z” không được lòng chính quyền Ních-xơn. Năm 1974, Dum-uôn nhận quyết định hưu ở tuổi 53.

Bản thân đô đốc hồi hưu Dum-uôn sẽ còn đụng độ với Ních-xơn và Kít-xinh-giơ khi đấu tranh cho quyền lợi của cựu chiến binh Mỹ[2].

Hậu Việt Nam

Sau 32 năm phục vụ trong hải quân, năm 1976, Dum-uôn đã lao vào một cuộc chạy đua bất thành vào Nghị viện Mỹ. Hiện chưa rõ thất bại nghị trường này là do ông ta ra lệnh cho sử dụng chất độc màu da cam hay do đã để xảy ra các vụ đụng độ chủng tộc trên các tàu chở máy bay Kít-ti Hốc (Kitty Hawk) và Công-xten-lê-sơn (Constellation) năm 1972, trong một thời gian đầy nhạy cảm trên chính trường Mỹ.

Con trưởng của đô đốc Dum-uôn, Rút-xen Dum-uôn III mất năm 1988, hưởng dương 42 năm. Anh ta từng thuộc trong danh sách gần 40 ngàn cựu chiến binh Mỹ là nạn nhân của chất độc màu da cam cho đến 1993, theo sách Phong trào đòi quyền được công nhận phế binh: từ bố thí đến đối đầu (The disability rights movement: from charity to confrontation), tác giả Đô-rít Phlét-sơ (Doris Fleischer), NXB Temple University Press, 2000, tr.178). Cháu nội đô đốc Dum-uôn, con trai Dum-uôn III, bị dị tật bẩm sinh do ảnh hưởng chất độc da cam, không thể cắp sách đến trường. Tờ Associated Press ngày 14-8-1988 cho hay, cựu Trung úy Rút-xen Dum-uôn III trước khi từ trần đã khẳng định rằng: tất cả các hội chứng loạn thần kinh, ung thư, bệnh da liễu… mà các cựu chiến binh Mỹ từng ở Việt Nam mắc phải, cũng như các bệnh bẩm sinh hiểm nghèo mà con cái họ phải chịu, là do nhiễm chất độc da cam.

Rút-xen Dum-uôn III là đồng tác giả “Cha con tôi”, cuốn tiểu sử của cha anh và chính mình, đã chấp bút nó dưới những ám ảnh và hành hạ của thần chết “áo màu da cam”. Cuốn sách thực ra là một tiểu sử tổng hợp, khi các thành viên của đại gia đình Dum-uôn bàn luận về bi kịch gia đình họ, bởi Chất da cam mà Trung úy Rút-xen Dum-uôn III đã nhiễm phải khi tham chiến ở Việt Nam.

La-ri Bớc-man (Larry Berman), người nổi tiếng vì những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam, đang viết cuốn sách: “Z lớn: Cuộc đời và thăng trầm của đô đốc Elmo Russell Zumwalt, Jr” . Tác giả Bớc-man cho rằng, một cột mốc lớn là chuyến đi Việt Nam năm 1995 của Đô đốc Dum-uôn, với cuộc gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để bắt đầu những nỗ lực đầu tiên nhằm giải quyết vấn đề chất độc da cam bằng những phối hợp trong lĩnh vực y tế.

Hồi chuông màu da cam

Nhiều tiếng nổ của “bom hẹn giờ” mà nghị sĩ Mỹ Neo-xơn từng cảnh báo đã biến thành cuộc tranh đấu quyết liệt cho quyền lợi của nạn nhân chiến tranh của cả hai bên cuộc chiến. Đô đốc Dum-uôn và các con là cựu chiến binh Mỹ của ông đã và đang đi đầu trong sự nghiệp này. Con trai thứ hai của Dum-uôn, cựu chiến binh Giêm Dum-uôn (James Zumwalt) đã sang Việt Nam tới 50 lần trong 10 năm kể từ 1994, viết nên cuốn sách “Chân trần, trí thép: chuyện những người bên kia chiến tuyến ở Việt Nam” (Bare Feet, Iron Will ~ Stories from the Other Side of Vietnam’s Battlefields, NXB Fortis Publishing, 2010) về những người cách mạng Việt Nam, được dư luận tiến bộ đánh giá cao.

“Hậu quả việc Mỹ không thể thắng đã rõ ràng” là câu mở đầu những dòng cuối của chương “Trở về” của cuốn hồi ký toàn gia “Cha con tôi”, khi Đô đốc Dum-uôn khẳng định Việt Nam sẽ còn là tiêu điểm của cuộc tranh luận của nước Mỹ. Ông viết tiếp: “Với cá nhân tôi, sự thất bại của chúng ta ở Việt Nam đã làm cho tôi tràn ngập niềm đau xót, mất mát, về những cái chết, những thương tích, cả về thể xác và tâm hồn. Sự hy sinh của họ trở nên đau đớn và khó chấp nhận hơn, vì nước Mỹ đã thua một cuộc chiến tranh. Vô cùng bối rối, tôi đã suy nghĩ, đã tự chỉ trích nhiều lần. Tôi đã từng cho rằng, những lính thủy Mỹ tử trận trên sông nước sẽ được đền bù bằng việc có một số lượng lớn hơn sinh mạng lính Mỹ được an toàn, sẽ thúc đẩy được cuộc bình định châu thổ. Nhưng cuối cùng, các nỗ lực đã có tổng bằng không, các lính thủy đã hy sinh vô ích. Phân tích đến cùng, tôi cho rằng mọi cố gắng của chúng ta ở Việt Nam là tồi tệ. Giá như chúng ta đừng can thiệp vào Việt Nam thì tình hình sẽ tốt hơn nhiều. Những điều đã xảy ra với con trai tôi và cháu nội tôi, như là hậu quả của cuộc chiến tranh này, còn làm tôi đau lòng hơn bội phần…”.

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

Cùng hướng về mặt trời chính nghĩa

QĐND – LTS: Tháng 10-2003, NXB Si-mơn & Sút-xtơ (Simon & Schuster) xuất bản cuốn sách “Họ tiến về hướng mặt trời: Chiến tranh và hòa bình, Việt Nam và Mỹ, tháng Mười 1967”. Tác giả Đê-vít Ma-ra-nít (David Maraniss) đã song hành hai mặt trận khác nhau của cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và cuộc đấu tranh của các chiến sĩ hòa bình Mỹ. Trên chuyên mục điểm sách của Thời báo Niu-Yoóc, tác giả Phi-líp Ca-pu-tô (Philip Caputo) phê bình cuốn sách trên. SK & NC xin trích giới thiệu một bài bình văn tiêu biểu trong văn học Mỹ.

Trước khi đọc cuốn sách này, tôi đồ rằng mọi thứ nhân gian cảm nhận được về thời cuộc chiến tranh Việt Nam với thập kỷ 60 đã viết hết rồi: Nào là văn học hư cấu (fiction) nào là chuyện người thật việc thật (nonfiction), cả bằng văn hóa cao, lẫn văn hóa “lùn”, cả bằng thể phim truyện, cả bằng những phóng sự truyền hình.

Những “con sư tử đen” sa bẫy tại rừng Long Nguyên.

Tôi đã khá lưỡng lự khi mở cuốn Họ tiến về hướng mặt trời: Chiến tranh và hòa bình, Việt Nam và Mỹ, tháng Mười 1967. Lại một cuốn nữa, to như đá chặn cửa, về cuộc chiến tranh Việt Nam và những năm 60, tôi nghĩ. Nhưng mới đọc được ba trang thì tôi đã bị hút vào cho đến trang cuối…

Ma-ra-nít, một ký giả của Báo Bưu điện Oa-sinh-tơn (Washington) được giải Pu-lít-dơ (Pulitzer), cũng là tác giả của tiểu sử Bin Clin-tơn (Bill Clinton) và Vin-xơ Lom-bác-đi (Vince Lombardi-huấn luyện viên nổi tiếng), là một nhà văn bậc thầy về thức trần thuật. Trong “Họ tiến về hướng mặt trời”, Ma-ra-nít đã đặt song song các sự kiện của một trận đánh nhỏ nhưng ác liệt ghê gớm ở Việt Nam, với một cuộc tuần hành chống chiến tranh ở Đại học Uýt-con-xin (Wisconsin), trong hai ngày tháng 10-1967. Quả là một sự trùng hợp mà tác giả hẳn đã cảm thấy bị hút vào, không sao cưỡng lại.

Cuốn sách chứa một khối lớn, theo phong cách Tôn-xtôi (Tolstoi), các tuyến nhân vật, từ viên cai Uyn-li Giôn-xơn (Willie Johnson) tới Tổng thống Lyn-đơn Giôn-xơn (Lyndon Johnson), từ anh du kích Việt Cộng Nguyễn Văn Lam cho tới Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp; từ Bin-ly Si-mơn (Billy Simons), người lãnh đạo sinh viên phản chiến, đến Uy-li-am Si-oen (William Sewell), Hiệu trưởng Đại học Wisconsin. Còn lại là các doanh nhân, giáo sư, một dàn diễn viên mang tên Nhóm Kịch câm Xan-Phran-xi-xcô (San Francisco), các đảng viên Cấp tiến cánh tả Mới, và hai nghiên cứu sinh là Đích (Dick) và Lin-nơ Sơ-ni (Lynne Cheney).

Ma-ra-nít quả có bị thử thách khi cố làm cho toàn tuyến nhân vật hùng hậu ấy trở nên sinh động. Nhưng các nhân vật chính quả là sống động, tạo cho “Họ tiến về hướng mặt trời” một chất lượng kiểu mẫu cho tiểu thuyết. Đồng thời, tính sử thi của cuốn sách có lúc vượt quá tầm. Những cuộc du ngoạn trong các “cung điện” quyền lực ở Washington đã làm chậm, một cách không cần thiết, dòng chảy của sách, và làm tôi giật mình vì thấy chúng giống như nỗ lực xào xáo lại, một cách súc tích, cuốn sách “Những người tài hoa và cừ khôi nhất trần đời” (The Best and the Brightest)(1) của Đa-vít Han-bớc-xtam (David Halberstam)…

Ma-ra-nít đã phục chế lại những đường nét nguyên bản của bức tranh chiến tranh Việt Nam bằng cách rọi ánh sáng mới lên một sự thật bị quên lãng. “Phát ngôn ý thức hệ” (Ideological formulations) không phải là điều làm tác giả quan tâm, mà chính là “sự giao lưu giữa lịch sử và cuộc đời của các nhân vật, các biến cố, các tình tiết và các dự định, vừa thúc người ta lao lên phía trước, lại vừa níu họ, bắt cùng chôn chân tại chỗ”.

Chương chiến tranh của sách mở đầu bằng một tấm hình gây cảm tưởng như những bức ảnh được truyền đi bằng điện báo thời Thế chiến II, thể hiện hành trình của một con tàu chở hàng nghìn lính vượt Thái Bình Dương sang Việt Nam. Sau khi đoàn lính này đáp cảng Vũng Tàu, người đọc sẽ dõi theo những hành động chiến tranh của nó. Đó là một tiểu đoàn có cái tên đã di vào truyền thuyết là “Sư tử đen”, một phần của cái Sư đoàn bộ binh 1 đã được thần thánh hóa thành Anh Cả Đỏ.

Tiểu đoàn được chỉ huy bởi Trung tá Te-ri đơ la Mê-sa An-len Jr. (Terry de la Mesa Allen Jr.), sinh trưởng ở El Paso, Tếch-xát (Texas), trong một gia đình đã là thần tượng nhà binh: Thiếu tướng Terry Allen Sr. từng chỉ huy Sư đoàn 1 trong suốt những trận đánh ác liệt nhất của thế chiến II. Allen Jr. đã bày tỏ sẽ tiếp nối những bước đi hoành tráng của người cha. Nhưng vợ của Allen Jr. đã bỏ viên quan tư này để theo một võ sĩ đấu bò, khiến anh ta bị giày vò bởi những nghi ngờ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam và binh nghiệp của mình.

Tác giả chuyển cảnh, sang Sở chỉ huy của đối phương, để người đọc gặp Võ Minh Triết, chỉ huy một đơn vị thuộc một luồng sự kiện khác của sách: Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 của Việt Cộng. Trung đoàn với 1.500 quân của ông Triết đang trú quân tạm thời tại một cánh rừng dữ dội, mang một cái tên dữ dội là ‘mật khu Long Nguyên”, nằm ở phía tây bắc Sài Gòn.

Chịu sức ép của thượng cấp trong cuộc chạy đua số lớn về đếm xác đối phương, Allen dẫn những con “sư tử đen” vào địa ngục. Một tiểu đoàn (Mỹ) thường có khoảng 800 quân, nhưng chiến trận, bệnh tật và các vấn đề cá nhân đã giảm quân số của tiểu đoàn “Sư tử đen” xuống chỉ còn một nửa. Một nửa của cái nửa ấy: Hai đại đội thiếu, cộng với đại đội trực thuộc sở chỉ huy đã kiệt sức, đã dấn vào cuộc hành quân “tìm diệt” cùng với Allen.

Lính của ông Triết, đông hơn nhiều, đang phục sẵn. Điều trớ trêu là, vẫn theo Tôn-xtôi, những trận đánh nhiều khi không thành hay bại bởi sự sáng suốt hay đần độn của người chỉ huy, mà bởi những sự tình cờ. Trung đoàn của Võ Minh Triết không được giao nhiệm vụ mai phục ở đấy, mà được lệnh hành quân đi Lộc Ninh. Nửa đường hết lương thực, đơn vị này đành tạm trú ở mật khu Long Nguyên để tìm gạo. Để hoàn thành nhiệm vụ tiến quân về Lộc Ninh, ông Triết phải chỉ huy bộ đội quét sạch lính Mỹ cản đường mình, điều mà ông đã thực thi với một cung cách kiểu mẫu, như trong tài liệu giáo khoa.

Cảnh sát đàn áp những người biểu tình chống chiến tranh. Madison, tháng 10-1967.

Sách của Ma-ra-nít đã diễn tả một cuộc chiến tranh của lục quân thực sự: Những tiếng nổ khủng khiếp, sự rối loạn, hỗn độn, các xác chết, những người hấp hối và những mảnh cơ thể vương vãi khắp nơi, máu tuôn trào khiến cho súng bị kẹt. 58 người trong số 200 quân của “Sư tử đen”, kể cả Allen, bị thiệt mạng. 61 lính Mỹ khác bị thương.

Tiểu đoàn “Sư tử đen” đã không còn tồn tại như một đơn vị còn sức chiến đấu, nhưng Ma-ra-nít đã đi xa hơn khi chỉ ra rằng bộ tuyên truyền của quân đội Mỹ đã cố nhào nặn các sự kiện để biến một thảm kịch thành một bài ca chiến thắng. Những lời nói dối khủng khiếp ấy đã tương phản cả với ký ức về trận đánh của những người lính còn sống sót của tiểu đoàn, được họ kể lại sau khi hồi phục ở quân y viện, lẫn những trải nghiệm đã đến với thân nhân của lính Mỹ tử trận, khi nhìn thấy bộ dạng khiếp đảm của người bưu tá cầm giấy báo tử.

Chương nói về cuộc chiến của những người chống chiến tranh, mà kết tinh là thành phố sinh viên Madison, cũng rất lôi cuốn. Cuộc tuần hành được tổ chức để ngăn chặn việc Công ty Đao (Dow) sản xuất bom na-pan tới tuyển nhân sự ở Làng đại học Madison. Tựa như những “sư tử đen” của Allen sa bẫy trong rừng rậm Việt Nam, những người phản chiến, cảnh sát, và các quan chức của đại học Wisconsin đã dấn vào một cuộc đụng độ bạo lực. Nguyên nhân là sự tính toán nhầm và thiếu giao lưu giữa các bên của cuộc xung đột Madison.

Hướng đạo bởi một thiểu số kiên định là những thành viên hăng hái nhất của phong trào phản chiến, bị bức xúc bởi sự khiếm khuyết của các hành động phản kháng hợp luật, những người biểu tình đã chiếm tòa nhà nơi các nhân viên của Công ty Đao đang tiến hành phỏng vấn. Sau khi không thuyết phục nổi những người phản đối chiến tranh rời khỏi tòa nhà trong hòa bình, Hiệu trưởng trường đại học đã viện đến lực lượng cảnh sát của Madison, dẫn đến những hậu quả thảm khốc. Maraniss đã tránh không “đúc khuôn” các thành viên ban giám hiệu, các chỉ huy cảnh sát, và các thành viên cánh tả Mới đã lãnh đạo những người phản đối chiến tranh… Những người biểu tình được mô tả có phần tròn trịa, bị kích động bởi một hỗn hợp của chủ nghĩa vị tha, cảm tính, chủ nghĩa cá nhân, và niềm tin vào công lý.

Cuối cùng, các vấn đề được tranh cãi nóng bỏng và kịch liệt 40 năm trước vẫn vang dội đến hôm nay: về vai trò của Hoa Kỳ đối với thế giới, về những tham vọng đế quốc, về sự rồ dại của mô hình “súng và bơ”(2), và về những di sản gớm giếc về đạo đức của chiến tranh…

Lê Đỗ Huy (trích dịch)
qdnd.vn

 (1): Trong “Những người tài hoa và cừ khôi nhất trần đời”, tác giả David Halberstam lý giải vì sao những người có học thức và khá giả trong xã hội Mỹ (tầng lớp thượng lưu), cũng như những “bộ óc điện tử” trong chính giới và giới quân sự lại có thể sai lầm một cách đáng kinh ngạc trong một thời gian dài như thế (so incredibly wrong for so incredibly long) của thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

(2): Tổng thống Johnson vừa muốn theo đuổi hành động chiến tranh ở Việt Nam, chạy đua vũ trang, làm chiến tranh Lạnh, lại vừa muốn thực hiện Những chương trình xã hội lớn (Great Society programs) nhằm “xóa đói giảm nghèo” (!)

Nỗi nhớ của mẹ

Bà mẹ Việt Nam anh hùng

QĐND-Trong một ngôi nhà bé nhỏ trên sườn đồi, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Nhứt ngồi trên chiếc ghế gỗ, đôi mắt sâu thẳm nhìn ra những bụi cúc quỳ cuối mùa ánh lên sắc vàng sậm đến nao lòng. Mẹ kể chuyện về những đứa con của mình.

Xuân Sơn, xã Xuân Trình, huyện Cầu Đất, tỉnh Lâm Đồng là một thôn nằm trên sườn núi. Những mái nhà giản dị, bình yên. Người dân Xuân Sơn hiền lành, cần cù, chân chất. Ngày tôi gặp, mẹ Nguyễn Thị Nhứt đang sống trong ngôi nhà ở Đà Lạt nhưng tâm hồn mẹ đã gởi lại mảnh đất chôn nhau cắt rốn ở Xuân Sơn.

Thời con gái của mẹ có biết bao kỷ niệm gắn bó ở Xuân Sơn. 17 tuổi, mẹ Nhứt đã là cô y tá giỏi nghề, tháo vát. Năm 18 tuổi, mẹ kết hôn với một chiến sĩ vệ quốc. Mẹ Nhứt không có điều kiện sống gần chồng. Năm 1954, đôi vợ chồng trẻ mới được sống bên nhau dưới nếp nhà lá ẩn dưới rặng cây xanh. Họ sinh những đứa con. Nhưng chiến tranh đã lan rộng đến cái thôn trên sườn núi xa xôi, hẻo lánh ấy. Mẹ lại tiễn chồng đi làm cách mạng.

Mẹ ở lại Xuân Sơn đào hầm bí mật nuôi cán bộ. Dưới lớp áo của một nông dân chăm chỉ làm ăn, mẹ nắm tình hình địch, báo cho “Đội Công tác đặc biệt”. Mẹ là một hộp thư mật giữa thôn trên sườn núi. Kẻ thù dù có lê máy chém khắp nơi, ra sức dồn dân vào ấp chiến lược, o ép mọi bề nhưng người Xuân Sơn vẫn ngoan cường, quật khởi. Mẹ Nhứt lại lần lượt tiễn đưa các con: Lê Thị Diệu Minh, Lê Văn Tân, Lê Hùng Việt ra trận. Hết con ruột đến con nuôi, con rể tương lai. Tự tay mẹ gói cho đứa con nuôi Trà Văn Thắng bộ quần áo, nắm cơm gia nhập “Giải phóng quân”. Mẹ lại tiễn đưa anh Phạm Thanh Tấn, người yêu của chị Diệu Minh vào “Đội Công tác đặc biệt”.

Khi bị địch phong tỏa, lương thực cho bộ đội trở thành khan hiếm. Mẹ đã dành dụm từng quả mít, nồi cơm nếp, từng chùm bánh lá để sẵn nơi bìa rừng đã quy ước điểm tiếp tế. Ngày hôm sau mẹ quay trở lại với mớ bắp luộc, khoai sắn luộc… Mẹ nhìn vào gốc cây. Nếu như những bọc thức ăn có người lấy đi rồi, mẹ thở phào nhẹ nhõm vì vui mừng. Nhưng có những lúc mẹ lặng người nhìn những gói thức ăn còn nguyên đó. Xa xa, có tiếng súng nổ, bọn địch bố ráp ngăn chặn mọi con đường. Nước mắt mẹ chảy trên má. Mẹ dõi theo hướng tiếng súng, ngực đau thắt vì lo âu. Dự cảm đó của mẹ là đúng. Bao nhiêu lần mẹ đã chít khăn tang lên mái đầu điểm bạc.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Nhứt.

Chị Lê Thị Diệu Minh hy sinh năm 1971 trên dòng sông Sài Gòn. Kể lại những ký ức về đứa con gái thân yêu, tim mẹ vẫn đau nhức. Chị Diệu Minh thoát ly công tác năm 1971 khi mới ngoài 20 tuổi. Chị phục vụ ngành dân y tỉnh. Chị cũng có người yêu là bộ đội, nhưng anh đã hy sinh trong một trận công đồn. Đồng đội chỉ mang được cho chị Minh chiếc áo thủng đầy vết đạn của anh. Chị Diệu Minh hy sinh trong chuyến công tác cuối cùng, trước khi được lệnh ra Hà Nội học bác sĩ. Chiếc xuồng gồm 8 người chở đầy lương thực, thuốc men, hàng hóa rơi vào phục kích của bọn giặc. Chiếc xuồng chở quá tải lại lướt quá nhanh nên bị lật úp. Chị Diệu Minh bị dòng nước cuốn trôi. Chính Giám đốc Bệnh viện Đơn Dương hiện nay đã an táng chị Diệu Minh bên bờ sông Sài Gòn, cùng với chiếc áo đầy vết đạn của người yêu chị mang bên mình. Mãi sau này, đồng đội chị mới tìm được mộ, đưa hài cốt chị về Nghĩa trang liệt sĩ Lâm Đồng. Họ mang về cho mẹ Nhứt chiếc cặp ba lá của cô con gái thương yêu.

Mẹ Nhứt còn giữ nguyên quyển nhật ký của anh Lê Hùng Việt. Nhập ngũ năm 1968, anh Việt hy sinh năm 1972. Đồng đội của anh Việt mang về cho mẹ quyển nhật ký đựng trong chiếc ba lô của anh. Anh ghi lại những bài thơ, bài hát rừng rực bầu nhiệt huyết một thời. Chính những bài thơ ấy đã thôi thúc anh ra đi.

Những đứa con nuôi của mẹ: Anh Trà Văn Thắng, con rể Phạm Thanh Tấn cũng lần lượt hy sinh. Mẹ nói bằng giọng đẫm nước mắt: “Con ruột, con nuôi, con rể, đứa nào cũng là con. Nghe nó hy sinh, ruột mẹ như đứt ra từng đoạn”. Nhưng mẹ đã nén lại đau thương, len lỏi trong hàng ngũ binh lính địch, dùng lời lẽ phải trái để thuyết phục, vận động họ giải ngũ, cung cấp súng đạn cho cách mạng. Dường như có một thứ ánh sáng được soi rọi từ tâm linh để mẹ vượt qua những thứ giết người, hoàn thành công tác liên lạc, dẫn đường tiếp tế của mình. Mẹ nói: “Năm đứa con tôi (ba người con ruột, hai người con nuôi) đã yên nghỉ ở mảnh đất này. Nhưng còn bao nhiêu người con khác, của những bà mẹ khác không tìm được hài cốt. Con chết lòng người mẹ đau đớn khôn lường, đó là lẽ đương nhiên. Nhưng nếu ai cũng sợ nỗi mất mát này thì làm sao có được ngày hòa bình”. Trong đôi mắt của bà mẹ Xuân Sơn còn ẩn chứa một niềm khắc khoải không nguôi. Bìa rừng này, nơi ngày xưa mẹ mang thức ăn cho những đứa con, những chiến sĩ Giải phóng quân vẫn còn đây. Nhưng các anh giờ ở đâu?

Bài và ảnh: Trầm Hương
qdnd.vn

Một đời tận tụy với đất nước

Luật sư Phan Anh

QĐND – Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với chủ trương đại đoàn kết dân tộc, cầu hiền dựng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu hút được đông đảo các nhân sĩ, trí thức danh tiếng để xây dựng chính quyền mới: Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, Phan Kế Toại, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Minh Giám, Nguyến Xiển, Tạ Quang Bửu, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Trần Duy Hưng, Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Đình Tụng…

Luật sư Phan Anh là một người trong số đó

Phan Anh sinh năm 1911 tại làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), một miền đất hiếu học sản sinh nhiều nhân tài cho đất nước. Mẹ ông mất sớm. Bố ông-cụ đồ Phan Điện là một nhà nho nghèo nên anh em Phan Anh từng phải đi ở, làm thuê. Nhưng trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ông và người em trai của mình là Phan Mỹ (sau này là Bộ trưởng, Chánh văn phòng Chủ tịch nước) đã quyết tâm học thành tài. Phan Anh vào học trường Bưởi (Hà Nội) từ năm 1926, khi tốt nghiệp đã dạy học ở trường Thăng Long, đồng thời theo học luật ở Trường Đại học Đông Dương năm 1937. Tốt nghiệp, ông được cấp học bổng sang Pháp tiếp tục học lên thạc sĩ, tiến sĩ…

Từ một luật sư nổi tiếng dưới thời Pháp thuộc, con đường nào dẫn Phan Anh đến với Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh? Ông kể: Sau khi học ở Pháp về, ông làm nghề luật sư bào chữa cho nhiều vụ án cách mạng Việt Minh. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên ở Hà Nội. Trong cuộc gặp đó, ông nhớ câu nói của Bác Hồ: Tin vào trí thức và động viên khuyến khích trí thức tham gia cách mạng bằng mọi cách có thể được.

Luật sư Phan Anh (1911-1990).

Sau cuộc gặp mặt đó, Bác Hồ đã giao cho Phan Anh nhiệm vụ tập hợp anh em trí thức lập một tổ chức gọi là “Hội đồng kiến thiết quốc gia” và chỉ định ông làm Chủ tịch. Sau đó ít lâu, Tổng tuyển cử đã bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Để bầu Chính phủ mới thực sự đoàn kết, chống nguy cơ quân Tàu Tưởng ở lỳ và quân Pháp quay trở lại, cần phải có một Chính phủ hợp pháp, tiêu biểu cho sự đoàn kết quốc gia. Một vấn đề khó giải quyết là giữa phía Việt Minh và phía đối lập không bên nào nhường bên nào hai bộ: Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ, nên cuối cùng đi đến thỏa thuận là để hai bộ đó cho người trung lập nắm giữ. Chính trong hoàn cảnh đó, Bác Hồ đã giao cho Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày 3-5-1946 ở phiên họp khai mạc Quốc hội. Việc Bác giao những nhiệm vụ quan trọng cho ông và những trí thức khác thể hiện lời nói với hành động của Người là nhất quán: Luôn tin vào trí thức. Nhớ lại sự kiện này, luật sư Phan Anh viết: “Tôi rất xúc động và cảm kích trước tấm lòng bao dung của Bác. Bác đã không lấy việc tôi tham gia chính phủ Trần Trọng Kim làm điều, mà vẫn cho tôi là một trí thức yêu nước và trọng dụng. Thấm sâu tinh thần của Bác: Đoàn kết, đại đoàn kết và cảm ơn tri ngộ, tôi đã nhận nhiệm vụ Bác giao với một ý thức trách nhiệm sâu sắc” (Phan Anh- “Tôi đã tham gia Chính phủ Liên hiệp kháng chiến như thế nào?”-Tạp chí Lịch sử quân sự, số 36, tháng 12-1988, tr.9). Đáp lại niềm tin của Bác, ông cũng như bao trí thức khác đã đem hết khả năng, trí tuệ và nhiệt tình để đi theo Bác phục vụ Cách mạng từ những ngày đầu khó khăn gian khổ cho đến suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

Hồi ấy, chỉ huy về quân đội và các lực lượng vũ trang trong cả nước thuộc về Quân sự ủy viên hội do đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng đầu, còn Bộ Quốc phòng chủ yếu tập trung về vấn đề chính trị, công tác quản lý hành chính quân sự như chỉ đạo xây dựng tổ chức, biên chế, trang bị và cấp dưỡng trong quân đội. Nhận nhiệm vụ Bác giao, Phan Anh bắt tay vào công tác tổ chức quân đội với sự cộng tác nhiệt tình của Thứ trưởng Tạ Quang Bửu và các cộng sự khác. Các kiến nghị của Bộ Quốc phòng được Bác Hồ duyệt và ban hành. Các sắc lệnh về tổ chức quân đội, về việc bổ nhiệm những người phụ trách đã ra đời. Rồi sắc lệnh 33/QP ngày 23-3-1946 xác định Vệ quốc đoàn là quân đội quốc gia nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Việc thành lập trường Võ bị Trần Quốc Tuấn cũng được Phan Anh đề đạt và được Bác Hồ thông qua.

Việc quyết định mời một luật sư nổi tiếng đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng thực tế Bác đã rất hiểu con người Phan Anh. Trước tháng 8-1945, luật sư Phan Anh cùng giáo sư Tạ Quang Bửu thành lập Trường Thanh niên Tiền tuyến ở Huế. Đây thực chất là trường đào tạo các chỉ huy quân sự nhằm “mục đích quốc gia và mục đích xã hội”. 43 học viên của trường này đa số đều là tú tài của Trường Quốc học Huế, rồi ra Hà Nội học lên cử nhân. Có người như Lê Thiệu Huy là học sinh giỏi nhất Đông Dương, con của Giải nguyên Hán học Lê Thước. Nhiều người trong số họ là con nhà “danh gia vọng tộc” như Lê Quang Long là cháu ngoại vua Thành Thái, gọi Bảo Đại bằng cậu; Tôn Thất Hoàng là con Thượng thư Tôn Thất Quảng: Võ Sum là con Án sát Võ Chuẩn, Đặng Văn Việt con trai Tổng đốc Nghệ An…Thế mà họ học ở Thanh niên tiền tuyến một thời gian, được Luật sư Phan Anh và Giáo sư Tạ Quang Bửu dìu dắt, với dòng máu yêu nước thương nòi luôn chảy trong huyết quản, nhiều người đã đi theo Cách mạng trọn đời, phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Trong số đó, có 8 vị đã trở thành tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam: Trung tướng Cao Văn Khánh, các Thiếu tướng Phan Hàm, Đoàn Huyên, Nguyễn Thế Lâm, Vũ Quang Hồ, Đào Hữu Liêu, Nguyễn Thế Lương (Cao Pha), Mai Xuân Tần.

Hồ Chủ tịch và phái đoàn Chính phủ Việt Nam dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau) ở Bi-a-rít (Biarritz). (Luật sư Phan Anh ngồi hàng đầu, thứ tư từ trái sang).

Tháng 7-1946, Luật sư Phan Anh tham gia phái đoàn Việt Nam đàm phán với chính phủ Pháp ở Phông-ten-nơ-bơ-lô (Fontainebleau) với tư cách là Tổng thuyết viên của đoàn Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Từ đầu năm 1947 cho đến năm 1976, ông được cử giữ chức vụ Bộ trưởng các bộ: Kinh tế, Công Thương, Ngoại thương. Ông liên tục được bầu là đại biểu Quốc hội từ khóa 2 (1960) đến khóa 8 (1987).

Từ một luật sư dưới chế độ cũ, ông đã trở thành chính khách của nước Việt Nam mới, với 30 năm giữ cương vị Bộ trưởng, 30 năm là đại biểu Quốc hội, thành viên ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó chủ tịch Quốc hội khóa 8.

Học vấn uyên bác, sự nhạy cảm về chính trị, tâm hồn, đạo đức trong sáng, suốt đời là “công bộc của nhân dân” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những yếu tố giúp Phan Anh thành công trong hoạt động chính trị trong nước và quan hệ với chính khách nước ngoài.

Năm 1955, Hội luật gia Việt Nam được thành lập. Trong 35 năm trên cương vị Chủ tịch hội (1955-1990), Luật sư Phan Anh từng bước đưa tổ chức nghề nghiệp mang tính chính trị, xã hội từng bước trưởng thành, lớn mạnh. Hoạt động của Hội Luật gia Việt Nam và bản thân Luật sư Phan Anh đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, chủ quyền quốc gia, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Được bầu vào cơ quan lãnh đạo Hội luật gia dân chủ quốc tế, Phan Anh đã đại diện cho giới luật gia Việt Nam tham gia nhiều Đại hội Hội Luật gia dân chủ quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Ông còn tham gia các hoạt động của Hội đồng hòa bình thế giới với cương vị Phó chủ tịch Hội đồng. Trên mặt trận này, là một trí thức yêu nước, một luật gia lỗi lạc, ông đã thuyết phục được các đồng nghiệp nước ngoài về tính chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và tranh thủ sự đồng tình của các đại biểu tham gia Đại hội ủng hộ nhân dân ta. Đánh giá về luật sư Phan Anh, ông Rô-mét Chan-đra (Romesh Chandra), Chủ tịch danh dự Hội đồng Hòa bình thế giới viết: “Luật sư Phan Anh là tấm gương sáng chói và đã chiếm được cảm tình của hàng nghìn người bằng sự khiêm tốn và lòng thiết tha chống đế quốc. Đối với cá nhân tôi, Phan Anh luôn là người chỉ dẫn, người thầy giáo, một biểu tượng của nhân dân Việt Nam anh hùng”.

Ông rất quan tâm đến việc tập hợp đội ngũ luật gia Việt Nam phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Trong những năm cuối đời (1987-1990), cùng với Ban dân chủ-Pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà ông là Trưởng ban, Luật sư Phan Anh đã góp ý kiến về nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Bộ luật Tố tụng Hình sự (1987), Pháp lệnh Tổ chức Luật sư (1987). Ông nhấn mạnh vai trò của luật sư trong nhà nước Việt Nam, khẳng định vị trí và tầm quan trọng của tổ chức này trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng một nên tư pháp của dân, do dân và vì dân.

Như vậy, trong suốt cuộc đời sôi nổi của mình, Luật sư Phan Anh được Đảng và Bác Hồ trao nhiều trọng trách. Nhiệm vụ nào ông cũng tận tâm, tận lực, tận tụy phục vụ đất nước và để lại dấu ấn quan trọng. Phan Anh không phải là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng ông sống, lao động và chiến đấu như một người cộng sản. Bởi lẽ, thời đại của ông sống là một thời đại lịch sử rất vẻ vang mà trung tâm là cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Thời đại ấy đã làm nên những phẩm chất của một đội ngũ trí thức Việt Nam yêu nước, thương nòi, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, vì nhân dân. Và điều quan trọng là thời đại ấy được dẫn dắt bởi một con người đã hoàn toàn chinh phục trái tim và khối ốc đội ngũ trí thức như ông. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trần Thiên
qdnd.vn

Chí sĩ Tượng Phong Ngô Quang Đoan

Chuyện xưa nay

QĐND-Làng Trình Phố thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xưa có hai gò cây thiêng, tên là Gò Cá (Ngư Phong) và Gò Voi (Tượng Phong).

Địa danh trở thành danh hiệu, khi bậc danh sĩ ở thế kỷ 19 của làng là Ngô Quang Bích: Đình nguyên Hoàng giáp Tiến sĩ – Tuần phủ Hưng Hóa triều Tự Đức, Lễ bộ Thượng thư – Hiệp biện Đại học sĩ – Hiệp thống Bắc Kỳ, quân vụ đại thần triều Hàm Nghi, chọn lấy “Ngư Phong” làm tên hiệu của mình. Còn người con trai là Ngô Quang Đoan thì noi theo cha, dùng nốt danh hiệu “Tượng Phong” để tự gọi.

Ngô Quang Đoan, 18 tuổi vào năm 1890, đang nổi tiếng ở quê nhà về sự học hành chữ nghĩa giỏi giang, sức vóc và tài cưỡi ngựa múa đao mạnh như thần, đàn dịch ca ngâm càng điêu luyện, thì tin dữ đã từ căn cứ Tôn Sơn ở giữa vùng rừng núi Yên Lập (Phú Thọ) – nơi đặt đại bản doanh chỉ huy phong trào yêu nước Cần Vương (giúp vua Hàm Nghi) chống thực dân Pháp xâm lược trên miền Tây Bắc đất nước và cả xứ Bắc Kỳ của cha mình bay về: Thủ lĩnh Ngô Quang Bích lâm trọng bệnh, đã từ trần!

Lập tức, Ngô Quang Đoan lội bộ một mạch từ Trình Phố lên Tôn Sơn. Để vừa làm lễ tế viếng cha trước nấm mồ mới đắp bên chân núi, giữa rừng già, vừa gặp gỡ các thuộc tướng trung thành của vị thủ lĩnh Cần Vương quá cố – những Đề Kiều, Đốc Ngữ, Lãnh Vân, Lãnh Hoan, Lãnh Gáo, Đốc Đen… lừng danh trận mạc đang trông chờ người kế vị ngôi chủ tướng để kế tục sự phát triển phong trào. Nhưng dứt khoát chối từ chuyện “cha truyền con nối”, lấy cớ mình còn ít tuổi, chưa có gì đóng góp cho phong trào, Ngô Quang Đoan chỉ xin được sát cánh cùng các thuộc tướng của cha mình, rèn tập việc chiến đấu, đấu tranh.

Tượng phong-Ngô Quang Đoan 1872-1945.

Và thế là 10 năm của giai đoạn đầu sự nghiệp nhà yêu nước tuổi 20 Ngô Quang Đoan, từ đây mở ra. Sự trẻ trung và sự tráng cường đã khiến người con trai của cố thủ lĩnh Cần Vương Ngô Quang Bích nhanh chóng dội vang những thành tích sôi nổi: Hết đánh những trận diệt thù ở Khả Cửu cùng tướng Đề Kiều; ở Suối Rút cùng các tướng Lãnh Vân, Lãnh Hoan; ở Nam Định cùng các tướng Lãnh Gáo, Đốc Đen… lại cầm đầu đoàn tải lương sang tận Trung Quốc mua sắm vũ khí, vận chuyển về cho nghĩa quân. Đặc biệt, lấy danh nghĩa con trai thủ lĩnh Cần Vương Tây Bắc và cả Bắc Kỳ, Ngô Quang Đoan đã nhiều lần vượt đường trường và hàng rào vây hãm của kẻ địch, vào sâu các vùng đồng bào thiểu số, đến tận căn cứ các dư đảng Cần Vương: Hương Khê, Bãi Sậy…, cả Yên Thế của Đề Thám nữa, nhóm lại và thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh anh hùng. Đương thời, nhiều người yêu nước đều rất ấn tượng về một vị tướng trẻ Cần Vương (và “hậu Cần Vương”) cao lớn, tài hoa, hoạt động không biết mệt mỏi ở khắp nơi. Và, đi tới đâu thì để lại… thơ đến đấy. Như những vần điệu tráng chí nổi tiếng (dịch từ Hán Ngữ) khi vào tận Vũ Quang gặp Phan Đình Phùng:

Lòng son cứu nước tim ngời sáng

Gươm báu diệt thù chí ngút trời

Cha tôi ngày trước dựng cờ nghĩa

Ngày nay tôi tới nối cơ ngơi…

Nhưng đến những năm cuối cùng của thế kỷ 19, phòng trào Cần Vương rồi cũng bị kẻ thù dập tắt. Sang tới những năm đầu thế kỷ 20, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc chuyển tiếp thành những hình thế mới. Ngô Quang Đoan lúc này đã vào tuổi 30, trưởng thành mà hòa mình được vào những trào lưu mới ấy: Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Việt Nam Quang Phục… Một gương mặt từ thời Cần Vương, bây giờ sáng lên cùng với những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Tăng Bạt Hổ… của thời kỳ đấu tranh mới. Chí sĩ Ngô Quang Đoan, khi thì nấp dưới hầm than tàu thủy chạy từ Hải Phòng sang Hương Cảng, tóe máu chân trong đôi hài sảo rơm băng rừng tìm gặp tướng quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, cạo răng trắng thành “Bạch xỉ chân nhân” hộ tống hoàng thân Cường Để đi Nhật, bí mật trở về nước để cùng các sĩ phu, nhà tân học, làm thơ hỏi sông Bạch Đằng:

“Hồng giang trùng khởi lãng

Sát tặc thị hà thi?”

(Sóng Hồng gầm vang dội

Giết giặc đợi ngày nào?)

Hoặc lên tận đền Hùng, xin với vua Hùng:

Tinh linh phảng phất, Lăng còn đó

Đất nước tan tành, Tổ biết không?

Cầu khẩn xin cho soi xét lại

Mau mau cứu vớt giống Tiên Rồng !

Có đến hai lần bị giặc bắt nhốt cũi sắt, phải chứng kiến cảnh chúng chặt đầu người cùng hoạt động ở ngay bên cạnh nhưng Ngô Quang Đoan – đến khi các phong trào đấu tranh đầu thế kỷ bị một lần nữa thoái trào vẫn kiên trì bền bỉ, cả gan góc nữa, dấn mình tiếp vào sự nghiệp đấu tranh cứu nước. Ở về những thập kỷ thứ hai, thứ ba của thế kỷ 20, khi nhà chí sĩ đã đến tuổi năm, sáu mươi, có một sự nghiệp được giao từ thời Đông Kinh Nghĩa Thục, mà chỉ còn một mình Ngô Quang Đoan lúc này thực hiện được. Ấy là: Tận tụy, miệt mài, lặn lội lên các vùng núi rừng thượng du, đồi gò trung du, khai hoang lập ấp trại, tạo cơ sở hậu cần cho những chiến sĩ bí mật hoạt động cách mạng. Hết ở Luống, Ngòi Lao (Phú Thọ) lại Tam Lộng, Bàn Long, Đạo Hoàng (Vĩnh Yên)… Các trang thực chất là doanh trại của nhà chí sĩ, hết bị hoang vu thú dữ, nước độc và bệnh tật tàn phá, lại bị giặc giã đánh sập…

Đến tuổi sắp “cổ lai hy”, chí sĩ Tượng Phong đã có 5 lần mất trại, lại 5 lần gây dựng tiếp. Và vào một đêm, giữa mịt mù hoang vắng trong căn nhà tre nứa giữa trại Đạo Hoàng dưới chân Tam Đảo, nhà chí sĩ với tay lấy trên vách xuống cây nguyệt cầm tự tạo. Và vừa gẩy mấy ngón đàn diệu vợi, vừa ngâm nga mấy câu thơ sầu lụy:

Trốn tránh bao năm sống chẳng an

Đêm thâu trằn trọc lệ tuôn tràn

Trăng hờn khuất bóng, mây mờ hận

Sương buốt gieo cành, gió khóc than…

Bất chợt nghe thấy có tiếng động bên ngoài. Và tiếng ngón tay gại vào vách nứa. Rồi một giọng nói thầm thì lọt qua khe cửa:

– Chúng tôi là các nhà cách mạng đi hoạt động qua đây. Nghe giọng đàn và tiếng thơ, biết ngay là bậc chí sĩ. Xin cho được vào bái kiến…

Đó là các đồng chí Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Đảng Cộng sản Bùi Lâm, Trần Đình Long. Và tin vui liên tiếp báo: Mặt trận Việt Minh đã ra đời! Trào lưu cách mạng mới – Tân Trào – đang lên tới cao trào!

Chí sĩ Tượng Phong Ngô Quang Đoan từ đấy trở thành cơ sở cách mạng. Với những vần thơ hào sảng:

Bóng cờ Độc Lập bay rạng đất

Tiếng súng Liên Minh dậy khắp trời

Hùng hồn cổ vũ:

Cờ nghĩa đỏ tươi chờ gió mới

Kiếm mài sáng lóa giục đông qua

Và đoán chắc:

Trời Nam vùng dậy rợp cờ

Nước non còn mất bây giờ là đây

Cùng nhau diệt lũ khuyển Tây

Anh hùng thời thế ra tay chuyển vần!

Chỉ tiếc là người anh hùng – tự mình làm chiếc cầu nối từ lịch sử phong trào Cần Vương tới lịch sử Cách mạng Tháng Tám – đã không kịp trông thấy ngày Cách mạng thành công.

Nạn đói đầu năm Ất Dậu (1945), tuổi tác và đau yếu đã khiến nhà chí sĩ Tượng Phong Ngô Quang Đoan – ở năm thứ 74 của cuộc đời đã phải lìa đời để đi gặp và lần này thì gặp được người cha Ngư Phong Ngô Quang Bích, ở trên cõi Vĩnh Hằng.

Hôm ấy là ngày 8-7-1945. Một tháng trước ngày bùng nổ cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

Viết nhân ngày giỗ cụ ở Tiền Hải.

GS. Lê Văn Lan
qdnd.vn

Nguyễn Ái Quốc với đội ngũ thanh niên trí thức yêu nước thời dựng đảng

QĐND – Những năm 20 của thế kỷ 20 là những năm cực kỳ quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước, gắn chặt với tên tuổi Nguyễn Ái Quốc. Đó là thời kỳ nước ta trải qua một cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và xuất hiện Nguyễn Ái Quốc như một vị cứu tinh của dân tộc.

Uy tín của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu hình thành từ năm 1919 với Bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam gửi Hội nghị Versailles mà thời đó báo chí Pháp gọi là “quả bom chính trị nổ giữa Pa-ri”. Uy tín đó được củng cố và tăng lên qua những hoạt động chính trị của Người tại Pháp, đặc biệt từ khi thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa và cho ra đời tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) và cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp. Những hoạt động chính trị đó không chỉ có tiếng vang trên đất Pháp, mà còn lan tỏa khắp năm châu, đăc biệt ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Tên tuổi Nguyễn Ái Quốc lan truyền nhanh chóng trên khắp đất nước, khích lệ những thanh niên trí thức trăn trở với vận nước tìm những con đường khác nhau ra nước ngoài tìm Nguyễn Ái Quốc. Sự háo hức của lớp trẻ thời đó đã tạo ra hai luồng xuất dương tìm đến Nguyễn Ái Quốc, trước hết là sang Pháp, sau đó qua Trung Quốc. Lớp thanh niên trí thức yêu nước sang Pháp tìm Nguyễn gồm Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Khánh Toàn, Bùi Công Trừng, Ngô Đức Trì, Trần Văn Giàu, Trần Đình Long, Dương Bạch Mai… Lớp trẻ sang Quảng Châu đến với Nguyễn là những “chàng trai bãi khóa” trong phong trào truy điệu và để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh bị cảnh sát Pháp đàn áp, truy lùng như Lê Hữu Lập, Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Sơn, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Hới, Nguyễn Văn Hoan, Trịnh Đình Cửu…(Bắc Kỳ), Lê Duy Điếm, Trần Phú, Nguyễn Ngọc Ba, Nguyễn Văn Lợi, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng… (Trung Kỳ), Ngô Thiêm, Lê Văn Phát, Nguyễn Mạnh Trinh… (Nam Kỳ). Lớp trẻ đến với Nguyễn Ái Quốc là đến với người tìm ra con đường cứu nước có hy vọng cho dân tộc, là đến với lãnh tụ cuộc cách mạng tương lai.

Bác Hồ với học sinh trường Trưng Vương-Hà Nội (năm 1956). Ảnh tư liệu

Nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc sau 5 năm tìm được con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức thực dân đã bắt đầu có chút thành quả: một lực lượng thanh niên trí thức trăn trở với vận mệnh đất nước tại Quảng Châu đã quy tụ bên Người, coi Người là thầy, là lãnh tụ, sẵn sàng theo thầy và xả thân vì đại nghĩa. Đó là một lực lượng chưa đông, nhưng vô cùng quan trọng để Người “gieo mầm cách mạng”. Và trong hoàn cảnh đó, người thầy, người hướng đạo phải làm gì để vươn tới tầm vóc mà các bậc cách mạng lão thành thuộc thế hệ cha chú như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh từng kỳ vọng?

Tháng 6-1923, khi rời nước Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã để lại cho những người bạn chiến đấu của mình trong Hội Liên hiệp thuộc địa và Tòa soạn báo Le Paria một lá thư thắm tình đồng đội, chan chứa sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ và bày tỏ ý định của Người:

“ Chúng ta phải làm gì?…

Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Đoạn trích dẫn trên cho ta hình dung được bốn công đoạn (bước) mà Nguyễn Ái Quốc sẽ thực hiện trong tương lai: 1) Trở về nước; 2) Tổ chức; 3) Huấn luyện và 4) Đấu tranh.

Ở bước thứ nhất, trở về nước. Trong hoàn cảnh “các nhà hoạt động bản xứ đều bị giám sát và truy nã rất ráo riết tại chính nước họ. Nhưng ở một nước làng giềng họ có thể hoạt động dễ dàng hơn, vì có ít người biết họ”(1) và bầu không khí chính trị Quảng Châu thuận lợi dưới thời Tôn Trung Sơn. Nguyễn Ái Quốc, khi về đến Quảng Châu vào tháng 11-1924, đã quyết định biến mảnh đất này thành trạm đầu cầu của cách mạng Việt Nam. Từ đó, Quảng Châu trở thành trị sở của Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tòa soạn các tờ báo mà Người sáng lập, nơi tổ chức huấn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng và tuyển chọn thanh thiếu niên gửi đi đào tạo ở các trường bạn. Nguyễn Ái Quốc dựa vào lực lượng thanh niên trí thức yêu nước để thực hiện những nhiệm vụ trọng đại đó.

Đầu tiên, Người tiếp xúc với những thành viên trong Tâm Tâm Xã tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của họ, giác ngộ họ và đưa họ vào một tổ chức chính trị mang màu sắc tuổi trẻ – Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cho ra đời tờ Thanh Niên làm cơ quan ngôn luận của tổ chức vào tháng 6-1925. Tổ chức cách mạng và tờ báo đó cùng với Người tiếp tục chuẩn bị về chính trị-tư tưởng và tổ chức để xây dựng một đảng Cộng sản ở Việt Nam. Tiếp đến, Người tung thanh niên về trong nước thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: xây dựng một hệ thống tổ chức cách mạng từ chi bộ lên Kỳ bộ trên toàn quốc và lực chọn những thanh niên trí thức yêu nước sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện chính trị. Với sự nỗ lực của những người tiên phong, đến những tháng đầu năm 1927, một hệ thống tổ chức cách mạng Thanh Niên được phủ khắp đất nước. Không một tổ chức chính trị cùng thời nào (như Hưng Nam-Tân Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng…) có được mạng lưới rộng như vậy. Được thế, trước hết nhờ tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Đồng thời với việc mở lớp huấn luyện những người cổ động, những người tuyên truyền, những người tổ chức tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc, thông qua Phái bộ Bô-rô-đin, lựa chọn và làm thủ tục cho thanh thiếu niên Việt Nam sang học tại Trường Đại học Phương Đông và các trường khác trên đất nước Xô Viết. Đi theo ngả đường này đến nhập học Trường Phương Đông ở Mát-xcơ-va là Lê Hồng Phong, Trần Phú, Phùng Chí Kiên…Trong một lá thư gửi Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Liên Xô ngày 22-7-1926, Nguyễn Ái Quốc đã bày tỏ:

“ Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu niên Cộng sản đầu tiên của Việt Nam bị chủ nghĩa đế quốc Pháp áp bức và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm… Lúc chúng tôi nói với các em về cách mạng Nga, về Lê-nin và các bạn, những chiến sĩ Lê-nin-nít Nga nhỏ tuổi, thì các em rất sung sướng và đòi sang với các bạn để thăm các bạn, học tập với các bạn và để trở thành như các bạn-những chiến sĩ Lê-nin-nít nhỏ tuổi.

Rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc đã có ý thức chuẩn bị cho cuộc cách mạng tương lai một đội ngũ cán bộ gồm những người trẻ tuổi đó.

Để lật nhào bộ máy thống trị thực dân-phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân sớm muộn phải cần tới bạo lực vũ trang, vì thế, ở một hướng khác, Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã chuẩn bị cho cách mạng một đội ngũ cán bộ quân sự. Người đã gửi nhiều thanh niên Việt Nam theo học Trường Quân sự Hoàng Phố của Tôn Trung Sơn dưới sự huấn luyện của các chuyên gia quân sự Xô Viết, trong số đó có Nguyễn Sơn, Phùng Chí Kiên, Đỗ Huy Liêm, Nguyễn Tường Loan, Lê Thiết Hùng… và cho xuất bản báo Lính Cách mệnh. Trong một bài viết trên báo Lính Cách mệnh đã khẳng định tính tất yếu của con đường bạo lực vũ trang đối với cuộc cách mạng dân tộc nước ta: “Cách mệnh vô luận ở về thời đại nào, theo về hoàn cảnh nào, muốn cho thành công thì nhất định phải dùng vũ lực, bởi vì thống trị giai cấp nó đè nén mình, nó hà hiếp mình, là nó cậy nó có vũ lực của bọn nó, nên bây giờ cách mệnh cũng phải có vũ lực của cách mệnh để đánh cho bọn thống trị giai cấp thất thế đi, hết nọc đi thì cách mệnh mới thành công được”.

Ở thời dựng Đảng này, lực lượng thanh niên trí thức yêu nước, một bộ phận năng động và nhạy cảm nhất trong thanh niên là chỗ dựa cơ bản, chủ yếu của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam.Trước Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ của phong trào cách mạng chỉ nhìn nhận và sử dụng thanh niên như một phương tiện để đạt tới mục đích của mình. Với Nguyễn Ái Quốc tình hình đã khác. Trong toàn bộ hoạt động cách mạng của mình, cả trên bình diện lý luận và thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn và thực sự đặt sự tin cậy vào lớp người trẻ tuổi, đặc biệt là lớp thanh nhiên trí thức yêu nước. Trên bình diện lý luận Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều tác phẩm như Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách mệnh, trong đó xác định vai trò to lớn của thanh niên trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc. Trên bình diện thực tiễn Người đã lập tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít và cơ quan ngôn luận mang tên Thanh Niên. Người thu hút lực lượng trẻ, giáo dục họ, dìu dắt họ, thử thách họ qua công việc và cuối cùng trao cho họ những trọng trách trong các tổ chức cách mạng. Những người mà Nguyễn Ái Quốc đặt lên vai họ những trọng trách nặng nề đều thuộc lớp trẻ ở độ tuổi đôi mươi. Có thể kể ra một vài ví dụ: Nguyễn Đức Cảnh, Bí thư Tỉnh bộ Thanh niên Hải Phòng năm 19 tuổi; Nguyễn Văn Hoan, Bí thư Liên tỉnh bộ Thanh Niên Hà-Nam-Ninh năm 20 tuổi; Trần Văn Cung, Nguyễn Sĩ Sách, Phạm Văn Đồng… từng giữ những chức vụ công tác quan trọng trong Thanh niên cũng mới ngoài 20 tuổi đời hoặc Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng lúc mới 26 tuổi…

Lực lượng trẻ tuổi ấy từ những người tuyên truyền cổ động, những người tổ chức đã trở thành bộ khung quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930. Có thể nói không quá lời rằng, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nước ta chủ yếu do thế hệ trẻ được Nguyễn Ái Quốc giáo dục, rèn luyện, khởi xướng và tiến hành.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

(1) Hồ Chí Minh Toàn Tập. Tập 2. NXB Chính trị quốc gia. Hn,1980, tr 208.

 

 

 

Quân ta đã về!

QĐND – Tháng 10, Bắc Trung Bộ lũ chồng lên lũ. Tháng 11, Nam Trung Bộ, rồi Trung Trung Bộ chìm trong mưa lũ. Nơi đâu lũ lụt tàn phá nặng nề, nước ngập sâu cũng có bộ đội dầm mình cứu dân. Còn chòm xóm nào cô lập, còn người dân nào chới với trên nóc nhà là bộ đội tìm đến. Còn chiếc thuyền nào trôi giữa biển khơi bão tố là Bộ đội Biên phòng, Hải quân tìm mọi phương cách dò tìm, ứng cứu. Những miếng lương khô bộ đội, những bữa ăn quân dân xì xụp vội vã quanh nồi mì ăn liền…

Cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Quảng Ngãi và Đồn biên phòng 288 giúp nhân dân xã Bình Hải, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) khắc phục hậu quả sau đợt lũ tháng 11-2010. Ảnh: Trí Tín.

Bộ đội ta đã về miền Trung, quân-dân cá nước là đây. Dường như, vẫn là anh chiến sĩ năm xưa xuyên qua trận giặc đến với dân, bám dân rồi ôm súng lao lên nã đạn vào căn cứ địch. Dường như vẫn là anh chiến sĩ năm xưa, mặc bom rơi đạn réo vẫn ngâm mình hướng nòng pháo thẳng hướng máy bay, tàu chiến giặc trời, giặc biển che chở cho xóm làng. Con cháu Bộ đội Cụ Hồ năm xưa chính là Bộ đội Cụ Hồ hôm nay, khi đất nước quê hương hữu sự, khi nhân dân lâm nạn là bộ đội ta có mặt. Năm 2007, xả thân cứu dân, anh hùng Phạm Hữu Huyên đã hy sinh giữa dòng sông Gianh cuộn xiết. Năm nay, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ noi gương anh lăn lộn ngang dọc trên khắp các con sông, biển nước miền Trung. Và Đoàn Trọng Giáp đã ngã xuống trên đường làm nhiệm vụ…

Sau thuyền, ghe bộ đội cứu hộ là thuyền, là xe bộ đội cứu trợ, là nườm nượp xe đồng bào các ngả từ Bắc vào, từ Nam ra. Xe bị lầy, thụt, lập tức có tre, có ván của dân từ xóm này xóm khác mang ra. Các thôn làng phía trong, phía xa cũng đang đói, thiếu. Có gì gợi nhớ năm xưa “xe chưa qua, nhà không tiếc”. Bức tranh chống chọi với thiên tai cứu làng, cứu dân là bức tranh đồng bào, đồng chí, quân dân máu thịt. Thời chiến-thời bình, nhiều sự, nhiều điều đã khác. Bây giờ, ai chẳng phải lo cơm áo, làm giàu, tiến thân, vun vén cho hạnh phúc riêng… Nhưng với Bộ đội Cụ Hồ, nơi đâu dân còn khổ đau, hoạn nạn, nơi đâu đất nước, nhân dân cần đến, vẫn trước sau tiên phong tấm lòng trung hiếu, sắt son.

Dằng dặc miền Trung chìm trong biển nước, cơn thủy tai thế kỷ, nhà nào, làng nào cũng ngập, đến thành phố cũng ngập mà không đâu hoảng loạn, hãi hùng, miền Trung cùng cả nước khẩn trương ứng cứu trong tâm thế bình tĩnh, tự tin. Có thế trận “4 tại chỗ” ở mỗi địa phương, có thế trận hiệp đồng quân-binh chủng cùng ba thứ quân, có thế trận hiệp đồng quân đội-công an-dân quân tự vệ cùng mỗi gia đình, làng xóm. Quân ta về trong thế trận ấy-thế mạnh của đất nước hòa bình, đang vươn lên phát triển mạnh mẽ.

“Các anh về mái ấm nhà vui. Tiếng hát câu cười rộn ràng trong xóm nhỏ…”. Tháng 12, biên giới, hải đảo, thôn quê, thị thành, đâu đâu cũng vui vầy ngày hội quân-dân. Qua đạn bom, qua gian lao vất vả, câu hát “Bộ đội về làng” tiếng hát-tiếng reo vui “Quân ta đã về, quân ta đã về!” càng nồng, càng đượm. Bây giờ đây, ngày đông tháng giá nhưng tình quân dân, nghĩa đồng bào trong cơn hồng thủy đã hòa quyện cùng đồng đất trở thành thứ phù sa ấm áp đang làm xanh lên ngô khoai, rau đậu suốt dọc dài miền Trung.

Anh Nguyễn
qdnd.vn

Tìm đường đi mới

QĐND – “Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hụt trầm trọng cả vật tư đầu vào cho sản xuất lẫn lương thực và hàng tiêu dùng cho nhân dân. Từ thực tiễn ấy, Đảng ta đã tìm tòi, thử nghiệm những giải pháp mới, từng bước đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Những giải pháp ấy đã không ngừng được hoàn thiện trở thành đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Dưới đây là câu chuyện của Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về hoạt động của các doanh nghiệp ở thời điểm “đêm trước” đổi mới…

“Xé rào”

Bà Phạm Chi Lan. Ảnh: Trần Hoàng.

Khi đó, các doanh nghiệp nước ta đứng trước những cơ hội về “cầu” to lớn để mở mang công việc sản xuất, kinh doanh nhưng lại vẫn bị cơ chế cũ trói buộc nặng nề. Khi vào miền Nam, nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có dịp nhìn thấy những hình thái, phương thức hoạt động kinh doanh khác hay hơn, hiệu quả hơn, những cơ hội làm ăn phong phú hơn. Từ đó, những ý tưởng mới, những mong muốn thay đổi thôi thúc họ. Còn với các doanh nghiệp phía Nam, dù cơ chế kinh tế mới có đè nén hoạt động của họ, thì cũng không thể bóp chết tư duy, ý chí kinh doanh và sức sống của cả một xã hội, cả một tầng lớp doanh nhân vốn đã rất quen với quy luật cung cầu của thị trường.

Không thể bó mình trong chiếc áo quản lý chật chội, một số doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công tư hợp doanh và cả DNNN, chủ yếu là DNNN địa phương, đã tìm cách tự vùng vẫy. Họ lặng lẽ mở rộng sản xuất, làm ăn với nhau ngoài khuôn khổ được phép, tăng cường trao đổi hàng hóa “ngoài luồng”, nhất là luồng hàng Bắc-Nam. Hành động “xé rào” này giúp giảm đỡ phần nào những khó khăn do thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung các vật phẩm thiết yếu, nên được một số cơ quan và địa phương đồng tình, nới tay hoặc ngầm ủng hộ cho làm. Riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh, những vị lãnh đạo cao cấp nhất của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thời đó như các ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ đã rất sớm ủng hộ hoạt động của các doanh nghiệp theo hướng thị trường. Các ông đã đề xuất việc để cho Thành phố Hồ Chí Minh được áp dụng cơ chế thị trường, và tuy điều đó không được Bộ Chính trị cho phép, các ông vẫn thực hiện một cơ chế kinh tế linh hoạt ở thành phố. Đến đầu thập kỷ 80, dựa trên Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng khóa IV (tháng 9-1979), một số quyết định theo tinh thần cởi trói cho sản xuất, kinh doanh được Chính phủ ban hành, chính thức mở đường cho các DNNN “bung ra”, bước đầu tiếp cận với thị trường. Trên cơ sở đó, hoạt động kinh doanh của DNTN trên thực tế cũng được nới lỏng hơn.

Bước đầu nới “độc quyền ngoại thương”

Trong công việc thực tế của mình rất gắn với hoạt động ngoại thương ngày đó, tôi nhớ mãi không khí phấn chấn khi sau hơn hai thập kỷ, trước sức ép của cuộc sống, “độc quyền ngoại thương”, theo kiểu chỉ hơn 20 công ty xuất nhập khẩu quốc doanh trực thuộc Bộ Ngoại thương được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, bắt đầu được nới ra. Một đất nước thống nhất, vừa ra khỏi chiến tranh, có những nhu cầu và cơ hội cực kỳ to lớn về mở rộng quan hệ thương mại với thế giới bên ngoài, chắc chắn không thể giao toàn bộ quan hệ đó cho chỉ một bộ phụ trách, với chỉ hơn 20 công ty đảm nhận mọi hoạt động ngoại thương như trước.

Trung tâm Thương nghiệp quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thời bao cấp đang bán hàng phân phối cho nhân dân. Ảnh tư liệu.

Từ năm 1976-1977, Nhà nước ta bắt đầu cho phép một số bộ phụ trách các ngành sản xuất và một vài địa phương được thành lập các công ty quốc doanh trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu để phục vụ nhu cầu của ngành, địa phương mình. Công ty xuất nhập khẩu hàng dệt may Textimex (trực thuộc Bộ Công nghiệp), Công ty xuất nhập khẩu than Coalimex (trực thuộc Bộ Điện-Than), ba Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu gọi tắt là Unimex Hà Nội, Unimex Hải Phòng và Imexco Thành phố Hồ Chí Minh (trực thuộc Ủy ban nhân dân ba thành phố)… là những đơn vị đầu tiên ra đời trong những năm đó. Tiếp theo, những công ty xuất nhập khẩu quốc doanh ở một số ngành và các địa phương khác lần lượt hình thành. Khắp nơi đang khát vật tư, thiết bị đầu vào tối cần thiết cho sản xuất công nông nghiệp, thậm chí cả các vật phẩm cho nhu cầu cái ăn, cái mặc của người dân, nên sự cải thiện bước đầu này trong kinh doanh xuất nhập khẩu đã ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp trên cả nước, thực sự mở màn cho những thay đổi lớn về ngoại thương và cả các hoạt động kinh tế gắn kết với nó, tiếp diễn trong những năm sau.

Các doanh nghiệp sản xuất, các công ty tư nhân, với bản năng và sự nhanh nhạy luôn tiềm ẩn, đã mau chóng chủ động bám sát các công ty xuất nhập khẩu, tham gia các cuộc giao dịch, đàm phán với các công ty nước ngoài nhiều hơn để phục vụ cho yêu cầu xuất nhập khẩu của mình. Các công ty được quyền trực tiếp xuất nhập khẩu, cũ cũng như mới, mau chóng mở rộng và thắt chặt quan hệ với các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, tăng cường liên kết với nhau, tìm tòi các cách để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các đơn vị trong nước. Dù trong cơ chế quản lý vĩ mô vẫn còn “cấm chợ ngăn sông”, nhưng dòng chảy của hàng hóa lưu thông giữa các tỉnh, các ngành trong nước vẫn mạnh dần lên, một phần lớn phục vụ cho nhu cầu trong nước, một phần khác tạo nên nguồn hàng ngày càng khá hơn cho xuất khẩu để trao đổi lấy hàng nhập từ nước ngoài về.

Các công ty xuất nhập khẩu cũng chủ động khai phá thêm quan hệ thương mại với nhiều bạn hàng ở các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa, trước hết là các bạn hàng Nhật Bản, Hồng Công (Trung Quốc), Xin-ga-po… Phần thương mại với các nước ngoài khối XHCN lúc đó tuy chưa nhiều, nhưng rất quan trọng để có thể nhập được một số thiết bị, phụ tùng, vật tư giúp cho các nhà máy ở miền Nam tiếp tục hoạt động. Bộ Ngoại thương và các cơ quan ngoại giao, thương vụ của ta ở các nước xung quanh cũng rất tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của chúng ta trong những công việc này.

Một số công ty nước ngoài, đặc biệt là các công ty đã có quan hệ thương mại với miền Bắc hoặc miền Nam Việt Nam trong chiến tranh, cũng lần lượt tìm đường trở lại buôn bán với chúng ta, bất chấp cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam tồn tại rất nặng nề trong thời kỳ đó. Trong số này có hai nhóm công ty tôi ấn tượng nhất, là các công ty Nhật Bản và các công ty Hàn Quốc. Doanh nghiệp Nhật có mặt rất sớm ở Việt Nam, thông qua các công ty con do chính họ lập ra để buôn bán với ta, thậm chí như Nissho Iwai còn trực tiếp vào nước ta làm ăn từ trước khi ta đổi mới. Các công ty Hàn Quốc bắt đầu vào nước ta từ năm 1982, mở đầu là Samsung, tiếp theo là Sunkyong, Daewoo, Lucky Goldstar (nay là LG), Hyundai…, đều là đại gia – “chaebol” theo tiếng Hàn. Các công ty này, cùng nhiều công ty khác đến từ một số nước ngoài khối XHCN, đã góp phần làm cho thị trường nước ta sống động lên với những hoạt động kinh doanh sôi nổi, thiết thực, khác hẳn cách làm “truyền thống” trong quan hệ gọi là “thương mại” nhưng hoàn toàn không có tính chất kinh doanh giữa ta với các nước XHCN thời đó.

Chắc hẳn phải có “đèn xanh” từ chính phủ họ, các công ty Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác mới có gan làm như vậy, nhưng rõ ràng sự có mặt khá sớm của các công ty này ở Việt Nam trong bối cảnh môi trường kinh doanh của nước ta còn đầy khó khăn trước đổi mới đã góp phần giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thêm kênh làm ăn với các nước ngoài khối XHCN, vừa đáp ứng những nhu cầu trao đổi hàng hóa trước mắt, vừa làm quen dần với kinh doanh ở các thị trường tư bản bên ngoài. Cũng nhờ những mối quan hệ sớm hình thành đó, nên khi Liên Xô và các nước khối XHCN Đông Âu sụp đổ, phần thương mại của Việt Nam với khối đó-vốn chiếm tới 70-80% xuất nhập khẩu của nước ta-đã được nhanh chóng bù đắp bằng quan hệ với các nước trong khu vực.

Cuối năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức phát động công cuộc đổi mới toàn diện, trước hết là về kinh tế, ở nước ta. Đó cũng là cột mốc quan trọng nhất đánh dấu chặng đường mới đi tới hình thành môi trường kinh doanh theo thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam. Ba trong những nội dung cốt lõi của đổi mới là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế theo hướng thị trường; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, và mở cửa trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới. Trên tinh thần đổi mới, các chính sách, biện pháp cải cách kinh tế mạnh bạo được hình thành dần trong những năm cuối cùng của thập kỷ 80. Chỉ trong vài năm, công cuộc đổi mới đã mang lại những kết quả tốt đẹp, giúp Việt Nam chặn được đà của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài nhiều năm trước đó, dần dần ổn định lại và đứng vững được trước sự sụp đổ đột ngột vào đầu thập kỷ 90 của các nước trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế mà Việt Nam là một thành viên…

Hoàng Tiến (Ghi theo lời kể của bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam).
qdnd.vn

Chuyện viết thêm về danh sách Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

QĐND – Trong các năm từ 1992 đến 1994, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã cùng một số cơ quan phối hợp xác minh danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tá Nguyễn Huy Văn – bí danh Kim Sơn, nguyên cán bộ Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu), hiện là Ủy viên thường trực Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân – đã kể lại những kỷ niệm xung quanh việc tìm kiếm thông tin về tên tuổi, quê quán của 34 chiến sĩ ngày ấy.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Nguyễn Huy Văn (ngoài cùng, bên trái) trong lần về thăm Cao Bằng (1992). Ảnh do nhân vật cung cấp.

Ngày 15-8-1992, khi tới dự cuộc họp của Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân tổ chức ở Thái Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề cập đến sự cần thiết phải có những cuốn sách ghi lại tên tuổi cán bộ, chiến sĩ các đội vũ trang, các đơn vị Cứu quốc quân, nhất là các chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ). Tại cuộc họp, Đại tướng nhấn mạnh: “Bây giờ làm là chậm, nhưng vẫn còn kịp và vẫn phải làm”. Thực hiện lời căn dặn của Đại tướng, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã bắt tay vào việc thu thập tư liệu, gặp gỡ nhân chứng là các lão thành cách mạng và một số ít những đội viên còn sống ở thời điểm năm 1992.

Để có được danh sách sơ bộ về các chiến sĩ khi sự kiện thành lập Đội VNTTGPQ đã trôi qua gần nửa thế kỷ, việc đầu tiên các thành viên trong Ban liên lạc tiến hành là tham khảo tư liệu từ cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ đây, Ban liên lạc đã có được danh sách khoảng 20 chiến sĩ. Tiếp đó, Ban liên lạc đã tiếp cận một số nhân chứng là các lão thành cách mạng như: Đàm Quang Trung, Thu Sơn, Nông Văn Lạng… đồng thời sưu tầm tư liệu của các cơ quan, ban ngành, các bảo tàng ở trung ương và địa phương để tìm kiếm thông tin về quê quán, tên tuổi, bí danh của các chiến sĩ. “Cuối cùng, chúng tôi thu được 8 bản danh sách, sau khi đối chiếu, Ban liên lạc lọc ra những người trùng tên và có được danh sách lên tới… 74 người. Danh sách này mới chỉ dựa vào trí nhớ của từng người, hơn nữa các chiến sĩ trong Đội gặp nhau trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, lại cùng chiến đấu trong khoảng thời gian không dài nên việc xác định rõ những người trong danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên là việc làm rất khó”, Đại tá Nguyễn Huy Văn nhớ lại.

Trong quá trình tìm kiếm, sưu tầm thông tin quanh danh sách 34 chiến sĩ có khá nhiều ý kiến khác nhau. Có nhân chứng kể lại, hôm diễn ra buổi lễ thành lập có tới hàng trăm người, một số khác cho rằng, danh sách 34 người còn có cả đội viên nữ… Để làm sáng tỏ vấn đề, trong các năm từ 1992 đến 1994, Ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân đã tổ chức 3 cuộc họp và hội thảo tại Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Nội để rà soát lại danh sách. Tại hội thảo, lại có những ý kiến khác nhau về việc đưa người này, bỏ người khác. Sau đó các ý kiến đều thống nhất đánh giá hôm diễn ra sự kiện thành lập Đội VNTTGPQ (ngày 22-12-1944) tại Khu rừng Trần Hưng Đạo (tỉnh Cao Bằng), số người tham dự buổi lễ có tới gần 100 người nhưng chủ yếu là đứng xung quanh, chỉ có 34 chiến sĩ nam đứng giữa dự lễ tuyên thệ. Vì buổi lễ diễn ra vào khoảng 17 giờ, lại ở trong rừng và là mùa đông nên trời tối, nhiều người không nhìn rõ mặt. Đại tá Nguyễn Huy Văn kể: “Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đội có một chiến sĩ người Mông. Các ý kiến tại hội thảo cũng nói khá nhiều về trường hợp này. Một thời gian sau, chúng tôi mới xác minh được chiến sĩ đó tên là Hồng Cô, do tập tục du canh du cư của đồng bào nên ông đã chuyển từ Cao Bằng về sinh sống ở Lạng Sơn. Thật tiếc là cho tới lúc mất, chiến sĩ người Mông này vẫn chưa được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước. Nhiều lần con cháu ông lặn lội từ Lạng Sơn xuống Hà Nội làm thủ tục giải quyết chế độ, các cán bộ ở Viện Lịch sử Quân sự đã phải hỗ trợ tiền tàu xe để họ về quê”.

Với sự nỗ lực sau gần 3 năm tìm kiếm, xác minh thông tin, tháng 11-1994, Trưởng ban liên lạc Việt Nam giải phóng quân Đàm Quang Trung đã báo cáo danh sách 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội VNTTGPQ lên Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cơ quan chức năng. Vào đúng dịp chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thành lập Quân đội, ngày 2-11-1994, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký xác nhận bản danh sách này.

Đại tá Nguyễn Huy Văn bộc bạch: “Với lương tâm và trách nhiệm của những người lính già đầu bạc, Ban liên lạc chúng tôi nhận thấy đã phần nào thực hiện được tâm nguyện của Đại tướng, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm tư liệu lịch sử về một tổ chức tiền thân của Quân đội ta”.

Minh Tuệ
qdnd.vn