Thư viện

Trí thức và cách đối đãi với trí thức của Hồ Chí Minh

1. Trí thức là gì?

Trong lịch sử loài người và trong tất cả các cuộc cách mạng xã hội, người lao động trí óc đều có vai trò quan trọng và theo xu thế phát triển chung của lịch sử, những người lao động trí óc chuyên nghiệp ngày càng đông đảo.

Xét về mặt sở hữu tài sản và đặc điểm lao động thì bản thân những người lao động trí óc không cố kết với nhau thành giai cấp. Các từ điển chính trị học, triết học gọi họ là “tầng lớp” hoặc “tập đoàn”, từ điển CNXH khoa học gọi là “nhóm xã hội”, gần đây trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam thì gọi họ là “đội ngũ”. Dù gọi là gì thì những người trí thức lao động trí óc ở mỗi nước cũng là một thực thể, là một bộ phận không thể thiếu và ngày càng quan trọng của đời sống xã hội. Nếu phân biệt với những người lao động trực tiếp bằng chân tay, cơ bắp (hiểu theo nghĩa tương đối) thì tất cả các nhà bác học, các nhà khoa học ở các lĩnh vực của đời sống xã hội, kỹ sư, thầy thuốc, giáo viên và phần đông công chức đều là trí thức. Họ không lao động chân tay để sản xuất ra của cải vật chất như thợ thủ công, công nhân, nông dân, nhưng họ lại có vai trò quan trọng trong cải biến xã hội và phát triển lực lượng sản xuất, nhất là quá trình CNH, HĐH. Nhờ có họ mà hàm lượng trí tuệ ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong mỗi sản phẩm, số lượng sản phẩm làm ra ngày càng nhanh, nhiều, rẻ, do đấy từ cuối thế kỷ XX tới nay, người ta đã nói nhiều tới khái niệm Nền kinh tế tri thức và người lao động trí óc – những người ngày càng có vị trí quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng, bền vững của mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới; có vai trò quyết định trong việc biến khoa học, kỹ thuật thành lực lượng sản xuất trực tiếp của nền sản xuất xã hội.

Từ cuối thế kỷ XIX, nhất là từ giữa thế kỷ XX tới nay, giữa lao động trí óc và lao động chân tay ngày càng chuyển hóa, thâm nhập vào nhau, kết hợp với nhau. Đó là một quá trình phát triển khách quan, tất yếu. Quá trình ấy Hồ Chí Minh gọi là “công nông hóa trí thức” và “trí thức hóa công nông”. Cần hiểu đúng tư tưởng “trí thức hóa công nông” của Người, không phải như một thời ấu trĩ, muốn “cải tạo” trí thức bằng cách biến họ thành một người thợ… Theo Người, trí thức thâm nhập vào thực tế, gắn bó với sản xuất, với đời sống của nhân dân lao động, qua đó phát minh, sáng chế, góp phần cải biến xã hội đồng thời tăng thêm lòng yêu mến những người cần lao, cùng đoàn kết với họ, giúp đỡ họ, làm cho khoa học, kỹ thuật dần dần thay thế lao động cực nhọc bằng cơ bắp. Nói cách khác, người trí thức thực thụ, chân chính là người đem sự hiểu biết của mình ra thực hành, phục vụ nhân dân, Tổ quốc. Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: Một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó không có trí thức nào khác.

Một người học xong đại học có thể gọi là có tri thức. Song y không biết… làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”(1).

Đánh giá cao vai trò và địa vị của trí thức, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”(2). Có một điểm đáng chú ý: Khi xác định nền tảng tổ chức của Đảng (được tóm tắt trong 6 điều, điều thứ nhất), Hồ Chí Minh viết: “1. Đảng là đội tiên tiến của nhân dân lao động (công nhân, nông dân và lao động trí óc)”(3). Lao động trí óc thuộc bộ phận nền tảng tổ chức của Đảng. Đó là một chân lý hiển nhiên không chỉ đúng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà càng đúng trong cách mạng XHCN. Đó là một phát triển của Hồ Chí Minh về học thuyết xây dựng Đảng để Đảng “có thể trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc…”(4).

2. Đối đãi với trí thức.

Lịch sử đã cho thấy cách đối đãi với trí thức của giới lãnh đạo đương thời có ảnh hưởng to lớn, nhiều khi có ý nghĩa quyết định đến thành bại của họ. Và cũng do cách đối đãi của giới lãnh đạo mà tài năng của trí thức được phát huy sáng chói hay bị lu mờ, thui chột.

Hồ Chí Minh, người khởi xướng và lãnh đạo thành công cuộc cách mạng lớn nhất, khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc, cũng là người đã đối đãi với trí thức một cách mẫu mực. Người là bậc thầy cho các thế hệ lãnh đạo chính trị. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là noi theo Người, làm theo Người trong hành động cách mạng, là “sửa đổi cách lãnh đạo”, trong đó có cách ứng xử và đối đãi của người lãnh đạo, quản lý đối với trí thức.

Một là, phát triển tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc của trí thức.

Nếu hiểu rằng trí thức là người có tài sản đặc biệt, riêng có của mỗi người, ở trong tim óc của mỗi người, nó không giống bất cứ tài sản hữu hình nào, không thể “quốc hữu hóa” được tài sản đó, càng không thể dùng mệnh lệnh để có thể khai thác được tài sản đó thì chỉ có cách là người lãnh đạo phải biết tìm ra mẫu số chung của lợi ích cách mạng và lợi ích của người trí thức.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất sớm rằng, ở đời ai cũng có quyền tin theo một học thuyết, một chủ nghĩa nhưng có một điểm chung mà hễ là người Việt Nam thì ít nhiều ai cũng có. Đó là tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc. Như mọi người Việt Nam yêu nước khác, trí thức cảm thấy nô lệ, mất nước là quốc nhục. Họ mong muốn tìm lối thoát nhưng bế tắc. Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã sáng suốt tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Năm 1941, Người viết: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”. Và quan trọng là người đứng đầu cuộc cách mạng ấy đã bằng cả cuộc đời bôn ba nếm mật nằm gai, vào tù ra tội, bất chấp gian khổ, hy sinh nên lời kêu gọi ấy có sức nặng của sự hòa đồng, đồng tâm, đồng chí, của sự dẫn dắt đầy tin cậy: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(5).

Lấy cứu quốc là việc chung, Hồ Chí Minh đã làm cho cả nước một lòng, không còn mấy ai nghi kỵ, mặc cảm, đắn đo. Hầu hết trí thức có tên tuổi của nước Việt Nam như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, các ông Phan Kế Toại, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước; các văn nghệ sĩ trí thức như Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Xuân Hữu, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Ngô Tất Tố… và biết bao trí thức yêu nước khác, cùng với toàn dân đã tập hợp dưới ngọn cờ Tổ quốc do Hồ Chí Minh dẫn dắt làm cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công và làm hai cuộc kháng chiến dài nhất, gian khổ nhất trong lịch sử thắng lợi. Phát triển tinh thần yêu nước của trí thức, đồng thời thẳng thắn, chân thành khuyên nhủ và bằng cả tấm lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến, với đạo đức trong sáng và tác phong giản dị, Hồ Chí Minh đã phát huy được năng lực sáng tạo của trí thức, giúp họ ngày một tiến bộ, vững bước cùng dân tộc. Cùng với những đánh giá, khen ngợi, khích lệ, Người đã chân tình, thẳng thắn khuyên “những người trí thức… cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế”, không nên chỉ bằng lòng với những kiến thức, lý luận đã học được mà “lý luận phải đem ra thực hành… lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích”(6). Cơm áo và danh dự là hai mặt của một vấn đề làm người trí thức băn khoăn. Trong thư trả lời một trí thức vào khoảng đầu cuộc kháng chiến chống Pháp khó khăn, thiếu thốn, Hồ Chí Minh đã viết: “Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người đó là hết. Còn tiếng tăm xấu hay tốt còn truyền đến ngàn đời về sau”(7).

Tóm lại, Hồ Chí Minh đã phát triển tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc của từng người trí thức hòa đồng vào chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự cường dân tộc của toàn dân. Nhờ đó, trí thức Việt Nam ngày càng trở thành đội ngũ hùng hậu của dân tộc, đã xây đắp nên mối liên kết tất yếu của sự phát triển: Cách mạng và trí thức, trí thức và cách mạng.

Hai là, trân trọng trí thức, tìm kiếm người tài đức là nghĩa vụ và bổn phận của nhà lãnh đạo.

Hồ Chí Minh với thái độ quang minh chính đại, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết nên đã cảm hóa, tập hợp, thu phục, phát huy được đông đảo trí thức. Trong lúc chính quyền non trẻ, vận mệnh quốc gia như ngàn cân treo sợi tóc, nhiều trí thức nổi tiếng xuất thân từ tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, được đào tạo trong các nhà trường của đế quốc, phong kiến đã nghe theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh gác bút nghiên lên đường tranh đấu.

Những ngày đầu tiên, trên cương vị nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc, dễ hiểu về mối quan hệ giữa nhân tài và kiến quốc. Người viết “Kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Và, Người thiết tha “mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến… lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch cho rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”(8). Trong công tác tổ chức nhân sự, Hồ Chí Minh đã nghiêm cấm các cơ quan đảng, chính phủ không được “tư túng – kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”(9). Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc tự phê bình vì chưa bao quát hết nên một số cơ quan chính phủ đã quan liêu, thiếu sâu sát để cho một số người tài đức chưa có dịp tham gia việc kháng chiến kiến quốc. Một chỉ thị ngắn, rất ngắn, không cần lắm chữ nhiều lời, ngày 20-11-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể coi là một chỉ thị trường tồn cho các thế hệ cán bộ lãnh đạo đất nước:

“Tìm người tài đức.

Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức.

E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.

Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiển năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo ngay cho Chính phủ biết.

Báo cáo phải nói rõ: Tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó.

Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ”(10).

Ba là, tin dùng, mạnh dạn trao cho người trí thức những chức vụ tương xứng với tài năng và đức độ của họ.

Người trí thức Việt Nam nói chung đều có lòng tự trọng, tự tin và ham tiến bộ, mong được giao những nhiệm vụ phù hợp với năng lực, sở trường. Họ mong muốn được làm việc trong một môi trường lành mạnh, có người lãnh đạo mẫu mực, thẳng thắn và chân tình, công tâm, đánh giá đúng ưu điểm và khuyết nhược điểm của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ai cũng có lòng tự trọng, tự tin. Không có lòng tự trọng, tự tin là người vô dụng… Vì vậy, người lãnh đạo cần phải tôn trọng lòng tự tin, tự trọng của các đồng chí mình”(11).

Tôn trọng, sử dụng trí thức là vấn đề rất lớn, ta không chỉ tìm thấy những chỉ dẫn từ các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh mà còn phải nghiêm túc, ôn lại lịch sử để thấy Người đã đối đãi với trí thức trong từng trường hợp mẫu mực như thế nào.

Năm 1946, nhận trọng trách Quốc hội khóa I giao cho thành lập Chính phủ trong lúc cần tập hợp sức mạnh toàn dân tộc vào việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, Hồ Chí Minh đã trân trọng giới thiệu những trí thức nổi tiếng, ngoài Đảng giữ các chức vụ quan trọng: “Bộ Nội vụ, một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết: Cụ Huỳnh Thúc Kháng…; Bộ Quốc phòng: một thanh niên trí thức và hoạt động quốc dân ta đã từng nghe tiếng: Ông Phan Anh,… Bộ xã hội, kiêm cả Y tế, Cứu tế và Lao động: Một nhà chuyên môn có tiếng trong y giới: Bác sĩ Trương Đình Tri;… Bộ Giáo dục: một người đã lâu năm hoạt động trong công việc giáo dục quốc dân và là người mà quốc dân có thể tin rằng nếu đem việc giáo dục giao cho để gánh vác thì người ấy sẽ làm hết nhiệm vụ: Ông Đặng Thai Mai;… Bộ Tư pháp: cũng là một trong đám người trí thức và đã hoạt động rất nhiều trong công cuộc cách mạng: Ông Vũ Đình Hòe”(12).

Biết bao trí thức với những tài năng, đức độ và cả những cá tính khác nhau đã đi cùng dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ xâm lược với sự tin dùng và ân cần chỉ bảo, chăm sóc của Hồ Chí Minh. Họ đã có sự nghiệp vẻ vang trong vinh quang chói lọi của Tổ quốc Việt Nam yêu quý. Những tên tuổi lớn: GS. Bộ trưởng Hoàng Minh Giám, GS. Nguyễn Văn Huyên, GS.VS Tôn Thất Tùng, GS.VS Trần Đại Nghĩa, GS. Trần Hữu Tước, GS. Lương Định Của, GS. Trần Đức Thảo…; các nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa: Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi…; các tướng lĩnh trí thức quân sự tài ba sau Võ Nguyên Giáp là những Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn v.v…, mà sự nghiệp của họ, nhờ có Hồ Chí Minh và cách mạng nên còn mãi với non sông đất nước.

Bốn là, chăm lo đào tạo đội ngũ trí thức mới với tầm nhìn vì sự nghiệp trăm năm.

Có thể nói suốt đời Hồ Chí Minh chăm lo sự nghiệp đào tạo thế hệ cách mạng cho hiện tại và tương lai của đất nước. Với tầm nhìn xa, trông rộng và với niềm tin tất thắng bất cứ kẻ thù xâm lược nào để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, để Việt Nam bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc 5 châu, ngay từ buổi đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược gay go, quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý đào tạo trí thức giải quyết hài hòa giữa kháng chiến và kiến quốc.

Nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể khẳng định nhờ có Đảng, nhờ có Chủ tịch Hồ Chí Minh, đất nước có được một đội ngũ trí thức xuất thân từ công nhân, nông dân, bộ đội, thanh niên xung phong, đủ khả năng gánh vác nhiệm vụ nặng nề cùng nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới, thực hiện CNH, HĐH, hội nhập quốc tế như hiện nay.

Sau lễ Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945) một ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề nâng cao dân trí, chống giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam mới. Người khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(13). Liền sau đó là phong trào xóa nạn mù chữ đồng thời lần lượt tất cả các bậc, từ tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học được thành lập.

Trước khi qua đời, Người còn dặn phải đào tạo thanh thiếu niên trở thành những người có đạo đức và tài năng “vừa hồng”, “vừa chuyên”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(14).

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay đang là vấn đề bức thiết của Nhà nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo một đội ngũ trí thức, một thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, thể hiện nỗi ưu lo dân – nước đang đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải suy tư để thực hiện tốt lời dạy cuối cùng của Người.

Năm là, phải giữ danh giá của người lãnh đạo mà đối xử với trí thức.

Lãnh đạo trí thức là việc khó. Nhưng Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói khó dễ đều bởi tại lòng mình. Lòng người lãnh đạo mà trong sáng, nhân hậu, chí công vô tư thì đó là sức mạnh, là bí quyết để dùng người. Nếu không sẽ “hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”(15).

Hồ Chí Minh khuyên “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu… phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”(16) để lãnh đạo cho đúng, dùng cán bộ đúng.

Dùng cán bộ đúng là nghĩa vụ, bổn phận của nhà lãnh đạo, đồng thời cũng là phẩm chất chính trị và danh giá của họ. Theo Hồ Chí Minh, để làm tròn nhiệm vụ và giữ gìn danh giá của mình, người lãnh đạo cần:

– Phải có độ lượng vĩ đại để dùng cán bộ một cách chí công vô tư, khiến cho cán bộ không bị thành kiến, không bị bỏ rơi, không lãng phí, thất thoát nhân tài;

– “Phải có tinh thần rộng rãi” để gần gụi tất cả mọi người, kể cả “những người mình không ưa”.

– “Phải có tính chịu khó dạy bảo” để nâng đỡ những người còn kém, giúp họ tiến bộ. Mà muốn dậy bảo người khác, nhất là đối với trí thức thì người lãnh đạo phải tự hiểu mình, phải học hỏi để hiểu người. Không có trình độ, không hiểu công việc của người khác thì không thể lãnh đạo được họ.

– “Phải sáng suốt” để không bị “bọn cơ hội, bọn vu vơ bao vây” mà xa cách cán bộ tốt.

– “Phải có thái độ vui vẻ, thân mật” cán bộ cấp dưới mới “vui lòng gần gụi mình”, mới coi mình là đồng chí, là thầy, là bạn của họ.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã thể hiện những điều trên một cách khoa học và nghệ thuật trong các tình huống, với từng đối tượng khác nhau…

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.235. (2) Sđd, tập 5, tr.156. (3,4) Sđd, tập7, tr.229, 517. (5) Sđd, tập 3, tr.198. (6) Sđd, tập 5, tr.235. (7) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 4, tr.207-208. (8) Sđd, tập 4, tr.99. (9) Sđd, tập 4, tr.57. (10) Sđd, tập 4, tr.451. (11) Sđd, tập 5, tr.282. (12) Sđd, tập 4, tr.193-194. (13) Sđd, tập 4, tr.8. (14) Sđd, tập 12, tr.512. (15) Sđd, tập 5, tr.279. (16) Sđd, tập 5, tr.285.

PGS. TS. Trần Đình Huỳnh

xaydungdang.org.vn

“Quyền trị dân” chỉ có thể bắt nguồn từ một “khế ước xã hội” Bác Hi Mã và cháu Tất Thành

Đây là đoạn trích Tiết 4. “Quyền trị dân” chỉ có thể bắt nguồn từ một “khế ước xã hội” Bác Hi Mã và cháu Tất Thành thuộc Chương 3. Chớm nở ý thức pháp quyền, quyền làm người, quyền dân tộc, chủ quyền dân tộc của cuốn sách Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh của tác giả Vũ Đình Hòe, website http://hochiminhhoc.com xin chân trọng giới thiệu đến quý độc giả

Picture1.jpgCác nhà khai sáng Pháp và tác phẩm “Khế ước xã hội”. Ảnh: Tuấn Anh

Quân trị – Dân trị: “Khế ước xã hội”

Quân chủ, quân quyền, quân chủ – quân quyền chuyên chế, quân chủ tập quyền chuyên chế tuyệt đối… tồn tại và phát triển trải qua muôn đời đã hao tốn cho nhân loại hàng biển mồ hôi, nước mắt, và cả xương máu nữa chứ! Nó “thọ” lâu như thế là nhờ vào triết lý “cao siêu”: tôn vua lên ngôi Thiên tử, ý Vua là ý Trời. Mà Trời, Thượng Đế thì Chí Thiện, Chí Công, Chí Minh! Dân chỉ cần cúi đầu thán phục. Nếu vô phúc gặp phải hôn quân thì cứ chịu nhẫn nhục mà kêu trời rồi trước sau Trời cũng sẽ biết, sẽ ra tay cho vua biết thân. Khốn khổ thay, Trời mà ra tay (thiên tai) thì chính Dân lại là người “è cổ” ra mà chịu báng trước!

Con giun xéo lắm cũng oằn! Giá mà con giun có nọc độc thì nó cũng phun ra hết. Đó là chân lý của lịch sử. Để tạo động lực cho lịch sử, các nhà bác học bách khoa thế kỷ XVIII là Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Diderot… đã sáng tác ra một triết lý mới thay vào Thần quyền. Nổi bật lên là J. J. Rousseau (Lư Thoa) với tác phẩm “Du Contrat Social”. Người ta dịch là “Khế ước xã hội”, gọn là “Xã ước”. Hồ Chí Minh dịch là “Dân ước”, Nguyễn An Ninh, nhà học giả Cách mạng Dân chủ thời Hồ Chí Minh dùng tên gọi ấy, ngắn gọn mà gợi cảm. Sơ lược triết lý cao siêu ấy là thế này:

Con người sinh ra ai cũng được tự do như nhau, tự do tuyệt đối, bình đẳng tuyệt đối đối với mọi người khác. Nhưng con người muốn tồn tại được trong giời đất thì phải sống thành đàn, thành bầy, thành bang để nương tựa lẫn nhau. Đã là đàn, là bầy, là bang thì phải có người, có bộ phận “cầm đầu”. Và mỗi người trong tổ chức xã hội ấy phải tự nguyện bớt một mảnh tự do vô hạn trước đây cảu mình giao cho người hay bộ phận cầm đầu để tạo điều kiện cho họ làm đầy đủ phận sự được giao là quản lý và bảo vệ quyền lợi chung của xã hội. Thế là một khế ước (hợp đồng, thỏa hiệp, thỏa ước) vô hình trung đã hình thành. Mọi người, kể cả người đứng đầu đều phải tôn trọng nếu không thì loạn. “Người bị trị” đã vi phạm hợp đồng thì phải chịu đã đành. Kẻ “trị dân” cũng vậy, nếu làm “không nên thân” thậm chí còn bớt xén của công, lộng hành, tư túi… thì ắt bị cộng đồng hạ bệ tức thì, thay người khác xứng đáng hơn. Dưới đây trích mấy câu, mấy đoạn nguyên văn:

Người sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích (…)

Nếu tôi chỉ xem xét về lực và hệ quả của lực thì tôi sẽ nói rằng: khi nhân dân bị cưỡng bức mà lại biết phục tùng, họ làm thế là phải. Nhưng nếu có thể hất cái áp bức đó đi thì còn hay hơn nữa, vì thế họ giành lại tự do vốn có quyền được hưởng, có quyền giành lại và không ai được tước đoạt quyền tự do của họ.

Trật tự xã hội là một thứ quyền thiêng liêng làm nền tảng cho mọi thứ quyền khác, nhưng trật tự xã hội không phải tự nhiên mà có. Nó được xác lập trên cơ sở những công ước. Vậy phải tìm hiểu công ước ấy là gì (…) 1)

Xin trích ra đây hai đoạn trong sách “Dân ước” của Rousseau. Trong các đoạn ấy, học giả Cách mạng dân chủ nói lên khái niệm mới về quyền lực nhà nước. Một đoạn trích thuộc Chương II trong quyền 1, và một đoạn trích thuộc Chương VI trong quyển 2.

Chương II (Quyển 1)
“Công ước (Pacte) xã hội”

… nhưng con người không thể tạo ra lực mới mà chỉ có thể kết hợp và điều khiển những lực sẵn có, cho nên phương pháp duy nhất để con người tự bảo vệ là họ phải kết hợp lại với nhau thành một lực chung được điều khiển bằng một động cơ chung khiến cho mọi người đều hành động một cách hài hòa (…)

Tìm ra một hình thức kết liên với nhau để dùng sức mạnh chung mà bảo vệ mọi thành viên. Mỗi thành viên trong khi khép mình vào tập thể, dùng sức mạnh tập thể, vẫn được tự do đầy đủ như trước, vẫn chỉ tuân theo chính bản thân mình. Đó là vấn đề cơ bản mà khế ước (contract) đưa ra cách giải quyết (…) Thực chất của công ước xã hội là gì?

Mỗi người chúng ta đặt mình và quyền lực mình dưới sự điều khiển tối cao của ý chí chung và chúng ta tiếp nhận mọi thành viên như một bộ phận không thể tách rời của toàn thể.

Hành viên liên kết sẽ tạo nên một cơ thể tinh thần chung, gồm bao nhiêu thành viên thì có bấy nhiêu tiếng nói trong một hội đồng, mỗi thành viên nhận được sự nhất trí của mình trong hành vi liên kết đó, họ tìm thấy cái tôi tập thể, tìm thấy cuộc sống và ý chí của mình trong tập thể. Con người công cộng được hình thành bằng sự liên kết với tất cả người khác. Ngày xưa, con người công cộng ấy được gọi là thành bang, ngày nay chúng ta gọi là “nước cộng hòa” hoặc “cơ thể chính trị”. Mỗi thành viên ở thể thụ động thì gọi là người công cộng, đó là “Nhà nước”, ở thể chủ động thì gọi nó là “quyền lực tối cao”. Khi đối sánh với đồng loại thì con người đó được gọi là “quyền lực”. Về phần các thành viên, họ lấy một tên chung là “dân chúng”; mỗi người riêng lẻ thì gọi là “công dân” trong khi họ tham gia vào quyền lực tối cao, hoặc gọi là “thần dân” trong khi họ phục tùng pháp luật Nhà nước”.

Chương Sáu (quyển 2)
Bàn về luật

… “khi toàn dân quy định một điều gì cho toàn dân thì họ chỉ xem xét đến toàn thể, nếu hình thành một quan hệ thì phải là quan hệ giữa toàn thể trên một cách nhìn này với toàn thể trên một cách nhìn khác; cái toàn thể không hề bị chia tách ra. Như vậy, chất liệu để xây dựng là chất liệu chung, cũng như ý chí xây dựng là ý chí chung. Cái đó gọi là luật.

Khi tôi nói luật bao giờ cũng là tổng quát chung cho mọi người, tôi hiểu rằng luật coi tất cả thần dân là một cơ thể mà trừu tượng hóa các hành động, không coi con người như một cá nhân hoặc như một hành động riêng lẻ. Luật có thể quy định rằng sẽ có một số đặc quyền nhưng luật không nói rõ đặc quyền cho một cá nhân cụ thể nào. Luật cũng có thể chia công dân làm hạng nhưng không quy định cụ thể người nọ, người kia là thuộc hạng này hạng khác. Luật có thể quy định việc thành lập Chính phủ và hệ thống cấp bậc nhưng không cử ra một ông vua hay chỉ định một gia tộc nào là hoàng gia. Tóm lại, mọi chức năng liên quan đến đôi tượng cá nhân không phải là chức năng của quyền lực luật pháp.

… Luật thống nhất cái tổng thể của ý chí với tổng thể của đối tượng. (…) Ngay cả cái mà cơ quan quyền lực tối cao ra lệnh cho một đối tượng cá nhân cũng không phải là luật mà là một nghị định, không phải của cơ quan tối cao mà là của cá nhân pháp quan”. (…)

… Vậy nước cộng hòa là tất cả những người nào do luật trị vị bất kể dưới hình thức nào. Luật trị vì tức là lợi ích chung trị vì…”

Tôi (Vũ Đình Hòe) xin nhấn mạnh ý trên: chế độ dân chủ, dân quyền, chế độ dân chủ cộng hòa là chế độ luật trị. Luật trị là do dân đặt ra, dân nắm quyền lực nhà nước, dân trị; pháp quyền là pháp quyền của dân để bảo đảm, bảo vệ lợi ích chung của toàn dân trong đó có lợi ích riêng của mỗi người, gồm cả dân thường lẫn người dân cầm đầu nhà nước đều là thần dân của nhà nước dân chủ, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.

1) Xem sách: Bàn về khế ước xã hội. Thanh Đạm (Hoàng Nhật Tân) dịch và diễn giải, chú thích, NXB TP HCM, 1992, chương I, quyển 1, trang 29

Nguồn:  Sách Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh

hochiminhhoc.com

Để có hiểu biết đúng đắn về Hồ Chí Minh ”Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”

Lâu nay, một bộ phận trong giới khoa học Việt Nam và không ít cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu chưa thật rõ, đầy đủ, đúng đắn một số điểm xung quanh Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người thì không biết có một Nghị quyết của UNESCO, tức tài liệu gốc. Hầu hết chỉ biết đến nội dung văn kiện này qua bản dịch tiếng Việt, đăng sớm nhất trong Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990.

bacho.jpgBác Hồ đánh máy chữ. Ảnh: Tuấn Anh

1. Có một Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh- “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”

Lâu nay, một bộ phận trong giới khoa học Việt Nam và không ít cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu chưa thật rõ, đầy đủ, đúng đắn một số điểm xung quanh Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người thì không biết có một Nghị quyết của UNESCO, tức tài liệu gốc. Hầu hết chỉ biết đến nội dung văn kiện này qua bản dịch tiếng Việt, đăng sớm nhất trong Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990. Bản dịch này từ các thứ tiếng khác nhau nên vẫn còn độ chênh.

Ở ngoài nước, các thế lực thù địch tìm mọi cách bôi nhọ, xuyên tạc, cho rằng không có Nghị quyết của UNESCO !?.

Gần đây, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã công bố văn bản gốc Nghị quyết của UNESCO về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là bản in tiếng Pháp “Tập biên bản của Đại hội đồng khóa họp lần thứ 24 tại Pari, từ ngày 20/10 đến ngày 20/11 năm 1987, Quyển 1: nghị quyết”(1).

Đây là một trong số các tập biên bản báo cáo của Đại hội đồng UNESCO, khóa họp lần thứ 24, được UNESCO xuất bản đồng thời bằng 6 thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, được in và đóng quyển tại xưởng in của UNESCO, Pari, năm 1988.

“Quyển 1: nghị quyết” dày 220 trang, bao gồm các nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24. Tập nghị quyết này gồm 13 mục và phần phụ lục.

Trong Chương trình hành động giai đoạn 1988-1989, cùng với các Nghị quyết 24C/11.9 về Kỷ niệm 600 năm ngày mất của Khaeh Chamsoddne Mohammad Hafez Chirazi và Nghị quyết 24C/11.10 về Kỷ niệm 100 Ngày sinh của Fernando Pessoa, Đại hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 đã thông qua các nghị quyết về tổ chức lễ kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử, trong đó có Nghị quyết 24C/18.65 về việc Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

images.jpegHồ Chí Minh đẹp nhất tên người. Ảnh: Tuấn Anh

Thực hiện khuyến nghị của UNESCO triển khai các hoạt động tổ chức kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử tại các nước thành viên, nhiều nơi trên thế giới đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa lớn” đã được tổ chức trọng thể vào hai ngày 29 và 30 tháng 3-1990. Tại Hội thảo này, có mặt 70 đại biểu quốc tế thuộc 34 nước và hơn 1.000 đại biểu Việt Nam.

Phát biểu tại Hội thảo, Tiến sĩ M. At-mét (Medagat Ahmed), Giám đốc UNESCO khu vực châu Á -Thái Bình Dương, Đại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định: “Đây thật sự là một niềm vinh dự cho tôi được phát biểu trước các nhà trí thức và thông thái cao quý, có mặt ở đây ngày hôm nay để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh, người chiến sĩ dũng cảm đã giải phóng dân tộc mình khỏi một thế kỷ đô hộ thực dân, bằng sự lãnh đạo khôn khéo và quyết tâm vững chắc. Người là một trong những động lực đầu tiên của phong trào chống thực dân thời kỳ sau Đại chiến thế giới thứ hai ở châu Á và là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều nhất của các dân tộc ở thế kỷ 20. Hội nghị UNESCO phiên thứ 24 đã quyết định kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người vào năm 1990. Đây là một cử chỉ tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập. UNESCO rất vui sướng được tham gia vào sự kiện đáng ghi nhớ này. Điều đó biểu hiện sự cam kết sâu sắc của tổ chức này trong việc duy trì các giá trị và công lao của các nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng. Những tình cảm này được thể hiện rõ rệt trong Nghị quyết của Đại hội đồng với sự nhấn mạnh rằng: tư tưởng của Người chứa đựng nguyện vọng của nhân dân muốn khẳng định nền văn hóa riêng của mình và xúc tiến sự hiểu biết lẫn nhau… Tên gọi cuộc Hội thảo khoa học là “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn” nhằm nêu bật nhiều mặt của nhân cách con người vĩ đại này”(2).

Dưới đây là toàn văn bản dịch (từ bản tiếng Pháp) của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam về Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Mục “18. 65: Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng,

Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới,

Nhắc lại Nghị quyết số 18C/4.351 thông qua tại khóa 18 Đại hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,

Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội,

Nhận thấy những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,

1- Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người;

2- Đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”(3).

2. Nhận thức đúng đắn về sự thống nhất, hòa quyện giữa Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh, vì mục tiêu Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải nhận thức được sự thống nhất, hòa quyện chất Anh hùng giải phóng dân tộc và chất của Nhà văn hóa kiệt xuất trong con người Hồ Chí Minh, vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO cho thấy, nói đến Hồ Chí Minh là nói tới một con người, một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, một danh nhân văn hóa kiệt xuất đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Nói đến Hồ Chí Minh là nói tới một nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng, vì đã cống hiến trọn đời mình cho tự do và độc lập. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó vừa là giá trị văn hóa vừa có ý nghĩa cách mạng sâu xa. Hồ Chí Minh là “một trong số ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(4).

Để nghiên cứu đúng đắn về Hồ Chí Minh, cần nắm chắc bối cảnh lịch sử, phân biệt rõ mục đích và con đường để đạt mục đích đó. Hồ Chí Minh trước hết là con người của dân tộc, gắn bó mật thiết với non sông ta, đất nước ta. Dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đêm trước thành công của Cách mạng Tháng Tám đắm chìm trong đêm dài nô lệ. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, bằng cách làm này hay cách làm khác, theo con đường này hay con đường khác, đều chung một mục đích giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh từ tuổi thiếu thời là một thanh niên yêu nước, ham học hỏi, cầu tiến bộ. Người không những giống mọi người Việt Nam về tinh thần yêu nước mà còn “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”. Người đã từng theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp – bản xứ ở thành phố Vinh. Tại đây, lần đầu tiên Người được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Người cũng đã theo học lớp sơ đẳng Trường Tiểu học Đông Ba ở Huế và Trường Quốc học Huế. Người quan tâm tới nhiều cách tiếp cận khác nhau để đạt mục đích giải phóng dân tộc. Trước lúc đi ra nước ngoài tìm cách giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã tâm sự với một người bạn: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(5). Năm 1923, tâm sự với Ôxíp Manđenxtam, Người bộc lộ: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách báo của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”(6).

Từ đó trở đi, Hồ Chí Minh không chỉ là con người của dân tộc mà còn là của thế giới, của thời đại. Người khám phá thế giới, làm mọi cách để đạt được mục tiêu giải phóng dân tộc, như có lúc Người đã nói một cách hình tượng “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập, tự do”. Cũng như vậy, sau này, để đạt được mục tiêu tự do, hạnh phúc, có lúc Người nói: “Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7).

Trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, như mọi người đều biết, từ Mácxây, Nguyễn Tất Thành có viết một lá đơn đề ngày 15-9-1911 gửi Tổng thống nước Pháp lúc đó Armand Fallieres, xin học Trường Thuộc địa. Lá đơn này có trong Kho Lưu trữ nước Pháp, bộ phận Hải ngoại, phông Trường Thuộc địa, bìa số 27, hồ sơ số 11. Lần đầu tiên (năm 1983) tư liệu này được giới thiệu qua hệ thống đài phát thanh và truyền hình nước Pháp do Tuyren (H. deTurenne) thực hiện nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ. Tiếp đó, tư liệu này được đề cập trong cuộc Hội thảo quốc tế tại Pari ngày 25-5-1983 dưới chủ đề: “Mác- Các chủ nghĩa Mác”. Sau đó, Nguyễn Thế Anh (nguyên là Khoa trưởng Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn thời Mỹ- ngụy) và Vũ Ngự Chiêu (nguyên là sĩ quan ngụy, hiện ở Canađa) đã công bố toàn văn lá đơn trong số 1 tạp chí Đường mới, số tháng 6-1983 với một dụng ý xuyên tạc trắng trợn, cho rằng “Nguyễn Tất Thành lúc đầu có ý định xin vào học Trường Thuộc địa để sau ra làm việc cho Pháp, nhưng vì không được nhận vào học nên phải đi theo con đường cách mạng!?”. Gần đây, tháng 7-2009, DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”, Vũ Ngự Chiêu lại nhắc lại sự kiện đó.

Chúng ta hoàn toàn không giấu giếm sự kiện này. Hơn hai mươi năm trước, Giáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm đã có bài viết với tiêu đề: “Cần làm sáng tỏ một số điểm xung quanh lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành năm 1911”, đăng Tạp chí Cộng sản, số 5-1987. Vấn đề là ở chỗ, hiện nay một số người vẫn nghĩ rằng chúng ta không công bố lá đơn này, và quan trọng hơn là nhiều người không hiểu đúng việc làm của Nguyễn Tất Thành. Còn các thế lực thù địch thì cố tình bóp méo sự thật lịch sử.

Làm sáng tỏ vấn đề này, trước hết phải nhận thức đúng đắn rằng đây là cách làm chứ không phải mục đích của Hồ Chí Minh. Có nhiều cách làm và con đường để đạt một mục đích. Cách làm này hoàn toàn hợp lôgic với cách làm và suy nghĩ từ trong nước của Nguyễn Tất Thành khi có ý định xin vào học Trường Kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn, muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ Tự do, Bình đẳng, Bác ái rồi trở về giúp đồng bào chúng ta. Dõi theo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, phải đánh giá sự kiện này ở một cách nhìn khác với tầm cao hơn. Cụ thể là ngay từ rất sớm, Người đã biết khám phá, khai thác văn minh nhân loại, khoa học – công nghệ ở các nước tư bản để phục vụ cho đồng bào mình.

Thứ hai, phải đọc và suy ngẫm kỹ hình thức và nội dung lá đơn gửi Tổng thống một nước tư bản văn minh lúc bấy giờ. Trong lá đơn có câu: “Tôi muốn sẽ trở nên có ích đối với đồng bào của tôi, và đồng thời có thể giúp cho họ hưởng thụ được những lợi ích của học thức”(8).

Sự thật rõ như ban ngày mà những kẻ nuôi dụng tâm xấu vẫn ác ý cố tình xuyên tạc. Để hiểu rõ hơn về lá đơn, hãy đọc Êmơri (Daniel Hémery) – một nhà sử học Pháp chuyên nghiên cứu và giảng dạy lịch sử cận – hiện đại Việt Nam tại Trường Đại học Pari VII, trong bài viết: “Về lá đơn xin vào học Trường Thuộc địa năm 1911 của người thanh niên Hồ Chí Minh”. Êmơri khẳng định: “Tuyệt đối không thể căn cứ vào lá đơn xin học năm 1911 để gán ghép cho Nguyễn Tất Thành ý định sau khi học xong sẽ trở thành người cộng tác với chính quyền thuộc địa”(9).

Bài viết đến đây tạm khép lại với một câu hỏi: “Tại sao người ta cố tình muốn hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”? Câu trả lời từ một cách hiểu rất đơn giản và lôgic, đó là tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và vẫn luôn luôn giữ được ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân loại tiến bộ./.

PGS, TS. Bùi Đình Phong
Theo Tạp chí Tuyên Giáo

———————

(1) Bảo tàng Hồ Chí Minh: Thông tin tư liệu, Nội san, số 25, tháng 9-2009 (Từ đây, những thông tin liên quan tới Nghị quyết đều dẫn từ tài liệu này)
(2) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trích tham luận của đại biểu quốc tế), UNESCO và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.34-35.
(3) Bảo tàng Hồ Chí Minh: Thông tin tư liệu, tài liệu đã dẫn, tr.57.
(4) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sdd, tr.37.
(5) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb ST, H, 1975, tr.13.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.1, tr.477.
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr. 227.
(8), (9) GS. NGND Đinh Xuân Lâm: Góp phần tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2005, tr.275, 273

hochiminhhoc.com

Hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Kinh thánh đã dạy: “Khởi thuỷ là lời nói”; Đại thi hào Gớt lại viết: “Khởi thuỷ là hành động”.

Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời nói đi đôi với hành động, lý luận đi đôi với thực tiễn, nói là để làm. Người là tấm gương sáng ngời về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo-là vì mục đích đó… Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.

“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào”. “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong Di chúc, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Những tư tưởng trên được chứng minh một cách hùng hồn bằng cả cuộc đời hoạt động của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của những quyết định lịch sử ở những bước ngoặt lịch sử đối với cách mạng Việt Nam. Năm 1911, 21 tuổi, Người đi nước ngoài tìm đường cứu nước. Năm 1920, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng cho dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam; cùng với Đảng dẫn dắt giai cấp và dân tộc trên mọi chặng đường thắng lợi của cách mạng: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Đế quốc Mỹ, mở đường cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp nêu gương đi đầu về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo lời dạy của Người:

Về ý thức trách nhiệm: Khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, đều phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, làm một cách tự giác, theo lương tâm, lương tri, theo nhu cầu nội tâm của cá nhân mình. Nếu làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm. Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ; thực hiện đúng đường lối quần chúng.

Chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư, tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm.

Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Có trách nhiệm với đất nước theo lời dạy của Người “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết, tận tâm, tận lực, tận tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hi sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”. “Trung với nước, hiếu với dân”, “Tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân”. Lý tưởng cao cả của Đảng ta, của cán bộ, đảng viên là phục vụ nhân dân. “Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân trước hết, đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; đó là lẽ sống cao quý nhất của người cách mạng”. “Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Quan tâm chăm lo mọi mặt của đời sống nhân dân theo tinh thần “Nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, là Đảng và Chính phủ có lỗi”. “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân và xác định vì dân mà làm việc. Không được tự cao, tự đại, khinh rẻ dân, chê bai dân. Hướng dẫn nhân dân tự chăm lo cho đời sống của mình.

Góp phần đề ra được các chủ trương, chính sách đúng đắn, vì lợi ích của nhân dân theo lời dạy của Người: “Cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc.

Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân phải luôn quán triệt cán bộ là công bộc, là đầy tớ của dân: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”. “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”. “Luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy” hoặc “hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết mà không làm”.

Nói đi đôi với làm, nêu gương bằng những hành động thực tế là một trong ba nguyên tắc Hồ Chủ tịch chỉ ra về rèn luyện đạo đức cách mạng. Trong suốt cuộc đời mình, Người đã giáo dục mọi người và chính bản thân Người là một tấm gương sáng ngời thực hiện nguyên tắc đó một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Hơn nữa, chúng ta còn thấy Người nói ít nhưng làm nhiều, có những vấn đề đạo đức Người làm mà không nói. Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành nêu gương đi đầu về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong giai đoạn hiện nay.

Đỗ Ngọc Uẩn

baobacninh.com.vn

Quan điểm giáo dục qua tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch

Bác nói và viết ít nhiều đều mang ý nghĩa giáo dục, điều đó có thể hiểu theo nhiều góc độ, nhiều phương diện. Trong “Nhật ký trong tù” có nhiều bài thơ liên quan đến việc giáo dục con người, nhưng có ba bài: “Tự khuyên mình” (Tự Miễn); “Nghe tiếng giã gạo” (Vãn thung mễ thanh) và “Nửa đêm” (Dạ bán) là rõ hơn cả. 

Bài “Tự khuyên mình” Bác viết cho chính Bác, trực tiếp nói đến giáo dục. Hai bài còn lại gián tiếp nói đến giáo dục qua những hình ảnh được sử dụng trong thơ và có tính chất ký sự. Bác ghi lại những điều quan sát rồi suy gẫm, khái quát vấn đề. Trình bày những suy tư về giáo dục bằng thơ là việc không phải hiếm người làm. Nhưng ở Bác, quan điểm giáo dục được trình bày rõ ràng, giản dị nhưng đầy chất triết lý.

1. Ở bài “Tự khuyên mình”: 

Bác đưa ra một quy luật tự nhiên: không có cảnh rét mướt tiều tụy của mùa đông thì cũng sẽ không có cảnh ấm áp huy hoàng của mùa xuân. Đó là lẽ tất yếu – quy luật tuần hoàn của tự nhiên cũng như “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Từ đó, Bác nghĩ đến con người, đời người:

“Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.”

Khi gặp tai ương (tai họa có hại cho bản thân) thì con người được rèn luyện, thử thách càng trở nên vững vàng hơn. Thật giản dị nhưng đó là một chân lý. Trong thực tế, đây là một việc không phải ai cũng làm được. Có người gặp khó khăn (tai họa) là nản chí, khuất phục hoàn cảnh, bị hoàn cảnh chi phối. Còn Bác, Bác không như vậy vì Người đã xác định rồi:

“Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân.”

Sự đối lập hai cảnh “Đông hàn tiều tụy cảnh” (Cảnh rét mướt tiều tụy của mùa đông” với “xuân noãn đích huy hoàng” (cảnh ấm áp huy hoàng của mùa xuân) là để làm bật ý: không trải qua gian khổ sẽ không có ngày sung sướng. Từ quy luật tự nhiên rút ra quy luật cuộc đời và rút ra bài học cho chính bản thân.

Con người ta không ai muốn mình gặp phải tai ương. Nhưng khi gặp tai ương thì hoặc là lui lại hoặc là vượt qua để rèn luyện tinh thần. Bác đã coi tai ương là dịp, là cái để tự phấn đấu, trưởng thành. Tai ương là dịp để rèn luyện tinh thần, phải nói là dịp tốt để rèn luyện tinh thần.

2. Ở bài Nghe tiếng giã gạo: 

Cách biểu đạt của Bác có khác. Đối lập hai khâu trong một quá trình:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”

So sánh cuộc đời con người (nhân sinh tại thế) với việc giã gạo, rõ ràng quá, dễ hiểu quá! Có rèn luyện trong gian khổ, có trải qua đau đớn, thậm chí phải trải qua thất bại mới có thành công. Gạo có bị giã mới “Trắng tựa bông”. Con người có rèn luyện trong gian khổ mới thành công một cách tốt đẹp.

Như vậy, sự đối lập hai khâu trong một quá trình như đã nói ở trên là sự đối lập hòa hợp, đi đến thống nhất biện chứng trong một sự vật.

Cùng với tinh thần càng chịu nhiều đau thương, mất mát, tai ương thì càng rèn luyện mình vững vàng, bản lĩnh hơn như ở bài “Tự khuyên mình”. Ở đây, Bác khẳng định yếu tố nỗ lực chủ quan để vượt qua hoàn cảnh khó khăn là môi trường rèn luyện tốt. Ông cha ta nói “lửa thử vàng gian nan thử sức”, quả không sai!

“Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công”

Khó khăn rèn luyện để mình thành công quả là một ý thật sâu sắc, một bài học vô cùng quý giá, bổ ích.

3. Ở bài Nửa đêm: 

Bác trình bày quan điểm của mình một cách trực tiếp, đó là một sự đúc kết, chiêm nghiệm.

Ở đây, chúng ta lại bắt gặp sự đối lập, hòa hợp, giữa thức và ngủ, giữa thiện và ác.

Khi người ta ngủ đều có chung một hoạt động (nhịp đập của trái tim) do đó khó phân biệt được người hiền và kẻ ác, tất cả đều như nhau. Nhưng lúc tỉnh dậy (đúng hơn là sau khi tỉnh dậy), kẻ ác và người lành mới phân biệt được bởi việc làm của họ khác nhau:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền.
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên.”

Như vậy, qua bài thơ, ta thấy Bác khẳng định phẩm chất của con người, đạo đức của con người, nhân cách của con người phần nhiều do giáo dục mà nên. Điều đó chính là Bác muốn nhấn mạnh ý nghĩa của hoàn cảnh giáo dục đối với việc hình thành tính cách con người. Bác triết luận rằng trong giáo dục phải chú ý đặc biệt đến hoàn cảnh sống tốt hơn để phát triển cái thiện, đẩy lùi cái ác. Hoàn cảnh, môi trường, giáo dục có văn hóa, đầy sự yêu thương chắc chắn sẽ đẩy lùi cái ác, hướng tới cái thiện.

Tiêu diệt cái ác có thể bằng nhiều cách (có thể bằng pháp luật) là cần thiết nhưng chúng ta cần xây dựng, khuyến khích và phát triển cái thiện ở con người vì nó cũng góp phần đẩy lùi cái ác. Đó là bài học giáo dục quý báu rút ra từ bài thơ “Nửa đêm” này của Bác. Bác khẳng định dứt khoát rằng tính cách con người phần nhiều do giáo dục mà có. Khẳng định đó có tính triết lý và cũng rất thực tế. Bài thơ có sức mạnh thuyết phục do nó giản dị, dễ hiểu và có thể làm theo được.

Qua ba bài thơ trên, như vừa phân tích, mọi người có thể rút ra những kết luận bổ ích về vấn đề giáo dục, về sự nghiệp giáo dục. Ba bài thơ trên thể hiện rõ quan điểm giáo dục, tư tưởng giáo dục của Bác. Đó là tư tưởng tự rèn luyện, tự giáo dục tùy theo hoàn cảnh sống của con người. Đúng là nội dung tư tưởng của ba bài thơ trên và “Nhật ký trong tù” nói chung vượt ra ngoài hình thức thơ Đường luật chật hẹp mà nó chứa đựng. Ba bài thơ trên của Bác có một ý nghĩa giáo dục sâu xa cho mọi thời đại, mọi xã hội đối với việc hình thành và phát triển, hoàn thiện nhân cách con người.

Nguyễn Đình Triều
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn

tdmu.edu.vn

“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”

Đó là lời Bác Hồ trong bài nói ngày 29- 12 tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966. Lời của Bác không chỉ có ý nghĩa trong công tác lưu thông phân phối mà nhìn rộng ra, có giá trị về mặt văn hóa, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng (GDP) và phát triển bền vững, một khía cạnh của văn hóa chính trị.

179634080573893750000.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ảnh: Tuấn Anh

1. Nhận thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển bền vững

Điều đáng mừng là các văn kiện Đại hội XI của Đảng bàn tới phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên nhận thức có chất lượng khoa học và cách mạng quan điểm này thì phải cần đến các nhà khoa học có tâm huyết, có trách nhiệm với sự sống còn của đất nước, của chế độ bởi vấn đề không phải chỉ là phát triển hay văn hóa, mà là chính trị. Đó là một góc nhìn về văn hóa chính trị.

Điều này không mới. Khổng Tử vĩ đại đã đề cập tới mà có nhà nghiên cứu cho rằng đó là tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phương Đông. Từ tháng 5-1921, trên Tạp chí Cộng sản, Hồ Chí Minh đã trân trọng dẫn lại lời Khổng Tử. Xin được dẫn nguyên văn: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước C.N) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản. Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều. Bình đẳng sẽ xóa bỏ nghèo nàn, v.v…

Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử, tiếp tục tư tưởng của thầy và vạch ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sự sản xuất và tiêu thụ. Sự bảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghỉ ngơi của người già, không có điều gì đề án của ông không đề cập đến. Việc thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người, đấy là đường lối kinh tế của vị hiền triết.

Trả lời một câu hỏi của vua, ông đã nói thẳng thắn: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”(1).

Tư tưởng Khổng, Mạnh như đã nói, có nghiên cứu cho rằng đó là tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phương Đông, đã được Hồ Chí Minh khai thác, chọn lọc tiếp thu như Các Mác đã tiếp thu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp thế kỷ XIX của Xanh Ximông, Ôoen, Phuriê.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp là tiền đề khoa học và lý luận (cùng với tiền đề kinh tế và tiền đề chính trị-xã hội) để hình thành chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhưng một thời gian dài, do không trở lại một cách nghiêm túc những tiền đề đó, nên có lúc chúng ta ngộ nhận, chủ quan, không phác họa được đầy đủ bức tranh phát triển bền vững ở Việt Nam; chúng ta không lường hết được hậu quả khôn lường khi tư duy chỉ nghĩ về tăng trưởng kinh tế.

Tư duy của Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy tư duy nhân loại suốt nửa sau thế kỷ XX, coi GDP là cứu cánh, thước đo sự phát triển. Hai nước trên thế giới là ấn Độ và Trung Quốc luôn luôn tự hào là có mức tăng trưởng cao (ấn Độ 8%/năm; Trung Quốc 10%/năm). Trước Đại hội XI, Việt Nam có những năm cũng tự hào có mức tăng trưởng cao sau Trung Quốc, đứng thứ hai thế giới. Gần đây, tháng 3-2011, Quốc vụ viện Trung Quốc đã quyết định chấm dứt chính sách chủ yếu dựa vào cơ sở GDP. Tờ Tạp chí Chính thức của Bắc Kinh đã đăng bài Giã từ sự tôn thờ GDP, coi như bỏ đường lối phát triển lấy tăng lợi tức làm cơ sở. Kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 hạ chỉ tiêu xuống còn 7% để tập trung vào phát triển bền vững. Báo ấn Độ The Hindu thì phê phán những người ấn Độ đặt vấn đề bao giờ thì đất nước mình đuổi kịp Trung Quốc (từ 8% lên 10% GDP/ năm). Bài báo viết: “Đặt vấn đề như vậy là ngu ngốc. Không những vì đánh giá tăng trưởng bao giờ cũng sử dụng những yếu tố độc đoán (chủ quan) mà còn vì mức sống của nhân dân chỉ được ảnh hưởng phần nào và gián tiếp của tổng thể tăng trưởng kinh tế”(2).

Như vậy, thế giới đã dần tỉnh giấc và chợt nhận ra sự chệch hướng khi lấy GDP làm thước đo hạnh phúc con người và sự phát triển của quốc gia. Chất lượng khoa học của nhận thức tạo ra giá trị ở chỗ càng ngày người ta càng thấm thía rằng toàn dân không được lợi từ cái bánh GDP. Nhiều nước lạm phát tăng nhanh, tỷ lệ thuận với tăng GDP, giá cả các loại tăng vọt, giá thuê nhà ở tăng… Nhiều nước như Mỹ, Trung Quốc, sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng(3). Như vậy, tăng trưởng mạnh, tổng sản phẩm quốc gia (GDP) cao, nhưng người dân đâu có giàu, chưa nói gì đến sướng và hạnh phúc.

2. Một khía cạnh văn hóa chính trị trong di sản Hồ Chí Minh

Nhận thức như vừa nêu của thế giới chẳng có gì mới so với những gì có trong di sản Hồ Chí Minh. Như đã trình bày, từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã nhắc lại lời người thầy là Khổng Tử về hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Hồ Chí Minh quan tâm tới hạnh phúc của nhân dân, bàn tới phát triển và phát triển bền vững, một khía cạnh của văn hóa chính trị từ rất sớm. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Người từng bước biến tư tưởng của thầy từ không tưởng đến khoa học. Hồ Chí Minh đi từ học thuyết giải phóng đến học thuyết phát triển, từ nước có độc lập đến dân phải được hạnh phúc, tự do. Người nói rằng “chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1- Làm cho dân có ăn. 2- Làm cho dân có mặc. 3- Làm cho dân có chỗ ở. 4- Làm cho dân có học hành”. Muốn có tự do, hạnh phúc phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Người, mục đích trước sau chỉ có một là chủ nghĩa xã hội, nhưng con đường để đạt mục đích đó thì có nhiều và phải biết vận dụng và phát triển sáng tạo: “Từ cộng sản nguyên thủy, đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản)- nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy. Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau”(4). Người viết: “Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(5). Đối với Việt Nam đó là con đường qua chế độ dân chủ mới, tức là sự phát triển của Việt Nam trải qua ba giai đoạn: giải phóng dân tộc – dân chủ nhân dân – chủ nghĩa xã hội.

Người luôn hướng tới mục đích “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người dặn: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ. Người nào cũng biết yêu nước và đoàn kết”(6). Cách làm là “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”. Người chăm lo xây dựng một xã hội học tập suốt đời, bởi vì “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; dốt thì dại, dại thì hèn”. “Trồng người” là chiến lược số một và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh theo tinh thần “vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Một trong những thông điệp đầu tiên của Hồ Chí Minh trong những ngày đầu của nước Việt Nam mới là chống nạn thất học. Người đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp giáo dục cho tất cả mọi người. Quan điểm của Người là “muốn giữ vững nền độc lập, làm cho dân giàu nước mạnh thì mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ dạy cho người chưa biết chữ. Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo…”. Ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO nhấn mạnh rằng “Hồ Chí Minh đã đưa ra thông điệp này cách đây 60 năm, nhưng đến nay nó vẫn còn giữ nguyên vẹn giá trị. Đặc biệt, sự chú trọng của Người đối với tình trạng bất bình đẳng về điều kiện sống và về thế giới cho đến nay vẫn mang tính toàn cầu và đúng với mọi lứa tuổi”(7).

Theo bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, “văn hóa đang trở thành một nhân tố chủ chốt của phát triển bền vững”, và chính Hồ Chí Minh, theo ghi nhận của Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pari năm 1987, đã có những đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật. Phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” tổ chức trong hai ngày 12 và 13-5-2010 tại Hà Nội, bà Katherine nhấn mạnh nhiều mặt về cống hiến của Hồ Chí Minh trong các hoạt động văn hóa như là hướng tới sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Bà đánh giá cao đơn vị thống kê theo Sắc lệnh thành lập Bộ Kinh tế quốc gia từ năm 1946 của Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thống kê các số liệu về dân số, tình hình tài chính, kinh tế, chính trị, các số liệu về văn hóa, vì điều này phù hợp với sự quan tâm của Viện Thống kê UNESCO trong những năm qua để xây dựng một khung hành động dựa vào thực tế cho thống kê văn hóa, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển bền vững.

Đối với UNESCO, bình đẳng giới là một quyền cơ bản của con người, một giá trị chung, và cũng là một điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển quốc tế, trong đó có tất cả các mục tiêu phát triển của Thiên niên kỷ. Suy cho cùng, việc nâng cao quyền lực của phụ nữ và bình đẳng giới là những vấn đề chính trị cần có sự hưởng ứng và cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới và những người làm chính sách. Theo bà Katherine, điều này được Hồ Chí Minh quan tâm trong suốt đời mình đến tận khi viết Di chúc.

Bà Ketherine nhấn mạnh sự quan tâm của Hồ Chí Minh đối với việc trồng cây và bảo vệ môi trường. Theo bà, “việc làm đó đã vượt qua biên giới tới mức, trong các chuyến thăm nước ngoài hoặc mỗi khi tiếp đón khách ngoại quốc, Người hay tổ chức lễ trồng cây và gọi những cây này là “cây hữu nghị”, biểu tượng cho quan hệ giữa Việt Nam và thế giới, cũng thể hiện thái độ tích cực với môi trường. Ngay cả trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh khuyến nghị những người viếng thăm trồng cây tưởng niệm”.

Bà Katherine so sánh quan điểm của Hồ Chí Minh từ năm 1945 về “xóa bỏ nạn mù chữ có nghĩa là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng” với nỗ lực của UNESCO từ năm 1946 nhằm “xóa bỏ nạn mù chữ trên toàn cầu với những chương trình như Giáo dục cho mọi người. Đây là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới và đảm bảo phát triển bền vững, hòa bình và dân chủ. Hơn thế, thật thú vị khi đọc trong Công báo Quốc gia Việt Nam 1945 thấy rằng Bộ Giáo dục được thành lập ngay sau khi Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh có mối tương liên với bốn trụ cột của việc học đã được ủy ban về Giáo dục cho Thế kỷ XXI xác định trong báo cáo của họ trình lên UNESCO trong thập kỷ 1990 như là những nguyên tắc cơ bản định hình lại giáo dục, đó là: Học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống”(8).

Người quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo Người “Chính phủ là công bộc của dân” và mọi hoạt động của Chính phủ phải “sao cho được lòng dân”. Nói đến Nhà nước là nói đến quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người. Cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh mang giá trị văn hóa chính trị là thực hành dân chủ với nhân dân, đấu tranh cho quyền con người và quyền các dân tộc. Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 nhắc đến “quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ “đã nói trước được điều mà 15 năm sau, vào năm 1960, Liên hợp quốc đã đưa vào trong Tuyên bố trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”(9).

Đất nước ta do Đảng lãnh đạo. Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước. Hồ Chí Minh quan tâm tới văn hóa cầm quyền của Đảng, trong đó quan trọng nhất là đề ra được đường lối đúng đắn, khoa học, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, từ nguyện vọng lòng dân, gắn liền với xu thế thời đại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là một Đảng biết trọng dân, tin dân, hiểu dân, học dân, gần dân; chăm lo dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ, dân vận; trọng dụng nhân tài. Đảng không giấu giếm khuyết điểm, dám tự phê bình và phê bình, dám nhận trách nhiệm trước dân. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không có ngoại lệ. Tóm lại, đó là một Đảng chân chính cách mạng, đạo đức và văn minh, không phải là một tổ chức làm quan phát tài, ngoài lợi ích của dân tộc và Tổ quốc, Đảng không có lợi ích gì khác. Đảng không lãnh đạo được một đất nước đảm bảo sự công bằng, dân chủ, văn minh, thì dù có những thành tích trước mắt, GDP có thể cao, nhưng vẫn khó giữ được lòng tin của nhân dân, mà mất lòng tin của nhân dân là mất tất cả. Hồ Chí Minh viết: “Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(10).

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại tài liệu Tuyệt đối bí mật, một văn kiện lịch sử vô giá – Cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh. Người kỳ vọng về một đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”: “Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Người dặn dò Đảng phải không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Di sản Hồ Chí Minh là bức tranh về một xã hội tương lai. Đó là triết lý phát triển bền vững Việt Nam theo tiêu chí của Liên hợp quốc trong Chương trình nghị sự XXI: (1) Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực; (2) Đạt phổ cập giáo dục tiểu học; (3) Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; (4) Giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em; (5) Tăng cường sức khỏe bà mẹ; (6) Phòng chống sốt rét và các bệnh khác; (7) Bảo đảm bền vững môi trường; (8) Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển(11).

Ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định trong buổi mít tinh ở Đại sứ quán Việt Nam tại Paris, tối 14-5-2010: “Hồ Chí Minh trở thành một người thầy về cuộc sống tiếp thu trong một thế giới có xu hướng toàn cầu hóa hiện nay… Chúng ta phải công nhận rằng thông điệp của Hồ Chí Minh mang giá trị toàn cầu, và nó luôn có giá trị thời đại, bởi vì nó hướng tới tương lai… Bản tính của Người là luôn lo lắng phấn đấu cho một tương lai được xây dựng trên nền tảng của sự công bằng, bình đẳng, biết truyền thụ và chia sẻ sự đa dạng văn hóa và để các nền văn hóa xích lại gần nhau. Chính vì tầm vóc vĩ đại của con người Hồ Chí Minh mà chúng ta đã vinh danh Người ở UNESCO và trên thế giới”(12).

PGS.TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

………………………..

(1) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, t.1, tr.35.
(2) Xem Hữu Ngọc: Dân giàu và GDP, Báo Sức khỏe và đời sống, ngày 24-4-2011.
(3) ở Mỹ, 1% dân số người giàu chiếm 1/4 lợi tức quốc gia
(4) Hồ Chí Minh, Sđd, t.7, tr.247
(5) Hồ Chí Minh, Sđd, t.8, tr.227.
(6) Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.65.
(7) Hans D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, http://www.tuanvietnam.net, ngày 20-5-2010.
(8) Xem Katherine Muller Marin: Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO, Đặc san Thông tin tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, số 27, tháng 6-2010, tr.14-17.
(9) Hans D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, tài liệu đã dẫn.
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t.5, tr.293.
(11) Chương trình này còn gọi là Tuyên bố Thiên niên kỷ, được 189 vị đứng đầu Nhà nước và Chính phủ các quốc gia thành viên Liên hợp quốc cam kết thực hiện, tháng 9-2000.
(12) Han D’Orville: Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, http://www.tuanvietnam.net, ngày 20-5-2010.

hochiminhhoc.com

Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân

Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh không ngừng chăm lo xây dựng, rèn luyện Đảng ta thật sự vững mạnh để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng. Trong hệ thống các quan điểm về xây dựng Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân có tính chất nền tảng.

Bác Hồ đã khẳng định: Nhân dân ta có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh cho độc lập dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh. Trong thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhân dân luôn là lực lượng che chở cho Đảng, cán bộ của Đảng. Chính vì thế, Đảng muốn tồn tại thì phải ở trong lòng dân, dựa vào nhân dân để đánh đổ ách ngoại xâm. Trong thời kỳ Đảng cầm quyền, quan hệ giữa Đảng với nhân dân càng phải được chú trọng. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương gần dân, hiểu dân và vì dân. Không chỉ khẳng định vai trò to lớn của nhân dân, Người còn tôn vinh nhân dân: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Người chỉ rõ: Nhân dân là người xây dựng, là người đổi mới, làm nên sự nghiệp lớn, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nhân dân. Ham muốn tột bậc của Người là làm cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người cho rằng: Nếu nước đã được độc lập mà dân không có tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Vì vậy, trong Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám 1945 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học vô cùng quý báu. Một trong những bài học đó là: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng thành công, Đảng phải dựa vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân. Bài học đó có ý nghĩa sâu sắc không chỉ đối với Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược bảo vệ nền độc lập và thống nhất Tổ quốc, mà còn đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay. Bài học đó nhắc nhở chúng ta: Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong.

Trong sự nghiệp đổi mới mấy chục năm qua, cùng với việc đề ra đường lối và các chính sách đúng đắn, Đảng luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, gắn liền với sức mạnh thời đại, tạo ra nguồn lực to lớn, từng bước đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã ghi: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính người dân là người làm nên thắng lợị lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước.

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, giữ gìn mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng, là nhân tố quyết định sức mạnh của Đảng. Đây cũng là một trong những vấn đề cốt lõi của công tác xây dựng đảng. Trong xu thế hội nhập, mở cửa, để vượt qua những thử thách, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn luôn nhận thức sâu sắc, luôn có ý thức gắn bó với nhân dân, tránh bệnh quan liêu, xa rời nhân dân, phả sâu sát cơ sở, lắng nghe tiếng nói, nguyện vọng của quần chúng. Không có sự tham gia giám sát của nhân dân thì cán bộ, đảng viên dễ trở thành “ông quan”, ”bà quan” và khó trở thành ”người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Không có sự giám sát chặt chẽ của nhân dân thì tổ chức đảng khó tránh khỏi quan liêu, lạm quyền. Vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng (Hải Phòng) xảy ra trong tháng 1-2012 là bài học cụ thể về mối quan hệ Đảng với dân. Khi cán bộ của Đảng hành động không vì lợi ích của dân, lạm quyền sẽ dẫn đến nhiều sai phạm, làm mất uy tín của Đảng với dân, tổn hại niềm tin của dân với Đảng.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có những thuận lợi mới, thời cơ mới, thực lực và sức mạnh mới nhưng cũng không thiếu nhiều thách thức mới. Nhận thức được vấn đề này Đảng ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân nhằm tạo nên sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa, đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nguyễn Duy Độ
Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Quảng Nam

xaydungdang.org.vn

Hiểu kỹ Hồ Chí Minh hãy nói đến tư tưởng của Người

(TuanVietnam)- “Hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những suy tư và khát vọng rộng lớn của con người như Hồ Chí Minh”- GS Tương Lai.

Đối với một con người, 40 năm đã là một nửa đường đời, nhưng  với một dân tộc thì bốn thập kỷ chỉ là khoảnh khắc. Nhân kỷ niệm lần thứ 40 thực hiện Di Chúc của Bác Hồ, GS Tương Lai mạnh dạn gợi lên đôi điều suy nghĩ: làm thế nào nghiên cứu để hiểu thật sâu sắc, để thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuần Việt Nam xin giới thiệu loạt bài 4 kỳ của ông.

Cách đây cả ngàn năm, thiền sư Vạn Hạnh đã ví chuyện thịnh suy nối tiếp nhau chỉ như thời gian hạt sương treo trên đầu ngọn cỏ [thịnh suy như lộ thảo đầu phố!

Tuy vậy, khoảnh khắc lịch sử của bốn thập kỷ qua với dân tộc ta quả là thời đoạn của những biến động dữ dội trong đời sống đất nước ở vào thời đại của những đổi thay mà những bộ óc cho dù là thiên tài cũng không sao lường trước được.

Người ta nhận ra rằng, dường như con đường cũ dừng ở đây. Thế giới đã thay đổi, và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp vớí một thế giới phi tuyến tính… những ai chần chừ, tin rằng tương lai sẽ là sự tiếp tục đơn giản của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi.

Và rồi thời gian đúng là viên quan tòa công minh phán xét những thành bại của một sự nghiệp, những hay dở của một đời người, những đúng sai của một tư tưởng. Độ lùi của bốn thập kỷ chắc cũng đủ để cảm nhận được việc nghiên cứu để hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh quả là một việc có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.

Nó giúp soi tỏ thực trạng của đời sống đất nước dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu một cách trung thực đối với những gì mà Hồ Chí Minh trọn đời ấp ủ, để khi ra đi còn thiết tha dặn lại về “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không đơn thuần chỉ là sự vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng lý luận của “học thuyết C.Mác” vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu những phần tinh tuý nhất của học thuyết khoa học và cách mạng đó. Là một nhà cách mạng chuyên nghiệp đã bôn ba khăp năm châu bốn biển, Hồ Chí Minh đã hấp thu vào mình trí tuệ, văn hoá của cả loài người, vì thế, Bác Hồ được thế giới nói đến như là một danh nhân văn hoá.

Có được điều đó, trước hết là do Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc về dân tộc mình, thấm nhuần lịch sử và văn hoá của dân tộc. Nhờ nắm vững cái cốt lõi phương pháp biện chứng của học thuyết C.Mác gắn với tư duy thực tiễn của người cách mạng Việt Nam gắn bó máu thịt với dân tộc mình, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp hài hoà đó.

Con người mà cuộc đời và sự nghiệp gắn liền những sự kiện lịch sử Việt Nam với những biến động lớn của thế giới trong một thời đoạn lịch sử đặc biệt với những đột phá thật bất ngờ.

Ảnh tư liệu

1. Nguyễn Ái Quốc, đến với học thuyết của C.Mác và Ph. Angghen, đến với tư tưởng của V.I Lênin, từ thân phận của một người mất nước, một người dân thuộc địa, một người được hấp thu nền học vấn và triết lý phương Đông, rồi được bổ sung văn hóa và triết lý phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp.

Con người ấy, so với C.Mác, Ph Angghen và V. I Lênin, thì trải nhiều oan nghiệt, cay đắng về thân phận cá nhân hơn nhiều. Từ thân phận của một người mất nước, Nguyễn Ái Quốc trở thành một người yêu nước như chính cái tên Ái Quốc mà người thanh niên phải rời đất nước để tìm đường cứu nước.

Từ thân phận ấy, Hồ Chí Minh dễ có sự thông cảm sâu sắc hơn và mãnh liệt hơn với người dân thuộc địa nói riêng và những người lao động nghèo khổ, những dân tộc đang bị nô lệ, bị giày xéo phải gánh chịu áp bức, bất công trên thế giới nói chung. Sự cảm thông ấy không chỉ dừng lại ở thân phận cá nhân để nhìn ngắm và suy đoán về thế giới, mà đã vượt khỏi chính mình để có được cái tầm cao của người chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Chính với cái tầm ấy mà người cứu nước Hồ Chí Minh trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế. Hồ Chí Minh phải trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế thì mới thực hiện được sự nghiệp cứu nước. Từ bước khởi đầu sự nghiệp cho đến khi từ biệt thế giới này, mục tiêu nhất quán của con người yêu nước Hồ Chí Minh là cứu nước, là giải phóng dân tộc.

2. Là con người sống ở gần ba phần tư đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh có điều kiện để thấy và hiểu được sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa với phong trào giải phóng dân tộc làm thay đổi cục diện thế giới từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, tạo ra một phản ứng dây chuyền, đánh sụp chủ nghĩa thực dân cũ, xuất hiện chủ nghĩa thực dân mới.

Ba phần tư thế kỷ này chất chứa bao nhiêu sự biến, tác động mạnh đến số phận của nhiều dân tộc trên hành tinh này.

Tuy nhiên, cũng như C.Mác, Ph Angghen và V.I Lênin, Hồ Chí Minh không thấy được những biến động dữ dội về đời sống chính trị làm thay đổi diện mạo của thế giới mà sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng với những bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ của một phần tư cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI, những sự biến nổi bật nhất. Đặc biệt khoa học và công nghệ, một phần tư thế kỷ này có những bước tiến lớn hơn rất nhiều những thế kỷ trước gộp lại.

Ảnh tư liệu

Chứng kiến những biến động ấy khiến cho tầm mắt không ít người đươc mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màn bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn”.

Do được sống giữa trung tâm của những cơn bão táp cách mạng và cũng là trung tâm của văn hóa, văn minh loài người, đôi mắt của Nguyễn Ái Quốc được mở rộng, tầm nhìn của “người yêu nước” ấy vượt xa hơn, cao hơn những đồng chí và đồng bào của mình, vì vậy Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Hồ Chí Minh.

3. Hồ Chí Minh đã từng là người đứng ở vị trí quyền lực cao nhất của Đảng và Nhà nước của một nước Việt Nam đã giành được độc lập, tự do trong 24 năm, từ tháng 8.1945 đến tháng 9.1969, sau cũng ngần ấy năm đã từng là lãnh tụ của Đảng, của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trước 1945.

So với V.I Lênin chỉ có 7 năm lãnh đạo Nhà nước Xô Viết (1917-1924), Hồ Chí Minh có hơn gấp ba thời gian ở cương vị Chủ tịch nước.

Với 24 năm là lãnh tụ của một Đảng cầm quyền, là Chủ tịch Nước, đứng ở đỉnh cao quyền lực, song Hồ Chí Minh trước sau vẫn thủy chung như nhất là người lãnh tụ của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, chiếm trọn trái tim của nhân dân, xứng đáng với lời ghi nhận của nhân dân và của Đảng:“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

C.Mác, Ph. Angghen và V.I Lênin, học vấn của Hồ Chí Minh không bằng, bù vào đấy là sự thâm nhập vào cuộc sống, lăn lộn nhiều hơn, đi nhiều hơn, thấy nhiều hơn, đến được nhiều chân trời hơn, sống với nỗi khổ đau của con người nhiều hơn. Những con người ở nhiều đất nước, nhiều châu lục, nhiều màu da, nhiều tiếng nói, nhất là tiếng nói của những người cùng khổ.

Quả là hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những quằn quại suy tư, những khát vọng rộng lớn của con người đến như vậy. Hồ Chí Minh, vì thế, là người chiến sĩ cách mạng có những rung động thơ, những rung động của một nhà thơ. Nhà thơ trong nhà cách mạng Hồ Chí Minh.

Ảnh tư liệu

Để có được một số bài thơ hay mà không phải nhà cách mạng nào cũng có được: “Trong tâm hồn Hồ Chí Minh luôn luôn phảng phất có thơ” (Phạm Văn Đồng). Đấy là một nét độc đáo trong nhân cách Hồ Chí Minh. Điều này khiến cho Hồ Chí Minh biết cảm nhận và rung động mãnh liệt, sâu lắng với con người trong sự sống đa dạng và phức tạp của nó.

Câu thơ hay nhất cũng là câu thơ nói đến khát vọng tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. Mà nói đến tự do của con người, con người thơ Hồ Chí Minh đặt vấn đề ở tầm triết lý sâu thẳm về thân phận con người trong cuộc đấu tranh vì tự do: “Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật, Cùm chân sau trước cũng tranh nhau; Được cùm chân mới yên bề ngủ, Không được cùm chân biết ngủ đâu?”.

5. Bắt đầu sự nghiệp của mình với việc đi tìm con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đến với “những người cùng khổ” để hiểu rõ thêm, sâu thêm về con người, về quyền của con người. Từ người mất nước, sục sôi trong huyết quản dòng máu của người yêu nước, thành người cách mạng, người chiến sĩ quốc tế, Nguyễn Ái Quốc trở thành Hồ Chí Minh, lãnh tụ của dân tộc trong thế kỷ XX, để rồi khi ra đi thì lời dặn lại thiết tha nhất cũng là đối với con người: “Đầu tiên là công việc đối với con người”!

Có thể nói, sức lay động mãnh liệt nhất trong tình cảm Hồ Chí Minh, chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người, là “công việc đối với con người”.Công việc ấy bao trùm lên toàn bộ sự nghiệp của Hồ Chí Minh và cũng là công việc quan trọng nhất của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, Đảng của Hồ Chí Minh. Sự nghiệp ấy là một “cuộc chiến đấu khổng lồ… chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi”.

Hồ Chí Minh có một ham muốn, và “ham muốn đến tột bậc” ấy cũng dành cho con người, cho hạnh phúc của con người. Một khi điều đó chưa được thực hiện trọn vẹn, trái tim của Hồ Chí Minh vẫn chưa yên: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nổi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Câu này nói với phóng viên báo Granma ngày 14.7 1969, năm mươi ngày trước khi Bác ra đi.

Liệu đến bao giờ “Sẽ đến thời khắp bốn phương tử tế. Cuối con đường có lẽ gặp con người” (Việt Phương)?

  • Tương Lai

Kỳ 2: Tầm vóc Hồ Chí Minh

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Các tác phẩm viết về Bác Hồ

Ba lần gặp Bác trong một chiến dịch.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ với anh hùng dũng sĩ miền Trung: Tập truyện kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ với chiến sĩ: 2 tập.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Bác Hồ: Con người và phong cách.- 4th ed.- H.; Lao Động, 2001.

Bác là Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

BÙI ĐÌNH PHONG. Hồ Chí Minh tầm nhìn thời đại.- H.: Chính trị Quốc gia, 2000.

BÙI ĐÌNH PHONG. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. H.: Lao Động, 2001.

BÙI THIẾT. Địa danh về Hồ Chí Minh/ Bùi Thiết, Lê Kim Dung, Nguyễn Chí Thắng.- H.: Thanh Niên, 1999.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp năm 1946.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Di chúc và thực hiện di chúc của Người.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Chúng ta có Bác HỒ.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

Có Bác trong tim: Hồi ức.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

Danh ngôn Hồ Chí Minh.- H.: Văn hóa Thông tin, 2000.

ĐÂNG HÒA. Bác Hồ những năm tháng ở nước ngoài.- 2nd ed.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

ĐINH XUÂN LÂM. Hồ Chí Minh văn hóa và đổi mới.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐINH XUÂN LÂM. Về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh/ Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình Phong.- 2 nd ed.-H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ NHƯ CHUNG. Bác đặt tên anh Hồ Chí Long.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

ĐỖ QANG HƯNG. Bác Hồ với giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ QUANG HƯNG. Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

ĐỖ VÂN PHÚ. Chúng tôi đều là con cháu Bác Hồ.- H.: Lao Động, 2000.

HÀ MINH ĐỨC. Văn thơ Hồ Chí Minh.- H.: Khoa học Xã hội, 2000.

Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại.- 3 rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước: tuyển chọn và chuyên luận.- H.: Chính trị Quốc gia, 2000.

HỒ CHÍ MINH. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Những tác phẩm tiêu biểu (từ 1919 đến 1945).- TP. Hồ Chí Minh: Giáo Dục, 2000.

HỒ CHÍ MINH. Thơ chúc Tết.- H.: Trung tâm UNESCO Bảo tồn & phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam, 2001.

HỒ CHÍ MINH. Thơ: Toàn tập.- TP. Hồ Chí Minh: Văn Nghệ, 2000.

HỒNG HÀ. Thời thanh niên của Bác Hồ.- 7th ed.- H.: Thanh Niên, 1999.

HỒNG KHANH. Chuyện với người cháu gần nhất của Bác Hồ.- 3rd ed.- H.: Thanh Niên, 2001.

HOÀNG NHƯ MAI. Tìm hiểu bản sắc trong thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh/ Hoàng Như Mai, Nguyễn Văn Hấn.- H.: Giáo Dục, 1998.

HOÀNG ĐIỀN. Những ngày sống gần Bác.- 3rd ed.- H.: Lao Động, 2001.

LÊ CUNG. Hồ Chí Minh với Châu Phi.- Huế: Thuận Hóa, 2001.

LÊ KIM. Bác Hồ tiếp xúc với tình báo phương tây.- H.: Công an Nhân dân, 2000.

NGỌC CHÂU. Theo Bác đi chiến dịch.- 2nd ed.- Quân đội Nhân dân, 2001.

NGỌC TƯï. Núi Các Mác, Suối Lê-nin.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

NGUYỄN BÍCH HẠNH. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và Mặt trận đoàn kết dân tộc/ Nguyễn Bích Hạnh, Nguyễn Văn Khoan.- 1st ed.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN CHÍ THẰNG. Hồ Chí Minh tên người tỏa sáng/ Nguyễn Chí Thắng, Nguyễn Ngọc Đào, Lê Kim Dung.- H.: Thanh Niên, 2000.

NGUYỄN ĐĂNG MẠNH. Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chuyên luận.- H.: ĐH Quốc Gia, 1998.

NGUYỄN NGUYÊN TRỨ. Cách viết của Bác Hồ.- TP. Hồ Chí Minh: Giáo Dục, 2000.

NGUYỄN QUỐC BẢO. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng.- 2nd ed.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN VÂN KHOAN. Bao dung Hồ Chí Minh.- 3rd ed.- H.; Lao Động, 2001.

NGUYỄN VÂN KHOAN. Nhớ lời Bác dạy/ Nguyễn Văn Khoan, Mạc Văn Trọng.- H.: Lao Động, 2001.

NGUYỄN XUÂN LẠC. Thơ dâng Bác.- H.: ĐH Quốc Gia, 2000.

NGUYỄN XUÂN LẠN. Thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong nghiên cứu phê bình: Tình hình tư liệu, hướng tiếp cận, những vấn đề.- 2 nd ed.- H.: ĐH Quốc Gia, 1999.

NGUYỄN XUÂN THÔNG. Bác Hồ: sự cảm hóa kỳ diệu/ Nguyễn Xuân Thông, Nguyễn Minh Phương, Phạm Thị Lai.- 4th ed.- H.: T hanh Niên, 2001.

NGUYỄN XUÂN THÔNG. Chuyện kể về những cái Tết của Bác Hồ.- H.: Thanh Niên, 2000.

PHAN NGỌC LIÊN. Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế/ Phan Ngọc Liên, Trịnh Vương Hồng.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

PHAN NGỌC LIÊN. Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại.- 1st ed.- H.: Lao Động, 2001.

TẠ HỮU YÊN. Sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh: Những mẫu chuyện về Bác Hồ.- H.: Thanh Niên, 2001.

TRẨN DÂN TIÊN. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.- H.: Văn hóa Dân tộc, 2000.

TRẨN KƯ. Bác Hồ với sách người tốt việc tốt.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN ĐÌNH HUỲNH. Danh nhân Hồ Chí Minh cuộc đời và những sự kiện.- H.: Hà Nội, 2001.

TRẨN ĐƯƠNG. Bảy ngày Bác Hồ thăm Cộng hòa Dân chủ Đức.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN ĐƯƠNG. Những người được Bác Hồ đặt tên.- 2nd ed.- H.:Quân đội Nhân dân, 2001.

TRẨN XUẤN TRƯỜNG. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.- 2nd ed.- H.: Quân đội Nhân dân, 2001.

VŨ KỲ. Người suy nghĩ về tuổi trẻ chúng ta.- 3 rd ed.- H.: Thanh Niên, 2001

quangbinh.gov.vn

Yêu cầu cơ bản đối với người lãnh đạo khi đánh giá, sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo đến công tác bồi dưỡng, đào tạo cho Đảng một đội ngũ cán bộ thực sự vững mạnh, có đủ đức, đủ tài để đưa con thuyền cách mạng đến bến bờ vinh quang. Người cho rằng: “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” và “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu” (1).

Người cũng luôn căn dặn cán bộ các cấp, nhất là lãnh đạo phải tỉnh táo lựa chọn người để bố trí công việc cho đúng. Làm lãnh đạo mà không biết dùng người, hoặc dùng người một cách thiên lệch, thiếu đúng đắn thì không xứng với cương vị được giao. Cho nên, Người yêu cầu khi đánh giá, sử dụng cán bộ phải đúng và khéo, đảm bảo cả khoa học lẫn nghệ thuật.

Muốn sử dụng đúng và khéo, trước hết phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ. Đánh giá cán bộ phải toàn diện, khách quan, công tâm. Muốn hiểu cán bộ, trước hết phải tự biết mình, biết đúng sự phải trái của mình thì mới biết đúng sự phải trái của người khác. Nếu không biết sự phải trái của mình thì chắc không nhận rõ người tốt hay xấu. Hồ Chí Minh cũng phê phán những chứng bệnh mà người lãnh đạo hay mắc phải là: tự cao, tự đại, ưa nịnh, chán, ghét những người chính trực; đem lòng yêu, ghét mà đối với người, dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người không hợp với mình. Kết quả là họ làm sai mà mình vẫn  bao che, bảo hộ, khiến cho họ ngày càng thoái hóa, biến chất. Còn đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết”. Như thế, không chỉ làm hại tới uy tín của Đảng mà còn làm hỏng cả người lãnh đạo. Người lãnh đạo phạm một trong những bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính màu, không bao giờ thấy rõ cái sự thật những cái gì mình thấy.

Do đó, khi lựa chọn cán bộ phải dựa trên những tiêu chuẩn nhất định và phải biết cách dùng cán bộ cho đúng. Theo Hồ Chí Minh, người lãnh đạo phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi. Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa; phải biết giúp đỡ những đồng chí còn kém, giúp họ tiến bộ; phải sáng suốt, tỉnh táo mới khỏi bị “bọn vu vơ bao vây mà xa cách cán bộ tốt”; phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí ấy mới gần gũi mình.

Để cán bộ yên tâm làm việc, theo Người, lãnh đạo phải có gan cất nhắc cán bộ. Cất nhắc cán bộ, phải vì công việc, như thế công việc nhất định “chạy”. Trước khi cất nhắc phải nhận xét rõ ràng, thấy được những mặt tích cực, những điểm hạn chế trong từng người cụ thể để có hướng sử dụng đúng. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục mà gây nên “mối lôi thôi” trong Đảng. Khi cất nhắc cán bộ phải vì tập thể, tránh động cơ cá nhân, áp đặt vô nguyên tắc, thiếu dân chủ, cần vì sự ổn định và phát triển của cơ quan, đơn vị chứ không phải vì ai ngồi vào vị trí này, ai ngồi vào vị trí kia.

Phải biết khiến cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến đóng góp ưu, khuyết điểm của lãnh đạo. Như thế chẳng những không phạm gì đến uy tín của người lãnh đạo mà lại thực hành tốt dân chủ rộng rãi trong Đảng; khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Có nhiều việc hay, việc dở một phần do cán bộ có đủ năng lực hay không, nhưng một phần cũng do cách lãnh đạo có đúng hay không. Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn được tích lũy từ kinh nghiệm thực tiễn công tác. Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ.

Cũng theo Bác, trước khi giao công tác cho cán bộ, phải bàn kỹ với họ. Nếu họ gánh không nổi, chớ miễn cưỡng giao việc đó cho họ. Khi đã giao cho họ thì cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp xếp đầy đủ, vạch rõ những điểm chính và những điểm khó khăn có thể xảy ra. Một khi đã quyết định rồi thì “thả” cho họ làm, khuyên họ cứ cả gan mà làm và phải hoàn toàn tin họ. Cũng như trong quân đội, khi chiến lược chiến thuật và nhiệm vụ đã quyết định rồi, vị Tổng tư lệnh không cần tham gia vào những vấn đề nhỏ nhặt. Phải để cho các cấp chỉ huy có quyền “tùy cơ ứng biến”, có như thế mới phát triển tài năng của họ được. Nếu không tin cán bộ, sợ họ làm không được, rồi thì việc gì cấp trên cũng nhúng tay vào, kết quả thành chứng bao biện mà công việc cũng không xong. Cán bộ sinh ra nản chí, ỷ lại, mất hết sáng kiến.

Đối với cán bộ mắc sai lầm, theo Người, lãnh đạo phải giúp đỡ họ một cách chí tình, làm cho họ tự giác thấy được nguyên nhân của sai lầm và tác hại của nó, để có biện pháp khắc phục, sửa chữa một cách tích cực và hiệu quả. Không phải khi cán bộ có sai lầm mà đã vội cho họ là “động cơ gì”, “mục đích gì”… Những cách nghĩ như thế đều không đúng. Sửa chữa sai lầm một phần là trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm bằng giải thích, thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo là điều nên làm, nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, nhưng không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Vấn đề là phân tích rõ ràng mức độ sai lầm nặng hay nhẹ một cách thấu tình, đạt lý mà dùng hình thức xử phạt cho đúng, khi xem xét các vấn đề phải dựa trên cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng; đây là yếu tố cần trong lãnh đạo, chỉ huy và cũng là tính nhân văn trong quan hệ cấp trên, cấp dưới, giữa cá nhân và tổ chức.

Cách đối xử với cán bộ cũng là một điểm trọng yếu trong tổ chức công việc; đối xử khéo, đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc “vấn đề cán bộ quyết định mọi việc”. Phê bình, xử phạt đúng chẳng những không làm mất thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng, trái lại còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, uy tín thể hiện càng tăng.

Sức mạnh của đội ngũ cán bộ nói chung và của từng cán bộ nói riêng chỉ được phát huy, phát triển khi được đánh giá, sử dụng đúng với tài năng của họ. Nếu đánh giá cán bộ không đúng, hoặc là quá cao, hoặc là quá thấp sẽ dẫn tới sử dụng “không đúng người, đúng việc”, “như vậy là có hại cho dân, cho Đảng”. Theo Bác, đánh giá cán bộ không những để sử dụng mà qua đó còn nâng đỡ họ, tạo điều kiện cho họ phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm; có thái độ khách quan, khoa học, không thổi phồng, tô son, không bôi đen, bóp méo. Phải đứng trên quan điểm, lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin để xem xét, đánh giá, không định kiến, hẹp hòi, “cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất”. Không nên chỉ nhìn vào những hạn chế, khuyết điểm không thuộc về bản chất mà phải thấy được mặt tích cực, khả năng phát triển để có hướng sử dụng cho phù hợp với từng loại cán bộ trên từng lĩnh vực công tác.

Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, để có cơ sở đánh giá đúng về cán bộ phải đặt họ vào trong hoàn cảnh cụ thể, nghiên cứu họ qua hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, do yêu cầu từng cương vị, chức trách và khả năng vận dụng cụ thể của từng người có khác nhau nên kết quả hoạt động thực tiễn không thể như nhau. Do đó, khi đánh giá về cán bộ “không nên chỉ xét mặt ngoài, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ”. Một người cán bộ, khi trước có sai lầm nhưng không phải vì thế mà người ta sai lầm mãi. Vì như vậy, sẽ không thấy được sự vận động, phát triển và tiến bộ của cán bộ, chẳng khác nào “đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau”.

Đánh giá cán bộ là một khâu trong công tác cán bộ, phải tuân thủ nguyên tắc tổ chức. Tuy nhiên, trong thực tế, đánh giá cán bộ không thể không chịu ảnh hưởng và thông qua lăng kính chủ quan. Bởi vậy, để khắc phục những hạn chế chủ quan, đòi hỏi người lãnh đạo khi xem xét, đánh giá cán bộ phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của cơ quan tham mưu để có kết luận về cán bộ một cách chính xác. Phẩm chất và năng lực của cán bộ có thể không phản ánh trung thực trước cấp trên, song không thể che đậy được trước sự nhìn nhận của mọi người trong cơ quan, đơn vị, do đó “phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới. Nếu ý kiến các đồng chí cấp dưới đúng, ta phải theo…”(2)

Để có được kết quả đánh giá chính xác về cán bộ phụ thuộc rất lớn vào vai trò người lãnh đạo. Phẩm chất và năng lực của người cán bộ chỉ được phản ánh một cách trung thực khi người lãnh đạo có tư cách, có quan điểm và phương pháp đánh giá đúng, thực sự có cái tâm trong sáng. Bác rất quan tâm đến nhân cách của người lãnh đạo và yêu cầu trước khi xem xét, đánh giá cán bộ thì người lãnh đạo phải xem xét lại chính mình. “Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”. Bên cạnh những yêu cầu về trình độ lý luận chính trị, đạo đức, lối sống còn đòi hỏi cán bộ lãnh đạo về trình độ năng lực tổ chức thực tiễn, trình độ chuyên môn, am hiểu công tác lãnh đạo, hiểu biết về con người và tâm lý con người, các phương pháp làm việc với mọi người… Từ đó, xây dựng một tập thể hoạt động có mục tiêu rõ ràng và tiềm lực sáng tạo cao, biết phát huy sức mạnh tập thể, sử dụng các cơ quan tham mưu và cán bộ dưới quyền có hiệu quả. Vì vậy, năng lực tổ chức thực tiễn là yêu cầu tối quan trọng đối với người lãnh đạo ở mọi cấp.

Thực tế, trong thời gian vừa qua công tác cán bộ có những lúc, những nơi chưa đáp ứng kịp yêu cầu, nhiệm vụ, còn có những bất cập trong xem xét đánh giá. Tệ kéo bè kéo cánh, ai hợp với mình thì người chưa tốt cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau; ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là chưa tốt, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm những điều không đúng, cục bộ… làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Trong vấn đề dùng cán bộ, Bác cũng đề cập việc kết hợp cán bộ tại chỗ với cán bộ do cấp trên điều về, nhưng tốt nhất là tạo nguồn cán bộ tại chỗ, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ tại chỗ; nếu không có và thiếu, mới điều cán bộ nơi khác về.

Hơn nửa thế kỷ qua nhưng những yêu cầu cơ bản đối với người lãnh đạo khi đánh giá cán bộ mà Người chỉ dẫn vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục định hướng, soi đường để chúng ta quán triệt và thực hiện tốt chiến lược cũng như công tác cán bộ của Đảng trong thời kỳ mới. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đội ngũ cán bộ vẫn là nhân tố cơ bản, quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới. Quán triệt tinh thần Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh “, để đẩy mạnh khâu làm theo trong đánh giá cán bộ hiện nay, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, cấp ủy các cấp, đứng đầu là người lãnh đạo, cần quán triệt, nâng cao nhận thức hơn nữa về vị trí, tầm quan trọng và nguyên tắc đảng trong đánh giá cán bộ, có chính sách sử dụng cán bộ đúng. Đây là công việc được tiến hành thường xuyên, thận trọng đúng với ý nghĩa là khâu khởi đầu trong công tác cán bộ. Đánh giá chính xác những ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ là cơ sở để bồi dưỡng, đào tạo cán bộ gắn liền với sử dụng, cất nhắc cán bộ, đáp ứng sự vận động và phát triển của sự nghiệp cách mạng. Sử dụng cán bộ tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Vì vậy, trong chính sách sử dụng cán bộ phải rất coi trọng đúng lúc, đúng người, đúng việc, không phải vì thân tình, nể nang  mà “đẻ” ra tổ chức để bố trí công việc, làm cho bộ máy thêm cồng kềnh, trì trệ. Tránh tình trạng “thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng”.

Hai là, cấp ủy phải có tầm nhìn chiến lược trong quy hoạch cán bộ. Bởi quy hoạch cán bộ sẽ làm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, vừa giải quyết nhiệm vụ trước mắl, vừa giải quyết nhiệm vụ lâu dài. Để quy hoạch cán bộ được tốt, trước hết, phải đánh giá đúng thực trạng cán bộ, tìm rõ nguyên nhân mạnh, yếu của đội ngũ cán bộ. Trên cơ sở đó và xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức mà dự kiến, đề xuất công tác cán bộ trong thời gian tới, chú ý tạo được nguồn cán bộ. Quy hoạch nên gắn với độ tuổi để trẻ hóa, có kế cận hợp lý, tránh hẫng hụt cán bộ. Khi đã quy hoạch rồi nên quan tâm, chăm lo bồi dưỡng với nội dung cụ thể, thiết thực, phù hợp với từng loại cán bộ.

Ba là, khi đánh giá cán bộ phải toàn diện, khách quan, biện chứng, không định kiến hẹp hòi, không bảo thủ, vị kỷ cá nhân, căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ ở từng cương vị, chức trách làm cơ sở để đánh giá; kết hợp chặt chẽ giữa đánh giá cán bộ với đánh giá đảng viên. Các cấp ủy khi xem xét cán bộ phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: “Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương pháp khoa học, khách quan, công tâm theo quy trình chặt chẽ, phát huy dân chủ, dựa vào tập thể và nhân dân để lựa chọn cán bộ ” (3).

Bốn là, đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ trên cơ sở cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ ở từng cương vị, chức trách. Tiêu chuẩn cán bộ khác với điều kiện cần có ở người cán bộ. Điều kiện là những yếu tố cần thiết như bằng cấp, độ tuổi, giới tính…Những yếu tố đó là điều kiện cần thiết để phát huy tốt vai trò cán bộ, nhưng chưa đủ nói lên chất lượng cán bộ. Điều kiện chỉ cần đề ra tối thiểu, còn tiêu chuẩn thì đòi hỏi phải đề ra tối đa. Vì vậy, không nên đánh đồng, lẫn lộn tiêu chuẩn với điều kiện trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Ngoài tiêu chuẩn chung đối với cán bộ, ở những vị trí cụ thể chúng ta cũng phải xác định rõ những tiêu chuẩn phù hợp, không nên dập khuôn máy móc, đem một khuôn mẫu bất biến, khô cứng của loại cán bộ này để định hình và xem xét với mọi loại cán bộ khác.

Năm là, khi đánh giá, xem xét cán bộ cần bảo đảm tính toàn diện cả về trình độ đào tạo với năng lực thực tiễn. Quá trình xem xét, đánh giá không nên xem nhẹ một yếu tố nào, bởi không khéo sẽ rơi vào “chủ nghĩa kinh nghiệm” hoặc “lý thuyết suông”. Sự chính xác và hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý và đánh giá của cấp ủy, chỉ huy ở từng cơ quan, đơn vị. Chúng ta cũng phảỉ xác định rõ: Nâng cao trình độ học vấn là một nhu cầu thực sự để bảo đảm cho bản thân người cán bộ đủ điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải ai cũng cố gắng có được trình độ học vấn cao để công tác tốt hơn. Thực tiễn cho thấy, đã có không ít trường hơp cán bộ do bổ nhiệm “nhầm” không những không thúc đẩy được cơ quan, đơn vị phát triển mà còn để lại gánh nặng. Căn bệnh quan liêu, độc đoán, hẹp hòi, ích kỷ, mất dân chủ… phần nào cũng có nguyên nhân bắt nguồn từ những cán bộ có năng lực hạn chế đang nắm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền. Nâng cao trình độ học vấn trong xã hội văn minh hiện nay là điều cần thiết nhưng phải kết hợp chặt chẽ giữa trình độ đào tạo với năng lực thực tiễn, đây là một trong những yêu cầu về tiêu chuẩn của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay.

Chu Văn Lộc
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

———————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H 1995, tập 5, tr.273.
(2) Sách đã dẫn, tập 5, tr.281
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, NXBCTQG, H 2001, tr.141.

xaydungdang.org.vn

Thực hành dân chủ là chìa khóa để giải quyết mọi khó khăn

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam.

230.jpgGốc có vững cây mới bền – Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trong dòng chảy của sự tiến hóa tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hóa nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó. Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hóa cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được. Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hóa đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

200809_quochoi0001.jpgHồ Chí Minh rất đề cao vai trò làm chủ của nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Cũng như vậy, không bảo đảm thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không? Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, bảo đảm quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hòa cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hóa nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người”, đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động. Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hóa và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

PGS – TS TÔ HUY RỨA
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng
Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương
Theo Báo Hà Nội mới


(Lược ghi tham luận của đồng chí Tô Huy Rứa tại Hội thảo Khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”).

hochiminhhoc.com

Về hai chữ “Cách Mệnh” trong “Đường Kách Mệnh”

Tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tròn 80 năm tuổi. Ngày 12.9.2007, Bộ VHTT-DL đã tổ chức hội thảo khoa học “Giá trị lý luận và thực tiễn tác phẩm “Đường Cách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin lược trích và biên tập lại bài viết của ông Nguyễn Văn Khoan tham gia hội thảo này.

……………………………………..

Theo nhà báo – học giả Quang Đạm, hai chữ “cách mệnh” từ Trung Quốc “vào” Việt Nam ta có thể là vào những năm xã hội Việt Nam tiếp nhận “Tân thư” của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu – trước, sau vài năm cùng với các tác phẩm từ nước Pháp của R.Descartes, Montesquieu – BT). Chữ “cách mệnh” theo tinh thần của Nho giáo Trung Quốc là “đổi cái mệnh Trời giao cho con Trời (thiên tử) – là vua nếu vua không làm tròn nhiệm vụ, giữ cái mệnh ấy, vì vậy phải giao “sứ mệnh” này cho con Trời khác”.

“Nhập cảng” từ Châu Âu với từ gốc Latinh là “Révolution” – có nghĩa ban đầu là “quay lại” – được “vào” Pháp với “Révolution”, Anh: “Revolution”, Tây Ban Nha: “Revolucion”… Nhiều từ điển phương Tây đều định nghĩa theo từ gốc Latinh: “Vòng quay, sự quay vòng, chu kỳ quay vòng”. Nghĩa thứ hai được chú thích thêm là: Biến đổi bất ngờ táo bạo trong cơ cấu kinh tế, xã hội”, “bước ngoặt cơ bản, bất ngờ”, “thay đổi từ một tình trạng chất lượng này sang một chất lượng khác”, “biểu hiện biện chứng của sự phát triển vật chất, xã hội, tư tưởng”.

“Sổ tay từ Hán Việt” (NXB Giáo dục VN, 1989) viết: “Cách mạng(1) là một biến đổi và căn bản lớn trong quan hệ xã hội, chính trị, thực hiện thông qua đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện hoặc biến đổi về căn bản. Quá trình thay đổi lớn về căn bản theo hướng tiến bộ”. “Từ điển chính trị bỏ túi” (bản tiếng Việt) của NXB Novoxti, Liên Xô, 1983, tr.6, định nghĩa: “Cách mạng”:

1. Biến chuyển sâu sắc về mặt xã hội, giải quyết những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã lớn mạnh và quan hệ sản xuất lỗi thời, làm thay đổi tận gốc rễ chế độ xã hội và được giai cấp xã hội mới tiến lên nắm chính quyền.

2. Việc chuyển từ trạng thái chất lượng này sang trạng thái chất lượng khác, những biến đổi sâu sắc trong lĩnh vực, phạm vi nào đó”.

Những định nghĩa trên, tuy ý tứ có đôi chút chưa “nhập” vào nhau chặt chẽ, đều có mặt “thay đổi, tiến bộ” nhưng ít nhiều mang màu sắc giai cấp đấu tranh của chủ nghĩa Mác ở Châu Âu (mà Châu Âu chưa phải toàn thế giới) – Nguyễn Ái Quốc viết vào năm 1924 – chứ không phải ở Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đã đi đến một định nghĩa (một lý luận) về “cách mạng”, để từ lý luận đó trở thành lý luận cách mạng cho cách mạng Việt Nam; “không có lý luận cách mạng Việt Nam thì không có vận động cách mạng Việt Nam”.

Vậy Nguyễn Ái Quốc đã định nghĩa như thế nào về “cách mệnh”?

Trước hết, xin lưu ý rằng, những định nghĩa của Châu Âu – kể cả của Châu Á về “cách mệnh” đã “định sẵn” từ lâu trước khi có định nghĩa của Nguyễn Ái Quốc về từ này. Những định nghĩa “bác học” ấy mặc nhiên được coi như “thước ngọc”, “kinh điển”, “bất di bất dịch”. Về một góc nào đó mà xét, việc người nào đó thay đổi định nghĩa ấy – làm cho rõ hơn, sát với thực tiễn của dân tộc mình, đất nước mình để làm lợi cho cách mạng, cũng đã là một hành động cách mạng rồi.

Thứ hai, trước Nguyễn Ái Quốc đã có bao nhiêu bậc lý luận Mácxít nổi tiếng, chủ yếu ở Châu Âu, đã “lăn lộn” với cách mạng, làm nên những cuộc cách mạng ở nhiều nước… thế mà họ không “chịu” thay đổi định nghĩa này. Vậy mà, anh thanh niên Nguyễn Ái Quốc với văn hoá Việt, với truyền thống yêu nước, tham gia cách mạng mới từ năm 1908, rời nước ra đi năm 1911, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, năm 1927 nhận định “chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với Châu Âu… (về đấu tranh giai cấp…) năm 1927, chưa đầy 20 năm thâm niên hoạt động, chưa đủ 10 năm là đảng viên mà đã (cả gan) đưa ra một định nghĩa mới rất Mácxít, rất Việt Nam. (Tiếc thay suốt một chặng đường dài của phong trào cộng sản công nhân thế giới và ngay cả ở Việt Nam – định nghĩa này – “lý luận” này, “tư tưởng” này chưa được quan tâm đầy đủ!).

Ngay từ trang đầu, chương đầu của “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đưa ra một định nghĩa mới – chưa hề có trong các từ điển bách khoa: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi cái tốt: Thí dụ ông Galilê (1633) là khoa học cách mệnh…, ông Stephenxoong (1800) làm ra xe lửa là cơ khí cách mệnh… ông Đácuyn (1859) là cách mệnh… ông Các Mác là kinh tế học cách mệnh”.

Khi đã trở thành Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh, năm 1952 nhắc lại lần nữa (trước đó cũng đã nhắc nhiều) rằng: “Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến để xây dựng dân chủ mới. Thực dân và phong kiến tuy bị tiêu diệt, nhưng cái nọc xấu của nó (tham ô, lãng phí, quan liêu) vẫn còn có những người… có công với cách mạng, song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng, hại đến tổ quốc, nhân dân (2)”.

Như vậy, rõ ràng là không phải ở một con người, một đảng, một nhà nước… chỉ làm cách mạng một lần là thôi, là đủ. Vì cách mạng có vận động, làm, tìm được, xây dựng nên cái “mới” rồi, cái “tốt” rồi, nhưng do nhiều nguyên nhân cái mới đang có, cái tốt hiện hành, đã trở thành cũ, xấu, đòi hỏi một cuộc cách mạng “phá cái xấu, đổi ra cái tốt, phá cái cũ đổi ra cái mới”…

Có quá nhiều bài học xác minh vững chắc định nghĩa của Nguyễn Ái Quốc về “cách mạng”. Cách mạng không phải chỉ làm một lần đánh đổ đế quốc, phong kiến là xong, mà cách mạng là phải luôn luôn đổi mới, ngay trên cái mới đã cũ, cái tốt cũ đang dần dần xấu đi…

Định nghĩa “cách mệnh” trong “Đường cách mệnh” 80 năm trước đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận cũng như về thực tiễn.

Mỗi người dân Việt Nam, dù là cán bộ cấp cao đến dân bình thường đều có thể suy ngẫm định nghĩa “cách mệnh” này của Bác để “xoá bỏ cái xấu, cái cũ” trong con người mình – nhất là trong con người cách mạng, tạo nên cái tốt, cái mới, bớt đi cỏ dại, để cho vườn hoa dân tộc – đất nước, mãi mãi đẹp tươi.

Theo Nguyễn Văn Khoan – Lao Động

—————————-

1/ Trên các số báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo không thấy từ “cách mệnh”, mà là “cách mạng”, như “cách mạng Tàu” (số 64, 10.10.1925), “Nước Nga cách mạng”; “chủ nghĩa cách mạng”; “người cách mạng”; “phong trào cách mạng bên Mỹ”; “cách mạng Pháp” (số 65, 17.10.1926).

2/ Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 6, tr.490

tuoitre.vn