Thư viện

Học tập cách viết báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu

“Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ Chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc…Cũng như Lê-nin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một Viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được…”

Trong lý lịch còn giữ tại kho lưu trữ của Quốc tế cộng sản trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi ở phần nghề nghiệp: “Nghề viết báo” bên cạnh một số nghề khác.

Một điều rất dễ nhận thấy là các bài viết của Bác Hồ thường ngắn. Phải có bản lĩnh, có trí tuệ phong phú mới viết ngắn được! Những bài báo của Bác được viết ra với một mục đích cụ thể là để người đọc Hiểu được – Nhớ được – Làm theo được. Và muốn thế, Người nói : “Muốn cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem”(1). Bác còn viết, nhiều người cứ tưởng mình viết gì, nói gì, người khác đều hiểu cả !.

Trong cách nói, cách viết, Bác Hồ luôn chú ý tránh những thông tin thừa, những gì mọi người đã biết rồi thì Bác không viết nữa. Trong nhiều cuộc nói chuyện Bác thường nói : “Ðiều đó, chắc các cô, các chú đã hiểu, Bác không nói nhiều”. Trong những bài viết, Bác thường dùng những câu ngắn, giản dị, sáng rõ. Trong bài “Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà” ngày 22 tháng 9 năm 1945, in trên Báo Cứu Quốc số 49, Bác Hồ chỉ viết có 192 từ. Thư gửi Báo Thiếu Sinh số 1, tờ báo của trẻ em đầu tiên, Bác chỉ viết có 49 từ. Thư gửi các vị phụ lão ngày 20 tháng 9 năm 1945, Bác viết có 299 từ. Ngay đến một văn kiện quan trọng bậc nhất, đó là Bản Tuyên ngôn độc lập – Một văn bản lập quốc vĩ đại, đọc tại Ba Ðình lịch sử ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ viết có 1025 từ.

Là một người được làm việc gần Bác trong nhiều năm, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ chủ tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khẳng khái, thấm thía, đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim và khối óc của người ta; hình thức sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc và tính nhân dân. Người rất ghét văn chương sáo rỗng, nhạt nhẽo, rất ghét nói và viết dài dòng, khó hiểu, lung tung, lằng nhằng, và kiên quyết phản đối dùng chữ nước ngoài không cần thiết”.

Bác Hồ rất hay vận dụng ngôn ngữ và cách nói của quần chúng. Bác thường khuyên: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới lọt tai quần chúng. Vì cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực mà lại giản đơn(2). Chúng ta đều biết, những thành ngữ, ca dao tục ngữ vốn là sản phẩm của quần chúng lao động, là phương tiện biểu hiện tư tưởng, tình cảm, có từ rất lâu trong đời sống lao động của con người. Nó từ quần chúng, và đi vào quần chúng rất dễ dàng, thấm thía. Những câu viết của Bác giản dị, sâu sắc và đi thẳng vào lòng người, khiến người đọc chỉ một lần đã nhớ.

Lần nào nói chuyện với các nhà báo, Bác cũng nhắc nhở, báo chí của ta còn nhiều bài viết dài dòng quá. Bác phê bình cái lối viết “rau muống” và còn “ham dùng chữ”. Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Ba tháng thì nói “tam cá nguyệt”, xem xét thì nói “quan sát”, máy bay thì nói “phi cơ”, người đánh cá thì nói “ngư dân”, nhà in lại in nhầm chữ ư thành chữ u, thế là do bệnh dùng chữ mà người đánh cá hoá thành ngu dân !(3). Bác nhắc nhở những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta.

Nhưng đến nay, đọc các báo chúng ta vẫn còn thấy bệnh dùng chữ nước ngoài, và hình như gần đây bệnh đó lại có xu hướng lan tràn hơn! Bác Hồ là người hết lòng yêu mến, quý trọng tiếng Việt và tin tưởng vào khả năng to lớn của tiếng Việt. Bác đã nói: “Tiếng nói là thứ của cải lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”(4).

Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Văn chương của Hồ chủ tịch đã in sâu lên thời đại chúng ta.Nó chung đúc đến độ tinh vi cái đẹp bình dị của văn chương vô sản. Nó kết hợp một cách kỳ diệu những tư tưởng khoa học với điệu cảm, cách nói dân tộc”(5).
Nhà văn Nguyễn Ðình Thi viết: “Khi Hồ Chủ tịch nói, là nhà hiền triết và người thi sĩ trong lòng mỗi người dân nói lên, vì tiếng nói đó động thấu những niềm sâu xa và đẹp đẽ nhất của lòng người”(6).

Nhà văn hóa Hà Huy Giáp cũng viết: “Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc.Cũng như Lênin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được”(7).

————————————-

(1)”Nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí” Báo Nhân Dân số 3095 ngày 9-9-1962
(2) “Sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 5 trg 301.
(3) Bài nói của Bác Hồ tại Ðại hội lần thứ 2 Hội Nhà báo Việt Nam-HCM toàn tập-tập 9 trg 415
(4) Bài nói của Bác Hồ tại Ðại hội lần thứ 3 Hội Nhà báo Việt. HCM toàn tập-tập 10 trg 615
(5) Sách đã dẫn. NXB Giáo dục 1997-trg 217.
(6) “Hồ Chủ tịch, Nhà Văn hóa của Nhân dân” Nguyễn Ðình Thi Báo Văn nghệ số 23-Tháng 5 – 1950.
(7) Sách đã dẫn-NXB Giáo dục 1997-trg 123.

Theo Bùi Công Bính
Báo Thái Bình online
Huyền Trang (st)

nhoNguoicha

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ)

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9-1910 đến trước tháng 2-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, trong những năm 1925 – 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận ở tổ, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hằng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: “… một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” (1).

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; Yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; Ðoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hằng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất  nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh – thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại  ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hằng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần  nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

BBT

phutho.edu.vn

Học Bác về thái độ trước cái xấu

Không chỉ kiên quyết trước cái xấu, Bác Hồ còn căn dặn “không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên cho mình”.

1. “Diệt sâu mới cứu được cây”

Một buổi chiều giữa tháng 6 ba năm trước, tại Hội trường Ba Đình, bộ trưởng Bộ Công an đã phải lúng túng trước những câu hỏi của Quốc hội về lý do tại sao không điều tra vụ Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Lâm quên va ly chứa nhiều phong bì tiền ở sân bay, tại sao “tha” một số quan chức Tổng Công ty Dầu khí vì lý do tuổi tác trong vụ cảng Thị Vải,… Chủ tịch Quốc hội (khi đó là ông Nguyễn Văn An) nói thẳng: “Bộ Công an thì có quyền đề nghị viện kiểm sát và các cơ quan hữu quan (không xử lý quan chức dầu khí vì tuổi cao – PV) nhưng quyền ấy phải theo pháp luật. Nếu quyền mà không đúng pháp luật thì sẽ mất lòng tin. Không phải có quyền thì ta muốn làm gì cũng được. Cho nên nếu theo luật hình sự… “tuổi cao, về hưu, có sự cống hiến cho ngành” đấy là yếu tố giảm nhẹ chứ không (là yếu tố – PV) loại trừ”.

Hơn 60 năm trước, Bác Hồ đã dự liệu về những chuyện như thế. Trong thư gửi những người dự Hội nghị Tư pháp toàn quốc (tháng 2-1948), Bác căn dặn: “Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”.

Hai năm sau (1950), đại tá Trần Dụ Châu – Cục trưởng Cục Quân nhu bị phát hiện lợi dụng chức quyền tham ô ăn chơi, bị kết án tử hình. Trước ngày thi hành án, Trần Dụ Châu gửi đơn lên Bác xin được khoan hồng. Phút cuối, ông Trần Đăng Ninh đến gặp Bác Hồ xin ý kiến, Bác chỉ cho xem một cây xoan héo lá, úa ngọn và hỏi lý do tại sao cây sắp chết. Ông Ninh trả lời: “Dạ, vì thân cây bị sâu đục một lỗ rất to, chảy hết nhựa!”. “Thế theo chú muốn cứu cây thì phải làm gì?”. “Dạ, phải bắt và giết hết những con sâu ấy đi ạ”. Bác gật đầu: “Chú nói đúng đấy, với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng vậy. Nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo”.

Sau một đêm trắng, Hồ Chủ tịch ký bác đơn của Trần Dụ Châu và bản án được thi hành.

2. Tôn trọng lợi ích của dân

Dư luận TP Hải Phòng những ngày này đang hết sức nóng bỏng vì phiên tòa phúc thẩm vụ “ăn” đất ở Quán Nam sắp diễn ra. Nóng bỏng vì có đến ngót 1.000 lô đất công được chia chác trái phép cho ít nhất 420 cán bộ các ngành của TP, bất chấp nhiều đối tượng chính sách xã hội đang thiếu chỗ ở, bất chấp việc nhiều cán bộ được đất đã có nhà cao cửa rộng. Trước đó, vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn (cũng ở Hải Phòng) đã gây phẫn nộ trong dư luận. Cả nước quan tâm chỉ vì sự chia chác đặc quyền, đặc lợi này diễn ra công khai, bằng giấy trắng mực đen và văn bản nghị quyết… Trong những vụ này, quyền lợi chính đáng của người dân đã bị một số cán bộ công quyền bỏ qua.

Còn nhớ khi điều hành nhà nước cách mạng non trẻ, Bác đã rất quan tâm giáo dục cán bộ về chuyện này. Cuối năm 1954, Chính phủ có chủ trương thu hồi tiền của cách mạng phát hành trước đây để đổi lại cho nhân dân tiền Đông Dương ngân hàng. Tháng 2-1955, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh từ miền Nam ra gặp Bác báo cáo kết quả, trong đó có chuyện (so với số tiền đã phát hành thì) thu về còn thiếu khoảng 600 ngàn đồng. Bác nghiêm giọng: “Vậy là chú đã “quỵt” của bà con Nam bộ 600 ngàn đồng. Chú đã phạm đến quyền lợi của nhân dân”. Luật sư vội giải thích: Đồng bào Nam bộ không chịu đổi lại vì trên giấy bạc Việt Nam có in ảnh Bác. Bà con giữ lại để biểu thị quyết tâm theo Bác đến cùng”.

Nghe vậy, Bác rất xúc động nhưng vẫn dặn dò: “Mỗi việc làm của các chú, bất cứ việc gì đều phải quan tâm đến quyền lợi chính đáng của nhân dân chứ không được hứa suông. Bất luận việc gì đã hứa với dân là phải tìm cách làm cho được, không làm được phải xin lỗi dân. Chính quyền ta của dân, vì dân thì phải như vậy”.

3. Không bắt luật pháp phải ưu tiên

Ba năm trước, người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng của Chính phủ là ông Quách Lê Thanh cũng đã hết sức lúng túng khi phải trả lời tại sao không giao nộp và báo cơ quan điều tra khi cấp dưới (vụ phó Vụ II Thanh tra Chính phủ Lương Cao Khải) ba lần đến nhà đưa hàng trăm triệu đồng tiền hối lộ. Tổng Thanh tra Quách Lê Thanh trả lời đã báo cáo Đảng nhưng đại biểu Quốc hội tỏ thái độ không đồng ý. Chủ tịch Quốc hội đã “phải nói thêm” là “Đảng lãnh đạo, nên có yêu cầu báo cáo trong nội bộ Đảng. Nhưng báo cáo với Đảng không có nghĩa là không báo cáo với Chính phủ, với Quốc hội. Thủ trưởng cơ quan hành chính phải làm đúng theo luật pháp, tuân thủ các quy định của nhà nước”.

Còn với Bác, tuân thủ luật pháp là đức tính nổi bật ngay từ ngày đầu quản lý đất nước. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên năm 1946, tại Hà Nội nơi Bác ứng cử có 118 chủ tịch UBND và đại biểu các giới, làng xã ra một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Nhiều nơi trong cả nước cũng đề nghị Bác không cần ra ứng cử và đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội. Thế nhưng Bác đã viết một bức thư ngắn: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa…”.

Trong đời sống, sự tôn trọng kỷ cương được Bác thực hành hàng ngày. Có lần Bác đến một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường về thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn tín hiệu đỏ bật sáng. Sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại: “Các chú không được làm như thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình”.

***

Tháng 7-1969, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày lễ lớn của năm sau: ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh của Bác. Báo Nhân Dân đăng nghị quyết này, Bác đọc liền cho mời mọi người đến: “Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu học sinh đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”. Và tại kỳ họp 6 Quốc hội khóa II, khi chuẩn bị sinh nhật Bác, các đại biểu nhất trí đề nghị Quốc hội trao tặng Bác Huân chương Sao Vàng. Bác rất cảm động nhưng nhất quyết từ chối vì tự xét mình chưa có công huân xứng đáng.

Hiện nay toàn Đảng đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. GS-TS Hoàng Chí Bảo, thường trực Hội đồng lý luận Trung ương, tâm sự với người viết: “Cuộc vận động lần này phải gắn với những điều cuộc sống hôm nay đang đòi hỏi. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang thoái hóa, biến chất, thậm chí phạm tội. Chuyện tham nhũng nhà đất, trù úm dân chúng, lợi dụng chức quyền mưu lợi cá nhân… là rất xa lạ với đạo đức Hồ Chí Minh. Cho nên muốn gây dựng được niềm tin trong dân chúng thì trước hết phải kiên quyết xử lý những hành vi tiêu cực, hư hỏng thoái hóa ngay từ trong Đảng”.

Theo GS Bảo, cách hành động thiết thực là yêu cầu cán bộ, đảng viên “lời nói đi đôi với việc làm” như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

PHAN LỢI – Báo Pháp Luật TP.HCM
(Theo TTO)

doanthanhnienluat.com

Quán triệt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Nguyên tắc này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam và trở thành phương châm “Nói đi đôi với làm”. “Nói đi đôi với làm” đã trở thành lẽ sống, phương châm làm việc, nguyên tắc hoạt động của Người.

Hồ Chủ tịch về thăm nhân dân xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc – Anh: TL

“Nói đi đôi với làm” theo tinh thần của Hồ Chí Minh đòi hỏi: Một là, “Nói” phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai; Hai là, không được “nói một đằng, làm một nẻo”; Ba là, tránh nói, tránh hứa mà không làm. “Làm” ở đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Vì vậy, xét về bản chất, “nói đi đôi với làm” không chỉ là nguyên tắc đạo đức, lẽ sống, phương châm hoạt động mà còn là biểu hiện sinh động cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn của Hồ Chí Minh. Vì vậy, với Hồ Chí Minh, từ việc nhỏ tới việc lớn, từ việc riêng tới việc chung, Người bao giờ cũng “miệng nói, tay làm, tai lắng nghe”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã thấm nhuần sâu sắc đặc trưng truyền thống văn hoá phương Đông là “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn thuyết” nên nhiều khi Người đã giải thích lý luận bằng thực tiễn, bằng hành động, bằng việc làm, Người chỉ làm mà không nói. Bởi lẽ, đối với Việt Nam và phương Đông, cũng có khi chẳng cần nói mà chỉ cần làm, thấy làm đúng, làm phải, mọi người khắc làm theo. Đó là “nói” không cần lời, là “vô ngôn” nhưng biểu hiện bằng hành động và có hiệu lực trong thực tiễn. Chẳng hạn, để sâu sát cơ sở, hiểu dân, trong khoảng từ 1955-1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm, tiếp xúc với cơ sở địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội… Như vậy, mỗi năm Người có hơn 70 lần xuống cơ sở, mỗi tháng có tới 6 lần gặp gỡ, tiếp xúc với quần chúng. Điều này đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó, sâu sát với quần chúng, với cơ sở, với thực tiễn như thế nào. Có thể nói, cái tinh tuý của truyền thống văn hóa Việt Nam, văn hóa phương Đông đã được Hồ Chí Minh kế thừa, trau dồi, trở thành cái “thần” rất Hồ Chí Minh. Đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã nhận xét: “Mọi lời nói, việc làm của Hồ Chí Minh đều thiết thực và cụ thể ”.1 Nói là làm, thường là làm nhiều hơn nói, có khi làm mà không cần nói, tư tưởng hiện ra trong hành động.

Hồ Chí Minh luôn phê phán những cán bộ chỉ biết nói mà không biết làm dù chỉ là một việc nhỏ thiết thực. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên đã nói thì phải làm, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Đối với Đảng ta, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra là lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”2.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XI của Đảng thì việc học tập, quán triệt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn. Từ nhận thức đúng những tinh thần của Nghị quyết Đại hội XI, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy phải tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết trên thực tế. Nghị quyết có phản ánh đúng cuộc sống nhưng không được tổ chức thực hiện tốt trong cuộc sống thì nghị quyết vẫn chỉ là nghị quyết.

Để học tập, quán triệt tốt phương châm “Nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy và toàn Đảng cần thực hiện tốt những biện pháp sau:

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, lãnh đạo, quản lý phải thực sự trở thành tấm gương sống cho nhân dân noi theo, phải thực sự đi trước để nhân dân đi theo. Đúng như Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”3. Chỉ trên cơ sở này, cán bộ, đảng viên mới thu phục được quần chúng, mới cảm hóa, lôi kéo họ tạo thành phong trào thực tiễn rộng lớn để xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện nghị quyết của Đảng. Hiện nay, phần đông cán bộ, đảng viên có phong cách làm việc sâu sát cơ sở, gần dân, thân dân, nói đi đôi với làm. Tuy nhiên, vẫn còn bộ phận không nhỏ cán bộ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý có chức, có quyền, có những biểu hiện nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng, làm một nẻo, thất hứa với nhân dân. Hiện trạng này đã làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, làm cho dân xa Đảng. Điều này càng đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên từ việc nhỏ đến việc lớn, từ việc riêng đến việc chung, từ trong lối sống đến công tác chuyên môn nghiệp vụ luôn luôn phải nỗ lực thực hiện phương châm “Nói đi đôi với làm”.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trong đó có tấm gương về phong cách làm việc “Nói đi đôi với làm” của Người. Kiên quyết thực hành trong toàn Đảng phong cách nói ít làm nhiều, nói đi đôi với làm; kiên quyết không được để xảy ra tình trạng thất hứa với nhân dân dù là việc nhỏ nhất. Các cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải làm gương thực hiện. Thực hiện nghiêm yêu cầu về rèn luyện phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra: “Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân”. Mỗi đảng viên phải tự mình phấn đấu thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đảng viên làm bất kỳ việc gì cũng phải gương mẫu”.

Thứ ba, cùng với thực hành phương châm “Nói đi đôi với làm” thì phải đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đưa ra khỏi các cương vị lãnh đạo, quản lý những cán bộ nói không đi đôi với làm. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sớm phát hiện những biểu hiện sai lệch của cán bộ, đảng viên trong phong cách làm việc nói chung, trong việc thực hành phương châm “Nói đi đôi với làm” nói riêng.Trong đánh giá, sử dụng cán bộ cán bộ thì “lấy hiệu quả thực tế của công tác và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu”.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương, cơ sở; đổi mới cách ra nghị quyết, tăng cường tổ chức thực hiện, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Tiếp tục “Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong Đảng, khắc phục tình trạng rườm rà, bất hợp lý về thủ tục, giảm bớt giấy tờ, hội họp; sâu sát thực tế, cơ sở; nói đi đôi với làm”.

Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cấp ủy và toàn Đảng nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt những biện pháp trên là góp phần thiết thực thực hành phong cách làm việc Hồ Chí Minh. “Nói đi đôi với làm”; góp phần lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và trực tiếp góp phần xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.

Nguồn: PGS. TS Trần Văn Phòng/Đại Đoàn Kết
Viện trưởng Viện Triết học – Học viện CT- HC Quốc gia Hồ Chí Minh

1. Phạm Văn Đồng. Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp. NXB Sự thật, Hà Nội, 1990, trang 64 – 65
2. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB CTQG, H. 2000, tập 5, tr.250
3. Sđd, tập 5, tr.552

baoangiang.com.vn

65 năm Thanh Hoá làm theo lời Bác

Kỷ niệm 65 năm lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Thanh Hóa (20-2-1947 – 20-2-2012)

Bác Hồ tham gia kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn, Thanh Hoá trong lần về thăm Sầm Sơn

65 năm kể từ ngày lần đầu tiên Bác Hồ về thăm, khắc sâu những lời khen ngợi, dặn dò, phê bình cũng như sự chỉ bảo ân cần của Bác qua mỗi lần Người về thăm; học và làm theo tấm gương đạo đức của Người, Thanh Hoá đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước, đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực…

Thanh Hoá – mảnh đất “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh ra những bậc anh hùng hào kiệt, nhà văn hoá lớn của dân tộc như Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Văn Hưu, Lê Lợi, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ… Mảnh đất và con người nơi đây đã góp phần không nhỏ vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời, thấy được vị thế và tầm quan trọng của Thanh Hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần trực tiếp về thăm cũng như gửi thư động viên, thăm hỏi, biểu dương những thành tích của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá.

Ngày 20-2-1947, Bác Hồ về thăm Thanh Hoá lần đầu tiên và khai hội với đồng bào Thanh Hoá tại thị trấn Rừng Thông (huyện Đông Sơn); buổi chiều Bác gặp và nói chuyện với các đại biểu  thân sĩ, trí thức, phú hào; buổi tối nói chuyện với nhân dân thị xã Thanh Hoá ở trước Nhà thông tin thị xã. Qua các buổi nói chuyện, Bác bày tỏ mong ước Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hoá làm sao để xây dựng tỉnh nhà thành một tỉnh kiểu mẫu. “Tỉnh Thanh Hóa phải trở nên một tỉnh kiểu mẫu, thì phải làm sao cho mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự, phải là kiểu mẫu. Làm một người kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu. Quyết tâm làm thì sẽ thành kiểu mẫu”(1). Bác cũng chỉ rõ xây dựng tỉnh “kiểu mẫu” trên mọi mặt phải bắt đầu từ cá nhân mỗi người trước tiên: Làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu, một huyện kiểu mẫu, một tỉnh kiểu mẫu, một nước kiểu mẫu… Trước lúc chia tay, Bác nhắn gửi tha thiết tới đồng bào với lời hẹn ngày trở lại: “Đồng bào trong tỉnh hãy xắn tay áo làm đi, lần sau về đây tôi sẽ thấy mỗi người là một người “kiểu mẫu”(2).

Mười năm sau, ngày 13-6-1957, nhân dân Thanh Hoá vinh dự được đón Bác về thăm lần thứ hai. Người đã khen ngợi và ghi nhận những đóng góp to lớn của nhân dân Thanh Hóa trong vai trò “hậu phương lớn” của kháng chiến chống Pháp và đặc biệt là sự chi viện sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong buổi nói chuyện, Người không chỉ nhắc đến những người con ưu tú mưu lược, dũng cảm, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì cách mạng như Lò Văn Bường, Trần Đức, Tô Vĩnh Diện, Lê Công Khai… chẳng những làm vẻ vang cho cả tỉnh mà còn vẻ vang cho cả non sông gấm vóc Việt Nam. Bác còn biểu dương những công trình kinh tế mà Thanh Hoá xây dựng được trong quá trình khôi phục và cải tạo kinh tế miền Bắc xã hội chủ nghĩa như đập Bái Thượng, đê sông Mã, sông Chu; những địa phương có nhiều thành tích xoá nạn mù chữ trong phong trào bình dân học vụ như xã Vĩnh Khang… Tình cảm của Bác qua hai lần về thăm là nguồn cổ vũ, động viên kịp thời, thôi thúc nhân dân Thanh Hóa tiếp tục chi viện sức người, sức của, quyết tâm chiến đấu hy sinh vì lý tưởng cao đẹp “Không có gì quý hơn độc lập tự do” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Năm 1960, tại Đại hội đại biểu Công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ VI, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu và căn dặn địa phương những lời thật tâm huyết. Người nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn trong phong trào thi đua yêu nước: “Thi đua tốt là phải làm nhanh, nhiều, tốt, rẻ. Bốn chữ ấy đi liền với nhau. Nhanh, nhiều nhưng không tốt, không rẻ là không được”(3). Bác luôn mong muốn và tin tưởng tổ chức công đoàn và lực lượng công nhân sẽ làm gương xung phong cho đồng bào ở hậu phương. Bác đã chia sẻ những khó khăn với bà con nông dân về nền nông nghiệp cũ kỹ và lạc hậu. Muốn nông nghiệp của Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung phát triển phải có biện pháp cải tiến nông cụ hiện có theo hướng đơn giản, ai cũng làm được. Muốn làm được công việc này thì công nhân phải giúp nông dân một cách có kế hoạch. Sự chỉ bảo ân cần và những lời động viên của Bác trong buổi gặp gỡ ấy mãi là kỷ niệm sâu sắc trong tiềm thức mỗi người con tỉnh Thanh được gặp và trực tiếp nghe Bác dặn dò.

Về thăm Thanh Hoá lần thứ 3 này, Bác đã có dịp nghỉ lại ở khu vực Đền Cô Tiên – Sầm Sơn là tặng phẩm vô giá của thiên nhiên, bãi biển kỳ thú, nên thơ cùng với nhiều sử tích từ ngàn xưa để lại. Sau khi đi thăm và thưởng ngoạn cảnh đẹp của Sầm Sơn, Bác đã tắm biển và kéo lưới cùng bà con ngư dân, gặp gỡ và trao đổi với cán bộ ở đây. Bác căn dặn: Nếu nơi đây có một hệ thống dịch vụ khách sạn và có phương tiện đưa đón khách nghỉ mát để tới Hòn Mê thì sẽ thu được nhiều của cải từ đây… Khắc ghi lời dạy của Người, Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Sầm Sơn đã từng bước phát huy thế mạnh kinh tế biển, đưa ngành du lịch – thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xây dựng và phát triển khu du lịch Sầm Sơn trở thành một trong những địa danh nổi tiếng, là niềm tự hào của ngành du lịch Thanh Hoá cũng như du lịch cả nước.

Ngày 16-12-1961, Bác trở lại thăm Thanh Hóa. Thời gian ấy, miền Bắc bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội đồng thời làm nghĩa hậu phương lớn, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam chống Mỹ, cứu nước. Bác đã đến thăm Nhà máy cơ khí Thanh Hoá, Hợp tác xã Thành Công. Người ân cần thăm hỏi các cháu trường mầm non, thăm Hợp tác xã nông nghiệp điển hình Yên Trường (Yên Định). Nói chuyện với đồng bào, cán bộ, Bác khẳng định: “… Tỉnh ta có ngót 12 vạn đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động, đó là một lực lượng rất lớn. Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên cần phải thực sự xung phong gương mẫu tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống quan liêu mệnh lệnh, chống lãng phí, tham ô… Ra sức phát triển và củng cố tốt Đảng và Đoàn; đoàn kết toàn dân. Làm được như thế thì Thanh Hoá chắc sẽ trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”(4). Bốn lần Bác về thăm Thanh Hóa đều là những mốc thời gian quan trọng của cách mạng cả nước nói chung, của nhân dân Thanh Hóa nói riêng.

Người không chỉ trực tiếp về thăm mà còn nhiều lần gửi thư biểu dương, khen ngợi và tặng huy hiệu của Người cho những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong sản xuất và chiến đấu. Trong thư gửi đồng bào Thanh Hóa tháng 6-1950, Bác đã viết: Tôi thay mặt bộ đội địa phương cảm ơn đồng bào và thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào. Người khen ngợi ba xã xuất sắc nhất trong chiến đấu và sản xuất là Tân Tiến, Hoằng Lộc và Đông Anh. Đặc biệt, Bác tặng riêng một lá cờ, phần dưới cờ là chữ Hồ Chí Minh cho xã Đông Anh vì đã có thành tích cao nhất giúp bộ đội địa phương 3.800.000 đồng.

Tháng 11-1954, Bác gửi thư, tặng quà và huy hiệu cho cán bộ, đồng bào, thanh niên, dân công ở công trường xe lửa và đập sông Chu. Năm 1961, Bác khen các cấp lãnh đạo tỉnh đoàn kết nhất trí, tận tụy phục vụ nhân dân, chấp hành chỉ thị của cấp trên một cách nghiêm chỉnh. Ngày 19-5-1964, Bác gửi thư khen tuổi trẻ Thanh Hoá cùng với tuổi trẻ Nghệ An đã vượt qua gian khổ, xây dựng tuyến đường sắt Thanh Hóa – Nghệ An. Năm 1967, biết tin các trung đội nữ dân quân Thanh Hóa như trung đội dân quân gái Hoa Lộc (Hậu Lộc), Thanh Thủy (Tĩnh Gia), Hoằng Trường (Hoằng Hóa), Hà Tiến (Hà Trung)… lập thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, Bác đã viết thư khen ngợi: “… Cùng với thành tích to lớn chống Mỹ, cứu nước của phụ nữ cả nước ta, chiến công của các cháu làm rạng rỡ thêm truyền thống của phụ nữ Việt Nam dũng cảm đảm đang. Bác vui lòng khen ngợi các cháu và tặng mỗi cháu một huy hiệu”(5).

Bên cạnh đó, Bác còn thẳng thắn phê bình, kỷ luật những biểu hiện sống xa dân, những việc làm ảnh hưởng đến lợi ích của dân của một số cán bộ, đảng viên. Bác cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải lãnh đạo cụ thể hơn nữa, đi sâu, đi sát hơn nữa vào quần chúng nhân dân, phải tuyệt đối tránh tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, tránh tác phong quan liêu mệnh lệnh, từng bước khắc phục lề lối làm việc luộm thuộm. Phải hết sức chú trọng bồi dưỡng cán bộ cũ và dìu dắt những cán bộ trẻ tiến lên… Những lời động viên khen ngợi và phê bình kịp thời của Bác mang tầm vóc, ý nghĩa thật lớn lao, có sức lan tỏa mạnh mẽ! Những cá nhân, đơn vị nào được khen ngợi thì phấn khởi tin tưởng; tổ chức nào, cơ sở nào bị phê bình thì kịp thời sửa chữa, khắc phục, những tổ chức, cơ sở chưa được Bác khen thì càng phấn đấu hơn nữa.

Mỗi việc làm của Người đối với nhân dân Thanh Hoá cho chúng ta thấy hình ảnh vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc thật gần gũi, giản dị và ấm áp biết bao! Tư tưởng, đạo đức và tấm gương của Người luôn tỏa sáng, là niềm tin để nhân dân Thanh Hóa cũng như nhân dân cả nước chung sức đồng lòng, phấn đấu xây dựng tỉnh Thanh trở thành một tỉnh “kiểu mẫu”, đạt nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực như niềm tin và sự mong mỏi của Người!

Đã 65 năm kể từ ngày lần đầu tiên Bác Hồ về thăm, Thanh Hoá đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Với tiềm năng, lợi thế vốn có của vùng đất “địa linh nhân kiệt”, Thanh Hóa đã đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn diện từ 7,8% (năm 2005) tăng lên 13,5% (năm 2011), trong đó thu nhập bình quân đầu người đến năm 2011 đạt 4,9 triệu đồng/người/năm. Số hộ đói nghèo từ 46,77% (năm 2001) giảm xuống còn 30% (năm 2011). Các ngành kinh tế lâm, nông nghiệp, xây dựng và dịch vụ là những ngành đang được tỉnh đầu tư cả chiều rộng và chiều sâu. Nhiều khu công nghiệp mới được quy hoạch với quy mô lớn để mở rộng các ngành nghề công nghiệp: Chế biến sản phẩm từ rừng, sản xuất đá gra-nit, thủy điện… Nhiều năm nay, du lịch vẫn là một trong những ngành đem lại lợi nhuận phát triển kinh tế chủ yếu, nâng cao đời sống của người dân Thanh Hoá. Trong tương lai, ngoài tiềm năng khai thác du lịch biển, Thanh Hóa đã và đang triển khai nhiều dự án khai thác và xây dựng nhiều khu du lịch sinh thái, du lịch gắn liền với những địa danh, tên tuổi của các vị anh hùng dân tộc sinh ra trên mảnh đất này.

Cùng với phát triển kinh tế, công tác giáo dục, y tế cũng được tỉnh quan tâm và phát triển đồng bộ. Bác dạy: “Ban Văn hoá phải tìm những cách không cần tốn tiền mà học được, như “gia đình học hiệu”, “tiểu giáo viên”, cả làng chung gạo nuôi một thầy giáo… Không có giấy thì viết vào cát, không có bút thì dùng lẽ tre…”(6). (lẽ tre: một đoạn cành tre nhỏ, từ địa phương Nghệ Tĩnh). Làm theo lời Người, những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh, đội ngũ làm công tác giáo dục Thanh Hóa đã kiên trì, bền bỉ thực thi xóa mù chữ, dạy bình dân học vụ, bổ túc văn hóa cho đông đảo các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Vì vậy, trình độ dân trí, trình độ văn hóa của người dân và cán bộ địa phương được nâng lên rõ rệt. Từ năm 2004, 11/11 xã, thị trấn có số trường được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. Cả tỉnh đã xây dựng được 15 trường đạt chuẩn Quốc gia. Hằng năm, khánh thành trên dưới 18 làng, bản, cơ quan văn hoá, trong đó có trên 60% số hộ đạt gia đình văn hóa… Hiện có gần 30 bệnh viện đa khoa và 37 trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố, đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người dân tỉnh Thanh với thái độ phục vụ tận tình, chu đáo.

Thanh Hóa đã và đang dần trở thành một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội, giáo dục, quốc phòng mạnh của cả nước. Mỗi bước đi lên của tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Hoá luôn khắc sâu những lời khen ngợi, dặn dò, phê bình cũng như sự chỉ bảo ân cần của Bác qua mỗi lần Người về thăm. Đó là niềm tin, động lực tinh thần vô giá để nhân dân Thanh Hoá vượt qua mọi khó khăn, thử thách, từng bước xây dựng tỉnh Thanh ngày càng vững mạnh, góp phần vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, đưa tỉnh trở thành tỉnh “kiểu mẫu” như sinh thời Bác Hồ hằng mong.

———–

(1), (2): Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 5, tr.63.
(3), (4): Sách đã dẫn, tập 10, tr.178; tr.486.
(5): Sđd, tập 12, tr.315.
(6): Sđd, tập 5, tr.67.        

Phạm Thị Nhung
Trường Sĩ quan Lục quân 2 HT: 3cb36 Tam Phước, Biên Hoà, Đồng Nai

xaydungdang.org.vn

Bác Hồ – tấm gương sáng về việc luyện tập sức khỏe

Bác Hồ hiểu rõ vai trò của việc tập luyện TDTT đối với sức khoẻ con người. Chính vì thế Bác lấy việc tập luyện như một lẽ sống giản dị: “Tập TDTT để giữ gìn tăng cường sức khoẻ, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân được nhiều hơn nữa”, nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Bác vẫn duy trì một nếp tập luyện đều đặn thường xuyên. Trong những năm đầu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tình thế cách mạng hiểm nghèo, giặc đói, giặc dốt hoành hành, thù trong giặc ngoài đe doạ, dù bận trăm công nghìn việc, không mấy đêm Bác được ngon giấc ngủ, nhưng sáng sáng Bác vẫn không bỏ việc tập luyện. Khi giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng ác liệt, Bác lại càng coi trọng việc tập luyện TDTT để phục vụ công cuộc chống ngoại xâm.

Những tấm hình do các nhà nhiếp ảnh, quay phim ghi được về Bác Hồ tập võ dân tộc, Bác hướng dẫn, dạy cách đánh cận chiến của võ tay không chống trả đối phương có kiếm, thương, thậm chí có súng ở bên bờ sông Phó Đáy (Tuyên Quang) những năm kháng chiến. Cảnh Bác Hồ chơi Bóng chuyền trong rừng Khâu Lấu, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang lúc Bác 57 tuổi, thật sự cảm động. Hình ảnh Bác Hồ đi ngựa trên đường công tác, tập bơi suối giữa cái rét giá thấu xương ở rừng Việt Bắc. Ngoài ra, Bác còn ưa thích tập môn đi bộ và leo núi.

Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Bác Hồ có kiểu tập nhảy “dậm chân tại chỗ” thật lạ và thú vị. Số là “Phòng Chủ tịch nước”- nơi làm việc của Bác cách các lán khác thường từ dăm chục mét đến ba bốn trăm mét. Đường đi lên lán hay xuống suối, đến nhà ăn đều được Bác cho đặt những rào chắn cao từ 10 – 15cm đến mức cao nhất trên 40cm. Mỗi khi đi qua, Bác và mọi người phải chụm chân nhảy không được lấy đà. Tập sức bật tại chỗ như vậy khá “trường kỳ” nhưng rõ ràng đạt hiệu quả. Cách rèn luyện “vượt chướng ngại” như thế, giúp Bác có thêm sức khoẻ dồi dào.

Nhà quay phim Liên Xô cũ đã đưa vào các phim Việt Nam trên đường thắng lợi, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Cây tre Việt Nam hồi thập niên 50 một số hình ảnh tập luyện của Bác khá đẹp. Một tờ báo của Liên Xô đã viết rất sâu sắc về hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tập luyện thể dục, chơi thể thao cùng với lối rèn luyện thân thể sáng tạo, đã góp phần tạo nên chiến thắng thực dân Pháp vang lừng thế giới.

Những năm 1956, 1957 các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô phát động phong trào Rèn luyện thân thể để lao động và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều nước bạn đã nêu tấm gương tập luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh để mọi người theo.

Tết Giáp Ngọ, Bác nhận ra khả năng thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, từ tháng 5/1954 Bác quyết định chuyển cơ quan về Thái Nguyên lấy rừng Vai Cầy, xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ làm “bản doanh kháng chiến”. Nguyên đội trưởng Đội 1, Tạ Quang Chiến lúc đó là Đội trưởng Thanh niên xung phong (TNXP) 36, cùng các đồng chí Hoàng Hữu Kháng, Phan Mỹ, đơn vị C.272 được Bác giao nhiệm vụ về Vai Cầy xây dựng cơ quan. Một thời gian ngắn, ngôi nhà sàn giản dị được dựng kín đáo mà ngay cả chiến sĩ C.272 lúc đó cũng không một ai biết địa danh này là ở vùng nào, vì nguyên tắc bảo mật không ai hỏi ai. Nhiều bô lão như các cụ Bế Văn Khoa, Triệu Văn Vượng, Triệu Sơ kể rằng: “Ngày đó đứng ở ngọn đồi cao trước mặt, thường thấy một cụ già làm việc trong Nhà sàn. Đặc biệt sớm, chiều nào cũng thấy cụ ra tập thể dục hoặc đánh bóng chuyền ở bãi cỏ dưới chân đồi cùng một số thanh niên. Nhiều bữa các cụ còn thấy cụ già xuống suối tắm, bơi ở khúc suối rộng, mà đáy suối có nhiều đá tròn bằng nắm tay. Mãi về sau các cụ mới biết đó là Bác Hồ. Trên bàn làm việc của Bác thấy có mấy viên đá lấy từ đáy suối này lên. Bác dùng để tập nắm bóp bàn tay, quay cổ tay mỗi khi nghỉ giải lao, Chiến sĩ phục vụ gọi là “tạ an-te” cải tiến…

Sau ngày về lại Thủ đô, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác chưa một ngày “quên” tập thể dục. Bên nhà sàn trong Phủ Chủ tịch hiện nay, suốt 15 năm (1955-1969) nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ, bác sĩ… phục vụ Bác, đều nhớ mãi hình ảnh Bác tập thể dục, tập quyền hoặc bài Thái cực quyền. Đôi khi Bác ra câu cá, chăm cây bên hồ cá. Mỗi sáng, sau lúc tập thể dục xong Bác lại chăm chút mấy dò phong lan rừng do bộ đội Trường Sơn biếu Bác. Khi bước sang tuổi “xưa nay hiếm” Bác vẫn rất khoẻ, da dẻ hồng hào.

Tháng 12/1961, Bác sang thăm Trường Trung cấp TDTT trung ương (nay là trường Đại học TDTT I), hơn 500 sinh viên Khoá 2 đang tập võ dân tộc. Bác ra sân tập xem, thấy các nữ sinh tay cầm kiếm chưa đúng, Bác đã ra tận nơi uốn nắn động tác sai, rồi Bác còn căn dặn thêm “Võ dân tộc của cha ông ta rất giàu tính chiến đấu”.

Từ năm 1958 Bác Hồ thường dành thời gian quý báu đón các đoàn vận động viên, cầu thủ các nước mỗi khi đến thi đấu hữu nghị ở nước ta như các đội Bóng đá: Vương quốc Campuchia, Vương quốc Lào, CHDC Đức, Angiêri, Miến Điện (Myanma), Liên Xô (nay là Liên Bang Nga), CHDCND Triều Tiên, Trung Quốc, Rumani, Cu Ba… Nhiều danh thủ ở các môn: Bơi, Bóng bàn, Bóng chuyền, Điền kinh các nước đều có kỷ niệm sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đầu năm 1963 nhân khai mạc tuần Thể thao hữu nghị Việt Nam-Campuchia (tháng 2), Việt Nam-Lào (tháng 3), Bác Hồ ra sân vận động Hàng Đẫy dự, sau đó còn tiếp các VĐV ở Phủ Chủ tịch. Cuối năm 1963 giải Bóng đá Quân đội các nước XHCN (SKDA) diễn ra tại Việt Nam. Bác gặp mặt thân mật với tất cả cầu thủ các đội tại Phủ Chủ tịch. Năm 1965, giặc Mỹ leo thang đánh phá dữ dội miền Bắc, các đoàn VĐV Cu Ba, Trung Quốc sang thi đấu hữu nghị, vẫn được Bác Hồ gặp và hỏi chuyện VĐV tại Phủ Chủ tịch. Chiều ngày 19/12/1966, hơn 120 cán bộ, VĐV Việt Nam đi dự GANEFO châu Á ở Campuchia thắng lợi trở về, Bác hỏi chuyện thi đấu, ăn ở, tình cảm của bà con Việt kiều sống ở Pnôm Pênh. Rồi Bác Hồ khen hai xạ thủ Trần Oanh, Nguyễn Mạnh Hùng, danh thủ Bơi Vũ Thị Sen, VĐV Điền kinh Trần Hữu Chỉ cùng đoạt HCV được Bác tặng Huy hiệu.

Năm 1967 Bác Hồ da diết nhớ miền Nam. Bác dự định vào tiền tuyến lớn thăm đồng bào, chiến sĩ. Bác đã dành thời gian cho đợt tập luyện dã ngoại này. Đồng chí Vũ Kỳ kể: “Hồi đó mỗi ngày Bác tập hành quân từ 5 đến 10km có hôm tăng lên tới 20km đường rừng, băng đèo, vượt sông. Bác cũng đeo ba lô nặng 25kg”. Bác chưa kịp về Nam, những người có dịp may luyện tập với Bác những ngày đó càng hiểu hàm ý câu thơ Tố Hữu viết: “Bác nhớ Miền Nam nỗi nhớ nhà, Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”. Thư viết ngày 31/3/1960 gửi Hội nghị cán bộ TDTT toàn miền Bắc của Bác đã chỉ rõ: “Cán bộ TDTT thì phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác”. Ngành TDTT và giới TDTT cả nước càng nhớ Bác, phấn đấu làm theo lời Bác Hồ dạy và noi theo tấm gương đạo đức của Người suốt cuộc đời.

Trương Xuân Hùng
Tổng Cục Thể Thao

vo-thuat.net

Tấm gương rèn luyện

Cuộc đời của Bác là một mẫu mực về tự rèn luyện. Bác đã làm thơ nói rõ con người tốt hay xấu là do rèn luyện mà nên. Từ tuổi học trò, đến lúc trở thành Chủ tịch nước, Bác không ngừng đấu tranh gian khổ, vươn lên tự hoàn thiện mình. Mỗi hành vi của mình, Bác như đã hoá thân trong quảng đại quần chúng. Muốn đạt tới sự hoàn thiện đó phải dày công khổ luyện, khổ luyện đến mức thành nếp sống, thành thói quen.

Bác nói thật chí lý: “Việc gì trong đời sống cũng khó khǎn cả, vì chưa thành thói quen khi đã có thói quen thì việc gì cũng không khó”. Bác có kiến thức uyên Bác, kết tinh trí tuệ Đông Tây kim cổ là nhờ công khổ luyện. Bác hoàn thiện nhân cách của mình, tự tại, hoà mình, lich sự, ân cần, nồng nhiệt tạo nên sức mạnh cảm hóa mọi nhân cách cũng do rèn luyện mà nên.

Những nǎm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, vừa lao động kiếm sống, vừa tìm mọi cách để học tập, Bác tận dụng công việc để có thể học được, nhất là học tiếng nước người. Hàng ngày trước khi thức dậy, Bác viết lên cánh tay mấy từ mới để khi vừa làm vừa nhẩm học, đến khi chữ mờ hết thì Bác cũng đã thuộc. Bác dùng ngoại ngữ làm phương tiện để đấu tranh. Bác tập viết báo rồi trở thành chủ bút tờ báo của thợ thuyền, Bác đọc nhiều, viết nhiều với mục đích thật đơn giản là đem kiến thức đó về giải phóng dân tộc.

Trên cương vị cao nhất của Đảng, của Nhà nước, Bác dù bận trǎm công nghìn việc, sau này dù tuổi cao, sức khoẻ kém, Bác vẫn không ngừng học tập đọc thêm nhiều tài liệu, sách báo trong nước và nước ngoài. Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, ta có nhiều cơ quan nghiên cứu có cả một bộ máy chống chiến tranh thế mà thật ngỡ ngàng khi Bác nhắc phải chú ý đề phòng loại máy bay mới của Mỹ đã xuất hiện trên bầu trời nước ta. Bác nhắc nhở phải quan tâm nghiên cứu các số liệu như tỷ lệ người da đen trong giặc lái, mỗi lần xuất kích ném bom miền Bắc, phi công được thưởng bao nhiêu tiền. Bác quan tâm đến “lý thuyết xếp hàng”, khi thấy nhân dân lao động rồng rắn xếp hàng dài…

Thời gian bị giam giữ ở nhà tù của Tưởng Giới Thạch, chế độ lao tù hà khắc đến sức lực tuổi trẻ như Dương Đào cũng phải bỏ mạng. Bác sống được là nhờ ý chí rèn luyện thân thể. Thời kỳ ở núi rừng, hang động thiếu thốn trǎm bề, ǎn uống kham khổ nhờ tự rèn luyện mà Bác và nhiều đồng chí đã vượt qua.

Thói quen làm việc đúng giờ, Bác luôn giữ, dẫu ở đâu, lúc nào, nên anh em phục vụ gọi Bác là “cái đồng hồ” chính xác. Bác đã hẹn ai là Bác đến đúng giờ. Một lần xe đưa Bác đi trên đường, trời đỗ bão, cây cối ngổn ngang, xe không đi được, Bác vẫn tìm cách đến đúng hẹn. Bác luôn giữ nếp sinh hoạt và rèn luyện. Khi về Hà Nội, hàng ngày đúng gìơ Bác tập thêm môn quyền để nâng cao sức khoẻ và trí tuệ. Bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến, đi xe ôtô không tiện Bác đi xe đạp, đi ngựa, để khi đi công tác hay hội họp được chủ động.

Bác rèn luyện để có thói quen làm việc khoa học. Nước nhà mới được Độc lập, công việc nhiều, Bác sắp xếp thời gian hợp lý nên công việc bảo đảm đúng thời gian đặt ra. Bác vẫn dành thời gian để gặp mặt, tiếp xúc với đồng bào, các đoàn thể, viết báo tuyên truyền cách mạng, vẫn có phút giây thanh thản thả tâm hồn với những vần thơ. Ung dung tự tại một phong cách, một lối sống Hồ Chí Minh. Trí tuệ mẫn tiệp ở Bác cũng do dày công khổ luyện mới có. Sau cách mạng Tháng Tám, thế nước “nghìn cân treo sợi tóc” mỗi quyết định của Bác có ảnh hưởng đến sự sống còn của sự nghiệp cách mạng, tồn vong của dân tộc. Việc quản lý một nhà nước đối với Bác cũng như những người đồng sự chưa có truyền thống kinh nghiệm nhưng nhờ có kiến thức tổng hợp tin dân và dựa vào dân, nên con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh cập bến thắng lợi Nhờ dày công rèn luyện đã hình thành ở con người Bác một sức mạnh cảm hoá mãnh liệt, tự nhiên. Cảm hoá mọi trái tim, mọi tính cách con người. Những người đứng về phe chống đối cũng phải thừa nhận “Ông Hồ là người đối thủ chứ không phải kẻ thù. Giáo sư Pôn-muýt người nhận sứ mệnh đến thuyết phục Bác cũng bị chính sức mạnh cảm hoá của Bác thuyết phục. Nǎm 1945 những tình báo chiến lược của Mỹ vào Việt Nam để thuyết phục “lực lượng Việt Minh” của Hồ Chí Minh vào quỹ đạo hoạt động của họ, nhưng rồi chính họ lại trở thành những người tuyên truyền cho Việt Minh. Một chí sĩ cách mạng “bất hợp tác với cộng sản” khi gặp Bác rồi trở thành người tri kỷ với lý tưởng mà dân tộc Việt Nam đang thực hiện. Hiện thân Bác là da là thịt, nhưng các tín đồ tôn gláo tôn vinh Bác như vị Thánh hiền của họ. Bác có được thiên nǎng đó là do rèn luyện mà nên.

ở Bác sống là một cuộc đấu tranh. Khi ốm đau Bác tự chịu đựng, không làm phiền đến người khác, ngược lại còn động viên những người xung quanh. Hồi ở Tân Trào Bác ốm nặng, thuốc thang cứu chữa một phần nhưng điều quan trọng là ý chí, sức chịu đựng và lòng tin đã giúp Bác vượt qua cơn hiểm nghèo. Bác ốm mê man nhưng khi tỉnh dậy Bác nói chuyện hỏi han những người xung quanh, nếu ngồi được là Bác gượng ngồi, tập khởi động rồi làm việc. Có những cuộc họp quan trọng Bác không đi được phải cáng, Bác cùng yêu cầu đến dự phát biểu ngắt quãng trong hơi thở, nhưng Bác nói rõ ràng, rành mạch. Họp hội đồng Chính phủ, tuy rất, mệt nhưng Bác vẫn đến dự, suốt cuôc họp Bác phải ngồi tựa vào cột nhà. Khi đau ốm nhẹ không ai biết Bác ốm. Chỉ khi Bác không đi lại được mới biết Bác ốm nặng. Không bao giờ Bác kêu ca phàn nàn bộc lộ vẻ mệt nhọc ra ngoài. Chỉ có bộc lộ niềm vui phấn khởi sự đồng cảm để truyền thêm sức mạnh tinh thần cho đồng chí, đồng bào.

Bác tự nhận Bác có thói quen xấu là hút thuốc lá. Nǎm 1966, do sức khoẻ giảm sút, bác sỹ đề nghị Bác bỏ thuốc, Bác nói “Bác hút thuốc từ lúc còn trẻ nay đã thành thói quen, bây giờ bỏ thì tốt nhưng không dễ, các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này”. Rồi Bác tự đề ra chương trình bỏ thuốc dần dần, lúc đầu giảm số lượng điếu hút trong ngày trong giờ. Khi thèm hút lắm Bác làm một việc gì đó để thu hút sự chú ý, tập trung tư tưởng để bớt đi cơn nghiện. Tuổi già làm việc đó thật quá vất vả, tập một thói quen, bỏ một thói quen không dễ chút nào, phải có một nghị lực phi thường như Bác mới làm được. Bác tìm một lọ thuỷ tinh nhỏ để trên bàn, lấy một điếu hút một nửa, còn nửa kia Bác dụi vào lọ thuỷ tinh, có lúc Bác nói vui: “gái một con thuốc ngon nửa điếu”. Dần dần một điếu Bác chỉ hút một hơi rồi dụi vào lọ thuỷ tinh. Bác hút thưa dần rồi sau bỏ hẳn. Còn chuyện uống rượu cũng vậy. Rượu Bác uống không nhiều, không uống rượu quá mạnh uống một ít, trước bữa ǎn cho ngon miệng hoặc khi có khách quý, khi tuổi già sức khỏe yếu, Bác tập bỏ thuốc và bỏ luôn cả rượu, cung như bỏ thuốc, bỏ rượu, Bác cũng làm từ từ Bác để chai nước uống trên bàn, Bác nói vui: chai “Vốt ka” của Bác đấy. Khi bỏ được thuốc, được rượu Bác làm thơ kỷ niệm:

Thuốc kiêng rượu cự đã ba nǎm
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần…

Tuổi cao thường run tay khó viết, nhưng Bác viết nhiều viết khoẻ là nhờ rèn luyện thường xuyên, Bác có thói quen vừa đọc sách vừa luyện gân bàn tay bằng cách bóp hai hòn cuội trắng có từ ngày chiến khu.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng Bác đi nhiều nên rèn luyện cho mình một sức khoẻ dẻo dai, nhanh nhẹn. Có lần đi thǎm núi Tam Đảo, đồng chí dẫn đường muốn Bác đi theo con đường dễ đi, biết ý Bác đi nhanh lên trước, đến chỗ khó đi Bác cởi dép, mặc quần ngắn đi đỡ vướng, Bác leo dốc, cánh thanh niên theo không kịp. Nǎm 1958, Bác sang thǎm Â’n Độ. Có ngọn tháp cao chưa có nguyên thủ quốc gia nào dám lên đến đỉnh. Bác leo nhanh lên đến đỉnh trước, Bác vẫy tay chào mọi người trước sự ngạc nhiên thán phục về sức dẻo dai của Bác.

Hàng ngày Bác dành thời gian nghỉ ngơi, đi bách bộ, Bác đi nhanh, đồng chí bảo vệ đi với Bác cũng khó theo kịp. Những nǎm cuối đời, chân bị tê thấp, Bác tập đi từng bước, đến một ghế đá Bác nghỉ tạm bằng cách ngồi toạ tĩnh tập khí công, rồi lại từng bước đi tiếp. Bác tập nhảy cao. Bác trồng một bờ cây dâm bụt hàng ngày Bác tập nhảy qua, ngày ngày cây lớn cao dần và Bác cũng nâng dần sức bật độ cao. Kiên trì tập nên Bác nhảy được khá cao, thanh niên nếu không tập nhảy cao chắc chắn thua Bác. Nǎm 1960 Bác bị rối loạn tuần hoàn não mức độ nhẹ nửa người bên phải bị liệt. Bác kiên trì luyện tập, kết hợp xoa bóp nên đỡ dần. Bác dùng gậy tập đi, điều độ, đúng mức, đúng phương pháp nên chức nǎng thần kinh dần dần được phục hồi. Khi có thể đi lại được Bác ít dùng gậy vì theo Bác dùng gậy hay có thói quen ỷ lại. Khi tay bị yếu giơ lên khó khǎn, Bác lấy bức tường làm chuẩn tập nâng dần mỗi ngày một ít, dần dần tay giơ được cao. Bác tập phản xạ bằng cách ném, bắt bóng. Bác để cái rổ xa rồi ngồi tập ném bóng vào rổ, lúc đầu gần sau tập ném xa hơn.

5 giờ chiều ngày 12- 8-1969, gió và mưa lất phất, Bác bảo đi Hồ tây thǎm các đồng chí vừa ở hội nghị Pari về, các đồng chí bảo vệ sức khoẻ can ngǎn, đề nghị Bác mời các đồng chí đến, Bác bảo các chú vừa mới về đang mệt ta lên thǎm và luôn tiện hỏi tình hình Hội nghị và tình hình miền Nam. Hôm đó Bác về đến nhà thì ho và sốt. Các bác sỹ chẩn đoán Bác bị viêm phổi và quyết định dùng thuốc kháng sinh liều cao để dứt viêm phổi. Nhưng do tuổi già, đến tối 24-8 Bác bị cơn đau vùng tim. Ghi điện tim biết được Bác bị nhồi máu cơ tim thành sau. Bệnh tình ngày một nặng thêm. Các đồng chí trong Bộ Chính trị đến thǎm, ngày nào Bác cũng nói sức khoẻ Bác khá hơn hôm qua. Hàng ngày khi đồng chí Võ Nguyên Giáp vào báo cáo tình hình miền Nam Bác mới yên tâm. Tuy mệt nằm một chỗ, khi nào mỏi ở vai Bác mới yêu cầu xoa bóp, Bác không hề kêu ca. Những ngày cuối ai vào thǎm cũng lo lắng.

Muốn phá tan không khí lo lắng đó, Bác bảo cả phòng không có lọ hoa, anh em đưa vào bó hoa hồng, Bác không thích. Chị Hà, vợ đồng chí Võ Nguyên Giáp đưa vào bó hoa Huệ, loại hoa Bác yêu thích thường ngày. Bác bảo các cô y tá thay phiên hát cho vui. Bác dặn ngày 2-9 tổ chức long trọng, đốt pháo hoa để đồng bào vui. Bác biết ngày mình mất nhưng vẫn truyền niềm vui lạc quan cho người khác. Cả cuộc đời Bác là thế, không chỉ đem độc lập tự do, cơm no áo ấm về cho dân tộc mà còn cả niềm vui trọn vẹn cho mọi người. Bác mãi mãi trường tồn trong lòng nhân dân là thế.

quangbinh.gov.vn

Học theo Bác, một bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc

Năm 1959, chúng tôi là những nữ sinh miền Nam đang theo học tại trường phổ thông cấp III Nguyễn Trãi. Trường chúng tôi ở số 30 đường Phan Đình Phùng thuộc khu Ba Đình, Hà Nội. Vì là nữ sinh miền Nam, lại ở nội trú, dễ tập họp, nên mỗi khi Bác Hồ đón khách quốc tế, chúng tôi thường được triệu tập đến phủ Chủ tịch để rải hoa đón khách.

Một lần, trong khi chờ khách đến, biết chúng tôi đang ở đó, Bác Hồ ra cổng và chúng tôi ùa tới vây quanh Bác, nói cười ríu rít rồi xin Bác cho chụp ảnh chung. Bác đồng ý và nói: – Các cháu xếp hàng lại đi, lớn đứng trước, nhỏ đứng sau. Các cháu đồng ý không? Chúng tôi mừng quá chẳng cần suy nghĩ, vội vàng hô vang: – Đồng ý, đồng ý. Thế là Bác liền rầy: – Bác nói, lớn đứng trước, nhỏ đứng sau, thế mà các cháu cũng đồng ý à? Lúc bấy giờ chúng tôi mới chưng hửng.


Bác Hồ với các cháu thiếu nhi. Ảnh TL

Bác nói tiếp: – Dù là Bác nói, cũng phải suy nghĩ xem đúng, sai, rồi mới đồng ý. Một bài học thật nhẹ nhàng phải không các bạn. Nhưng với chúng tôi, những nữ sinh miền Nam ngày ấy, vẫn nhớ suốt đời.

* Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 4-5 – NXB Sự thật, năm 1985.
** Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X.

honvietquochoc.com.vn

Mấy suy nghĩ về việc học tập và làm theo đạo đức của Bác Hồ

Cuộc vận động học tập và làm theo tấm guơng đạo đức Hồ Chí Minh được Đảng phát động đến nay đã gần hai năm. Đã có rất nhiều hình thức sôi động đem lại những hiệu quả thiết thực cho phong trào có ý nghĩa sâu sắc này. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều bài viết về đạo đức, tác phong sinh hoạt của Bác; nhiều tin tức phản ảnh sự hưởng ứng rộng khắp cuộc vận động ở các ngành, các địa phương. Đáng chú ý là cuộc thi kể chuyện đạo đức Bác Hồ do Ban Chỉ đạo cuộc vận động Trung Ương phát động, đã làm tăng thêm sự sôi động từ cơ sở đến các ngành ở Trung Ương trong phong trào này. Buổi tổng kết đã được tổ chức trọng thể ở Hà Nội và đích thân đồng chí Tổng Bí thư trao giải thưởng cho những người đoạt giải cũng đã chứng minh tính chất quan trọng của cuộc thi.

Tuy nhiên, dư luận rộng rãi cho là cuộc vận động vẫn còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, còn có tính chất rầm rộ phô trương chứ chưa đi sâu vào thực chất yêu cầu đề ra. Điều mà xã hội quan tâm đã học rồi, nhưng làm theo Bác mới là quan trọng. Và việc làm theo đó, trước hết phải là trong cán bộ, Đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo từ Trung Ương đến cơ sở. Mặt khác, những việc làm theo đó đã đạt được những hiệu quả cụ thể, thiết thực như thế nào phải được thông báo rộng rãi để khích lệ phong trào, đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu.

Thực ra, đạo đức Bác Hồ đã được Bác cô đọng trong mấy chữ: “Trung với nước, hiếu với dân” và “cần – kiệm – liêm – chính, chí công vô tư”. Bác cũng đã giải thích rõ cần, kiệm, liêm, chính là thế nào trong bài viết rất sâu sắc và súc tích từ năm 1949*. Ở Bác Hồ, đạo đức gắn liền với tác phong sinh hoạt, lề lối làm việc, quan hệ ứng xử, văn hoá giao tiếp. Đương nhiên, tình hình kinh tế xã hội thời hoạt động của Bác khác với hiện nay, nhưng tác phong, đạo đức của Bác vẫn luôn là một hình mẫu vừa mang tính bền vững, vừa mang tính thời sự cho mọi đối tượng trong xã hội chúng ta, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cả dân sự và quân sự, cả thế hệ hôm nay và mai sau.

Học tập và làm theo Bác cũng không phải cứng nhắc, làm y như Bác một cách thô thiển. Ngày trước, khi đi công tác, giờ ăn trưa, Bác không vào trụ sở của tỉnh vì ngại phiền địa phương, Bác cùng anh em lái xe, cần vụ, giúp việc đưa cơm nắm ra ăn và trải ni-lông nằm nghỉ dưới gốc cây, sau đó mới vào làm việc. Nay thì các vị nguyên thủ của ta không thể làm thế. Vì nếu làm như thế thì có thể bị cho là giả tạo! Nhưng cái chính là phải học và làm theo cái gương không gây phiền hà cho địa phương của Bác.

Có chuyện kể lại rằng, thời chống Pháp, giấy viết hiếm, Bác thường nhặt các phong bì còn một mặt viết được để sử dụng. Bây giờ thì trong các cơ quan không ai làm như Bác vì giấy viết không phải quá hiếm, nhưng cái cần học tập ở Bác là phải biết tiết kiệm, cái gìvật gì còn dùng được thì sửa sang mà dùng, không tốn tiền nhà nước để mua sắm mới. Nhưng hiện nay thì các cơ quan nhà nước ta còn quá lãng phí: ô tô còn chạy tốt đã thay, bàn ghế còn tốt đã phế đi để đóng mới; vào dịp cuối năm, mừng Tết thì Thiệp chúc mừng và lịch biếu được in vô tội vạ, trong khi nhiều học sinh nghèo không có tiền mua sách giáo khoa.

Những sinh hoạt của Bác như thế có thể coi là chuyện thường ngày. Ở nước ta, trong cuộc đấu tranh chống lãng phí, nếu các cán bộ, công chức đều có ý thức học tập và làm theo tấm gương tiết kiệm như Bác, chắc sẽ đem lại lợi ích không nhỏ. Nước ta còn nghèo, thu nhập bình quân đến nay mới đạt 1.000 USD một đầu người trong một năm, nhưng xem ra việc tiêu xài ở các cơ quan công quyền vẫn còn khá lãng phí.

Vừa qua, trong kỳ họp Quốc hội cuối năm, khi thảo luận về chống lãng phí, có đại biểu đã phát biểu là nước ta đang có bệnh “hoành tráng” nghĩa là cái gì cũng muốn cho oai, phô trương, hình thức, tiêu tiền công không tiếc! Đấy là chưa nói đến việc lãng phí thời gian, công sức. Nếu Bác còn sống, chắc Bác sẽ phê bình nghiêm khắc.

Năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang rất ác liệt, chính quyền còn rất non trẻ, nhưng trong đội ngũ cán bộ đã có biểu hiện quan liêu, cục bộ, hẹp hòi, địa phương…, Bác đã viết tài liệu “Sửa đổi lề lối làm việc” để cho cán bộ Đảng, nhà nước, quân đội học tập nhằm chống các căn bệnh trên. Bác đề cao đạo đức cách mạng là nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng. Có thể nói, tất cả những điều Bác viết trong tài liệu này cho đến nay vẫn đậm tính thời sự, đặc biệt trong tình hình mà “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức đang diễn ra nghiêm trọng**.

Do đó,việc phát động cuộc vận động học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh là rất cần thiết, nếu không nói lẽ ra cần phải sớm hơn. Nhưng học chỉ là một vế, còn vế quan trọng hơn là làm theo, vì đây mới là mục tiêu chủ yếu của cuộc vận động. Dư luận cả nước hy vọng là trong thời gian tới, việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác sẽ gặt hái được nhiều kết quả thiết thực, cụ thể, to lớn hơn.

Cuối năm 2008

honvietquochoc.com.vn

Giương cao ngọn cờ Đại đoàn kết Hồ Chí Minh vững bước vào thời kỳ phát triển mới

Để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo bước đột phá trong phát triển đất nước, những năm tới Đảng Cộng sản Việt Nam phải dành nhiều công sức tạo bước chuyển biến rõ rệt về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực.

Story.axd copy.jpg

Dĩ bất biến ứng vạn biến

Càng đi sâu nghiên cứu, suy ngẫm, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đối chiếu với sự vận động theo dòng chảy thời gian của đời sống, càng thấy tầm phủ sóng rộng lớn và độ mở khôn cùng tư tưởng của Người. Có thể tìm thấy trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh nhiều, rất nhiều vấn đề còn nóng hổi tính thời sự, đặc biệt là tư tưởng đại đoàn kết – sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các bài viết, bài nói và cuộc đời hoạt động vô cùng phong phú, cao đẹp của Người. Đại đoàn kết, từ tư duy truyền thống đến Hồ Chí Minh đã trở thành một chiến lược cách mạng nhất quán, thành bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc đấu tranh trường kỳ giành và giữ độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tập hợp, phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành những thắng lợi vĩ đại. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công công là sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bài học lịch sử cơ bản, phản ánh quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, trung thành với tư tưởng cách mạng và khoa học của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng củng cố, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam hoàn thành thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới.

Ở thời điểm kết thúc thập niên thứ nhất, chuẩn bị bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Việt Nam đứng trước những thời cơ, vận hội phát triển mới, đồng thời cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ. Thành quả to lớn sau một phần tư thế kỷ tiến hành sự nghiệp đổi mới đã làm tăng thêm nhiều lần thế và lực của đất nước; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền được giữ vững; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế và uy tín quốc tế được nâng cao. Đó là nền tảng cơ bản, tạo đà cho bước phát triển bứt phá trong chặng đường sắp tới. Tuy nhiên, tiềm lực và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh của nền kinh tế đất nước trong cuộc ganh đua kinh tế gay gắt, quyết liệt toàn cầu; những hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục trong quản lý, giải quyết những vấn đề văn hóa, xã hội, nhất là tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội; cuộc đấu tranh cam go chống tham nhũng, tiêu cực nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; tính chất gay gắt của cuộc đấu tranh tư tưởng trước sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch và sự phức tạp trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền trước xu hướng gia tăng cuộc chạy đua tranh giành tài nguyên, năng lượng và các địa bàn chiến lược giữa các quốc gia… là những khó khăn, thách thức đang đặt ra, đòi hỏi phải được giải quyết.

Trong bối cảnh đó, kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chính là phương sách tạo nên sức mạnh vô địch dựng nước và giữ nước; chính là lấy cái bất biến để ứng phó với cái vạn biến của thời cuộc.

Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do con người, vì con người

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trọn đời hy sinh phấn đấu vì mục đích cao cả: dân tộc độc lập – nhân dân tự do – con người hạnh phúc. Mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động của Người đều hướng vào, đều xoay quanh mục tiêu duy nhất đó. Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trở thành ngọn cờ hiệu triệu, động viên sức mạnh vĩ đại của đông đảo lực lượng yêu nước, cách mạng chính là vì Người đã nhận thức đúng đắn sự thống nhất biện chứng và giải quyết hài hoà lợi ích dân tộc – lợi ích giai cấp – lợi ích con người phù hợp với yêu cầu và điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng.

Những năm tháng đất nước bị chủ nghĩa thực dân đô hộ, nhân dân sống trong lầm than nô lệ; độc lập, chủ quyền dân tộc bị chà đạp; Tổ quốc bị chia cắt, độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất là đòi hỏi khách quan của toàn dân tộc, là ý nguyện của mọi giai tầng xã hội, là khát vọng của mỗi người Việt Nam yêu nước. Lúc này, lợi ích dân tộc, giai cấp, con người thống nhất làm một – nước mất thì nhà tan; không giành được lợi quyền cho dân tộc thì lợi ích của giai cấp, của con người đến vạn năm cũng không đòi lại được. Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu: Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải giành cho được độc lập, nếu còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch chúng đi … Những lời kêu gọi tràn đầy tính tư tưởng và hành động của Người đã khơi dậy chủ nghĩa yêu nước và khí phách anh hùng của dân tộc, nhân dân, con người Việt Nam, tạo nên những kỳ tích trong Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Trong khi đề cao lợi ích dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến lợi ích con người. Trước khi giành được chính quyền, Người đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ: ruộng đất cho dân cày; tăng lương, giảm giờ làm cho thợ thuyền; quyền tự do cho công chức, viên chức, học sinh, sinh viên… Đất nước vừa được độc lập, trước sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài, tình thế như ngàn cân treo sợi tóc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa lãnh đạo Chính phủ lâm thời lo chống giặc ngoại xâm, vừa dồn sức chống giặc đói, giặc dốt. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Người chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa đánh giặc vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đảm bảo đời sống cho nhân dân, bộ đội. Trong quá trình xây dựng chế độ xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương chăm lo cho con người, từ cái kim sợi chỉ, tương cà mắm muối, việc học hành, khám chữa bệnh, đến đảm bảo quyền tự do, bình đẳng và cơ hội phát triển, tiến bộ. Trước khi qua đời, trong Di chúc gửi lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn ”Đầu tiên là công việc đối với con người”’,(1) ”Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm nâng cao đời sống của nhân dân” (2). Có thể nói, như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: ”Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về với con người với những khả năng thiên biến vạn hóa của nó”(3).

Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do con người, vì con người – đó chính là nền tảng trong Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh; là mẫu số chung để tăng cường sự thống nhất, đồng thuận và hóa giải những khác biệt, thậm chí mâu thuẫn về lợi ích theo phương châm cầu đồng tồn dị. Đây là bài học lớn đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.

Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo đất nước luôn nhất quán mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trước mắt, đang động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu lý tưởng đó thật cao đẹp; mục tiêu phấn đấu trước mắt có ý nghĩa thật lớn lao, thiết thực. Cần tăng cường tuyên truyền, vận động để mục tiêu phấn đấu đó từ ý tưởng trong Cương lĩnh, trong Chiến lược của Đảng thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, của mỗi người Việt Nam yêu nước, trở thành khát vọng, ý chí, quyết tâm chấn hưng đất nước, thành mẫu số chung quy tụ đại đoàn kết toàn dân tộc, biến nó thành sức mạnh hành động trong lao động, sáng tạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Trung thành với chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt vấn đề con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực, ”thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.” (4) Trên thực tế, cùng với những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã thành công trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, thực hiện thắng lợi những mục tiêu thiên niên kỷ. Điều kiện sống, lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe của người Việt Nam không ngừng được cải thiện; quyền con người được tôn trọng, bảo đảm; ước mơ, hoài bão và tài năng sáng tạo của con người được khuyến khích, trân trọng. Tuy nhiên, do tiềm lực kinh tế còn hạn chế, do tác động của thiên tai cùng ảnh hưởng những biến động khó lường của kinh tế quốc tế trong bối cảnh hội nhập và do cả những yếu kém trong quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội, đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, những người làm công ăn lương, những gia đình chính sách, neo đơn, cô quả… còn khó khăn; khoảng cách giàu nghèo chậm được thu hẹp; tiến bộ và công bằng xã hội triển khai chưa đồng bộ; có nơi, có lúc quyền và lợi ích của con người còn bị xâm phạm. Bước vào thời kỳ phát triển mới, Đảng, Nhà nước cần đầu tư thích đáng các nguồn lực; hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống và bồi đắp, phát huy tài năng lao động, sáng tạo vốn rất tiềm tàng của người Việt Nam, nhân lên sức mạnh kết đoàn và nguồn năng lượng nội sinh vô tận. Những năm tháng này, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo cho con người có ý nghĩa thời sự sâu sắc biết nhường nào: ”Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng rất cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người”(5)

Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân

Trong các di cảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi ngời sáng những dòng chữ viết về Nhân Dân:

”Nước lấy dân làm gốc”

”Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”;

”Trong bầu trời không có gì quí hơn nhân dân.

Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”;

”Dễ trăm, lần không dân cũng chịu,

Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Đại đoàn kết toàn dân tộc thực chất là đoàn kết toàn dân. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phạm trù Nhân Dân mở rộng biên độ tới tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giàu nghèo, trong nước hay ở nước ngoài – ai tự nguyện nhận mình là con Lạc cháu Hồng thì người đó là một tế bào của Nhân Dân. Theo Người, Nhân Dân tuy là một phạm trù mở về biên độ, nhưng chặt chẽ về cơ cấu, tổ chức – Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp là tổ chức tập hợp, vận động, hướng dẫn và đại diện cho quyền lợi của Nhân Dân, liên minh công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ máu thịt giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cách mạng với Nhân Dân. Một mặt, Nhân Dân chỉ có thể trở thành lực lượng tự giác và phát huy cao nhất tiềm năng, sức mạnh của mình một khi có Đảng Cộng sản, lãnh đạo; mặt khác, Đảng Cộng sản chỉ nắm được và giữ vững quyền lãnh đạo đất nước, xã hội khi nào Nhân Dân tin tưởng, đi theo và hết lòng ủng hộ. Vì vậy, Đảng Cộng sản phải hết lòng, hết sức phụng sự Nhân Dân; cán bộ, đảng viên phải là người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ, người công bộc thật sự trung thành của Nhân Dân. Tất cả quyền lực và của cải là của Nhân Dân; Nhân Dân trao quyền cho Nhà nước điều hành, quản lý, và do vậy Nhà nước phải phấn đấu trở thành nhà nước thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, mang lại những lợi ích thiết thực phục vụ nhân dân.

Trọng dân, gần dân, hiểu dân, yêu dân, học dân, có trách nhiệm với dân; nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin, mọi chủ trương, chính sách xuất phát từ dân và trở về với dân… chính là phương châm hành động và phong cách Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tình nguyện làm một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào mà phấn đấu hy sinh, ”Hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”. (6) Nhân dân Việt Nam thành kính biết ơn, tuyệt đối tin theo và đoàn kết xung quanh Người chính là vì lòng yêu nước, thương dân bao la đó.

Mấy chục năm qua, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân Việt Nam hăng hái đấu tranh, tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.(7) Ở thời điểm chuẩn bị bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI với mục tiêu phấn đấu có ý nghĩa lịch sử, trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá hòng phân hóa nội bộ nhân dân, kích động chia rẽ, đối lập Nhân Dân với Đảng, việc kế thừa, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát huy dân chủ, quyền làm chủ và tiềm năng to lớn của Nhân Dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa sống còn. Vấn đề cấp bách phải làm ngay là tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một phận cán bộ, đảng viên; khắc phục những yếu kém, khuyết điểm trong quản lý kinh tế, xã hội; giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội và dân sinh bức xúc; nâng cao dân trí, dân khí, dân sinh; kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh tâm lý – thông tin của các thế lực thù địch… nhằm củng cố niềm tin và bồi đắp quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhân Dân với Nhân Dân. Làm tốt những công việc này thì khó khăn, thử thách nào cũng có thể vượt qua; mục tiêu, nhiệm vụ nào Việt Nam cũng có thể thực hiện thắng lợi.

Quan san muôn dặm một nhà

Trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc luôn gắn liền với đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính luôn hòa quyện và thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Hiếm có lãnh tụ quốc gia nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh, một phần lớn cuộc đời tranh đấu của mình lại gắn bó mật thiết, ở tầng sâu và tầm cao, với thực tiễn phong trào cách mạng thế giới; nhận thức và giải quyết những vấn đề của đất nước, dân tộc mình từ tầm nhìn nhân loại và xu thế thời đại. Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi phải có một đảng chân chính lãnh đạo để trong thì tập hợp mọi lực lượng yêu nước, ngoài thì liên kết với giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức, bóc lột nơi nơi. Khi đất nước đã giành được độc lập về chính trị, phải tiến hành sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước và xây dựng chế độ xã hội mới, với trách nhiệm là người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Việt Nam chỉ muốn hoà bình và độc lập để cộng tác thân thiện với các dân tộc trên thế giới”(8); Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á, một bộ phận trong nền hòa bình chung toàn thế giới; “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước châu Á là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là thái độ bạn bè” (9); “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(10). Tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh có sức thu hút và lan tỏa sâu rộng bởi lẽ đó là tư tưởng vì hòa bình, công lý, vì tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc, là sự kết hợp hài hoà đoàn kết để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của nhân loại tiến bộ với thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả theo tinh thần thuỷ chung, trong sáng. Người thường căn dặn: giúp bạn chính là giúp mình.

Là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội (…), những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”(11). Những người yêu chuộng hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới khâm phục, ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh vì Người là hiện thân cho tình anh em bốn biển và thông qua những hoạt động không mệt mỏi, những cống hiến xuất sắc của Người đối với cộng đồng quốc tế, nhân loại tiến bộ hiểu nhiều hơn, ủng hộ và hết lòng giúp đỡ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam anh hùng. Đáp lại tình cảm và sự giúp đỡ quốc tế quý báu đó, trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tâm nguyện thay mặt nhân dân Việt Nam đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam.(12)

Thế giới ngày nay đã có nhiều thay đổi. Nhân loại đang chứng kiến sự cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Toàn cầu hóa cùng sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ và sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu và những hiểm hoạ chung đang và sẽ đặt trước nhân loại những vận hội và thách thức mới. Xu hướng hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu hướng lớn, chủ đạo; các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau trong sự tùy thuộc về lợi ích và yêu cầu chung tay giải quyết những vấn đề toàn cầu. Tuy nhiên, sự phục hồi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và sự gia tăng cuộc cạnh tranh ảnh hưởng, quyền lực, tài nguyên… vẫn là những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến mâu thuẫn và xung đột khu vực và quốc tế không thể xem thường.

Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tiếp tục kế thừa, phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tê.ë Việt Nam đang và sẽ là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế (13), vừa kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vừa làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Một thế giới hòa bình, thịnh vượng, một cộng đồng quốc tế hữu nghị, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần anh em, bè bạn – đó là mong muốn và phấn đấu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng là ước nguyện của dân tộc Việt Nam, một dân tộc khao khát, yêu chuộng hòa bình, đạo lý nhân nghĩa thủy chung và cũng là một dân tộc sẵn sàng đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệ hòa bình, độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình

Đảng Cộng sản Việt Nam là thành viên đặc biệt của Mặt trận dân tộc thống nhất, là hạt nhân đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, hướng dẫn hoạt động của Mặt trận. Sự đoàn kết, thống nhất của Đảng tác động rất lớn đến việc tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến công tác xây dựng Đảng, nói chung, đến việc củng cố, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí của Đảng, nói riêng. Trong bản Di chúc lịch sử, với tư cách là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những suy nghĩ trăn trở cả một đời về Đảng, xem đó là công việc quan trọng trước hết để dặn lại những người đồng chí của mình. Người viết: ”Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Người dặn dò, trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phêâ bình; phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. (14) .

Hơn bốn mươi năm đã trôi qua, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Tuyệt đại bộ phận những người cộng sản Việt Nam đã giữ đúng lời thề khi vĩnh biệt vị Lãnh tụ thiên tài và vô cùng kính yêu của mình: Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi. (15) Tuy nhiên, trong tiến trình cách mạng và đổi mới, do tác động của những tàn dư tư tưởng phong kiến, thực dân chưa bị quét sạch, tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ chưa được khắc phục; do tính chất lâu dài, gian khổ, phức tạp của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; do sự kích thích, cám dỗ của mặt trái cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế chưa được phòng ngừa, ngăn chặn; do sự kích động chống phá tinh vi và hiểm độc của các thế lực thù địch chưa bị đánh bại và do cả những thiếu sót trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, một bộ phận cán bộ, đảng viên không chịu tu dưỡng, rèn luyện đã bị tha hóa, biến chất. Đã có biểu hiện dao động, hoài nghi đường lối, chủ trương của Đảng; đã xuất hiện tư tưởng công thần, địa vị, cục bộ, bè phái; đã có hiện tượng đam mê, tranh giành quyền lực, chạy chức, chạy quyền… Những tiêu cực đó đã ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, hạn chế sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo bước đột phá trong phát triển đất nước, những năm tới Đảng Cộng sản Việt Nam phải dành nhiều công sức tạo bước chuyển biến rõ rệt về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực.

Đây là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam.(16)

87 năm trước, Nhà văn Xô viết Oxíp Manđenxtam đã viết trên báo Ogoniok về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với một dự cảm tốt đẹp: ”Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. (17) Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh bên thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chính là dịp để những người cộng sản Việt Nam, một lần nữa, ôn lại những di sản tư tưởng vô giá của Người Thầy vĩ đại, để tin tưởng vững bước vào tương lai./.

GS.TS. Phùng Hữu Phú
UVTƯ Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực
Ban Tuyên giáo Trung ương

———————–

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t12, tr.503
(2) Sdd, tr. 511
(3) Phạm Văn Đồng: Bản Di chúc bất hủ sáng ngời tính thời sự, 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 277
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.77
(5) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.8, tr. 272
(6), (7) Hồ Chí Minh; Toàn tập, t. 12, tr. 512, 510
(8), (9), (10) Hồ Chí Minh; Toàn tập, t.5, tr.22, 136, 220
(11) Nghị quyết của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, tr. 509
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr. 112
(14) Hồ Chí Minh; Toàn tập, t. 12, tr. 510
(15) Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 56
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr. 130
(17) Hồ Chí Minh; Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 478

hochiminhhoc.com

“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để thực hiện “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng với vai trò tiền phong, được nhân dân tin yêu và kính phục, thì phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, chống lại sự suy thoái về đạo đức và lối sống bằng phương thuốc đặc trị – đó là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Quyết tâm và dũng khí đấu tranh của Người xuất phát từ tấm lòng yêu mến nhân dân, “sức mạnh và uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân”[1] và “điều mà Người đã truyền bá, đó cũng là hình ảnh một con người mới, vì mọi người mà phục vụ; điều mà Người khắc sâu trong cả một dân tộc, đó là nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”[2].

Đặc biệt quan tâm đến vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự nêu gương của những người cách mạng, không chỉ nói về đạo đức cách mạng, yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thường xuyên phấn đấu rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta còn luôn gương mẫu thực hành đạo dức cách mạng, thống nhất nguyên tắc “nói đi đôi với làm”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên muốn xứng đáng với vai trò tiền phong, được nhân dân tin yêu và kính phục, thì phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, chống lại sự suy thoái về đạo đức và lối sống bằng phương thuốc đặc trị – đó là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Mùa xuân năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (Báo Nhân dân đăng ngày 3-2-1969, số 5409), chào mừng 39 năm ngày thành lập Đảng. Trong tác phẩm này, khi khẳng định về Đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”, là hiện thân của “danh dự và lương tâm của dân tộc”, Người viết: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”[3]. Thực tiễn cho thấy, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã không ngừng phấn đấu, sẵn sàng hy sinh tất cả vì thắng lợi của cách mạng, vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Trên mọi lĩnh vực sản xuất, chiến đấu, nghiên cứu khoa học, v.v.. cán bộ, đảng viên đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt, lãnh đạo đã gương mẫu đi đầu, trở thành mực thước cho nhân dân noi theo. Những người con ưu tú đó của dân tộc và của Đảng đã thấm nhuần “tư cách người cách mạng”, nên “nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào vì có những người con xứng đáng như thế”[4].

Tuy nhiên, trong những năm tháng cả nước cùng đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đó, “tâm lý thời bình”, bệnh “ham danh lợi”, cùng những tệ nạn vốn là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân đã trở thành kẻ địch thứ ba luôn ẩn náu trong mỗi con người, là đồng minh của hai kẻ địch (chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù số một nguy hiểm; thói quen cố hữu là kẻ địch to thứ hai), đang làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng. Vì thế, trong tác phẩm này, Người nói: vì cá nhân chủ nghĩa mà không ít người mang trong mình những căn bệnh, những thói hư, tật xấu, “không lo mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”; “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa”; “tham danh trục lợi”; “tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền”,“xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh” mà trở thành xa lạ với nhân dân; “không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu khó học tập để tiến bộ”[5] nên trở thành người “thoái bộ”. Họ không thích tự phê bình và phê bình, sợ mất thể diện trước quần chúng, nên phạm nhiều sai lầm, khuyết điểm.

Những tệ nạn nghiêm trọng này, một mặt, làm rạn nứt khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng, làm giảm đi nguồn sức mạnh của Đảng, tlàm mất đi tính tiền phong của đội ngũ cán bộ đảng viên và đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền. Mặt khác, cho thấy nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên “phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”[6] trên tinh thần “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng” và “phải hoan nghênh khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”. Không chỉ nhấn mạnh, coi tự phê bình và phê bình là phương thuốc đặc hiệu để chữa bệnh “cá nhân chủ nghĩa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đồng thời khẳng định rằng: tự phê bình và phê bình một cách chân thành trên cơ sở của tình đồng chí thương yêu lẫn nhau theo một “chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”[7] là những yêu cầu bắt buộc để một Đảng Mácxít luôn trong sạch, vững mạnh.

Luôn lo lắng và quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, bận tâm và trăn trở về nhiệm vụ trọng yếu này, mùa xuân cuối cùng cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại một di huấn thiêng liêng cho toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng, đó là tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Hàm ý sâu sắc trong di huấn của Người là Đảng không chỉ thực hiện tuyên truyền về đạo đức cách mạng chung chung không thôi, mà Đảng thường xuyên “phải bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật” cho cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt. Vì rằng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, Đảng không chỉ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng bằng đường lối, chủ trương đúng, Đảng còn lãnh đạo cách mạng bằng sự mực thước và nêu gương của đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng. Cho nên, trong mọi hoàn cảnh, thì, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, hướng lòng mình đến chí công vô tư là “một cách tốt nhất để xây dựng Đảng”, thiết thực làm cho Đảng xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc.

2. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: vì sa vào chủ nghĩa cá nhân nên một số cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, biến chất, kéo bè kéo cánh, vi phạm kỷ luật Đảng,v.v.. gây mất đoàn kết trong Đảng, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng. Và 43 năm sau khi Người viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, tình trạng “cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ…” đã ngày càng trở nên trầm trọng.

Nhất là khi “công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”; khi “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”, thì rất kịp thời và “đặc hiệu”,Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã ra đời vào mùa xuân năm 2012.

Từ những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong tác phẩm này và từ nội dung của Nghị quyết cho thấy, trong bối cảnh mới, những vấn đề quan trọng: “Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức – là những việc cần kíp của Đảng”[8] càng trở nên có ý nghĩa thời sự. Theo đó, để Nghị quyết số 12 đi vào cuộc sống, thì một nhiệm vụ vừa xuyên suốt và cấp bách cần phải thực hiện là phải “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng”.

Để Đảng Cộng sản Việt Nam phát huy được sức mạnh nội lực của trí tuệ và đạo đức, ngày một trưởng thành và vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó; để cán bộ, đảng viên thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân thì mỗi người phải không ngừng học tập, thực hiện việc rèn luyện theo 4 nguyên tắc đạo đức cách mạng, làm theo tấm gương của Bác Hồ – tấm gương của một người luôn xa lạ với mọi thứ chủ nghĩa cá nhân. Đó là, cùng với việc phải luôn Nói đi đôi với làm, “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”[9]; “đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”, cán bộ, đảng viên- nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ chốt phải thấm nhuần, thực hiện sự Nêu gương về đạo đức.  một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, nên “lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng”. Trong quá trình triển khai thực hiện, chú trọng giải pháp Xây đi đôi với chống, kết hợp giữa Xây và chống, để đồng thời với việc xây dựng và thực hiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng là việc kiên quyết phòng chống và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nhằm vừa nhân rộng cái tốt, vừa phê phán, loại bỏ dần cái xấu. Và để mỗi người thật “ít lòng ham muốn về vật chất”, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, đời tư trong sáng, thì nhất định Phải tu dưỡng suốt đời. Vì nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, có đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Làm tốt theo 4 nguyên tắc Người từng chỉ rõ này và “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh” theo tinh thần của Nghị quyết số 12, trong toàn Đảng phải thực hiện nghiêm túc “nguyên tắc tập trung dân chủ” để Đảng ta luôn thống nhất trong tư tưởng, ý chí và hành động; phải nghiêm khắc và chân thành “tự phê bình và phê bình” – “cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”. Quan trọng nhất, cần thiết nhất, phải làm thật tốt, thật hiệu quả “công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống” của cán bộ, đảng viên nói chung và “nêu gương những việc làm đúng, gương người tốt” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt nói riêng, để “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, thì nhất định sẽ góp phần ngăn chặn và xóa đi “môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển”; để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần “công bình, chính trực” khi thực hiện chức trách người “công bộc” của nhân dân; gần gũi, lắng nghe và gắn bó mật thiết hơn với nhân dân – “xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

TS. Văn Thị Thanh Mai


[1] Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.KHXH, H,1990, tr.120.
[2] Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, H,1971, , t.III, tr.90
[3], [4], [5], [6], [7], [9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.12, tr.438, 438, 438-439, 439,439 439,
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 6, tr.167

Theo Tạp chí tuyên giáo, Thứ Tư 01/2/2012

tuyengiao.vn

Học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn hiện nay

Hiện nay, trong công cuộc đổi mới, thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế có nhiều thuận lợi to lớn, nhưng cũng lắm nguy cơ, thách thức phức tạp, hơn lúc nào hết chống chủ nghĩa cá nhấn là vấn đề đã và đang đặt ra bức thiết cho quá trình xây dựng phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình xây dựng, phát triển hội nhập ngày càng sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, những mặt trái của cơ chế thị trừơng xuất hiện ngày càng nhiều và tinh vi hơn tác động mạnh đến việc xây dựng phát triển kinh tế, tác động đến công tác xây dựng Đảng, tác động trực tiếp vào đội ngũ đảng viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trong quá trình thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh việc ngăn chặn, chống CNCN đã và đang là vấn đề cấp bách của toàn xã hội. Chúng ta thấy rằngviệc xây dựng qui chế, qui định, kû c­¬ng, kû luËt ngày càng chặt chẽ và được chú ý nhưng việc thực hiện ch­ưa thật sự được mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực và mỗi cán bộ đảng viên tuân thủ một cách nghiêm túc và triệt để.

Để nhận diện ra được, đề ra biện pháp đề phòng và chống một cách triệt để nhất, chúng ta phải nhìn nhận CNCN nó như thế nào?

Dưới góc độ tìm hiểu, nghiên cứu xin nêu ra một số hình thức biểu hiện của Chủ nghĩa cá nhân.

CNCN biểu hiện dưới nhiều hình thức, trong mọi khía cạnh, mọi lĩnh vực, nhưng tựu trung có thể thấy, người mang tư tưởng CNCN là muốn mọi người vì mình, muốn mình là “trung tâm”, “trong đầu luôn thể hiện cái tôi là trên hết” và không muốn ai hơn mình; đòi hưởng thụ, đòi thỏa mãn ham muốn cá nhân; không muốn khổ trước, sướng sau mọi người. Bác Hồ đã chỉ ra “Họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng” từ những phân tích đó Bác cũng chỉ ra những ai như thế, những cá nhân có tư tưởng như vậy là bị CNCN thao túng “dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng cho cách mạng” từ đó chúng ta thấy rằng trong nền kinh tế thị trường, những mặt trái của cơ chế sẽ tác động vào mỗi người trong từng lúc, từng nơi, tác động vào mọi ngõ ngách cuộc sống, nếu không có quan điểm lập trường vững vàng, thì không sao tránh khỏi, sẽ bị sa ngã là điều tất yếu.

CNCN còn là thái độ kiêu ngạo, công thần, quan liêu, Bác chỉ ra: một số ít đảng viên bị CNCN trói buộc…họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; họ không tự phê bình hoặc phê bình không thật thà, nghiêm chỉnh; họ sợ tự phê bình sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng, họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. Ta thấy, tự cá nhân những cán bộ như vậy đã đánh mất niềm tin của mọi người. Bản thân những người đó tự xem mình cái gì cũng giỏi, xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy thiên hạ, họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Những người như vậy còn tự cho mình được quyền hành động tự do, vô tổ chức, Bác nêu rõ: những đối tượng cán bộ như thế làm giảm sút niềm tin, ngăn trở sự nghiệp của Đảng, cản trở bước đi lên của Cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, đó là tình trạng không chấp hành chỉ thị, nghị quyết, trên bảo dưới không nghe; hoặc mặc dù được phổ biến quán triệt vì sự nghiệp chung, tổng thể, nhưng khi thực hiện lại nửa vời, làm qua loa, đại khái, chiếu lệ. Như phân tích, CNCN có lúc biểu hiện một cách tinh vi, kín đáo, nhưng cũng có những lúc thể hiện một cách trắng trợn, lộ liễu, từ đó Bác nói: CNCN nó làm cho một số cán bộ, đảng viên xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách, kỷ luật của Đảng; làm cho một số cán bộ, đảng viên tha hóa, mất phẩm chất, đạo đức. Dẫn đến đẻ ra hàng trăm thứ “bệnh nguy hiểm”: bè phái, quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, tham ô, lãng phí…dẫn đến mất lòng tin của dân đối Đảng, đối với chế độ.

Để chống lại CNCN,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: Đối với tự mình, đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ; phải tìm tòi, học hỏi cầu tiến bộ; đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người. Đối với công việc; việc gì cũng phải điều tra cho rõ ràng, xem xét kỹ, khi thực hiện phải làm đến nơi đến chốn, chống tư tưởng nửa vời, được chăng hay chớ, trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt có hiệu quả, nhưng về sau không có lợi. Đối với đồng chí phải thân ái với nhau, không che đậy những điều dở; học lấy cái tốt; không tranh giành ảnh hưởng của nhau; không ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…Đối với nhân dân, phải biết lắng nghe và cố gắng nghe được nhiều thứ, phải hiểu được nguyện vọng của nhân dân, biết được sự cực khổ của dân; phải tôn kính dân, phải làm gương, mọi cán bộ phải lấy dân làm gốc. Trong giai đoạn hiện nay tỉnh Bình Định đã và đang cùng cả nước bước vào hòa nhập với nền kinh tế thế giới thì mỗi cán bộ, công chức, mỗi đảng viên phải thật sự xây dựng là người “trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu” nghĩa là:

Thứ nhất: Trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; kiên định lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nói và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, đạo đức, nhận thức chính trị của người cán bộ, công chức, viên chức; tích cực đấu tranh phê bình và tự phê bình.

Thứ hai:Nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào hoạt động thực tiễn. Tìm  tòi nghiên cứu, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, công nghệ; việc với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất. Tích cực học tập, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm chủ các thiết bị khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong quá trình thực thi công vụ.

Thứ ba:Khi thực thi công vụ phải tận tụy hết mình, thực hiện mình vì mọi người; không lợi dụng vị trí, chức vụ được giao gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “cán bộ là công bộc của nhân dân”. Hoàn thành tốt công việc được giao với chất lượng tốt nhất, đảm bảo thời gian, tiến độ theo yêu cầu nhiệm vụ.

Thứ tư:Gắn bó mật thiết với nhân dân, đồng nghiệp; sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, tiết kiệm. Tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và hành động cách mạng. Đoàn kết xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh; xây dựng gia đình văn hóa; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tham nhũng, lãng phí, cửa quyền, quan liêu và các tệ nạn xã hội; tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

Chúng ta thấy rằng trong quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội Đảng ta đã, đang và rất coi trọng quán triệt học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về chống CNCN; đây là nhiệm vụ cực kỳ bức thiết, có ý nghĩa to lớn nhiều mặt và là một công việc tất yếu của cách mạng. Không thể khác – nếu muốn giữ vững là một Đảng chân chính của giai cấp công nhân, để xây dựng thành công CNXH; bởi vậy hơn lúc nào hết, mỗi đảng viên, cán bộ phải triệt để chống CNCN, đem hết toàn tâm, toàn trí và toàn lực cống hiến xây dựng đất nước nói chung và tỉnh Bình Định đi lên.

Với nhìn nhận của cá nhân về những biểu hiện của Chủ nghĩa cá nhân và những nghiên cứu để góp phần chống tư tưởng CNCN trong giai đoạn hiện nay; xin nêu ra để cùng nghiên cứu, trao đổi.

Tôn Võ Xuân – Ban Tổ chức Tỉnh ủy  (Cập nhật ngày 29-09-2011)

snv.binhdinh.gov.vn