Thư viện

Những tội ác kinh khủng của Đế quốc Pháp ở Đông Dương (28-9-1927)

Sau cuộc xâm chiếm của đế quốc Pháp, nhân dân các đảo Tân Êbrít 1 đã bị tiêu diệt bởi rượu, các bệnh hoa liễu và lao động khổ sai, những tai hoạ do nền vǎn minh đế quốc chủ nghĩa du nhập vào trong nước. Sự kiện này đã được ông nghị ácxinbô, báo cáo viên về ngân sách thuộc địa, chính thức thú nhận tại Nghị viện Pháp.

Nòi giống bản xứ thì bị giết chóc, nhưng đất đai các đảo vẫn phì nhiêu và vẫn mang lợi cho bọn thực dân Pháp. Tuy nhiên, bọn này không tự canh tác được trong các đồn điền của mình. Chúng cần có nô lệ. Chúng tìm đến nô lệ ở Đông Dương.

Ngày xưa người ta dùng phương pháp tuyển mộ. Công nhân và nông dân Đông Dương – bị thuế má đè nặng đến lụn bại, bị cái nghèo khổ theo đuổi và bị mua chuộc bởi hứa được lương bổng cao – tự đưa mình vào tròng, xuống tàu đi sang “Tân lục địa”. Nhưng họ bị giết hại bởi sự ngược đãi của chủ đồn điền không kém gì các bệnh tật của vùng nhiệt đới, phần lớn những người “cam kết ra đi” không bao giờ còn thấy đất nước và gia đình mình nữa. Từ đó trở đi, những người Đông Dương khác thà chết đói trên đất nhà còn hơn đem thân sang chết ở đồn điền Pôlinêdi thuộc Pháp.

Những cuộc tuyển mộ đầy tội ác

Hiện nay, để cung cấp nhân công cho đồn điền của họ, người Pháp không lùi bước trước những phương tiện đầy tội ác nhất. Dưới đây là một vài thí dụ: Những tên thực dân Pháp yêu cầu các quan cai trị Pháp ở Đông Dương – những kẻ luôn luôn là đồng loã và đôi khi chung vốn với họ – bắt các làng ở Đông Dương cung cấp một số cu li. Nếu các làng – biết là mình phải làm gì đối với số phận của người mình – không thi hành ngay mệnh lệnh thì bị trừng phạt. Hoặc là, lợi dụng tình trạng đói kém luôn xảy ra ở Đông Dương, người Pháp cho người Đông Dương vay tiền rồi ít lâu sau cho bắt họ vì không trả được nợ, buộc họ phải đáp tàu sang Ôxtrâylia. Hoặc nữa, chúng làm như dùng cu li vào một công việc gì đó trên tàu biển, rồi bỗng nhiên, cu li thấy mình bị trói và giam trong khoang tàu, khi tàu sắp khởi hành. Chúng đánh lừa những người Đông Dương thất nghiệp, hứa cho họ một việc làm ở một tỉnh bên. Chúng đưa các nạn nhân xuống tàu và, giữa đường, đổi hướng đi. Thế là, chúng bắt cóc những người Đông Dương bằng sức mạnh hoặc bằng thủ đoạn và đưa họ đi trong những chuồng bằng sắt, đến tận Tân Êbrít.

Những chứng cớ không thể chối cãi

Trên tàu biển, người Đông Dương chen chúc như những con vật trong những khoang thiếu không khí, không có ánh sáng. Chúng cho họ ǎn uống chẳng là bao. Người ốm bị ném xuống biển “để khỏi lây sang những người khác”. Họ luôn bị những người mang súng canh giữ. Tới các đảo, họ bị giam trong một trại, tức là một cái chợ; chủ đồn điền đến xem họ, chọn và mua một đầu người với giá bao nhiêu đó.

Để đưa phụ nữ đi, chúng cho họ được mang con theo. Nhưng một khi họ đã xuống tàu, chúng quǎng trẻ em xuống nước “để thủ tiêu những cái mồm vô ích”. Điều này đã từng xảy ra với những người đàn bà Bắc Kỳ.

Tháng 7 vừa qua, một tàu biển cập bến Taoxvin với 480 người Đông Dương nhốt trong những chuồng ở đáy tàu. Được một thuỷ thủ báo cho biết, những người Trung Quốc ở Taoxvin định xuống giúp các nạn nhân, nhưng họ bị những người gác có vũ trang trên tàu cản lại. Trong lời kêu gọi người Trung Quốc đǎng trên báo Daily Standard, những người Đông Dương khốn khổ kia nói rằng: Người ta đã dùng thuốc mê bằng thuốc lá tẩm độc, để kéo họ đến tô giới Pháp ở Quảng Châu Loan rồi bắt cóc; trên tàu biển họ chịu đựng đến mức kinh khủng đói, khát và nhất là sự độc ác của những kẻ canh gác: người ốm bị ném xuống nước.

WANG

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 99, ngày 28-9-1927
cpv.org.vn

Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt người bản xứ (5-1928)

Từ sau chiến tranh, để khôi phục lại những đổ nát, chủ nghĩa đế quốc tǎng cường bóc lột thuộc địa. Ngay cả nước Bỉ nhỏ bé cũng thành công khi noi gương “vinh quang” của các láng giềng lớn là Anh, Pháp và những nước khác. Báo “Essor Colonial et Maritime Belge” (“Sự phồn vinh của Bỉ trong thuộc địa và trên biển) (14-7-27) thành thực viết: “Nếu không có Cônggô… nước Bỉ sẽ ra sao… không một chân trời chính trị, không một hy vọng về kinh tế nào cả!”. Thực vậy, nước Bỉ chỉ có Cônggô là thuộc địa. Nhưng nước Bỉ đã biết từ đó rút ra những món lợi đáng kể bằng cách phát triển kinh tế, kỹ nghệ và thương mại: Nǎm 1924, thương mại Bỉ ở Cônggô đạt 551 triệu phrǎng. Nǎm 1925, lên tới 981 triệu phrǎng.

Vì mạnh hơn nên đế quốc Pháp làm được nhiều hơn đế quốc Bỉ. Thương mại Pháp ở các thuộc địa nǎm 1927 – theo ông Phrǎngxoa Mácsan – lên tới một con số lớn gấp bốn lần nǎm 1913! Nói đến con số đó chẳng phải là nói ngoa, vì công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp mở rộng nhanh chóng từ nǎm này qua nǎm khác, như các con số sau đây cho thấy:

Thương mại riêng ở Tây Phi thuộc Pháp

(tính bằng triệu phrǎng):

1921 … 556

1922 … 599

1923 … 917

1924 … 1.347

1925 … 1.912

Thương mại riêng với các thuộc địa khác (trong 10 tháng đầu nǎm)

1925 1926

Angiêri 3.153 triệu 4.804 triệu

Tuynidi 701 – 1.244 –

Marốc 825 – 1.270 –

Mađagátxca 471 – 372 –

Đông Dương 1.162 – 1.934 –

Các thuộc địa khác 1.152 – 1.300 –

Anh, Italia và các nước thực dân khác cũng hành động như thế với các thuộc địa của mình.

Ngoài cái phồn vinh ấy, có được là nhờ vào người bản xứ, những người này còn bị đè nặng bởi vô số thuế má, lao động khổ sai và các phương tiện bóc lột khác (chiếm đoạt ruộng đất, bắt phải tiêu thụ rượu và thuốc phiện), những phương tiện khiến dân số của nhiều thuộc địa bị giảm đi nhiều.

Điều mà ai cũng biết là lao động khổ sai được thi hành ở tất cả các thuộc địa Pháp, Bỉ, Anh và những nước khác. Người Pháp gọi là “tạp dịch”, người Bỉ gọi là “lao động cưỡng bức”, người Anh gọi là “lao dịch”, v.v..

Tờ báo Bỉ nói trên thú nhận rằng “trong tất cả các thuộc địa, lao động cưỡng bức còn được coi và được sử dụng như một trong những đòi hỏi tất yếu của chế độ thuộc địa. Tuyên bố ngược lại chỉ có thể là ngu xuẩn, giả dối hoặc nguỵ trang… muốn chọn từ nào thì tuỳ ý”.

ở Hạ nghị viện Anh, ông Omxbai Gorơ, thứ trưởng Bộ thuộc địa, tuyên bố rằng “lao động của người bản xứ ở Kênya, được sung công, tối đa là 60 ngày mỗi nǎm, và ở Tây Phi thuộc Anh, mọi người phải lao động cưỡng bức để xây dựng đường xe hoả”.

Ông Lêông Periê, Bộ trưởng thuộc địa Pháp, ban bố những sắc lệnh để “cho người bản xứ quen với lao động đều đặn… bằng cách dạy dỗ họ, khuyến khích họ và cả bằng những biện pháp trừng phạt kỷ luật”.

Chưa hết. Đại tá Ônxen và tướng Huyghe, hai vầng hào quang

quân sự Bỉ đề xuất việc tập trung nghiêm ngặt 10.000 người lao động Cônggô, do các ông sếp người da trắng chỉ huy theo lối quân sự.

Hội quốc liên – ta hãy nhắc lại vì vinh dự của nó – cũng hoan nghênh việc thi hành lao động khổ sai. Đây là bản thông cáo báo chí của Vǎn phòng Quốc tế về Lao động (tháng 5-1927): “Một uỷ ban gồm những chuyên gia về lao động của người bản xứ hiện đang họp tại Vǎn phòng Quốc tế về Lao động để xem xét vấn đề lao động cưỡng bức của người bản xứ. Uỷ ban xem xét những nguyên tắc nêu lên trong bản tường trình của Vǎn phòng Quốc tế về Lao động để quy chế hoá lao động cưỡng bức trong trường hợp không thể bãi bỏ được nó…”.

Những người bản xứ bị cưỡng bức lao động được đối xử như thế nào?

Ta hãy nghe chính những người châu Âu thú nhận: Trong một bức thư gửi đến Hội các quyền lợi thuộc địa (10-28) 1 ông Bộ trưởng thuộc địa Bỉ viết: “… Các ngài biết rằng còn phải làm nhiều cho việc xử lý những người da đen được các tư nhân thuê làm; nhiều hãng tư nhân chưa làm được cái cần thiết để bảo đảm đời sống vật chất tối thiểu cho họ: đồng lương khốn khổ không đủ sống, thức ǎn, nhà ở, vệ sinh, v.v. thường không tốt…”.

Trong một lá thư gửi cho báo Manchester Guardian (Người bảo vệ Manséttơ), mục sư Oven tuyên bố rằng chế độ nô lệ độc đoán đã được áp đặt tại Kênya, rằng những người bản xứ phải đi bộ hàng trǎm dặm để đến nơi làm tạp dịch. Ông nêu lên những sự việc và những con số; ông ta viết: Tháng 10-1922, tôi gặp 471 người bản xứ trong đó có 421 phụ nữ (một số lớn có mang), thiếu niên nam và nữ. Họ phải đi bộ mỗi ngày 30 dặm để mang cỏ về cho chính quyền. Họ lĩnh mỗi ngày từ 1/2 penny đến 2 pence 2 . Tháng 8 nǎm 1924, ông gặp những người bản xứ khác bị bắt làm lao động tạp dịch như thế, nhưng lần này họ không được lĩnh một xu nhỏ.

Lao động khổ sai và những hậu quả của nó làm cho số người chết lên đến mức kinh khủng trong các thuộc địa. Trong các thuộc địa Pháp, như Xanh – Pie và Micơlông, Tân Êbrít thuộc Pháp, v.v. người thổ dân đang trên đà bị diệt vong.

Báo Times thú nhận rằng từ nǎm 1874, khi Phigi bị đặt dưới quyền đô hộ của Anh, dân số người bản xứ giảm một cách rõ rệt. Cũng tờ báo đó (17-12-1927) viết: dân bản xứ miền Bắc Ôxtrâylia bị đe doạ diệt vong nhanh chóng và có những bộ lạc trước kia rất đông đúc nay đã hoàn toàn biến mất vì thuốc phiện.

Hoàng tử Bỉ Lêôpôn cũng thú nhận rằng nòi giống Cônggô bị đe doạ tiêu diệt. Và, có lẽ dù chẳng muốn, ông cũng lên án chế độ thực dân Bỉ. Ông viết cho Đại hội thuộc địa:

“Trước khi chúng ta đến, có thể nói rằng người da đen không hề di chuyển. Những bệnh, như bệnh buồn ngủ, trước kia chỉ giới hạn ở một nơi, và chỉ hoành hành trong những vùng nhỏ hẹp.

“Do nhu cầu, ta đã lôi kéo người bản xứ phải di chuyển… Các bệnh truyền nhiễm, trước kia bị khoanh lại, nay đã lan dần trong cả thuộc địa, gây ra những tai hại lớn; nó càng lớn hơn khi không có được một biện pháp miễn dịch… Đối với những bệnh này, người da đen, do nuôi dưỡng tồi, chỉ có thể chống đỡ bằng một sức đề kháng yếu ớt, toàn bộ nòi giống họ phải chịu đựng tình trạng đó. Hơn nữa, công việc làm chung đòi hỏi họ phải tập trung trong những điều kiện vệ sinh mà… những kẻ thuê người làm không phải bao giờ cũng làm tốt được…”.

Hoàng tử kết thúc lá thư của mình bằng lời khuyên sau đây: “Ta chớ quên: lịch sử của nhiều chế độ thực dân đã cho thấy rằng nhiều dân tộc bản xứ bị tiêu diệt hoàn toàn khi tiếp xúc với nền vǎn minh của người da trắng”.

Ta có thể kết luận rằng mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc!

Wang

————————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 47, tháng 5-1928
cpv.org.vn

Tuyên ngôn của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức (7-1925)

Quảng Châu, tháng 7-1925

Hỡi các bạn thân yêu, từ khi bọn tư bản tháo bỏ mặt nạ và công khai hành động như bọn đế quốc, các dân tộc yếu, nhất là các dân tộc ở á châu ngày càng bị áp bức. Chúng biến đất nước của chúng ta thành thuộc địa của chúng hay nửa thuộc địa (như Trung Quốc và Xiêm). Chúng cướp đoạt toàn bộ của cải của đất nước chúng ta. Chúng bắt chúng ta phải mua thuốc độc (thuốc phiện, rượu cồn). Chúng nghiền nát chúng ta bằng thuế khoá đủ loại. Chúng biến chúng ta thành phu phen và đầy tớ… Chúng không chỉ tước đoạt đi những quyền chính trị của chúng ta, mà chúng còn làm cho chúng ta khốn khổ bần cùng. Tệ hơn, chúng còn tìm cách tận diệt nòi giống chúng ta.

Hỡi các bạn thân yêu, muốn xua tan những đau khổ đó cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới lại để làm cách mạng. Bọn đế quốc ở tất cả các nước đã liên minh lại để áp bức chúng ta. Còn chúng ta, những người dân thuộc địa và toàn thể công nhân trên thế giới, chúng ta phải hợp lực lại để chống lại chúng.

Những nhà cách mạng của công đoàn thợ thuyền và những nhà cách mạng trong Tổng liên đoàn các dân tộc bị áp bức theo các phương pháp khác nhau nhưng tất cả đều có một mục đích, là đánh đuổi tất cả những kẻ đi chiếm đoạt kia. Những dân tộc bị áp bức

như chúng ta có thể hoặc tốt hơn, phải liên minh với thợ thuyền của tất cả các nước để vùng lên và đòi tự do khắp nơi.

Ngày 9-7-1925, những người cách mạng An Nam, Trung Quốc, ấn Độ và Triều Tiên đã họp lại để thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức 1 . Đây là sự thức tỉnh của các dân tộc châu á. Nhân dịp trọng đại này, chúng tôi xin gửi đến các bạn lời kêu gọi sau đây:

Hỡi hết thảy những người bị áp bức, anh em! Nếu bọn đế quốc áp bức chúng ta và đối xử với chúng ta như loài vật, đó là vì chúng ta không đoàn kết! Nếu chúng ta đoàn kết chúng ta sẽ trở nên đáng gờm.

Sự nghiệp của chúng ta là sự nghiệp của hàng nghìn, hàng nghìn người. Kẻ thù của chúng ta chỉ là một nhúm người. Chúng ta không được sợ chúng. Cho dù chúng có súng đạn dồi dào, chúng cũng không thể giết hết chúng ta được.

Hỡi các bạn thân yêu, chúng ta nên sớm kết đoàn lại! Hãy hợp lực để đòi quyền lợi và tự do của chúng ta! Hãy hợp lực để cứu lấy nòi giống chúng ta!

Hỡi các bạn thợ thuyền! Tất cả các bạn đều biết rằng những kẻ áp bức chúng tôi và những kẻ ngược đãi các bạn chỉ là một. Chẳng phải trong cuộc chiến tranh 1914-1918, bọn tư bản đã dùng người da đen và da vàng để tàn sát người da trắng, cũng như chúng đã dùng công nhân da trắng để giết những ngưới da vàng và da đen đó sao ? Như vậy là, nếu các bạn muốn thoát khỏi nanh vuốt của những kẻ đang hành hạ các bạn thì các bạn hãy kết đoàn với chúng tôi! Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn. Chúng ta cùng có chung lợi ích, nên khi đấu tranh cho chúng tôi là các bạn cũng chiến đấu cho các bạn. Khi giúp đỡ chúng tôi các bạn cũng tự cứu mình.

Các bạn thân yêu! Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức mạnh. Nó đủ để đánh tan bọn đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể cậy vào sức của mình mà thôi. Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công, hãy kết đoàn với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng.

Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

Tình đoàn kết giữa các dân tộc châu á muôn nǎm!

Tình đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức và thợ thuyền trên trái đất muôn nǎm!

Cách mạng muôn nǎm!

—————————-

Báo Thanh niên, số 5, ngày 19-7-1925.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta (27-9-1925)

Quảng Châu, 27-9-1925

Trong lá thư vừa rồi, chị đã không thừa nhận là người của chúng tôi; mặc dù vậy, từ đó chúng tôi vẫn coi chị như thế, bởi chúng tôi tin chắc rằng chị sẽ chấp nhận điều đó sau khi đọc bài báo này.

1- Các vua quan, thư lại, thông ngôn, theo chị là những người phản cách mạng. Chị đã nhầm rồi, bạn thân mến, bởi vì một ông vua có thể suy nghĩ và biết cảm thông với những bất hạnh chưa từng thấy đang giáng xuống dân tộc của ông; vì vậy ông ta thà làm một người dân bình thường còn hơn là trị vì một dân tộc nô lệ.

Chính chúng tôi là người dạy cho các vị vua chúa bài học đó và chỉ ra cho họ thấy rằng họ làm cách mạng thì có lợi hơn là sống dưới ách ngoại bang.

Với quan lại, thư ký và thông ngôn, họ miễn cưỡng phục vụ người Pháp. Bị chìm đắm trong bóng tối ngu dốt từ nhỏ, họ không bao giờ có thể tự trau dồi kinh điển hay tri giác được những tiến bộ của nhân loại qua việc đọc báo chí. Họ không biết vì sao có kẻ sung sướng, lại có kẻ nô lệ khổ sở. Họ giống như những con gà què chỉ ǎn quẩn cối xay; họ không có chút nỗ lực nào nên đành bằng lòng với thứ thức ǎn mà kẻ khác đem cho họ. Vậy nhiệm vụ của chúng ta là phải hướng họ theo lý luận cách mạng.

2- Nếu chúng ta nói với những người cần lao và thợ thuyền:

“Tất cả những gì anh em kiếm được bằng mồ hôi của anh em đều chui vào túi người Pháp. Nếu cách mạng thành công, anh em sẽ nộp thuế nhẹ hơn so với hiện nay, và chúng ta sẽ dùng thuế đó để đào mương, làm đường, xây trường học, lập nhà thương, làm tất cả những gì có ích cho anh em. Thắng lợi của cách mạng sẽ mở ra một thời kỳ dân chủ, nghĩa là tự do của anh em và quyền tự quyết của anh em.

“Hãy xem người Nga, họ cũng bị áp bức như anh em. Nhưng từ khi có cách mạng, họ là người sung sướng nhất trần gian. Hết thảy mọi người đều có ruộng, có nhà, mọi người đều được học hành và bỏ phiếu bầu cử”.

Nếu chúng ta làm cho công nông hiểu được điều này thì hết thảy họ đều giúp chúng ta làm cách mạng.

3- Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi.

ở nước Nga, không có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà. Phụ nữ có quyền bỏ phiếu và được bầu. Hiện nay có một bà là bộ trưởng, một bà là đại sứ; nhiều người khác là dân biểu.

Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng.

———————————-

Báo Thanh niên, số 13.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Báo chí bình dân (17-1-1926)

Quảng Châu, 17-1-1926

Các bạn của chúng ta phàn nàn nhiều lần rằng các bài báo của ta quá thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng.

Chúng tôi xin báo với các độc giả của mình rằng chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, vǎn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đǎng đối song hành, những sự tô vẽ vǎn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngược lại chúng tôi gắng sức, vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một vǎn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Vì mục đích của chúng tôi là: l- đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2- khích lệ dân tộc An Nam kết liên lại, 3- làm cho họ thấy được nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm cách nào để tránh được những điều đó, nên bản báo chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động mà người ta gióng lên khi có đám cháy để báo cho người đang trong ngôi nhà cháy, giục giã họ chạy thoát thân để khỏi bị chôn vùi hoặc bị thiêu cháy, và gọi những người xung quanh đến ứng cứu.

Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng; nhưng trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn.

Có nhiều cách làm rung động lòng người. Khóc lóc, than vãn, đọc Kiều hay Tam Quốc đều khiến ta mủi lòng. Nhưng đó chỉ là những cảm xúc thoảng qua và hời hợt mà chúng tôi không muốn gợi lên trong lòng độc giả của chúng tôi. Ngược lại, chúng tôi muốn rằng vǎn của chúng tôi gây được cho họ một ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài.

Ví dụ: Nếu gặp một nông dân An Nam quần áo tả tơi, chúng tôi sẽ bằng một giọng đầy thương cảm, nhưng che giấu đi niềm xúc động và nuốt nước mắt mà nói rằng: “Than ôi! sao mà số phận anh khổ đến thế này. Anh mua giống hết 2 đồng, mua phân 4 đồng; anh thuê trâu 3 đồng, thuê thợ 5 đồng và nộp thuế 1 đồng. Tiền anh chi đã lên đến 15 đồng, anh bán thóc được 18 đồng. Nhưng vì anh đã phải nộp thuế chợ 1 đồng nên thực ra anh chỉ được 2 đồng, mà tiền ấy anh cũng bị Pháp cướp mất. Vì thế tôi mới bảo rằng anh khốn khổ”.

Anh nông dân của chúng tôi sẽ không khóc, không than. Nhưng anh ta suy nghĩ, hiểu ra và cuối cùng sẽ vùng lên và làm cái việc tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc.

Còn những ai yêu thơ, thì họ cứ tự do đắm chìm mà đọc Cung Oán hay Nhị Độ Mai.

————————

Báo Thanh niên, số 28.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Mục dành cho phụ nữ: về sự bất công (4-4-1926)

Quảng Châu, 4-4-1926

Đại Đức Khổng Tử nói: Chồng phải dạy vợ.

Đức Mạnh Tử lại lưu ý rằng: Đàn bà và trẻ con khó dạy bảo: nếu cho họ gần thì họ khinh nhờn; nếu bỏ mặc họ thì họ thù oán.

Người Trung Quốc thường so sánh phụ nữ với con gà mái: “Gà mái gáy báo sáng là điềm gở cho cả gia đình”.

ở An Nam, chúng ta nói: Đàn bà phải quanh quẩn trong bếp.

Trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì. Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?

MỘNG LIÊN

—————————-

Báo Thanh niên, số 40.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Người cách mạng mẫu mực (18-9-1926)

Quảng Châu, ngày 18-9-1926

Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải:

1. Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại.

2. Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại, phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “Tổ QUốC TRÊN HếT” ở mọi nơi và mọi lúc.

3. Làm việc không mệt mỏi tuỳ theo phương tiện và nǎng lực của mình, người giàu góp tiền, người trí thức góp tri thức và thợ thuyền góp sức, không gì ngǎn trở được sự nghiệp cách mạng tiến lên.

4. Xem thường cái chết, bất chấp hiểm nguy, vì cách mạng là một cuộc chiến đấu trường kỳ và gian khổ do những người vô sản tiến hành chống lại bọn áp bức họ.

5. Thuận theo hoàn cảnh về thời gian, không gian, không bỏ qua điều gì. Có thể, hoặc gây bãi khoá và bãi công, hoặc khích động nông dân không đóng thuế và đi phu khổ sai, hoặc giết chết những tên kẻ thù gian ác, hoặc chiếm đồn với nội ứng của lính bản xứ. Người cách mạng phải luôn luôn nói và hành động một cách có ý thức.

6. Suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động, vì việc thực hiện một kế hoạch phụ thuộc vào công tác chuẩn bị; chẳng hạn: Có 2 chiến

sĩ, một người đã chín muồi kế hoạch hành động, còn người kia thì làm ẩu, do đó người thứ nhất sẽ thành công và có ích cho Đảng mình, còn người thứ hai sẽ thất bại và làm hại cho sự nghiệp cách mạng.

7. Lãnh đạo nhân dân vì sức mạnh của họ không thể thiếu được đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Dân chúng vốn ít học, ngây thơ, khó liều mạng, dễ bị lừa và bị mua chuộc. Vậy người cách mạng mẫu mực phải giáo dục họ, sửa chữa cho họ và chiếm được sự tin cậy của dân chúng để có thể sử dụng sức mạnh của họ đúng lúc.

8. Thành lập thật nhiều những tổ chức hùng mạnh thúc đẩy mau đến thắng lợi của cách mạng.

9. Xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

l0. Không cục bộ, bởi vì cách mạng phải vì lợi ích của dân tộc chứ không phải của một cá nhân. Vì vậy, nếu một người cách mạng tìm cách cục bộ thì tham vọng của anh ta sẽ khiến anh ta hành động vì mình chứ không vì mọi người.

ll. Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hoà, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình.

12. Kiên trì và nhẫn nại. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khǎn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại, thì những khó khǎn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền.

——————————-

Báo Thanh niên, số 61.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Nhân đức của Pháp (24-10-1926)

Mưa to gió lớn. Nước chảy tràn trề. Sông Hồng (Hồng Hà) (1) mênh mông. Đường đê tràn ngập. Vì thành Hà Nội có nhiều Tây ở cho nên nó hết sức giữ gìn. Còn các nơi dân xã An Nam thì nó không nhìn đến.

Khi nước lấp le vào Hà Nội, Tây nó sai một người lính ta qua phá cái đê bên kia sông, để cho nước tràn qua phía dân ta ở. Tây nó vẫn biết khi đê lở thì nước sẽ ào vào, nếu người lính kia không dự bị trước thì chắc chết trôi. Nó cũng biết rằng nếu nước ào vào thì dân xã ta bên kia chắc chìm hết. Thế mà nó không bảo cho người lính biết. Cũng không bảo cho làng xóm dọn đi.

Quả nhiên, người lính phá đê rồi thì chết đuối ngay. Và 20.000 dân ta bất thình lình bị nước ùa vào làm cho chết trôi hết.

Thương ôi! Dân ta bị Tây nó giết mòn, giết mỏi. Giết cách này không chết hết, thì nó giết cách khác. Nó lấy rượu và a phiến làm cho dân ta chết nhiều. Nó bắt đi đào sông, đào đường, bị nước độc mà chết. Nó bắt đi lính đi làm nô lệ bên các xứ đen 2 mà chết. Nay nó lại nhận chìm cả xứ!

Đồng bào ơi! Mau mau dậy cứu lấy nòi!
Kẻo mà Nam Việt đi đời nhà ma!

——————————

Báo Thanh niên, số 66, ngày 24-l0-1926.
cpv.org.vn

Khổng Tử (20-2-1927)

Quảng Châu, 20-2- 1927

Ngày 15-2, Chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành quyết định: từ nay về sau, xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử và những khoản dự chi cho những cuộc nghi lễ ấy cũng như những đền thờ Khổng Tử sẽ được sử dụng làm các trường học công.

Khổng Tử sống trước chúng ta 2478 nǎm. Từ 2400 nǎm nay, ông đã được nhân dân Trung Hoa tôn thờ. Tất cả các hoàng đế Trung Hoa đều gọi Khổng Tử là vị đứng đầu các nhà hiền triết và tặng những danh hiệu tôn vinh cho những người kế nghiệp ông.

Từ rất xa xưa, người An Nam và các vua chúa An Nam rất tôn kính nhà hiền triết này. Thế mà Chính phủ Trung Hoa vừa mới quyết định từ nay về sau không còn sự tôn thờ chính thức nào nữa đối với Khổng Tử. Xem đó có phải là một hành vi thật sự cách mạng không?

Nhưng hãy xem Khổng Tử là người thế nào? Tại sao các hoàng đế lại tôn sùng đến thế? Tại sao được tôn sùng như thế mà Chính phủ Trung Hoa lại vứt bỏ đi?

Khổng Tử sống ở thời Chiến quốc 1 . Đạo đức của ông, học vấn của ông và những kiến thức của ông làm cho những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục. Ông nghiên cứu và học tập không mệt mỏi, ông không cảm thấy xấu hổ tí nào khi học hỏi người bề dưới, còn việc không được mọi người biết đến, đối với ông chẳng quan trọng gì. Công thức nổi tiếng của ông “Nhìn ngoài, nhìn vào việc từ chỗ nào đi đến như thế, xem cái người ta đi tới chỗ đó, xét cái người ta hoà lòng, thì người ta giấu làm sao được mình” 1 biểu hiện chiều sâu về trí tuệ của ông.

Nhưng cách đây 20 thế kỷ, chưa có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên bộ óc Khổng Tử không bao giờ bị khuấy động vì các học thuyết cách mạng. Đạo đức của ông là hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư tưởng hiện đại, giống như một cái nắp tròn làm thế nào để có thể đậy kín được cái hộp vuông?

Những ông vua tôn sùng Khổng Tử không phải chỉ vì ông không phải là người cách mạng, mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ. Họ khai thác Khổng giáo như bọn đế quốc đang khai thác Kitô giáo.

Khổng giáo dựa trên ba sự phục tùng: quân – thần; phụ – tử, phu- phụ và nǎm đức chủ yếu: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Khổng Tử đã viết Kinh Xuân Thu để chỉ trích “những thần dân nổi loạn” và “những đứa con hư hỏng”, nhưng ông không viết gì để lên án những tội ác của “những người cha tai ác” và “những hoàng tử thiển cận”. Nói tóm lại, ông rõ ràng là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức.

Theo Khổng giáo thì các nước Nga, Pháp, Trung Quốc, Mỹ và các nước dân chủ là những quốc gia ở đó thiếu quy tắc về đạo đức và những thần dân nổi dậy chống nhà vua đều là những tên phản loạn. Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khǎng khǎng giữ những quan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng. Cũng có khả nǎng là siêu nhân này chịu thích ứng với hoàn cảnh và nhanh chóng trở thành người kế tục trung thành của Lênin.

Với việc xoá bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin.

—————————–

Báo Thanh niên, số 80,
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Người An Nam ở Xiêm (28-11-1926)

Từ khi Tây cướp nước An Nam, dân An Nam lưu ly thất sở, tan cửa tan nhà, phải bỏ quê cha đất tổ, dạt ra đất khách quê người. Cứ vòng duyên biên An Nam mà xem thì Tàu, Diến Điện, Xiêm La đều là có người dạt qua cả. Bây giờ đem tình cảnh người An Nam ở Xiêm điều tra như sau nầy để cho các đồng bào tham khảo:

1. Người An Nam ở Xiêm có đến hơn 3 vạn người, có chỗ tự lập ra thành làng, thành chợ, có chỗ thì ở lẫn với người Xiêm. Những người ở tụm lại với nhau thì nhân tình, phong tục vẫn còn giữ thói cũ cúng tế lễ, cúng tang ma, đường ǎn nói thì không thay đổi chút nào cả. Còn những người ở lẫn với dân Xiêm thì bọn người cũ, nhiều người quên mất cả tiếng An Nam mà học thói ǎn bốc, mặc vấn như dân Xiêm vậy.

2. Trong 3 vạn có người tin Phật, kẻ tin thần, có người tin Thiên chúa, cứ kể ra thì đều bị ngược chính1) áp bức mà chạy cả. Nhưng đến đất Xiêm vì làm ǎn dễ dãi, trí thức đổi dần, được chỗ yên thân, quên mất sỉ nhục nên bây giờ nhiều người chỉ biết nước Xiêm mà quên mất Tổ quốc.

3. Chức nghiệp người An Nam ở Xiêm có người làm ruộng, có người đánh cá, người làm thợ mộc, người làm thợ cưa, thợ may, làm ǎn rất dễ kiếm tiền nhưng vì đất Xiêm hay cờ bạc, thuốc phiện, đĩ thoã nên làm được đồng nào thì phung phá đồng ấy.

4. Chính phủ Xiêm đối đãi người An Nam về đường đóng góp

cũng như Xiêm vậy. Mỗi nǎm phải nộp thuế thân 6 bạt (bạc Xiêm) và các tiền phụ cấp, ruộng thì mỗi rày (mẫu Xiêm) 80 xa tang (xu Xiêm). Nhưng chỉ khi cách giáo dục và Tuất phủ thì nó coi người nó hơn người An Nam. Thế là nhẽ đóng góp thì có phần, mà quyền lợi thì không được. Thương thay! Dân mất nước đi đến đâu thì bị người ta hà hiếp đấy.

5. Tình cảnh người mình như vậy đều là lưu lạc quê người, cứ kể bình thường thì người An Nam ở Xiêm trông thấy nhau nên thương yêu nhau, giúp nhau là phải, nào ngờ vẫn giữ lấy thói dã man nào lương giáo giết nhau, lợi hại tranh nhau, lừa đảo nhau, chém giết nhau đến nỗi đem nhau đi kiện cáo cho Xiêm Lào sỉ nhục. Vì một tính không biết đoàn thể, đã đến nỗi bỏ nước mà đi, lại còn vẫn không giác ngộ thế thì còn trách người Xiêm nó khinh, nó chửi. Nói ra thật đau lòng.

———————————–

Báo Thanh niên, số 71, ngày 28-11-1926
cpv.org.vn

Bà Trưng Trắc (12-12-1926)

Bà Trưng Trắc người nước ta sinh ra thế kỷ đầu hết 1 là nǎm 23 ở huyện Mê Linh, tỉnh Phúc Yên, xứ Bắc Kỳ. Nǎm thứ 40 bà vừa 17 tuổi. Lúc ấy nước ta bị quân Tàu cai trị, chính sách rất bạo ngược như Pháp cai trị bây giờ. Bà thấy cảnh nước suy vi, đồng bào khốn khổ, bèn quên thân bồ liễu phận hèn, liền ra cứu nước, cứu dân. Lúc bấy giờ cùng với em là Trưng Nhì khởi binh lên đánh giặc. Dân Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều ảnh hưởng nổi lên cả. Chẳng bao lâu đánh đuổi ngay Tô Định, lấy được 65 thành, dựng lên cờ độc lập. Đến nǎm 44, nhà Hán sai Mã Viện sang đánh, đánh đã nhiều trận, quân hai Bà vẫn không thua. Đến trận ở Cấm Khê, tỉnh Vĩnh Yên, thế quân ít quá, phải thua, hai Bà đều gieo mình xuống sông Đáy tự tận. Can đảm thay! Phận thuyền quyên vì nước quên mình! Tuy chỉ trong 3, 4 nǎm nhưng cũng đủ làm cho bọn tu mi quân giặc mất vía.

Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết K.m . Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới , chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!

H.T.

———————

Báo Thanh niên, số 73, ngày 12-12-1926.
cpv.org.vn

Các sự biến ở Trung Quốc (13-11-1926)

Của đặc phái viên chúng tôi

Quảng Châu, ngày 13-11-1926

Tình hình chung

Những thắng lợi mới đây chống các lực lượng phản quốc gia của các quân đoàn do tổng tư lệnh lực lượng quốc gia Tưởng Giới Thạch chỉ huy chỉ rõ sự tấn công mạnh mẽ hơn lên phương Bắc. Việc chiếm Khúc Giang, trung tâm công nghiệp và thương mại, quan trọng bậc nhất của thung lũng sông Dương Tử, và Nam Xương -, thủ phủ của Giang Tây, chứng tỏ thống chế Tôn Truyền Phương bị loại khỏi tỉnh này. Thủ lĩnh quân sự này có định bảo vệ Triết Giang không? Các trận xảy ra ở vùng lân cận Vô Tích không thể đánh giá tốt sức chiến đấu của quân ông ta, một đội quân hỗn loạn khi rút lui bỏ lại vũ khí và hành lý. Sự giúp đỡ của thống chế Trương Tác Lâm chưa chắc chắn, vì ông không muốn một lần nữa cố gắng mở rộng quyền lực của mình ở thung lũng Dương Tử. Như thế, người ta có thể kết luận rằng, nếu bị bỏ lại với lực lượng của riêng mình, thống chế Tôn Truyền Phương chẳng bao lâu sẽ bị bỏ rơi, chỉ là một nhân tố phụ không mấy quan trọng. Sự phân công của Ngô Bội Phu mà báo chí nước ngoài ở Thượng Hải và Hán Khẩu coi rất trọng, đã không xảy ra. Cũng không xảy ra cuộc tấn công nào của các trung đoàn do một trong các tướng của ông ta, Nguyên Sâm, về phía Hồ Nam, xuất phát từ Tứ Xuyên và phát triển ra phía nam Hồ Bắc nhằm Ngô Châu và Vũ Xương. Không xảy ra một cuộc tấn công của phe phản quốc gia vào con đường Võ Dương Quan, cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Hồ Bắc. Người ta cũng chẳng biết hiện nay thống chế Ngô Bội Phu ở đâu. Rất có thể ông ta sẽ chịu số phận giống Trương Tác Lâm, kẻ thù cũ của ông, sau trở thành đồng minh trong cuộc đấu tranh chống lại Quốc dân quân. Tóm lại, Ngô Bội Phu và Tôn Truyền Phương đều bị coi là bị loại khỏi vòng chiến đấu về mặt chính trị và quân sự vì họ không nhận được sự giúp đỡ nào của thống chế Trương Tác Lâm, lại bị các lực lượng quốc gia đánh bại nhiều lần và bị các phụ tá bỏ rơi.

Chính phủ quốc dân, được tất cả các thủ lĩnh quân sự thừa nhận quyền lực trên thực tế đã quyết định thực thi một kế hoạch nhằm thành lập một tổ chức trung ương, để phối hợp các chính quyền địa phương theo một chương trình duy nhất. Trụ sở của Chính phủ quốc dân, tạm thời ở Quảng Châu, sẽ dời về Vũ Xương khi tình hình quân sự được giải quyết trong các tỉnh ở miền Trung. Những hội nghị được chuẩn bị trước sẽ diễn ra giữa những quan chức cai trị các tỉnh này và những thành viên của Chính phủ quốc dân để quyết định một kế hoạch thực hiện mà thành công được bảo đảm bằng sự thoả thuận giữa các bên và những cố gắng của các nhân viên thừa hành.

Việc cải tổ ở tỉnh Quảng Đông đã xong. Hệ thống các uỷ ban vẫn còn hiệu lực, nhưng phân giới vùng thì bị xoá bỏ.

Cố gắng của Chính phủ trung ương là nhằm thống nhất trước hết các Bộ Tài chính, Giao thông và Quốc phòng. Bộ Giao thông đã được thiết lập. Bộ tái thiết quốc gia, mà Bộ này thay thế, trở thành một cơ quan cấp tỉnh. Cơ quan tư pháp cũng trở thành một Bộ chứ không phải một uỷ ban, tuy rằng hệ thống uỷ ban vẫn còn hiệu lực trong Bộ mới.

Do những nguyện vọng chung của các thủ lĩnh quân sự và dân sự đều muốn cộng tác để thiết lập một chính phủ dân chủ theo những nghị quyết được thông qua ở Đại hội gần đây của Quốc dân đảng, nên việc thực hiện kế hoạch của Quốc dân đảng cho một thiết chế như vậy đã được bảo đảm.

Các cường quốc nước ngoài và Quảng Châu

Báo chí nước ngoài ở Trung Quốc đã dành một sự quan tâm

đặc biệt đến một thông tin của hãng thông tấn United Press ở Luân Đôn nói rằng vấn đề là thừa nhận Chính phủ quốc dân ở Quảng Châu, khi mà quyền lực của nó đang lan rộng ra nhiều tỉnh. ở đây không phải như người ta tưởng là chính thức thừa nhận Chính phủ quốc dân ở Quảng Châu, mà là thực hiện kế hoạch của Anh nhằm làm suy yếu Trung Quốc và đặt nước này dưới sự thống trị hoàn toàn của ngoại bang. Những người theo chủ nghĩa yêu nước và Chính phủ quốc dân Trung Quốc nói rằng, sự thừa nhận mà Chính phủ Luân Đôn có thể nêu ra và thậm chí cả bàn luận nữa, cũng sẽ được áp dụng cho mọi thủ lĩnh quân sự như Trương Tác Lâm, là người tỏ ra chống quốc gia (chống cộng). Mưu mô này nhất định đã được Chính phủ quốc dân nhận thấy, và những biện pháp thỏa đáng đã được áp dụng để ngǎn chặn việc thực thi này.

Một sự kiện quan trọng là việc Trưởng đoàn lãnh sự ở Quảng Châu đã kháng nghị Chính phủ quốc dân phản đối “phụ thu không hợp pháp” đánh vào “thương mại của nước ngoài” theo những chỉ thị nhận được từ Trưởng đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh. Chính phủ quốc dân không thừa nhận tư cách Trưởng đoàn của Đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh và muốn chấm dứt sự can thiệp liên tục của giới ngoại giao nước ngoài vào các công việc nội bộ của Trung Quốc, nên đã trả lại khiếu nại cho người đưa đơn, đồng thời còn cẩn thận nêu rõ Chính phủ quốc dân sẵn sàng bàn luận mọi vấn đề dính đến những quan hệ với các cường quốc nước ngoài.

Một sự kiện khác cho thấy sự rối loạn đang ngự trị trong giới ngoại giao ở Trung Quốc và những biểu hiện chính sách ngoại giao của nước này cũng chứng minh điều đó.

Một lãnh sự nước ngoài bị giết ở Long Châu – Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây), gần biên giới Trung Quốc – Đông Dương. Đại diện của nước ấy ở Quảng Châu đã phản kháng với Chính phủ quốc dân. Tiếp theo cuộc thǎm của ông là một bức thư nêu rõ những yêu cầu của Chính phủ mình. Sau đó, người ta được biết chính quyền cấp huyện ở Quảng Tây, thuộc Chính phủ quốc dân, nhận được một bức thư của vị lãnh sự đến thay thế người đã chết đòi bồi thường và định ra thời hạn trả số tiền yêu cầu. Thật lạ lùng là cuộc thương lượng đã diễn ra giữa lãnh sự của nước này với Chính phủ quốc dân, song vị lãnh sự đó lại không được thông báo về những người đồng nghiệp của ông đã làm trong thành phố, nơi diễn ra sự kiện khốn khổ trên.

Viên lãnh sự bị giết trên đường trở về Bắc Kỳ thuộc Pháp. Ông ta không báo cho chính quyền địa phương biết việc ra đi của mình, cũng không yêu cầu được bảo vệ trong chuyến đi này, điều đó trái với những thủ tục ngoại giao. Mặc dù thế, Chính phủ quốc dân hoàn toàn không phản đối một giải pháp thân thiện, dù rằng những trách nhiệm về vụ ám sát này phải được tìm ra từ phía Hồng Công hơn là từ phía Quảng Châu.

Kỷ niệm ngày sinh của Tôn Dật Tiên

Chúng tôi không thể không nêu nhiệt tình của dân chúng Quảng Châu và cả tỉnh Quảng Đông khi họ kỷ niệm ngày sinh của Tôn Dật Tiên. Sự nồng nhiệt của nhân dân chứng tỏ người Trung Quốc biết ơn dường nào vị lãnh tụ vĩ đại quá cố đã khơi dậy nơi họ ý chí tự giải phóng khỏi ách áp bức về ngoại giao mà bây giờ không gì có thể biện hộ được.

Tình hình ở miền Bắc

Chuyến đi của Trương Tác Lâm đến Bắc Kinh chưa xảy ra lúc chúng tôi viết những dòng này. Ngày nay, người ta bảo rằng ông ta ở Thiên Tân, trên đường tiến về thủ đô phương bắc. Ông ta có đến đó không ? Liệu ông ta có nhận đứng đầu cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh không, ngay cả khi Đoàn ngoại giao động viên, khuyến khích. Cùng với việc Trương Tác Lâm đến Thiên Tân, người ta báo tin rằng thủ tướng Wellington Kou xin từ chức với tất cả các thủ lĩnh quân sự, các quan thầy của ông. Trương Tác Lâm đã không hành động, thái độ không vồn vã khi cứu trợ khẩn cấp cho Ngô Bội Phu hay cho Tôn Truyền Phương chứng tỏ rằng ông không chịu cộng tác với hai thủ lĩnh quân sự này. Hoạt động của Quốc dân quân ở Sơn Tây và Cam Túc là đáng chú ý và dường như là khúc dạo đầu của trận chiến mà nay mai họ sẽ đánh vào kẻ thù của mình. Cũng cần lưu ý đến hoạt động của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa ở các tỉnh phía Bắc.

X.

————————————

Báo L’Annam, số 118, ngày 2-12-1926 (tiếng Pháp).
cpv.org.vn