Thư viện

Kỷ niệm báo Le Paria (5-1923)

Một nǎm đã trôi qua kể từ khi báo Le Paria ra đời. Các bạn quan tâm đến số phận của tờ báo ngay từ buổi đầu, nhân dịp kỷ niệm này, cảm ơn tất cả những ai đã can đảm với diễn đàn nhỏ bé này, bảo vệ nhân dân các thuộc địa.

Các bạn mua dài hạn, các bạn quyên góp cho báo đến số gần đây được 645 phrǎng (1) , hãy nhận lấy sự biết ơn chân thành của chúng tôi.

Chúng tôi đã không quá lạc quan đối với những điều dự đoán trước. Chúng tôi hiểu rõ sự nghiệp mà chúng tôi theo đuổi, đặt ra vô vàn khó khǎn. Một mặt, đông đảo dư luận châu Âu chưa được chuẩn bị để theo dõi đầy đủ quan điểm của chúng ta. Mặt khác, những người dân thuộc địa ở Pháp thường chưa quan tâm đến tình hình có quan hệ tới số phận đồng bào họ ở các thuộc địa đang phải đương đầu với mọi sự phiền nhiễu, với bạo lực của nhà cầm quyền ở địa phương, với sự bóc lột tư bản chủ nghĩa của những kẻ đi khai hoá. Cuối cùng, khoảng cách giữa Pari với châu Phi, châu á, châu Mỹ rất xa. Những cuộc tiếp xúc giữa chúng tôi với nhân dân các thuộc địa mà Le Paria có trách nhiệm bảo vệ lại luôn luôn bị cản trở bởi những kẻ thống trị thuộc địa gây ra.

Nhưng phải thừa nhận rằng, chúng tôi đang đứng trước một điều lo lắng rất lớn. Chúng tôi đã tính trước rằng nhiệm vụ khẩn thiết của một tờ báo như tờ báo của chúng tôi là phải bảo vệ các anh em bản xứ. Việc đón nhận lấy nhiệm vụ đó đã dành cho Le Paria là đúng với điều mong muốn của chúng ta.

Sang nǎm thứ hai, chúng tôi muốn thực hiện những việc làm tốt đẹp hơn. Phải làm cho Le Paria xuất hiện trong một thời kỳ với những kết quả rực rỡ, có nhiều người tìm đến báo, với số lượng bản in tǎng hơn và số trang nhiều hơn trước. Tất cả những điều đó chỉ có thể thành sự thật nếu có được những nguồn dự trữ thích đáng. Vậy mà, không thể đòi hỏi một sự cố gắng cao hơn nữa đối với 5, 6 bạn đã nhận nhiệm vụ ngay từ đầu, đã chịu đựng từ 12 tháng qua. Có thể nói rằng riêng những việc in và gửi đi, giá 3 phrǎng mỗi số trong một nǎm là vừa phải. Để thuận tiện cho việc tuyên truyền cho tờ báo, lúc này chúng tôi thấy rằng không thể nâng giá lên ngay được.

Đối với tất cả những ai đọc báo, muốn báo sống lâu và lớn mạnh, hiểu nhiệm vụ của nó, nên mua dài hạn cho mình và vận động nhiều người mua dài hạn báo Le Paria. Cần phải làm cho trong vòng 2 hay 3 tháng tới đây, chúng ta có trên 1.000 độc giả, trên 1.000 người mua báo dài hạn. Chúng tôi cũng không ngần ngại nói ra việc quyên góp rất khiêm tốn cũng là một sự giúp đỡ rất quý báu đối với chúng tôi. Chúng tôi nói những điểm cuối cùng về các cộng tác viên. Le Paria là tiếng nói của quần chúng bị áp bức. Tất cả đều cung cấp tư liệu cho chúng ta, đều viết về chúng ta.

Các bạn Pháp, các đồng bào ở thuộc địa cư trú trên đất Pháp, các anh em bản xứ ở các thuộc địa, hãy đáp lại lời kêu gọi của chúng tôi.

Hãy làm việc cho Le Paria, cho sự diệt trừ chế độ độc đoán chống lại bọn cá mập thực dân!

Sự nghiệp giải phóng những người bị ngược đãi muôn nǎm!

Sự nghiệp giải phóng nhân dân bản xứ muôn nǎm!

LE PARIA

Báo Le Paria, số 14,
tháng 5-1923.
cpv.org.vn

Thǎm một chiến sĩ quốc tế cộng sản – Nguyễn Ái Quốc (23-12-1923)

Tại Đông Dương, ảnh hưởng phong trào Gǎngđi như thế nào? Tiếng vang, làn sóng của phong trào đó có lan đến đấy chút nào không ? – Tôi hỏi Nguyễn ái Quốc.

– Không. – Nguyễn ái Quốc trả lời – Nhân dân An Nam chúng tôi là những người nông dân bị nhấn chìm trong bóng đêm hết sức tối tǎm. Không một tờ báo nào, không ai hiểu bây giờ trên thế giới đương diễn ra những gì; đêm tối, thực sự là đêm tối.

Nguyễn Ái Quốc hiện là người An Nam duy nhất ở Mátxcơva, đại diện của chủng tộc Mã Lai cổ xưa. Đó là một thanh niên gầy gò, linh hoạt, mặc cái áo len đan. Đồng chí nói tiếng Pháp – tiếng của những kẻ áp bức, nhưng mà những chữ Pháp từ miệng đồng chí Nguyễn Ái Quốc nghe trầm trầm, lắng xuống như hồi âm của tiếng mẹ đẻ quê hương đồng chí.

Nguyễn Ái Quốc đã nói đến hai chữ “vǎn minh” một cách đầy khinh bỉ. Đồng thời đã đặt chân qua hầu hết các nước thuộc địa trên thế giới, đã tới miền Bắc và miền Trung châu Phi, đã thấy rất nhiều cảnh đau khổ. Khi nói chuyện, đồng chí thường hay dùng chữ “anh em”. Anh em của Nguyễn Ái Quốc ở đây là những người da đen, những người ấn Độ, những người Xyri, những người Trung Quốc…

Nguyễn Ái Quốc đã có lần gửi thư tới nhà vǎn Rơnê Marǎng, người da đen có quốc tịch Pháp, là tác giả cuốn tiểu thuyết Batualavà đã đặt một câu hỏi một cách thẳng thắn: “ông Marǎng, ông muốn hay không muốn giúp đỡ công cuộc giải phóng các nước anh em ở thuộc địa?”. Rơnê Marǎng, người được Viện Hàn lâm Pháp quàng cho một vòng hoa danh dự, đã trả lời Nguyễn Ái Quốc một cách dè dặt và quanh co.

– Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam. Những gia đình như thế ở nước chúng tôi không phải làm việc gì. Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử. Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại đông”. Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền vǎn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà vǎn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài. Thân phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô. Chúng tôi bị cấm, không phải chỉ là bị cấm đi du lịch ra nước ngoài mà cả đi trong nước cũng không được. Đường sắt được xây dựng với mục đích “chiến lược” riêng. Theo con mắt của bọn thực dân, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng loại đường này. Tôi lang thang ra bờ biển và tôi đã vượt biển ra nước ngoài. Nǎm ấy tôi 19 tuổi. ở Pháp lúc đó đang có tổng tuyển cử. Bọn tư sản Pháp đã dùng những thủ đoạn bẩn thỉu nhất để bôi nhọ lẫn nhau.

Gương mặt Nguyễn Ái Quốc nhǎn lại một cách khinh bỉ. Đôi mắt nặng nề, u ám bỗng bừng lên. Trong đôi mắt mở to, ứa lệ, anh nhìn về xa xǎm:

– Khi bọn Pháp đến cướp nước tôi, những gia đình nền nếp, gia giáo đã bỏ chạy hết không cộng tác với chúng. Bọn vô lại quen thói xu nịnh đã chiếm hết nhà cửa và vườn ruộng, chúng trở nên những tên tư sản mới giàu sụ, và chúng có khả nǎng giáo dục con cái theo kiểu Pháp. Bên chúng tôi coi những người thanh niên đi học các trường dòng của bọn Pháp là bọn người bỏ đi, là những đồ cặn bã. Thế mà người ta đã trả tiền để làm việc đó. Và dù những kẻ học ở các trường đó có đần độn đến mức nào chúng cũng cố để được đi làm cảnh sát, làm sen đầm. Bọn cố đạo ở nước tôi chiếm tới một phần nǎm tổng số ruộng đất cả nước. Chỉ có những chủ đồn điền mới so sánh được với họ.

Thực dân Pháp là gì? ồ, đó là những kẻ bất tài và thiển cận. Việc quan tâm đầu tiên của chúng là hình thành nhóm người thân thuộc. Sau đó, là chiếm đoạt và cướp bóc thế nào cho thật nhiều và thật nhanh. Mục đích của toàn bộ chính sách này là có được một ngôi nhà nhỏ, “ngôi nhà nhỏ của mình” ở Pháp.

– Thực dân Pháp đầu độc nhân dân chúng tôi. Chúng bắt mọi người phải uống rượu. Chúng tôi có phong tục lấy gạo ngon làm ra rượu uống, khi có bạn tới chơi hoặc khi có ngày giỗ tổ tiên. Bọn thực dân Pháp đã lấy gạo xấu, rẻ tiền nấu rượu. Không ai thèm mua của chúng. Khốn thay rượu làm ra lại quá nhiều. Sau đó, người ta hạ lệnh cho các viên tỉnh trưởng cứ theo đầu người mà bắt buộc phải đi mua thứ rượu không ai uống.

Tôi đã hình dung ra được một cách rất cụ thể bọn thực dân đang dùng rượu đầu độc như thế nào dân tộc An Nam đáng yêu, một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái quá. Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang toả ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Vǎn minh châu Âu trên đất nước ấy dùng lưỡi lê và rượu độc và che giấu tất cả những cái đó dưới tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ vǎn hoá, không phải vǎn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền vǎn hoá tương lai.

– Hiện nay, ở Pari, một nhóm các đồng chí từ các nước thuộc địa của Pháp, 5-6 người Nam Kỳ, Xuđǎng, Mađagátxca, Haiti đang xuất bản tờ báo Le Paria để chống lại chính sách thuộc địa của Pháp. Đó là tờ báo nhỏ. Các cộng tác viên phải bỏ tiền túi ra để xuất bản, thay cho việc nhận tiền nhuận bút.

Cây gậy tre với lời hiệu triệu in trên báo đã bí mật đến khắp các làng mạc. Nó được chuyển từ vùng này sang vùng khác, và đã có sự đồng tình với nhau. Nhưng người An Nam đã phải trả giá đắt cho việc đó, đã có những án tử hình và hàng trǎm người đã bị mất đầu.

– Người dân An Nam không có linh mục, không có tôn giáo, theo cách nghĩ của châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội. Chúng tôi không có những người tư tế nào. Những người già trong gia đình hay các già bản là người thực hiện những nghi lễ tưởng niệm. Chúng tôi không biết uy tín của người thầy cúng, của linh mục là gì.

– Vâng, thật thú vị là chính quyền Pháp đã dạy cho những người nông dân chúng tôi biết những từ “bônsêvích” và “Lênin”. Chúng lùng bắt những người cộng sản trong dân chúng, trong khi chẳng có người cộng sản nào, hoàn toàn không có ngay cả trong ý niệm, và như vậy chính chúng đã tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsêvích và Lênin.

Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới.

Trên bàn có một tập bản thảo, một bản báo cáo công tác rõ ràng, mang phong cách truyền tin của phóng viên. Anh đang tưởng tượng đến đề tài: Đại hội Quốc tế Cộng sản nǎm 1947. Anh như đang nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của hội nghị, mà ở đó anh sẽ điều khiển chương trình nghị sự.

Lúc chia tay, Nguyễn Ái Quốc như nhớ điều gì.

– Vâng, chúng tôi còn có một cuộc “nổi dậy” nữa do vua An Nam trẻ tuổi Duy Tân phát động, chống lại việc đưa những người nông dân của chúng tôi đến chiến trường của Pháp. Vua Duy Tân đã chạy, bây giờ ông ấy đang sống lưu vong. Hãy kể về ông ấy nữa.

O. MANDENXTAM

Báo Ogoniok (Liên Xô),
số 39, ngày 23-12-1923.
cpv.org.vn

Vǎn minh tư bản chủ nghĩa và phụ nữ ở các thuộc địa (1925)

Hiếm mới có dịp những tiếng nói được cất lên – tuy rất rụt rè – trong các nghị viện của các chính quốc để làm cho người ta chú ý đến tình cảnh thê thảm của giai cấp vô sản thuộc địa. Còn thảm thương hơn nữa là số phận của phụ nữ và trẻ em làm thuê trong những công việc nặng nhọc như làm than và làm việc trong các hầm mỏ.

Trong các nước bị chiếm đó, không có luật hay sự hạn chế nào để kiềm chế bớt bọn bóc lột. Những người thợ bản xứ bị coi như súc vật. Người ta chỉ cho họ những gì vừa đủ để khỏi chết đói. Người ta dùng roi để thúc họ đi. Không có bảo hộ lao động, không có bồi thường tai nạn. Người ta thấy lại trong các thuộc địa đó tất cả hệ thống phong kiến trung cổ và dã man của chủ nghĩa tư bản. Hãy lấy sự bóc lột trong các hầm mỏ ở ấn Độ thuộc Anh làm ví dụ, chúng ta sẽ thấy thứ nhân đạo và vǎn minh của bọn con buôn của đế quốc Anh. Một nghị sĩ Anh vừa cho chúng tôi biết rằng, cho đến nǎm 1921, ở ấn Độ, có 252 hầm mỏ được khai thác.

Các hầm mỏ đó dùng 42.000 phụ nữ và 1.171 trẻ em. Thật là một sự nhục nhã cho thế kỷ XX phải thấy những phụ nữ bước run run, đầu đội thúng than nặng, mà vẫn phải bước vì đói; và những trẻ em từ 12 đến 13 tuổi bò trong những đường hầm chật hẹp, vừa đi bằng bốn chân, vừa dùng rǎng kéo một thúng đầy!

Tư bản đầu tư vào các hầm mỏ đó là 5.681.000 livrơ.

Lợi nhuận từ 35 đến 50%. Có khi lên tới 80-90%. Một công ty thừa nhận rằng trong thời gian 1911-1921, trung bình lợi nhuận mỗi nǎm là 110%.

Trong lúc các nhà đi khai hoá của chúng ta ngày càng béo ra với những món lợi nhuận khổng lồ, thì sau đây là những điều đã xảy ra đối với nam nữ công nhân người bản xứ:

1.465 tai nạn chết người,

1.871 người chết,

2.212 người bị thương nặng.

40% vô sản hầm mỏ là phụ nữ và trẻ em, chúng ta có thể kết luận rằng, trong thời gian 10 nǎm, không dưới 2.200 phụ nữ và trẻ em ấn Độ đã phải hy sinh trên bàn thờ của chủ nghĩa tư bản đi khai hoá.

Vừa rồi, một đạo luật được thông qua quy định ngày làm việc dưới hầm là 9 giờ cho người lớn, và cho phép chính phủ “cải thiện” tình cảnh của phụ nữ và trẻ em làm việc trong hầm mỏ. Nhưng đạo luật đó chỉ được thi hành sau nǎm 1924. Trong lúc chờ đợi, bọn chủ tiếp tục bóc lột một cách vô liêm sỉ, và phụ nữ, trẻ em ấn Độ vẫn tiếp tục đau khổ.

NGUYỄN ÁI QUỐC

———————————

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Lênin và các dân tộc thuộc địa (24) (2-1925)

Bài viết của đại diện các thuộc địa Pháp bên cạnh Quốc tế Cộng sản

Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến về vấn đề này còn âm ỷ trong đầu óc của nhiều nhà cách mạng châu Âu và châu Mỹ.

Mọi người đều biết rõ những luận cương của Quốc tế Cộng sản về vấn đề thuộc địa. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn (25) và Quốc tế Thanh niên cộng sản (26), vấn đề các nước thuộc địa đã được nêu lên hàng đầu. Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được.

Lênin đã tìm ra những phương pháp có hiệu quả để tiến hành có kết quả công tác trong các nước thuộc địa và đã nhấn mạnh là cần phải sử dụng phong trào cách mạng dân tộc ở những nước này.

Các đại biểu của các nước thuộc địa tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, vẫn còn nhớ vị lãnh tụ – người đồng chí đã dành cho họ sự chú ý dường nào, và Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp nhất và thuần tuý có

tính chất địa phương. Mỗi người chúng ta đều có đủ thời gian cần thiết để tin chắc rằng những điều nhận xét của Người là đúng và những lời giáo huấn của Người là quý giá đến mức nào. Với phương pháp khéo léo của mình, Lênin đã lay chuyển được quần chúng nhân dân chưa giác ngộ và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này đã được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng, đang lôi cuốn tất cả những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản.

Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc hết sức phức tạp ở nước Nga Xôviết là một thứ vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ trong các nước thuộc địa.

Trong con mắt của các dân tộc thuộc địa, trong lịch sử cuộc đời khổ đau và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đǎng chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể nhân loại bị áp bức.

NGUYỄN ÁI QUỐC

cpv.org.vn

———————————-

24. Kỷ niệm một nǎm ngày V.I.Lênin qua đời, mùa xuân 1925, Nguyễn Ái Quốc viết bài Lênin và các dân tộc thuộc địa. Với lòng khâm phục và kính yêu vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản quốc tế, tác giả nêu rõ sự quan tâm đặc biệt của Lênin đối với cuộc cách mạng của các dân tộc bị áp bức, lập luận có sức thuyết phục và cách giải quyết thực tế ở nước Nga Xôviết làm cho nhân dân các dân tộc bị áp bức đều hướng về Người, tin tưởng và đi theo con đường cách mạng của Người. Qua bài báo, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày rõ công lao vĩ đại của Lênin đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và tình cảm chân thành của hàng triệu người bị áp bức đối với V.I.Lênin, vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng vô sản và cách mạng của các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Tr.136.

25. Quốc tế Công đoàn (Quốc tế công đoàn đỏ): Tổ chức liên hiệp quốc tế của các công đoàn cách mạng, được hình thành về mặt tổ chức vào nǎm 1921, tồn tại đến cuối nǎm 1937. Nó liên kết các trung tâm công đoàn không gia nhập tổ chức công đoàn cải lương là Quốc tế Amxtécđam, và liên kết các nhóm, các khuynh hướng đối lập tiến bộ trong nội bộ các tổ chức công đoàn cải lương ở các nước. Quốc tế Công đoàn đấu tranh để thiết lập một sự thống nhất trong phong trào công đoàn trên cơ sở đấu tranh cách mạng nhằm bảo vệ những yêu sách của giai cấp công nhân, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, và đoàn kết với giai cấp công nhân nước Nga Xôviết. Tr.136.

26. Quốc tế Thanh niên cộng sản: Tổ chức quốc tế của thanh niên lao động cách mạng. Theo sáng kiến của Lênin, Đại hội lần thứ nhất của thanh niên xã hội chủ nghĩa được triệu tập ở Béclin (Đức) từ ngày 20 đến 26-11- 1919 (có 29 đại biểu của 13 nước tham dự) đã thông qua nghị quyết thành lập Quốc tế Thanh niên cộng sản. Tổ chức này đã gia nhập Quốc tế Cộng sản với tư cách là một phân bộ. Quốc tế Thanh niên cộng sản có những phân bộ riêng của mình ở 56 nước. Các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Thanh niên cộng sản là Đại hội quốc tế và Ban chấp hành. Quốc tế Thanh niên cộng sản hoạt động dưới sự lãnh đạo về tư tưởng và tổ chức của Quốc tế Cộng sản. Nó đã có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin trong thanh niên, đề ra mục tiêu, phương pháp đấu tranh cho thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Nǎm 1943, cùng với việc giải tán Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên cộng sản cũng tự giải tán. Tr.136

Những vấn đề châu Á (1925)

Nội chiến ở Trung Quốc. – Việc chuẩn bị về quân sự của Anh – Mỹ ở Thái Bình Dương. – Mấy ý tưởng của Nhật Bản

Những sự biến ở Trung Quốc ngày càng đáng cho ta chú ý đến nhiều hơn, nếu ta coi đó là những sự biến gắn liền với toàn cục, tức tình hình chung ở châu á.

Cuộc nội chiến nhen lên ở Trung Quốc thực ra chỉ là một cuộc đọ gươm giữa các đế quốc Pháp – Nhật và Anh – Mỹ.

Ngô Bội Phu, người của đế quốc Anh – Mỹ thua. Trương Tác Lâm người của đế quốc Pháp – Nhật được: nhưng được cuộc, thì lại chẳng phải là Nhật, mà cũng chẳng phải là Pháp. Số là, may thay có một lực lượng thứ ba không làm tôi tớ cho tập đoàn đế quốc nào cả. ý tôi muốn nói đảng cách mạng của Tôn Dật Tiên.

Những vị tướng Trung Quốc vừa mới hạ vũ khí – trong bao lâu?- thì Pháp đã đòi những khoản còn thiếu trong số tiền gọi là bồi thường về phong trào Nghĩa hoà đoàn 27 ; Nhật đòi nhượng cho mình những cǎn cứ điện báo; Mỹ đòi phải áp dụng một kế hoạch na ná như kế hoạch Đaoxơ 28 ; Anh đòi kiểm soát đường sắt ở Trung Quốc. Trước những yêu sách đó, Tôn Dật Tiên và đảng Quốc dân cách mạng của mình, tức Quốc dân đảng đáp lại rằng: “Hãy khoan! Chúng tôi, chúng tôi đòi phải huỷ bỏ những hiệp ước bất công, xoá bỏ những nhượng bộ nhục nhã; tóm lại Trung Quốc phải là của người Trung Quốc và người Trung Quốc phải được tự do giải quyết công việc của mình theo ý mình muốn. Còn sau sẽ hay”.

Vì vậy ở Trung Quốc, Tôn Dật Tiên là một trong những nhà chính trị mà bọn đế quốc ghét nhất và gờm nhất. Nhưng Carakhan, đại sứ Liên Xô ở Bắc Kinh, cũng bị họ thù ghét chẳng kém gì.

Từ sau Hội nghị Oasinhtơn 29 , Nhật không liên minh với Anh nữa. Xét rằng hoạt động ở Trung Quốc và ở ấn Độ của người bạn đồng minh cũ có phần nguy hiểm, Anh đã cắt đứt liên hệ bạn bè với Nhật để bắt tay với chú Sam 1 chặt chẽ hơn, vì quyền lợi của chú Sam ở Trung Quốc dễ thoả thuận với quyền lợi của Anh. Việc bỏ rơi đó mới chỉ là bước đầu: đế quốc Nhật sẽ còn bị nhiều vố nữa! Trái lại, Pháp đã tỏ vẻ rất trọng vọng Nhật và đã cho Nhật hưởng một mức thuế nhập khẩu ưu đãi ở Đông Dương. Thật là một ân huệ nhỏ bé chẳng gây được một tiếng vang nào trên thế giới, mà trái lại thì thế giới đã vừa được nghe thấy tiếng bom nổ trong vụ mưu sát ở Quảng Châu.

Nhật vừa bị Anh bỏ rơi thì luôn ngay ở Mỹ người ta lại bỏ phiếu cấm người Nhật di cư sang Mỹ. Đế quốc Nhật không thể nào lại không nhǎn mặt về điều nhục nhã này; họ đã phản ứng lại bằng những cuộc phản đối và những cuộc biểu tình kịch liệt nhưng vô hiệu quả. Bị bạn đồng minh cũ bỏ rơi, bị kẻ thù luôn luôn chửi vào mặt, Nhật đã sôi sục cǎm phẫn. Họ mới nảy ra cái ý nghĩ thành lập Khối Liên á. Tại sao lại không thành lập một liên minh Nga – Hoa- Nhật? Đề xướng ra ý kiến mới này là những giáo chức đại học, những chính khách, trong đó có chủ tịch phòng tài chính. Báo chí thạo tin ở phương Tây (Tạp chí Bỉ, chẳng hạn) nhất là báo chí Anh đều nghiên cứu ý kiến đó một cách lo ngại, nhưng làm ra vẻ không có gì là quan trọng cả.

Việc khởi công quy hoạch lại cǎn cứ thuỷ quân Xanhgapo, tốn đến 11 triệu đồng bảng Anh, phải chǎng là một cái chấm dứt của “tình hữu nghị” Anh – Nhật và là một lời đáp thiết thực đối với cái ý định thành lập một liên minh châu á? Nhưng dù sao cũng là một hành động chuẩn bị ǎn ý của chủ nghĩa đế quốc Anh – Mỹ.

Nước Mỹ, đã có một ngân sách thuỷ quân là 300 triệu đôla và một hạm đội gồm 840 thuỷ phi cơ, 18 chiến hạm, 81 tàu ngầm, 103 khu trục hạm, 113 tuần dương hạm, phóng ngư lôi hạm và các chiến thuyền nhỏ khác, cùng với 4.785 sĩ quan hải quân và 86.000 thuỷ thủ, lại sắp đóng thêm 8 tuần dương hạm mới. Hình như đó chỉ cốt để đạt số “5-5-3” (xin giải thích để những người không sành về vấn đề này được rõ rằng, đây là công thức về tỷ lệ các lực lượng hải quân mà hội nghị “tài giảm binh bị” ở Oasinhtơn đã quy định cho Mỹ, Anh và Nhật). Và nay mai, ở Thái Bình Dương, sẽ có những cuộc diễn tập lớn của hạm đội Mỹ.

Dư luận ở Nhật thấy: nào là hội nghị Đế quốc 30 – hội nghị phòng thủ Đế quốc 1 – ở Luân Đôn, nào là các công trình ở Xanhgapo, nào là các cuộc diễn tập lớn ở Thái Bình Dương. Và tự hỏi: Chuẩn bị như thế để đánh ai đây? Nhật là cường quốc duy nhất ở châu á có lực lượng vũ trang, là kình địch duy nhất của các đế quốc Anh và Mỹ ở Thái Bình Dương. Nhật cảm thấy mũi dùi chĩa thẳng vào mình. Kết quả là trong nước cứ sôi lên sùng sục. Tiếp sau ý kiến thành lập một liên minh châu á, lại nảy ra ý kiến thành lập một liên bang các chủng tộc da vàng. Theo lời của những người đề xướng ý kiến đó, 1.000.000.000 người da vàng có nhiệm vụ phải trút bỏ ách thống trị của 60.000.000 người da trắng đi. Đó là một chủ trương không thể thực hiện được do lòng ích kỷ của người Nhật và do những điều mà họ đã làm. Trong khi phản đối đạo luật Mỹ cấm người da vàng di cư đến Mỹ, trong khi tự xưng là người đứng đầu các chủng tộc da vàng bị áp bức, Nhật lại trục xuất ra khỏi lãnh thổ của mình hơn 6.000 công nhân Trung Quốc và sẽ tiếp tục trục xuất “những người lao động nước ngoài”. Còn người Triều Tiên có thể nghĩ thế nào về lòng thành thật của người Nhật, thì đừng nói đến là hơn.

Đối với người Nhật thì, 10 nǎm trước đây, Mikađô 2 là một đấng chí tôn; chiến đấu để phục vụ một vị hoàng đế chí tôn là một vinh dự. Người Nhật ngày nay có một tâm lý khác hẳn rồi. Vừa rồi, nhân một cuộc du hành của hoàng gia tại vùng lân cận Đông Kinh,

cảnh sát đã bắt giữ 3.400 thanh niên “để đề phòng”. Thật là một sự đề phòng có ý nghĩa! Chính phủ muốn đưa mục huấn luyện quân sự vào chương trình giảng dạy ở nhà trường, giáo sư và sinh viên đều nhất trí phản đối. Chủ nghĩa sô vanh 31 , dù có những sự đe doạ của Anh – Mỹ giúp thêm vào, cũng không thể thành công như xưa được nữa. Liệu thế hệ thanh niên Nhật sẽ có hiểu rằng sự cứu vãn là do ở chỗ những người vô sản tất cả các nước liên hiệp lại với nhau không ? Điều chắc chắn là thanh niên đang tiến nhanh và tiến về phía tả.

Để kết thúc những dòng này, xin thêm một chi tiết: cái mộng một “liên bang những chủng tộc da vàng” vừa mới được nói đến ở Nhật, thì một thượng nghị sĩ Mỹ, ông Britơn, đã đề nghị triệu tập một “hội nghị những người da trắng ở Thái Bình Dương…”.

NGUYỄN ÁI QUỐC
(Vlađivôxtốc)

————————-

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 19, nǎm 1925
cpv.org.vn

“Lối cai trị của người Anh” (8-4-1925)

Trung Quốc, Ấn Độ, Xuđǎng

Những người bảo thủ trở lại nắm quyền, việc đó đã làm cho chủ nghĩa đế quốc Anh thêm sức mạnh. Chủ nghĩa đế quốc Anh muốn thi hành ở Trung Quốc một chính sách tích cực và “mạnh mẽ”. Để bắt đầu, người ta đã đề nghị với Hội nghị Luân Đôn ngày 24 tháng 11 vừa rồi rằng những đường sắt ở Trung Quốc phải do các lực lượng quân sự Mỹ, Nhật, Bỉ, Pháp và Anh kiểm soát và giám sát. Nước Anh bỏ nhiều vốn nhất vào những đường sắt ấy và sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc kiểm soát và chiếm giữ những hệ thống đường sắt đó. Dự án tốt đẹp ấy chưa được thông qua.

Đầu nǎm nay, thủ đô chính thức của ấn Độ thuộc Anh bỗng nhiên thấy buộc phải áp dụng “Đạo luật phòng thủ ấn Độ” 2 nǎm 1918, tức là đạo luật bất thường thiết lập tình trạng giới nghiêm tǎng cường. Dưới chế độ ấy, tất cả những viên chức và cảnh sát người Anh, từ cấp thanh tra trở lên, đều có quyền bắt bớ và giam giữ những người ấn Độ bị tình nghi, không làm thủ tục cũng chẳng cần xét xử gì cả. Chỉ trong một buổi sáng mà các trường trung học, các ký túc xá của sinh viên và khoảng 100 toà nhà đã bị khám xét. Hàng trǎm vụ bắt bớ đã xảy ra. Trong số những người bị bắt giam, có: S. Sunđe Rôdơ, lãnh tụ trong Ban Chấp hành Đảng Quốc đại ấn Độ 32 ; Baran Roy, bí thư tỉnh uỷ của đảng này; S.Míttrơ, bí thư của

Đảng Svaragít; và nhiều người Svaragít khác có tiếng tǎm và được tôn trọng. Vǎn phòng các công ty của người ấn Độ đều bị quân đội và cảnh sát chiếm đóng. Các nhà cầm quyền Anh ở Bengan lại định giải quyết bằng vũ lực tất cả những khó khǎn về chính trị.

ở đây, chúng tôi sẽ không nhắc lại những sự biến xảy ra ở Nhật Bản và Ai Cập mà mọi người còn nhớ. Điều mà người ta ít biết đến là đã từ lâu các nhà công nghiệp Anh hằng ôm ấp cái mộng thi hành một cách kiên quyết một “chính sách bông” ở châu Phi. Họ đã biến Xuđǎng thành một đồn điền rộng lớn, và để thực hiện mục đích đó, họ sẽ chuyển hướng dòng sông Nin ở miền thượng lưu. Đồn điền được tưới nước như vậy sẽ đem lại một nǎng suất kỳ diệu; nhưng… nông nghiệp miền hạ lưu sông Nin sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng; vì dòng nước màu mỡ tốt tươi đã bị đổi đi hướng khác. Vì vậy, người Ai Cập đã phản đối việc thực hiện kế hoạch đó. Việc ngài Lixtếch, tổng tư lệnh người Anh trong quân đội Ai Cập bị ám sát được người Anh dùng làm cớ để hoàn toàn tự do hành động ở Xuđǎng; từ nay họ là những người chủ duy nhất ở đấy. Máu đổ ở Xuđǎng và Ai Cập có lẽ sẽ chỉ để tǎng thêm màu mỡ cho đồn điền của họ ở Xuđǎng mà thôi…

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————-

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 33, ngày 8-4-1925
cpv.org.vn

Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu (10-1925)

Do sức ép của công luận ở Pháp và ở Đông Dương, ông Varen đã nửa chính thức hứa sẽ chǎm sóc vụ Phan Bội Châu. Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chǎng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan toàn quyền Varen sẽ “chǎm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao.

Trước hết, ngài chỉ muốn chǎm sóc đến khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã.

Nhưng ngài lại chỉ vừa mới xuống tàu, mà hành trình từ Mácxây đến Sài Gòn kéo chừng bốn tuần lễ cơ. Như vậy có nghĩa là trong bốn tuần lễ đó, Phan Bội Châu vẫn bị giam trong tù.

* * *

Đến Sài Gòn thì ông Varen, có gì mà không lường trước được, sẽ bị quấn quýt lấy, lôi kéo đi, giằng co, ru vỗ, ấp ủ trong mớ bòng bong những buổi chiêu đãi, những cuộc tiếp với rước, những lời chúc với tụng. Tiếp đấy là một cuộc tuần du linh đình qua khu phố bản xứ, giữa hàng nghìn người da vàng đã được nước Pháp hàng phục bằng sức mạnh của lưỡi lê, nay giao phó vận mệnh trong tay quan toàn quyền. Và đó cũng là lần đầu tiên trong đời mình, hai con mắt của ông Varen được thấy hiển hiện cái huyền diệu của một thành phố Đông Dương, dưới lòng đường, trên vỉa hè, trong cửa tiệm. Những cu li xe 1 kéo xe tay phóng cật lực, đôi bàn chân trần

giẫm lạch bạch trên mặt đường nóng bỏng; những quả dưa hấu bổ phanh đỏ lòm lòm; những xâu lạp xường lủng lẳng dưới mái hiên các hiệu cơm; cái rốn một chú khách trưng ra giữa trời; một viên quan uể oải bước qua, tay phe phẩy cái quạt, ngực đeo tấm bắc đẩu bội tinh 1 hình chữ thập. Thật là lộn xộn! Thật là nhốn nháo!

Bỗng dưng tất cả dừng lại, dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi gân bò mà viên đội xếp Tây vừa vung lên vừa quát tháo: “Cái giống tởm nhà mày! Có cút đi không, cái giống tởm!”. Thế là cái đám đông lúc nhúc đứng sắp hàng, vừa yên lại vừa lặng, hai bên lề đường. Gì thế nhỉ ? Xe ô tô quan toàn quyền sắp đi qua đấy … Xe kia rồi! Lại cả ông Toàn quyền đây rồi!

– Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! Một chú bé con thầm thì.

– ồ! Cái áo dài đẹp chửa! Một chị con gái thốt ra.

– Ngài sắp diễn thuyết đấy! Một anh sinh viên kêu lên.

– Đôi bắp chân ngài bọc ủng! Một bác cu li xe thở dài.

– Rậm râu, sâu mắt 12 ! Một nhà nho lẩm bẩm.

Thế là ô tô ông Varen chạy qua giữa hai hàng rào con người, lưng khom lại khi ngài đến gần. Cùng lúc, một tiếng rào rào nổi lên: “Lạy quan lớn! Bẩm lạy quan lớn ạ!” 3 .

Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù.

* * *

Từ Sài Gòn ra Hà Nội, ông Varen sẽ dừng lại Huế. Triều đình An Nam, do hoàng đế hay hình bóng hoàng đế dẫn đầu sẽ tất tưởi đi nghênh tiếp hiện thân tôn nghiêm của nước Pháp. Đức kim thượng Khải Định sẽ thỉnh ông Varen thǎm hoàng cung, và ông Varen sẽ vào. Hoàng thượng Khải Định sẽ thỉnh ông Varen dự yến, và ông Varen sẽ ǎn. Đến lúc tráng miệng, hoàng thượng đứng dậy, ngài uy nghi tiến đến gần quan toàn quyền; đưa những ngón tay dài và mảnh, lấp lánh châu ngọc đỏ xanh, ngài cài lên ngực ông Varen loại tưởng lệ phong tặng cao quý nhất của hoàng triều: Nam long bội tinh, và thế là ông Varen được gắn mề đay.

Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù.

* * *

Nhưng chúng ta hãy theo dõi, theo dõi bằng đôi cánh của trí tưởng tượng, những trò lố chính thức của ông Varen. Hãy theo ông đến tận Hà Nội, tận cổng nhà lao chính, tận xà lim, nơi người đồng bào tôn kính của chúng ta đang rên xiết.

Ôi thật là một tấn kịch! Ôi thật là một cuộc chạm trán! Con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp, tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình, lúc này mặt đối mặt với người kia, con người đã hy sinh cả gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp nước mình, sống xa lìa quê hương, luôn luôn bị lũ này sǎn đuổi, bị chúng nhử vào muôn nghìn cạm bẫy, bị chúng kết án tử hình vắng mặt, và giờ đây đang bị, vẫn chúng, đeo gông lên vai, đày đoạ trong nhà giam, ngày đêm bị bóng dáng của máy chém như một bóng ma ám kề bên cổ.

Giữa kẻ phản bội nhục nhã và bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng, giữa hai con người đó xảy ra chuyện gì đây?

– Tôi đem tự do đến cho ông đây! Varen tuyên bố vậy, tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kệch đang xiết chặt Bội Châu trong nhà tù ảm đạm.

“Nhưng, có đi phải có lại, tôi yêu cầu ông lấy danh dự hứa với tôi là sẽ trung thành với nước Pháp, hãy cộng tác, hãy hợp lực với nước Pháp để tiến hành ở Đông Dương một sự nghiệp khai hoá và công lý.

“Ông Phan Bội Châu, tôi biết rõ tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hy sinh, nhiều nguy nan của ông, và chính tôi, tôi xin là người đầu tiên, với tư cách là toàn quyền Đông Dương, được bày tỏ tấm lòng rất mực quý trọng ông. Song những ý tưởng hào hiệp nhất phải chǎng bao giờ cũng hay nhất? Phải chǎng bao giờ cũng thực hiện được? Than ôi, không đâu, ông ạ! Vả lại, trời ơi! Tại sao chúng ta lại cứ cố chấp cãi lộn nhau mãi thế này, trong lúc ông và tôi, tay nắm chặt tay, chúng ta có thể làm được biết bao công việc tốt đẹp cho xứ Đông Dương này? Chúng ta có thể cùng nhau làm cho nước ông trở thành một quốc gia tân tiến lớn, một xứ tự trị, một nước Pháp ở châu á!

“Ô! Ông nghe tôi, ông Phan Bội Châu này! Ông hãy để mặc đấy những ý nghĩ phục thù của ông, hãy từ bỏ đi những mưu đồ xưa cũ, và, thôi, chớ tìm cách xúi giục đồng bào ông nổi lên chống lại chúng tôi nữa; trái lại, ông hãy bảo họ cộng tác với người Pháp, và, làm như vậy là ông sẽ được tất cả, được cho đất nước ông, được cho bản thân ông!

“Về chuyện này, tôi có thể kể ông nghe gương của một trong những trợ thủ cũ của ông, là ông Nguyễn Bá Trác; ông biết đấy, ông này đã biết điều rồi và hiện nay thì đã đứng về phía chúng tôi. Nhưng nếu gương của người đồng bào ông, ông cho là chưa đủ, thì tôi xin kể gương đồng bào của chính tôi cho ông nghe, gương các bạn học của tôi từ hồi còn nhỏ, các chiến hữu của tôi, Guyxtavơ, Alếchxǎng, Arixtít, Anbe, Pôn và Lêông 11 . Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy. Như vậy các vị ấy có sao không ? Chẳng sao cả. Nền dân chủ của chúng tôi, nhờ Chúa! Rất là tốt! Thật thế, nền dân chủ hào hùng của nước Pháp, mà hôm nay tôi được vinh dự thay mặt giữa các ông, khoan dung với những người, như tôi, đã đoạn tuyệt với những lầm lạc của tuổi trẻ.

“Nhưng sao thế, ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là đảng viên xã hội đấy, và giờ đây thì tôi làm toàn quyền…!”.

ừ thì Phan Bội Châu nhìn Varen. Nhưng, lạ chưa! Những lời nói của Varen hình như lọt vào tai Bội Châu chẳng khác gì “nước đổ lá khoai” 1 , và cái im lặng dửng dưng của Bội Châu suốt buổi gặp gỡ hình như làm cho Varen sửng sốt cả người.

Không phải vì một bên nói tiếng Nam, một bên nói tiếng Tây: đã có một viên quan ở đấy làm thông ngôn cơ mà. Nhưng cứ xét binh tình, thì đó chỉ là vì Bội Châu không hiểu Varen cũng như Varen không hiểu Bội Châu

*

*      *

Cuộc gặp gỡ chấm dứt ở đấy, hay ít ra là không ai biết được gì hơn nữa. Chỉ có anh lính dõng An Nam bồng súng chào ở cửa ngục là cứ bảo rằng, nhìn qua chấn song, có thấy một sự thay đổi nhẹ trên nét mặt người tù lừng tiếng. Anh quả quyết – cái anh chàng ranh mãnh đó- rằng có thấy đôi ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay, và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi.

Nếu quả thật thế, thì có thể là lúc ấy Bội Châu có mỉm cười, mỉm cười một cách kín đáo, vô hình và im lặng, như cánh ruồi lướt qua vậy 2 .

T.B. – Một nhân chứng thứ hai của cuộc hội kiến Varen – Phan Bội Châu (xin chẳng dám nêu tên nhân chứng này) lại quả quyết rằng Bội Châu 1 đã nhổ vào mặt Varen; cái đó thì cũng có thể.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Báo Le Paria, số 36 – 37,
tháng 9 và tháng 10 – 1925.
Nguyễn ái Quốc: Truyện và ký, Nhà xuất bản Vǎn học, Hà Nội, 1974, tr. 31-37.
Theo bài in trong sách Truyện và ký.
cpv.org.vn

Lênin và các dân tộc thuộc địa (1925)

Cho tới ngày Lênin mất, vẫn còn có nhiều dân tộc thuộc các màu da chưa hiểu rõ Lênin là ai và nước Nga ở đâu. Bởi vì chủ nghĩa đế quốc thực dân cố ý không cho họ biết điều đó. Nhưng tại những nơi xa xǎm hẻo lánh ở Đông Dương, người ta cũng đã nghe nói có một dân tộc ở miền Bắc xa xôi đã đánh đuổi được bọn áp bức và tự quản lý lấy mình. ở các nơi xa xǎm hẻo lánh nhất, người ta cũng biết rằng nước đó là nước Nga, và Lênin là người ưu tú nhất của nước đó.

Không phải là không có lý do khi Trường đại học Bắc Kinh tổ chức thǎm dò ý kiến xem ai là người ưu tú nhất trên thế giới, thì ai cũng trả lời: người ưu tú nhất trên thế giới là Lênin.

Từ lâu, nhân dân bị áp bức ở phương Đông đã được biết rằng con người vĩ đại đó, sau khi đã giải phóng nước Nga, còn muốn giải phóng tất cả các dân tộc khác nữa. Điều này cũng đủ để kích thích lòng ngưỡng mộ sâu sắc và phấn khởi đối với lãnh tụ Lênin. Các dân tộc da đen và da vàng biết rằng Lênin vĩ đại đã kêu gọi những người da trắng đấu tranh để giải phóng các dân tộc thuộc các màu da bị áp bức thoát khỏi bọn bóc lột.

Thật dĩ nhiên là tất cả những hy vọng của người nô lệ bị áp bức ở các nước thuộc địa vào một tương lai tốt đẹp đều gắn liền với tên tuổi của Lênin – một con người đặc biệt mà trong thời gian đầu, thậm chí còn có nhiều người chưa tin là có. Rất dễ hiểu rằng tin Lênin mất cách đây một nǎm đã gây cho quần chúng các nước thuộc địa một ấn tượng không sao tả nổi, không sao diễn tả được.

Nhưng dần dần những người bị áp bức sống trong cảnh tǎm tối

đó được biết tin về Đảng Cộng sản, về tổ chức gọi là Quốc tế Cộng sản. Nhất là họ càng ngạc nhiên khi được tin rằng Đảng và tổ chức này đều do Lênin sáng lập ra, và mặc dù Lênin đã mất, nhưng còn có Đảng Cộng sản và Quốc tế Cộng sản tiếp tục sự nghiệp của Người.

Các dân tộc da đen và da vàng kém phát triển chưa phải đã nhận ra ngay rằng Lênin và Đảng Cộng sản chỉ là một. Nhưng khi họ biết điều đó thì họ sung sướng vô hạn. Họ bắt đầu hiểu rằng sự nghiệp của Lênin không bao giờ mất, và họ vẫn hy vọng được giải phóng vì vẫn còn Đảng của Lênin.

Vì vậy, nǎm vừa qua, kể từ ngày Lênin mất, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản được lan rộng trong nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân những nước đó hết sức chú ý đến Đảng Cộng sản.

Khi Lênin còn sống, nhân dân bị áp bức coi Người là người giải phóng mình. Khi Người mất đi, họ tự hỏi nhau: “Lênin đã mất rồi, chúng ta biết làm sao bây giờ?”. Họ hỏi nhau: “Tìm đâu ra những người có đủ tinh thần dũng cảm và nhân từ như Lênin để chǎm lo đến việc giải phóng những người nô lệ ở các nước thuộc địa?”.

Trong nǎm qua, nhân dân bị áp bức ở các nước phương Đông đã nhận ra rằng, họ đã tìm thấy một Đảng lớn mạnh lấy tên là Đảng Lênin để thay thế cho một vài cá nhân. Và bây giờ, nhân dân các nước thuộc địa đều đặt hy vọng được giải phóng vào Đảng này cũng như một nǎm trước đây đã đặt hy vọng vào Lênin.

Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của nhân dân bị áp bức. Sau khi mất, Người là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức.

Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa!

NGUYỄN ÁI QUỐC Đại diện Đông Dương ở Quốc tế Cộng sản

—————————

Báo Công nhân Bacu (Liên Xô), số 16, nǎm 1925
cpv.org.vn

Lê Nin và phương đông (21-1-1926)

Quốc tế thứ nhất (38) đã đặt cơ sở cho học thuyết cộng sản, nhưng vì tồn tại trong một thời gian ngắn nên chỉ kịp đề ra những đường lối cơ bản của học thuyết đó mà thôi. Vấn đề các nước thuộc địa chưa được Quốc tế thứ nhất nghiên cứu đầy đủ.

Còn Quốc tế thứ hai với những đại biểu của nó như Mácđônan, Vǎngđécvendơ, Henđécxôn, Blum và nhiều người khác thì lại quá chú ý đến vấn đề này. Trong bất cứ trường hợp thuận lợi nào, những người này cũng nhấn mạnh sự nhất trí của họ với chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước ấy. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa cho sự nghiệp giải phóng của mình, không những không được sự đồng tình của họ mà còn ngược lại. Ví dụ, sau khi lên nắm chính quyền, Mácđônan chẳng kém gì Bônđuin và Sǎmbéclanh đã đàn áp nhân dân ấn Độ, Xuđǎng và các dân tộc khác đã can đảm đấu tranh chống lại bọn người nước ngoài ức hiếp họ.

Với sự tán thành của các ngài đó, người ta đã dội bom xuống các làng mạc bản xứ, và đã đàn áp nhân dân các nước thuộc địa dã man, tàn bạo không sao tả xiết. Mọi người đều biết về chính sách phân biệt công nhân da trắng với công nhân da màu mà bọn thoả hiệp luôn luôn thi hành, về việc các công đoàn chịu ảnh hưởng của bọn xã hội giả hiệu đó không muốn kết nạp các công nhân da màu vào hàng ngũ của mình. Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản

này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ.

Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến đối với nhân dân các nước thuộc địa đã ǎn sâu vào tận xương tuỷ của nhiều công nhân châu Âu và châu Mỹ. Những luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa 39 được Quốc tế Cộng sản tán thành đã gây ra một cuộc cách mạng hoàn chỉnh trong tất cả các nước bị áp bức trên thế giới.

Đồng chí Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn, và của Quốc tế Thanh niên cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn luôn được đặt lên hàng đầu.

Lênin là người đầu tiên đã nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã nhận thức rằng nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng xã hội.

Với tất cả sự sáng suốt vốn có của mình, Lênin đã nhận thấy rằng muốn cho công tác trong các nước thuộc địa được thành công tốt đẹp thì cần phải lợi dụng triệt để phong trào giải phóng dân tộc trong các nước đó, rằng giai cấp vô sản trên thế giới, bằng việc ủng hộ phong trào ấy thì sẽ có nhiều bạn đồng minh mới hùng mạnh trong cuộc đấu tranh của mình cho cách mạng xã hội.

Tất cả các đại biểu các nước thuộc địa đã tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản sẽ không bao giờ quên được rằng lãnh tụ Lênin, đồng chí Lênin đã quan tâm đến họ dường nào, rằng Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp và thuần tuý có tính chất địa phương. Từ đó đến nay, mỗi người trong chúng ta đã có đủ thời gian để thấy rõ hàng chục lần rằng những nhận xét của Lênin đúng biết chừng nào, và những lời giáo huấn của Người thật quý giá biết bao.

Chỉ nhờ có thái độ khôn khéo của Lênin đối với vấn đề thuộc địa, mới có thể lay động quần chúng chưa được giác ngộ, và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng đã ngày càng lôi cuốn được những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc phức tạp ở nước Nga Xôviết, việc đảng cộng sản thực hiện trong thực tiễn vấn đề này là một vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ nhất trong các nước thuộc địa.

Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————————

38. Quốc tế thứ nhất (Hội liên hiệp lao động quốc tế): Tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản, thành lập nǎm 1864 tại Hội nghị công nhân quốc tế ở Luân Đôn (Anh), do C.Mác và Ph. Ǎngghen lãnh đạo. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quốc tế thứ nhất là Hội đồng trung ương Hội liên hiệp lao động quốc tế mà Mác là uỷ viên thường trực. Bằng cách khắc phục những ảnh hưởng tiểu tư sản và những khuynh hướng bè phái lúc đó đang tồn tại trong phong trào công nhân, Mác đã đoàn kết xung quanh mình những người giác ngộ nhất của Hội đồng trung ương. Quốc tế thứ nhất đã lãnh đạo cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị của công nhân ở các nước và củng cố sự đoàn kết quốc tế của họ. Quốc tế thứ nhất đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp truyền bá chủ nghĩa Mác và trong việc kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân. Sau khi Công xã Pari thất bại, một nhiệm vụ được đặt ra là thành lập các đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở mỗi nước, trên cơ sở những nguyên tắc mà Quốc tế thứ nhất đã đề ra. Nǎm 1876, tại Hội nghị Philađenphia (Mỹ), Quốc tế thứ nhất chính thức giải tán. Tr.218.

Báo Tiếng còi (Liên Xô), tiếng Nga, ngày 21-1-1926.
cpv.org.vn

Phong trào cách mạng ở Đông Dương (14-8-1926)

Tình hình kinh tế. Xứ Đông Dương bị Ngân hàng Đông Dương, thành lập nǎm 1875, thống trị về mặt kinh tế. Đến nǎm 1924, vốn của ngân hàng là 64.400.000 phrǎng. Cũng trong thời kỳ này, doanh số lên tới 4.503.000.000 phrǎng và thu được 34.000.000 phrǎng tiền lãi. Chính Ngân hàng Đông Dương đã chỉ huy tín dụng công nghiệp, thương nghiệp ở Đông Dương, Công ty mỏ than Bắc Kỳ (công ty này hằng nǎm xuất cảng 1.400.000 tấn than trị giá 12.000.000 đồng hay 201.000.000 phrǎng) và Công ty hoả xa Vân Nam.

Về thương nghiệp nói chung, ở Đông Dương, doanh số hơn 4 tỷ phrǎng. Bán thuốc phiện thu được 215.000.000 phrǎng và bán rượu thu được khoảng 1 tỷ phrǎng tiền lãi. Trong số 1 tỷ phrǎng này, Chính phủ thu 200.000.000 phrǎng, số còn lại vào túi bọn tư bản độc quyền. Như vậy là chỉ có đầu độc dân bản xứ mà đế quốc Pháp đã thu được 415.000.000 phrǎng!

Ngân sách toàn Đông Dương là 1.327.000.000 phrǎng.

Người ta xuất cảng 1.500.000 tấn gạo trị giá 252.000.000 phrǎng và 80.000 tạ cao su.

Đông Dương thịnh vượng như vậy. Nhưng sự thịnh vượng ấy chỉ làm lợi riêng cho người Pháp mà thiệt hại cho người An Nam. Mỗi ngày, đàn ông chỉ kiếm được 32 xu, đàn bà 28 xu, trẻ con 16 xu. Hơn nữa, họ không được trả lương đều đặn và không phải bao giờ cũng nhận bằng tiền mặt. Công ty mỏ than tổ chức ra những

cửa hàng bán thực phẩm và các vật dụng khác. Thợ bắt buộc phải mua hàng ở đấy, giá đắt hơn thị trường 10%. Thường thì người ta trả lương bằng hàng hoá lấy ở các cửa hàng đó, người thợ chỉ được lĩnh một ít tiền mặt và mãi 15 ngày hay một tháng sau mới được lĩnh; chính bằng cách này mà công ty ngǎn được thợ thuyền bỏ trốn.

Theo lời thú nhận của toàn quyền Đông Dương thì đời sống của thợ mỏ quá khổ cực và công việc của họ quá nặng nề nên trong số 15.907 thợ mỏ thống kê được vào nǎm 1906, không ai sống đến 60 tuổi. Và bọn tư bản thuộc địa cũng lại viện cớ đó để từ chối không tổ chức quỹ hưu bổng cho thợ thuyền bản xứ!

Đời sống nông dân cũng chẳng hơn gì. Đất thì xấu, phương pháp canh tác thì lạc hậu, do đó nǎng suất rất thấp kém. Sản lượng một hécta ở châu Âu là 4.670 kilô thóc, ở Nhật Bản 3.320 kilô, ở Nam Dương 2.150 kilô, còn ở Đông Dương sản lượng chỉ có 1.210 kilô.

Người bản xứ đo ruộng đất bằng “mẫu”, chứ không đo bằng hécta. Một mẫu đất tốt sản xuất khoảng 50 thùng thóc trị giá 24đ75. Trong số tiền này, Chính phủ đã trích thu 2đ10, khoảng 10%. Nhưng cày cấy mỗi mẫu ruộng, người nông dân đã phải chi hết 28đ50 về tát nước, phân bón, giống má, thuê trâu bò, nhân công, v.v.. Như vậy là lỗ vốn mất 3đ75.

Người ta sẽ hỏi: “Thế thì người nông dân sống thế nào được và lấy gì mà đóng thuế?”. Có thể trả lời đơn giản như thế này: sống thế nào cũng được, nhưng người nông dân vẫn phải sống và phải đóng góp. Một câu tục ngữ An Nam có nói: “Không làm cũng chết, mà làm cũng chết”. Tập quán nghìn xưa cũng như sức mạnh của trǎm ngàn mối quan hệ khác đã trói chặt người nông dân với ruộng đất. Nếu biết nơi nào thoát thân được thì họ cũng đã rứt bỏ ra đi. Suốt nǎm, phần lớn những người nông dân phải ǎn rau ǎn khoai. Rất ít khi họ ǎn cơm, chỉ trong những ngày giỗ tết chẳng hạn, thì họ mới dám động tới hạt cơm quý giá ấy.

Ngoài thuế má nặng nề, tǎng lên 550% trong khoảng mười nǎm, người dân bản xứ còn bị khổ sở với trǎm nghìn thứ hạch sách. Tờ báo “Khai hoá” của người bản xứ ở Bắc Kỳ mới đây có viết: “Biết bao người đã bị bắt trái phép. Họ bị giam cầm hàng tháng trời… Lính tráng bắt họ đóng tiền này tiền kia, rồi còn hành hạ họ nữa… Có người bị đánh đập tàn nhẫn đến nỗi phải vào nhà thương. Tóm lại, nếu người nào vô phúc bị bắt mà nghèo đói thì đành cam phận, còn kẻ hơi khá giả thì phải bán vợ đợ con để nộp tiền phạt dù có bị bắt oan cũng vậy”.

Còn có những trường hợp nghiêm trọng hơn nhiều. Như một tên công sứ ở Cao Miên đã bòn rút tiền thuế của những người dân cùng khổ để xây dựng một lâu đài nghỉ mát tốn 57.600.000 phrǎng, tên ấy còn bắt dân đắp thêm một con đường từ nhà ở đến lầu nghỉ mát. Hơn 1.900 người đã thiệt mạng trên con đường này!

Tình hình chính trị. Tháng 11 nǎm ngoái, khi Varen, “nhà xã hội” tới nhận chức toàn quyền, dân bản xứ có đưa “Tập dân nguyện của người An Nam”, đòi tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền lập hội và hội họp, v.v.. Cũng như bọn toàn quyền trước, Varen đã hứa hẹn nhiều để không làm gì cả.

Cũng thời kỳ ấy, bọn mật thám Pháp bắt cụ Phan Bội Châu ở Thượng Hải. Cụ là một nhà lão thành yêu nước xuất dương từ 20 nǎm nay. Người ta đưa cụ về Bắc Kỳ để xử án. Mặc dầu Chính phủ Pháp giữ bí mật vụ bắt bớ này, nhưng người An Nam ai cũng biết tin, một phong trào phản đối sôi nổi khắp nơi.

Khi Varen đến Bắc Kỳ, sinh viên biểu tình đòi thả nhà lão cách mạng bị bắt giữ. Họ mang cờ và biểu ngữ kêu gọi: “Ân xá cho cụ Phan Bội Châu!”, “Đả đảo chế độ thực dân tàn bạo!”.

Đây là lần đầu tiên người ta được thấy một sự kiện như vậy ở Đông Dương. Varen buộc phải ân xá cho cụ Phan Bội Châu, nhưng vẫn bí mật giám sát cụ.

Từ đó phong trào sinh viên tiếp tục phát triển sôi nổi, đến tháng 3 vừa rồi, phong trào mới thật mạnh.

Khi Bùi Quang Chiêu, một người thuộc phái quốc gia, mới ở Pháp về – Chiêu vừa tổ chức ở Pháp một cuộc vận động chống những tên quan cai trị thuộc địa thối nát – hàng nghìn người An Nam do sinh viên hô hào, đã đi đón và đón tiếp rầm rộ 45 . Hôm đó, bọn phát xít Pháp cũng tổ chức phản biểu tình, chúng huy động cả quân lính, mật thám và cảnh sát. Bọn phát xít bắn súng lục chỉ thiên, và đá ông Chiêu. Mặc dầu có sự khiêu khích đê tiện ấy, người bản xứ vẫn giữ một thái độ rất bình tĩnh. Điều đó đã làm thất bại âm mưu của bọn Pháp định gây ra một “ngày đẫm máu” hòng dạy cho người An Nam biết phục tùng chúng!

Cũng đúng vào dịp này, nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, một người thuộc phái quốc gia khác, vừa qua đời. 30.000 người An Nam ở khắp xứ Nam Kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ. Chỉ trong vài ba ngày, một cuộc lạc quyên đã thu được 100.000 đồng. Tất cả học sinh, sinh viên đều để tang cụ.

Trước phong trào yêu nước của toàn dân, bọn thực dân Pháp sợ hãi, bắt đầu phản công lại. Chúng cấm học sinh để tang và tổ chức lạc quyên. Chúng cấm tổ chức các lễ truy điệu, v.v.. Để phản đối lại, học sinh đã bãi khoá. ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Sài Gòn, Phú Lâm, v.v. đâu đâu học sinh cũng đều bãi khoá. Nữ sinh cũng tham gia phong trào. Một sự việc đầy ý nghĩa sau đây đã chứng tỏ tinh thần yêu nước của học sinh: Tại trường Saxlu Lôba ở Sài Gòn có người đã viết lên bảng mấy chữ: “A.B. L.F.” (A bas les Franỗais – Đả đảo thực dân Pháp). Các giáo sư Pháp bắt học sinh lên xoá bảng. Chẳng một em nào chịu xoá cả.

Tên “xã hội” Varen ra lệnh cho hiệu trưởng các trường “phải thẳng tay trừng trị những hành động vô kỷ luật”. Thế là đã xảy ra nhiều cuộc khám xét, bắt bớ và đuổi hàng loạt học sinh. Riêng ở Sài Gòn, hơn 500 học sinh đã bị đuổi ra khỏi trường.

Các tổ chức chính trị. ở Bắc Kỳ, có một hội bí mật gọi là “Phục Việt” (46) . Mới đây hội này có rải truyền đơn, mà sau đây là vài đoạn trích dẫn:

“Nước Pháp dùng vũ lực để bắt nước ta làm nô lệ … họ đã áp bức dân ta nhiều nǎm nay … Trong cảnh ô nhục và cǎm thù đó, chúng ta, người An Nam không thể đội trời chung với người Pháp. Hỡi hai mươi lǎm triệu đồng bào! Những ai không chịu đem lòng sắt đá ra lật đổ cường quyền, thì thà hãy để cho thịt xương tự tan nát mà đền nợ nước.

“… Cường quyền đã đến ngày mạt vận. Các dân tộc đang hưởng ứng lời kêu gọi của nước Nga cách mạng. ấn Độ và Ai Cập đã vùng dậy đòi lại tự do… Lẽ nào người An Nam chúng ta lại vẫn chìm đắm trong giấc ngủ triền miên?… Hỡi dân tộc An Nam! Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hoà, thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai thích cánh với nǎm châu… Hỡi dân tộc An Nam! Hãy mau mau thức tỉnh…”.

ở Nam Kỳ, có một nhóm trí thức Tây học tự xưng là “Đảng lập hiến”, họ là một nhóm ôn hoà chủ trương “Pháp – An Nam đề huề”. Theo chúng tôi biết thì nhóm này không có hệ thống tổ chức, không có điều lệ, không có cán bộ. Đó là một tổ chức tập hợp nhau về mặt tinh thần. Vì họ thường đả kích chế độ cai trị thối nát ở thuộc địa trong khi vẫn tôn trọng “chủ quyền Pháp” nên họ có ảnh hưởng khá lớn trong quần chúng người bản xứ.

Có một nhóm khác là nhóm “Thanh niên An Nam”. Nhóm này tiến bộ và hoạt động hơn. Cơ quan báo chí của nhóm này do một người đã gia nhập quốc tịch Pháp làm chủ nhiệm, thường trích in bài của báo L’Humanité xuất bản ở Pari. Nhóm này cũng xuất bản, dưới hình thức những sách nhỏ, bản Tuyên ngôn Dân quyền và bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản 47 của Mác.

Tất nhiên là Chính phủ Pháp hết sức tìm cách phá bỏ nhóm này, nhưng không kết quả, vì nhóm đó đưa tổ chức thành đảng. Vì thế Chính phủ Pháp bèn đàn áp các thành viên của nhóm đó.

Tháng 3, nhóm “Thanh niên An Nam” có tổ chức một cuộc mít tinh phản đối việc trục xuất một người Bắc Kỳ. Cuộc mít tinh thông qua kiến nghị như sau:

“Chúng tôi 3.000 người An Nam… sau khi nghe diễn thuyết nói chuyện … nhận thấy rằng việc trục xuất những người An Nam quê ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ ra khỏi địa phận Nam Kỳ là một hành động

độc đoán…, chúng tôi cực lực phản đối sự lạm quyền này… và khẩn thiết đòi Chính phủ Pháp ở Đông Dương phải tôn trọng những quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người và của công dân đã được xác nhận trong Hiến pháp của nước Cộng hoà Pháp, nhất là: 1) tự do báo chí viết bằng tiếng bản xứ, 2) bỏ câu thúc thân thể về dân sự và thương sự, 3) tự do học tập, hội họp và tự do đi lại”.

Trước cuộc mít tinh, người ta đã rải truyền đơn, cuối tờ truyền đơn có câu: “Nếu Chính phủ không chịu trả lại cho chúng tôi những quyền tự do cần thiết nói trên (quyền tự do báo chí, v.v.) thì chúng tôi không còn chút tin tưởng nào ở thiện ý của Chính phủ và chúng tôi nguyện cùng nhau tận tâm tận lực hoạt động để giải phóng dân tộc An Nam”.

Cũng vì đã viết những tiếng giải phóng dân tộc An Nam và đã phát hành số đầu tiên và cũng là số cuối cùng của báo An Nam trẻ- Diễn đàn giải phóng quốc gia, trong đó có đǎng lại bài của báo L’Humanité và báo Le Paria, mà hai tác giả, những người đã viết truyền đơn, đã tổ chức mít tinh, vừa là chủ nhiệm vừa là quản lý tờ báo, đã bị kết án hai nǎm tù!

Do hai vụ án này, học sinh lại tiếp tục bãi khoá. Thực dân Pháp lại dùng những biện pháp hành chính để trấn áp trả thù.

Tình hình chính trị ở Đông Dương có thể tóm tắt trong lời than vãn sau đây của một tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ:

“Vụ biến động này… đã làm cho nước ta xưa nay yên ổn biết bao, đã trở thành trung tâm của những cuộc biến động và hỗn loạn”.

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 91, ngày 14-8-1926
cpv.org.vn

46. Hội Phục Việt: Một tổ chức yêu nước được thành lập vào mùa hè nǎm 1925, do sự kết hợp nhóm những chính trị phạm cũ ở Trung Kỳ (thực dân Pháp phải thả ra dưới áp lực của phong trào quần chúng và phong trào đòi tự do dân chủ phát triển mạnh ở Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất) với nhóm sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội. Cơ sở của Hội chủ yếu ở vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh. Trong phong trào đấu tranh sôi nôi của nhân dân ta đòi thực dân Pháp thả nhà ái quốc Phan Bội Châu nǎm 1925, hội viên của Hội này đã rải truyền đơn ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, thị xã Hải Dương và cả ở Nam Kỳ kêu gọi đấu tranh. Cơ sở của Hội bị lộ và Hội phải đổi tên là Hưng Nam. Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội – tổ chức cách mạng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập nǎm 1925 ở Quảng Châu (Trung Quốc), Hưng Nam đã chuyển thành Tân Việt cách mạng đảng (tháng 7-1928), sau đó phân hoá và dẫn tới sự ra đời của Đông Dương Cộng sản liên đoàn (tháng 1-1930) là một trong ba tổ chức cộng sản đã hợp nhất lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2-1930. Tr.231.

“Vǎn minh” Pháp ở Đông Dương (1927)

Nền “vǎn minh” Pháp tại Đông Dương thể hiện ở những chiều hướng khác nhau. Trước hết, thông qua sự cướp bóc trơ tráo nhân dân bản xứ – những người nông dân nghèo An Nam và Cao Miên bị chiếm đoạt trắng trợn -, nhằm thực hiện một nền kinh tế đồi bại đáng hổ thẹn. Điều đó cũng diễn ra như vậy ở Nam Kỳ. Những người bản xứ tại nơi này đã bị cướp đoạt không dưới 115.000 hécta ruộng đất, và người ta tính rằng, trong ít nǎm nữa, số diện tích này sẽ lên đến 200.000 hécta.

Tất cả các tầng lớp thực dân đại diện cho nền “vǎn minh” đều nhúng tay vào những cuộc cướp đoạt đó. Tất nhiên, đi đầu là những viên chức cao cấp nhất của Pháp tại những thuộc địa này. Tiến sĩ Cônhắc, thống đốc Nam Kỳ, đã bị công khai kết tội trong Uỷ ban thuộc địa là đã xuyên tạc, giả mạo và đánh cắp các biên bản của Uỷ ban. Một viên chức cao cấp khác, viên công sứ Sabachiê, đã áp dụng một chế độ thống trị chuyên quyền ghê gớm nhằm thực hiện các kế hoạch của mình, mà qua đó, các nhà giam chật ních tù nhân; không những thế, chúng đã quyết định và thi hành vô số những bản án tử hình chưa từng biết đến ở nơi đây cho tới lúc bấy giờ.

Trong lần trở về nước của lãnh tụ những người theo chủ nghĩa dân tộc Bùi Quang Chiêu, khi đó đã trở thành một kẻ thỏa hiệp nổi tiếng xấu xa, các tay súng An Nam đã bị tước vũ khí, nhưng vô số súng liên thanh lại được chuẩn bị sẵn sàng để chống lại đám đông khổng lồ đang ồ ạt kéo tới gần để chào mừng ông ta. Tại một vụ xử hai nhà báo An Nam trẻ tuổi, người ta đã huy động cả quân đội, sen đầm, dân binh, cảnh sát thành phố và mật vụ. Dân bản xứ

không được phép đặt chân tới nhiều nơi của thành phố Sài Gòn.

Chúng không còn tin vào binh lính Pháp và tất nhiên, càng ít tin hơn vào binh lính An Nam. Vì thế chúng đưa tới thuộc địa những người Xênêgan, họ bị cấm không được giao tiếp với dân bản xứ. Vì lo sợ binh lính châu Phi được đưa đến sẽ có thể liên hệ với dân châu á, nên chúng chủ trương tuyên truyền sự thù ghét và chia rẽ binh lính da đen và những người bản xứ da vàng.

Khi “đảng viên xã hội” Varen được bổ nhiệm làm toàn quyền từ Pháp đến, súng ống và đạn dược cũng thường được gửi tới. Nhiều chuyến tàu vận tải đưa những công cụ “vǎn minh” của Pháp đã sang Đông Dương.

Sự khủng bố mạnh nhất vẫn tiếp diễn ở tất cả các miền của Đông Dương, ở Nam Kỳ, Cao Miên, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Ngày nào cũng có những cuộc bắt bớ giam cầm hàng loạt người. Bị theo dõi đặc biệt chặt chẽ là những sinh viên, mà một số họ đang tìm cách tiếp tục học tập ở nước ngoài. Bởi vì từ sau cuộc bãi khoá rộng lớn của sinh viên, trường học của các thuộc địa đã bị đóng cửa đối với họ.

ở một loạt thuộc địa Pháp, như đảo Rêuyniông nằm sát hòn đảo lớn Mađagátxca bên bờ biển phía Đông châu Phi, hay như đảo Tân Calêđôni nằm ở phía Tây châu úc, số dân đã nhanh chóng bị giảm sút vì rượu mạnh và lao dịch. Do đó, bọn thực dân không có đủ lực lượng lao động làm cho các đồn điền của chúng, và bởi thế, chúng yêu cầu chính phủ Nam Kỳ phải bảo đảm cung cấp các lực lượng lao động. Thế là người ta thường đọc được những tin tức về việc tổ chức đưa 2.000 thợ thuyền sang Tân Calêđôni, nơi đã có 62.000 dân vào nǎm 1875, và nay dân số giảm xuống còn 27.000 vì công việc “khai hoá” của Pháp.

Việc di cư của các lực lượng lao động này tất nhiên cũng là “tự nguyện” như khi vận chuyển “những người tình nguyện” từ Đông Dương sang những nơi trận mạc của châu Âu, và mới đây, sang Marốc và Xyri. Người ta hay nghe nói đến những cuộc ra đi, nhưng không bao giờ nghe nói tới ngày trở về của “những người tình nguyện” đã bị cưỡng bức bằng bạo lực mà phải đi. Hiện nay đang có khoảng 6.000 “người tình nguyện” từ Bắc Kỳ trên đảo Tân Calêđôni.

Sau hơn sáu mươi nǎm người Pháp chiếm đóng Đông Dương, nền giáo dục ở Đông Dương vẫn luôn luôn dừng lại ở trình độ vô cùng thấp kém. Các lực lượng lao động không được đào tạo để có trình độ . Thay vào đó, ở Đông Dương, lại có 2.000 nơi buôn bán rượu mạnh và thuốc phiện. Trong nǎm 1924, toàn Đông Dương có 20 triệu dân, song chỉ có 213.977 học sinh và 4.193 giáo viên bản xứ, trong khi ngay tại quần đảo Philippin bị đế quốc Hoa Kỳ áp bức với 10 triệu dân đã có 1.128.977 học sinh và 25.451 giáo viên bản xứ. ở Đông Dương, không chỉ thiếu trường học, mà trường sở hiện có cũng thật kém cỏi.

Người ta còn thấy rõ sự thối nát của thực dân Pháp qua thú nhận của tờ L’Impartial, cơ quan ngôn luận của Pháp ở Đông Dương rằng viên thống đốc Cônhắc đã phạm một loạt hành động tham nhũng. Cả người “đảng viên xã hội” Varen cũng tham gia hǎng hái vào việc tham nhũng vì chỉ một vài tháng sau khi tới Đông Dương, ông ta đã gửi về Pháp 74 hòm tặng phẩm có trọng lượng 4.910 kilô và kích cỡ là 30 mét khối.

Để bảo vệ Hà Nội, dinh luỹ của bọn Pháp bất tài và vô lương tâm, bọn cai trị Bắc Kỳ đã có tội trong việc phá vỡ đê mà không thông báo kịp thời cho dân biết, làm cho 20.000 dân chúng ở nông thôn đã bị chết đuối. Chúng cấm các báo đǎng tin về hành động dã man đó.

A.P

Tập san Inprekorr, tiếng Đức, số 17, nǎm 1927.
cpv.org.vn

Hãy nhớ đến những người bị tù đày vì chính trị của chúng ta (1-2-1927)

Bị đày sang Tân Calêđôni 1 nǎm 1913, được tha nǎm 1924, người đồng bang của chúng ta lại bị khước từ việc trả về quê hương.

Ngày 5-9-1913, sau những quả bom ở Hà Nội và Thái Bình, toà đề hình Hà Nội, trong một phiên toà xử kín, cǎn cứ vào những báo cáo của cảnh sát, quyết định kết án tử hình vắng mặt Phan Bội Châu và hoàng thân Cường Để, đưa lên máy chém khoảng chục người vô tội và đưa đi đày khoảng ba chục người khác.

Lê Ngọc Liên bị nỗi bất hạnh và được vinh dự liệt vào số sau này với lời nhận xét khó hiểu như sau: “Âm mưu chống an ninh quốc gia và đồng loã tụ tập với bọn bất lương” 2 .

Chúng ta thử tìm cách giải đáp trò đố chữ này.

Nǎm 1913, Lê Ngọc Liên với tư cách một người thợ đã “hợp tác” với Khánh Ký, một người anh em của mình. Ông Khánh Ký hiện nay là một trong những nhà nhiếp ảnh lớn nhất ở Sài Gòn và ông ta chưa bao giờ, theo tôi biết, bị tai tiếng hoặc tố cáo là bất lương. Như thế, không phải vì là một người đã hợp tác với Khánh Ký mà Lê Ngọc Liên bị kết án phát vãng.

Vậy thì vì lý do gì? – Như thế này: thời bấy giờ có một hội lớn theo chủ nghĩa dân tộc gọi là “Đông kinh nghĩa thục”. Được thành lập do những nho sĩ có danh vọng nhất ở Bắc Kỳ, trong đó có ông Cử Can, thân sinh Lương Ngọc Quyến, người anh hùng của cuộc khởi nghĩa lớn Thái Nguyên, các ông Phan Tiên Phong và Phan Trọng Kiên, anh em của Phan Vǎn Trường, trạng sư ở toà thượng thẩm Pari, hội “Đông kinh nghĩa thục” dự định truyền bá học vấn trong quảng đại quần chúng nhân dân của chúng ta. Hội mở tại Hà Nội những lớp học công khai và không lấy tiền. Lê Ngọc Liên dự những lớp ấy, kết thân với vài người bạn và mời họ về nhà uống trà, chỉ có thế.

Bỗng những vụ đánh bom xảy ra. Một sự đàn áp khốc liệt đã ập xuống những hội viên của “Đông kinh nghĩa thục”. Nhà cầm quyền bắt giam bừa bãi giáo sư, học sinh và bạn bè của họ. Khi cảnh sát xông vào nhà Lê Ngọc Liên, họ thấy người đồng hương của chúng ta đang ngủ trưa với một trong những người bạn cùng lớp. Thế là đủ lắm rồi: đấy là những người âm mưu chống an ninh quốc gia, đấy những kẻ đồng loã tụ tập với bọn bất lương!

Lê Ngọc Liên đã bị đày sang Tân Calêđôni vào tháng 9-1913 như thế đấy.

Ngày 29-12-1924, anh chính thức biết tin mình được tha. Đến thời điểm này, anh đã trải qua 11 nǎm bị đày ải. Quả thật, cũng đã đến lúc, vì những gì anh sai phạm…, người ta phải để cho anh trở về xứ sở với gia đình của mình.

Các bạn tin như thế à? – Các bạn đã nhầm. Ngay lúc đó, Lê Ngọc Liên được bọn quản lao báo cho biết là họ hoàn toàn không có trách nhiệm gì về việc hồi hương của anh và anh phải tự mình xoay sở mọi phí tổn từ Numêa 1 đến Hải Phòng.

Anh ta, một người bị đày ải, thế họ muốn anh ta trả bằng cái gì

mới được chứ? Thật là ngu xuẩn và đê tiện. Nhưng, chính quyền thực dân là như thế đấy.

Ngày 20-1-1926, Lê Ngọc Liên gửi đơn lên thống đốc Tân Calêđôni. Không được trả lời. Ngày 25-2-1926, gửi đơn lên Bộ trưởng thuộc địa. Không được trả lời. Lê Ngọc Liên nhờ Hội những người lao động Đông Dương ở Mácxây can thiệp, hội này nhờ phân hội Nhân quyền Mácxây và phân hội Mácxây lại nhờ Uỷ ban trung ương của Hội ở Pari (tháng 6-1926). Không được trả lời.

Trước sự lẩn tránh chung ấy, ở phía hữu và phía tả, người đồng hương của chúng ta sẽ buộc phải, theo người ta nói với tôi, nhờ đến Hội chữ thập đỏ quốc tế và cả Đảng Cộng sản. Như thế người ta sẽ có thêm một bằng chứng rằng chính là Chính phủ đẩy những người An Nam đến với chủ nghĩa bônsêvích mà về chủ nghĩa này, Chính phủ lại không ngừng vung vẩy một con ngoáo ộp, cố nhiên là để lừa dối hòng che lấp những việc làm bẩn thỉu của mình. Nhưng ngoại trừ Chính phủ và bọn thống đốc, phải chǎng người ta có thể tin chắc rằng những tổ chức gọi là thuộc phái tả, cụ thể ở đây là Hội nhân quyền, đã hơi quá hững hờ khi phải bảo vệ quyền của những quân khốn khổ người da màu?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Ame Annamite, ngày 1-2-1927
cpv.org.vn