Thư viện

Cuộc bạo động ở Đahômây (18-3-1923)

Những nô lệ của Gơbekhandin, hơn 30 năm trước đây, đã thoát khỏi ách nô lệ của Đốtxơ và Lơben, là những anh hùng của những chiến công vang dội một thời, – bây giờ lại được làm quen với nước Pháp “văn minh”. Cần phải nói thẳng ra rằng, vì lý do đó mà những vị quan cai trị thực dân của chúng ta đã nâng người Đahômây lên cái danh hiệu là công dân nước Pháp.

Đây là một số chi tiết về những sự kiện, trong đó, các nhà tư bản thực dân đối xử với những người bãi công ở Poóctô – Nôvô giống như họ đang đối xử với công nhân ở Havrơ và Xarơbuy Ken.

Ngày 12 tháng 2, – ngày hôm sau khi ông Hăngri Misen, đại biểu của Hội đồng thuộc địa tối cao đi khỏi, – một làn sóng kích động đột nhiên bao trùm toàn dân thành phố Poóctô – Nôvô; bắt đầu những cuộc biểu tình kèm theo những cuộc bãi công của công nhân bản xứ làm việc trong các công trường xây dựng của thành phố.

Ngày 18 tháng 2, những người biểu tình tổ chức một cuộc họp toàn thể. Cảnh sát đã giải tán họ và bắt đi 10 công nhân.

Cuộc chiến đấu bắt đầu. Những nhóm công nhân bãi công, có nhiều người dân bản xứ tham gia, đã chiếm các bốt gác ở xung quanh Poóctô – Nôvô và đuổi hết cảnh sát khỏi các bốt gác ấy. Sau đó, đã xảy ra cuộc đụng độ đầu tiên giữa những người bạo động với lính bộ binh do viên quan cai trị – ông Satxeclô, cấp tốc phái đến. Quân đội nổ súng. Nhưng những người đình công cũng đã được vũ trang. Họ đã bắn trả. Trên mặt đất còn lại năm người chết: một viên cai và bốn người dân bản xứ.

Sự kích động tăng lên. Theo lệnh của ông Méclanh, toàn quyền Tây Phi, tình trạng giới nghiêm được ban bố trong tất cả các khu ở Poóctô – Nôvô. Ba trung đoàn lính bộ binh có súng máy và pháo dã chiến được đưa xuống tàu vận tải “TSáT” ở Đaca. Ngoài ra, chiếc tàu tuần tiễu “Cátxiôpê” được đưa ngay lập tức đến Poóctô – Nôvô. Cùng một lúc với việc điều động lực lượng quân đội, người ta tiến hành các cuộc bắt bớ.

“Mười người thủ xướng”, trong đó có Uybeliu và Êchiên Têtê, bị bỏ tù. Những cuộc đàn áp tàn nhẫn diễn ra khắp nơi.

Người ta đã buộc công nhân Poóctô – Nôvô trở lại làm việc bằng lưỡi lê và dùi cui. Nhưng làn sóng kích động vẫn lan rộng ở nông thôn. Các báo thuộc địa, đặc biệt là tờ Dépêche Coloniale đòi thi hành ngay những hình phạt tàn khốc và chuyển vận mệnh của Đahômây sang cho những bàn tay cứng rắn hơn.

Chúng ta phải rút ra những kết luận nghiêm túc từ những sự kiện này, cụ thể là: trong các thuộc địa, công nhân đã bắt đầu hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp. Cần phải làm thế nào để cho công nhân da đen và da vàng cũng hiểu rằng: Kẻ thù duy nhất của họ nằm ngay trong bản thân cái chế độ này, chế độ đang dẫn đến một chế độ nô lệ tinh vi hơn, nặng nề hơn, và vô nhân đạo hơn chế độ trước đây. Và chỉ với sự giúp đỡ của những người anh em bị áp bức của mình ở các nước châu Âu, họ mới sẽ có thể tự giải phóng được mình.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 18-3-1923.
In trong sách: Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc, tiếng Nga, Nxb, Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, tr.56-57.
cpv.org.vn

Khởi nghĩa ở Đahômây (30-3-1923)

Lo lắng vì giai cấp công nhân ở chính quốc đã thức tỉnh, chủ nghĩa tư bản Pháp tìm cách dùng các thuộc địa để củng cố nền thống trị đang lâm nguy của nó. Nó bòn rút ở đó cả nguyên liệu cho các nhà máy của nó, lẫn nhân lực để chống lại cách mạng. Báo chí tư sản ở Pari và các tỉnh thường xuyên dành hàng trang cho mục thuộc địa. Các tướng lĩnh và các nghị sĩ đã đi khắp cả nước để tổ chức các cuộc nói chuyện về thuộc địa. Những cây bút đạo đức ấy và những ông chuyên nghề khoác lác ấy không tìm đâu ra cho đủ lời lẽ để ca ngợi lòng trung thành của người bản xứ và ân huệ của công cuộc khai hoá “của họ”.

Đôi khi, các ngài ấy trơ tráo đến mức đem so sánh sự cướp bóc của người Anh ở thuộc địa với sự cao cả của riêng họ: họ cho chính sách của người Anh là “phương pháp tàn nhẫn” hoặc “thái độ thô bạo” và quả quyết rằng cách làm của người Pháp đầy chính nghĩa và dịu dàng!

Chỉ cần ghé mắt nhìn qua các thuộc địa một chút cũng đủ thấy công cuộc khai hoá đó là “đẹp đẽ và dịu dàng” biết là chừng nào.

Ở Đông Dương, dạo vừa rồi, có một gã thực dân Pháp trẻ tuổi đã trói một người An Nam, đặt nằm sấp xuống đất, chân và đầu buộc vào hai cái cọc đóng xuống đất, rồi giáng cho người đó một trǎm sáu mươi gậy. Nạn nhân, mình mảy nát nhừ, lại bị bỏ vào nhà giam suốt một đêm. Sáng hôm sau, gã trẻ tuổi đi khai hoá đó lại choảng sưng đầu nạn nhân và lấy chuôi súng lục đập vỡ một mắt của người ấy. Tên súc sinh đó đã được toà án Pháp tha bổng.

Ở Đahômây, người ta tǎng thêm thuế má vốn đã quá nặng nề đối với người dân bản xứ. Người ta bắt thanh niên phải bỏ nhà cửa và ruộng nương đi làm “những người bảo vệ vǎn minh”. Người ta cấm dân bản xứ giữ vũ khí để tự vệ chống thú dữ vẫn thường phá hoại hàng xã một. Giáo dục, y tế đều không có. Trái lại, người ta không từ một thủ đoạn nào để bắt người Đahômây “được bảo hộ” phải chịu cái kiếp lầm than của người dân bản xứ, cái chế độ đã hạ con người xuống hàng con vật và làm điếm nhục cho cái gọi là thế giới vǎn minh. Dân bản xứ, không nhịn nhục được nữa, vùng lên. Thế là cuộc đàn áp đẫm máu được tiến hành. Người ta dùng những biện pháp cương quyết. Người ta đưa quân đội, súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến; người ta hạ lệnh giới nghiêm. Người ta bắt bớ và bỏ tù hàng loạt. Đấy, đức nhân từ của công cuộc khai hoá như thế đấy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 30-3-1923.
cpv.org.vn

Các vị thống trị của chúng ta (5-1923)

Thế là xong: số phận của 20 triệu dân An Nam mong muốn sắp được trao vào tay ông Mácxian Méclanh.

Anh sẽ hỏi tôi: Cái ông Méclanh ấy là ai ư? Chả gì thì đây cũng là một ông đã là quan cai trị các đảo Gămbiê (1) , rồi Phó toàn quyền Tây Phi, rồi Toàn quyền thuộc địa này. Đó là một vị đã bỏ ra 36 năm cuộc đời mình để nhồi vào các cái sọ dân bản xứ về tất cả cái nền văn minh đầy ân huệ của nước Pháp.

Có lẽ anh sẽ bảo tôi rằng, thực là một tấn trò hề Đông Dương (2) to đùng khi đưa Ngài lên cai trị một đất nước mà Ngài không biết gì về nó cả.

Thì, đúng thế! Nhưng đó là cái mốt mà một bạn đồng nghiệp, hôm nọ cho biết ông đã thấy chễm chệ ngồi ở vụ Tây Phi thuộc Pháp của Bộ Thuộc địa một cựu công sứ ở Đông Dương. Một cựu công sứ khác ở Tây Phi thì lại đảm nhiệm việc châu Phi xích đạo. Một cựu quan chức ở Xuđăng (3)thì lại được chọn để phụ trách các vấn đề về Mađagátxca, trong khi đó, ở Hội chợ thuộc địa, người đại diện cho Camơrun lại là một quan chức chưa hề đặt chân lên nước này bao giờ.

Vả lại, cần quái gì, nếu quyền lợi của nước Pháp có bị Méclanh quản lý tồi thì đã sao, miễn là quyền lợi cá nhân của ông bộ trưởng được phục vụ tốt. Tờ “Petit Bleu” bàn về sự bổ nhiệm tân thái thú đã nói thế này:

“Đừng có mà lầm; không phải lòng tham của ông Méclanh đã lái ông ta mà là lòng tham của ông Xarô đã gây ra mọi tai hại”.

Quả vậy, ông Xarô thì, như chúng tôi đã nói và chán vạn người cũng đã nói, muốn trở lại Đông Dương và chắc chắn ông ta sẽ là người thế chân ngay ông Lông, nếu không có cuộc bầu cử nghị viện sắp diễn ra chừng mươi tháng tới. Thế nhưng, tuy có thèm muốn làm Toàn quyền Đông Dương đấy, ông Xarô lại không muốn vì thế bỏ chức vụ ở nghị viện. Dân gian có câu tục ngữ: “Số phận ai hay sẽ thế nào”. Nghị sĩ hạ viện hay nghị sĩ thượng viện, thì biết đâu một sớm kia tỉnh dậy lại chả thấy mình là bộ trưởng, còn có thể là thủ tướng nữa ấy chứ; còn nếu chỉ là toàn quyền, nghĩa là viên chức, thì không làm bộ trưởng được.

Vậy thì vấn đề là hãy đặt ở Đông Dương một quan chức có thể gọi là tạm quyền, để đến mùa xuân sang năm, sau kỳ bầu cử nghị viện, thì ông Xarô sẽ dễ dàng thế chân. Thế là ông nghĩ ngay đến việc chọn ông Méclanh vào cái vị trí chả thú vị gì ấy, bởi vì ông này sắp mãn hạn làm việc, chả bao lâu nữa ông đã đủ quyền về hưu.

Đó, vì sao ông Méclanh sắp lên đường sang Đông Dương, vì sao bao nhiêu công việc hữu ích mới bắt đầu ở Tây Phi bị ông xếp xó, vì sao ở Viễn Đông, ông sẽ chẳng làm việc gì đáng kể mà chắc sẽ chỉ làm cho xong việc sự vụ vì biết rằng mình cũng chẳng ở bao lâu, và vì sao nữa ở cái “Cộng hoà Cẩm mà lách với nhau” (1) này, tất cả đều bị bỏ qua, tất cả đều tụt dốc, tất cả đều ngày càng tồi tệ, vì quyền lợi cá nhân của ông này hay ông nọ bao giờ cũng đều đặt lên trên quyền lợi chung của đất nước.

N.

Báo Le Paria, số 14, tháng 5-1923.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Nǎm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đǎng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, nǎm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

Không phải chuyện đùa (6-1923)

Có thể bảo các ông nghị là những người thuộc một giống người khác. Từ giống những người được trúng cử, đúng là như vậy. Họ là kẻ dám làm mọi việc, kể cả việc đùa dai.

Kẻ được trúng cử nọ, bị tố cáo là lậu thuế, hay lừa đảo – thì cũng thế – đã không ngần ngại chất vấn ông Bộ trưởng Bộ Tài chính về những biện pháp ông ta định dùng để ngǎn chặn sự bép xép của viên chức ông ta! Kẻ trúng cử kia…. Nhưng thôi, cho qua, và xin nói rằng, những ông nghị ba hoa nhất vẫn là những người trúng cử thuộc địa.

Người ta còn nhớ: các vị đáng kính ấy đã đưa ra một kiến nghị thỉnh cầu Chính phủ Pháp cho niêm yết và đem dạy trong tất cả các trường trung học, tiểu học, đại học, ký túc xá, nhà trẻ, học viện rằng nước Pháp là một nước 100 triệu dân. Không hơn không kém một người.

Và thế là cả giới báo chí dại dột và chẳng nghĩ rằng, cái kiến nghị khôi hài ấy có thể dẫn người Pháp đến những hậu quả nghiêm trọng, cứ hoan hô ầm ĩ cả lên!

Đến nay, nếu kiến nghị ấy được chấp nhận thì sẽ thế này này: Tất cả những ông bà ta ở Bộ Thuộc địa – trước hết là ông Anbe Xarô sẽ chết đói, vì phó mát thuộc địa sẽ tự nhiên bị cắt mất.

Liên đoàn phục hồi dân số sẽ biến mất và Ngài giáo chủ Binđria sẽ không thể giảng cái thuyết đẻ mắn như thỏ ở Viện Hàn lâm Pháp nữa. Vì khi sẽ có 100 triệu người Pháp so với 60 triệu tên “bôsơ” thì người ta sẽ không có quyền, dù là một vị giáo chủ nói đến chuyện hụt dân số nữa.

Tất cả sách của ông Môrítxơ Barét và tất cả những bài báo của ông Phorét (Lui) chỉ đáng đem mà… đốt cả đi vì dù có quyền thế đến đâu, thì các vị cũng không thể cho rằng máu latinh đang chảy trong huyết quản của người An Nam hay người Đahômây.

Và khi mà không còn thuộc địa nữa thì binh sĩ vinh quang của chúng ta sẽ đi đánh chác ở đâu cho đỡ buồn tay? Biết gửi đi đâu những vị thống soái hết thời, những nhà chính trị thất cơ lỡ vận, bọn giết người không may, như ông Bốp và những người khác?

Phải hàng tập sách, hàng tập sách để miêu tả mọi điều bất tiện xảy ra nếu kiến nghị ấy được chấp nhận. Còn chúng tôi nữa, chúng tôi cũng hết sức hoan nghênh nó, nhưng dĩ nhiên với ý nghĩa khác.

Một khi chúng tôi là người Pháp, lập tức chúng tôi sẽ gửi một đoàn khai hoá đến khắp nước Pháp. Chúng tôi sẽ làm cho đất nước người Gôloa ngập lụt rượu và thuốc phiện. ở đây, chúng tôi sẽ đánh thuế muối, thuế nhập thị, sẽ cho bắt giam theo lệnh hành chính, phạt tiền tập thể, sẽ cho mở những toà án đặc biệt để đàn áp, hoạt động thường xuyên, lập kiểm duyệt, v.v. và v.v.. Nói gọn lại, chúng tôi sẽ làm lại ở đây tất cả những gì mà những kẻ nguyên là bề trên của chúng tôi đã làm trên đất nước chúng tôi, cho chúng tôi hoá ra là người Pháp. Chúng tôi sẽ cấm tất cả các báo, cả báo Le Matin và báo Le Petit Parisien. Chúng tôi sẽ bãi quyền tự do đi lại, tự do hội họp. Chúng tôi sẽ đưa những người sinh đẻ ở đây vào chế độ bản xứ, xiết bao êm ái và tốt lành, mà chúng tôi, người An Nam, người Mangát, người Phi châu chúng tôi đã được hưởng từ lâu. Chúng tôi sẽ bắt những thanh niên Pháp phải “tình nguyện” nhập ngũ, không phải 18 tháng, mà là ba, là bốn nǎm. Nếu cần, chúng tôi sẽ gửi họ đi cho người ta giết chết, để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ két sắt của chúng tôi. Chúng tôi sẽ chọn những cô gái Pháp trẻ, đẹp, cho đến Đông Dương, Ǎngtiơ, Mađagátxca, châu Phi, làm con đòi, mỗi tháng 40 phrǎng.

Chúng tôi sẽ là Tổng thống nước Cộng hoà Pháp, Bộ trưởng, thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ. Chúng tôi sẽ là những nhà khai hoá, những nhà bảo hộ, những kẻ bài xích người bản xứ, những kẻ thân người bản xứ. Chúng tôi sẽ cai trị người Pháp, và khi bực mình, có thể gọi người thổ dân – như chúng tôi đã từng bị gọi như thế cho đến nay- là những thằng Nhà quê (1) bẩn thỉu, hay lũ “dê con” bẩn thỉu.

Đúng là sẽ đến lượt chúng tôi, phải không?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Chủ nghĩa quân phiệt thực dân (13-4-1923)

Chúng tôi đã nói rằng, việc bắt lính ráo riết là một trong những nguyên nhân thúc đẩy người Đahômây đứng lên bạo động.

Trước hết, chúng ta thấy ngay một sự bất bình đẳng nổi bật: người Pháp chỉ phục vụ trong quân đội hai nǎm, còn người bản xứ thì phải phục vụ ba nǎm. Sau khi bỏ ra 36 tháng tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình để bảo vệ tự do và công lý (?), người dân bản xứ được giải ngũ lại chịu sự tác động của đạo luật về người bản xứ trong đó không có tự do và công lý! Song sự bất bình đẳng ấy cũng có cái tốt: nó gây ra cho tất cả những người bản xứ cái tâm trạng chống chủ nghĩa quân phiệt.

Sự tàn ác của bọn bắt lính ở các thuộc địa tinh vi tới mức thậm chí người Pháp ở chính quốc cũng không thể hình dung được một cái gì giống như thế. Trong thời gian chiến tranh, những viên chỉ huy mang lính đi hết làng này sang làng khác buộc chính quyền bản xứ cung cấp ngay lập tức số người cần thiết để đưa vào quân đội.

Lẽ nào một sĩ quan Pháp tháo vát lại không biết tra tấn những người cha và những người mẹ của những người Xênêgan trẻ tuổi đang lẩn trốn khi ông ta xuất hiện, để buộc họ phải chui ra khỏi những nơi ẩn nấp của họ và khoác bộ áo lính Duavơ? Lẽ nào hắn lại không bắt các ông già, phụ nữ có mang, thiếu nữ, buộc họ phải cởi trần truồng và đốt quần áo của họ ngay trước mắt họ. Trần truồng, bị trói, những nạn nhân bất hạnh buộc phải chạy khắp làng dưới trận mưa roi để làm “gương”. Một người phụ nữ cõng con đằng sau lưng buộc phải xin phép được cởi trói một tay để đỡ lấy đứa bé cho khỏi ngã. Hai cụ già đã ngã bất tỉnh nhân sự trong cuộc chạy ấy. Những em gái bị hành hạ như thế đã hành kinh trước tuổi, một phụ nữ có mang, đứa con sinh ra đã bị chết, một phụ nữ khác thì đứa con sinh ra đã bị mù.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 13-4-1923
cpv.org.vn

Tinh hoa của xứ Đông Dương (4-1923)

Trong đám tang toàn quyền Lông, ông Nguyễn Khắc Vệ, tiến sĩ khoa luật học, tiến sĩ khoa chính trị học và kinh tế học, làm việc tại Toà Biện lý Sài Gòn, đã quả quyết rằng, nếu có thể phát biểu thay toàn thể nhân dân Đông Dương, thì ông chắc chắn rằng, tiếng nói đó sẽ đau thương tỏ lòng tri ân toàn quyền về tất cả những gì mà toàn quyền đã ban cho dân tộc An Nam. Và ông Vệ trân trọng lớn tiếng:

“Và những ai, nhờ vào những biện pháp khoan dung của Ngài, ngày nay, đang cùng các vị đại diện của nước bảo hộ góp phần vào công cuộc phồn vinh ngày càng tǎng tiến của xứ Đông Dương, sẽ cất lên từ đáy lòng mình lời tri ân Ngài và lòng sùng kính đối với anh linh Ngài. Vấn đề kinh tế là điều mà Ngài quan tâm hơn hết. Ngài từng mong muốn trang bị cho Đông Dương mọi khí cụ kinh tế sao cho nó trở thành một nước Pháp thứ hai, một nước Pháp Viễn Đông hùng cường, một con đỡ đầu của nước Pháp cộng hoà”.

“Trong sứ mệnh của Ngài, Ngài đã toàn tâm toàn ý khai hoá cho một dân tộc bị ngừng trệ trên con đường tiến bộ vì một tổng hợp điều kiện lịch sử và khí hậu. Ngài là vị quán quân của tiến bộ, là sứ giả của công cuộc khai hoá…”.

Về phần mình, ông Cao Vǎn Sen, kỹ sư, Chủ tịch Hội những người Đông Dương, thì nói rằng, việc ông Lông chết quá sớm là một cái tang cho toàn cõi Đông Dương. Rồi ông kết thúc bài điếu vǎn bằng những lời sau đây:

“Bẩm quan Toàn quyền, chúng tôi thành tâm than khóc Ngài vì đối với tất cả chúng tôi, Ngài là một thủ hiến, một người cha nhân hậu”.

…………………” (1).

Từ sự việc trên, tôi đi đến kết luận rằng: Nếu quả thực tất cả những người An Nam đều cũng luồn cúi sát đất như hai đứa con này của guồng máy cai trị thì quả thực là dân này xứng đáng với cái số phận được cho.

N

Báo Le Paria, số 13, tháng 4-1923.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Báo cáo gửi Ban biên tập về hoạt động của báo Le Paria (1923)

Dự án ban đầu là trước hết thành lập một hợp tác xã xuất bản.

Dự án đó không thực hiện được do các đồng chí chưa hăng hái đóng góp, mặc dù chúng ta đã kêu gọi nhiều lần và việc làm này chúng ta tốn kém 120 phrăng.

Một nhóm nhỏ tám đồng chí cam kết dù sao cũng phải cho xuất bản ngay tờ Le Paria. Đã có những lời hứa như sau: Blôngcua cho 100 phrăng mỗi tháng, Hátgiali: 50, Mônnécvin: 50, Xtêphani: 25, Nguyễn ái Quốc: 25, Ônôriơ: 10, Ralaimônggô: 10, Phuốcnirê: 10. Tổng cộng là 280 phrăng.Le Paria bắt đầu ra mắt ngày 1-4-1922, cho đến ngày 31-12-1922, ngân sách của nó chia ra như sau:

Thu:

A- Tiền quyên góp của các đồng chí nói trên: Ralemônggô: 50 phrăng, Nguyễn ái Quốc: 175, Mônnécvin: 100, Blôngcua: 0, Ônôriơ: 10, Hátgiali: 200, Xtêphani: 50, Phuốcniê: 0. Tổng cộng là 585 phrăng.

B- ủng hộ báo từ 1-4 đến 31-12-1922: 593 phrăng.

C- Tiền bán báo dài hạn 141 x 3 = 423 phrăng.

D- Tiền bán báo lẻ từ số 1 đến số 9 = 170 phrăng 40. Tổng số thu là: 1.771 phrăng 40.

Chi:

– Chi phí ban đầu (kể cả số tiền 120 phrăng nói ở trên): 170 phrăng.

– Đồ dùng: 34,80

– Cước phí bưu điện: 156,80

– Chi phí tiền in: 2.483,80

Tổng số chi là: 2.845,40.

Ngoài số chi nói trên còn ba quý tiền thuê nhà hết 900 phrăng do sự ủng hộ của các đồng chí đài thọ, đặc biệt do số tiền 450 phrăng đồng chí Blôngcua nhận được từ Đahômây.

… Xin nhận xét rằng, trong chín tháng qua, trong số tám đồng chí hứa cho tiền hằng tháng, thì có: 1 đồng chí đi vắng không đóng xu nào, 1 chưa đóng, 1 mới đóng 1 tháng, 2 đóng 2 tháng, 1 đóng bốn tháng, 1 đóng năm tháng, 1 đồng chí đóng đầy đủ (1) .

Để trả được số nợ cũ cho chủ nhà in và tìm một nhà in khác với điều kiện thuận lợi hơn cho báo, thì các đồng chí cần giữ đúng những lời đã hứa góp tiền.

Từ 1-1-1923, quyết định ra báo hai kỳ một tháng và ra bốn trang, trang bốn dành đăng quảng cáo để tờ báo có thể sống được. Nhân dịp này, các đồng chí quyết định nộp tiền trả ngay tiền in số 10 là 535 phrăng.

Từ 1-2, việc cho đăng quảng cáo phải mang lại một số tiền đủ cho việc ra báo. Đồng chí Xtêphani được giao tổ chức việc lấy quảng cáo.

Mặc dù việc quảng cáo mới được đặt ra và do đó chưa được hưởng ứng nhiều, mới đem lại cho các số báo 10, 11 và 12 một số tiền ít ỏi, đồng chí Xtêphani bảo đảm với chúng ta rằng, với các số tới, ngân sách 1923 sẽ được cân đối, do đó Xtêphani hứa rằng, từ số 13 sẽ không yêu cầu các đồng chí đóng góp nữa. Xtêphani tin chắc rằng trong tương lai rất gần, việc nhận đăng quảng cáo không những có thể giúp trang trải tiền thuê in báo mà còn có thể trả công cho một đồng chí chuyên trách gánh mọi công việc của tờ báo như gửi thư đi, kiểm soát, giữ thường trực, v.v., và còn trả được tiền thuê nhà. Trong khi chờ đợi, các đồng chí phải chịu bỏ tiền ra để trả tiền thuê nhà.

Hãy dũng cảm, có nghị lực và bắt tay vào việc.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Viết cuối 1922. In trong sách Thời thanh niên của Bác Hồ,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1976, tr. 179-181.
Bài in trong sách Thời thanh niên của Bác Hồ.
cpv.org.vn

———————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Diễn đàn Đông Dương (6-1923)

Nhờ độ lượng mẫu từ của nước Pháp bảo hộ, Đông Dương thật đã trở thành một chỗ náu thân cho bọn làm bậy.

Ông Bôđoanh mặc dù có bị tố cáo hẳn hoi về tội giả mạo và dùng giấy tờ giả mạo, bây giờ cũng cứ là toàn quyền.

Ông Đáclơ nguyên bán cháo, trước là quan cai trị tỉnh, bị lên án là ǎn hối lộ, là cường hào và đã gây ra cuộc nổi dậy đẫm máu ở Thái Nguyên, đã được chính phủ thuộc địa cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn.

Ông Têa, kỹ sư và giám đốc một hãng buôn lớn, bị tố cáo là có tội nhũng lạm mà không bị rầy rà gì.

Giờ đến lượt Buđinô, viên quan cai trị này bị kiện: đã đút túi số tiền lời một cuộc chợ phiên tổ chức nhân dịp khánh thành tượng đài tử sĩ; đã đòi và nhận một món tiền “bồi thường” lớn trả cho sự có mặt của mình trong buổi chôn cất một mụ nhà giàu bản xứ, đã đòi những món tiền lớn chè lá khi cấp một giấy phép hay giấy lệnh nào đó.

Cuối cùng, đã lợi dụng, trong mọi trường hợp quyền hành quan cai trị (mà nước Pháp có chủ quyền đã uỷ thác cho) để làm đổ mồ hôi sôi nước mắt người bị trị và để cho phình ví tiền của ông ta. Nhưng lời kết tội nặng nhất là thế này: Làng Tân An (Nam Kỳ) có một nhà máy điện. Việc khai thác có lợi và phố xá, nhà cửa trong làng có điện sáng mà không phải trả tiền. Quan cai trị Buđinô buộc làng phải nhượng không nhà máy cho một anh thầu khoán đã có vi thiềng cho ông ta.

Ít lâu sau, làng phải trả tiền điện dùng ngoài phố và trong nhà. Thấy hàng nghìn điều bất lợi, họ mới biết mình tự quản nhà máy thì lợi hơn. Họ phải bỏ ra mấy chục ngàn đồng để chuộc lại cái mà họ đã phải “nhượng không”. Lần thứ hai này, vị quan cai trị đút túi thêm mấy tờ bạc lớn nữa.

Bị kiện vì tội buôn bán người chết, bóc lột người sống, tham ô lộ liễu, quan cai trị Buđinô vừa được công lý Pháp cho trắng án. Ngày mai có thể ông ta còn được huân chương.

Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý làm đĩ bợm.

Vǎn minh là như thế đó.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn

Trò Méclanh (6-1923)

Trong khi chờ đợi đi khai hoá những người Đông Dương tại Đông Dương, ngài thái thú Méclanh muốn hãy khai hoá những người Đông Dương đã chết, các người biết đấy, những người chết cho Tổ quốc, cho công lý, và vân vân, ở Pháp.

Cười ở nghĩa trang là một cái thú của những bậc vĩ nhân (1) , nhưng ở đấy mà cười một mình thì có thể là vô duyên. Vì vậy, bữa nọ, quan lớn Mácxian Méclanh ra lệnh cho đoàn thanh niên Annamít được trợ cấp theo ngài đến Vườn Người Chết ở Nôgiăng trên sông Mácnơ vì ở đó sẽ được đọc một bài diễn văn do ngài chứng giám. Bài diễn văn trước khi đọc cho công chúng, phải trình lên quan lớn để ngài duyệt. Người ta đã trình và bài diễn văn bị coi là quá ngỗ ngược, quan lớn ra lệnh cứ việc bỏ đi để thay thế bằng một bài khác mà quan lớn cho dàn ý.

Cố nhiên, bài diễn văn xào nấu trong các thứ nước cốt của quan lớn như vậy, thì hương vị của lòng trung thành và lòng ái mộ bất diệt đối với nước Pháp phải xông lên đến ngạt mũi…

Nếu người chết nói được, như bọn đồng cốt bảo thế, thì những hồn ma An Nam ở Nôgiăng sẽ lên tiếng: “C…ảm ơn ông toàn quyền! Nhưng xin làm ơn… cút đi cho!” (1) .

N.

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Tệ độc đoán ở Đông Dương – Người được bảo hộ và người đi bảo hộ (7-1923)

Ông Cẩm Đà Lạt (Trung Kỳ) có một cách hiểu vai trò khai hoá của mình đến là hay. Một hôm, người cộng tác rất xứng của ông Xarô này cần đến ván gỗ. Ông ta sai người đến kiếm ván ở nhà một người bản xứ làm nghề buôn bán. Nhà buôn này đòi phải trả tiền rồi mới được mang hàng đi. Nghe lời yêu cầu này, ông Cẩm nổi giận, phái ngay lực lượng vũ trang đến với nghiêm lệnh là dù “sống hay chết” cũng phải bắt cho được tên An Nam đó về sở.

Để tránh cơn giận của vị đại diện cho nước bảo hộ, nhà buôn không kể gì đang ốm cũng đành phải bỏ cả nhà cửa quê hương lánh sang tỉnh khác.

Một thầy thuốc người Âu chứng kiến tấn trò kể trên đã can thiệp để bênh vực nhà buôn bản xứ. Vụ can thiệp “chướng tai gai mắt” này làm cho viên thầy thuốc bị đổi đi, bị đày lên Kon Tum, một nơi nước độc mà người Âu rất sợ. Chính đấy là nơi mà viên thầy thuốc đó đang đền cái tội thân người bản xứ của ông. Trong khi ấy thì bọn Đáclơ, Bôđoanh vẫn ung dung phè phỡn trong vinh dự và khoái lạc. Kẻ mắc cái tội xúc phạm uy tín kể trên là bác sĩ Hôngxtarich. Chúng tôi xin tỏ tấm cảm tình của chúng tôi đối với ông ấy.

Còn nhà buôn An Nam thì sau ra sao ? Anh ta bị ghi tên vào sổ những người bị tình nghi, liệt vào hạng “chống Tây”, vào số những kẻ cần theo dõi. Một bầy mật thám Pháp và An Nam bám riết theo gót anh ta. Nhiệm vụ của bọn này là ghi từng giờ từng phút mọi hành động cử chỉ của anh ta, và tô đen tất cả mọi ý định của anh.

Công cuộc theo dõi này được tiến hành một cách khá lộ liễu để làm cho bạn bè quen thuộc của người An Nam này phải chùn lại không dám lai vãng nhà anh nữa, đến nỗi đời sống của anh trở nên hết sức khó khǎn. Bất cứ thế nào cũng không một người bản xứ nào dám đến nhà anh. Hoàn toàn bị cô lập với đồng bào của mình, nhà buôn này chỉ còn có hai con đường: hoặc đi ǎn cướp, hoặc đi ǎn mày. Nhưng cái nghề thứ hai này có thể lại làm cho anh càng đáng khả nghi hơn vì kiếp sống lang thang.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 16, tháng 7-1923.
cpv.org.vn

Phong trào công nhân (9-11-1923)

Theo những số liệu thống kê cuối cùng thì số lượng những người vô sản ở Trung Quốc là 5050 nghìn người. Gần 15 tổ chức thống nhất giai cấp vô sản ở Trung Quốc, tính ra khoảng 300 nghìn đoàn viên. Họ được phân bố như sau:

Số lượng
công nhân (nghìn)

Đoàn viên
công đoàn (nghìn)

Ngành công nghiệp điệnNhững người phục vụ

Ngành công nghiệp máy khâu

Công nhân xây dựng

Ngành làm muối

Nghề kéo xe

Ngành in

Ngành dệt

Ngành làm mũ

Ngành công nghiệp thuốc lá

Nghành đào đất (thợ đấu)

Ngành mỏ

Ngành đường sắt

Ngành giao thông đường biển

Ngành công nghiệp luyện kim

Các ngành khác

100

400

300

300

300

200

80

180

200

100

800

420

100

80

200

5

8

7

8

10

10

10

10

14

18

30

26

42

45

50

7

Trong các yêu sách của giai cấp vô sản có tổ chức của Trung Quốc, chúng tôi thấy có những điểm sau đây:

1. Tự do hội họp. 2. Quyền tổ chức các công đoàn và các cuộc đình công. 3. Ngày lao động 8 giờ cho người lớn và 6 giờ cho thiếu niên và những người làm việc nặng. 4. Bảo vệ những người tiểu nông. 5. Cấm làm việc quá giờ trong những xí nghiệp độc hại và cấm sử dụng lao động trẻ em và phụ nữ vào việc làm ban đêm. 6. Hằng năm công nhân được nghỉ hai tuần, đối với phụ nữ làm công việc nặng nhọc thì được nghỉ 8 tuần trước khi đẻ và 8 tuần sau khi đẻ; 6 tuần nghỉ đẻ đối với phụ nữ làm công chức và làm các công việc nhẹ. 7. Ban kiểm tra của công nhân. 8. Luật bảo hiểm đối với công nhân. 9. Nhà nước có trách nhiệm giúp đỡ các tổ chức công nhân của những người lao động được học hành.

Chỉ sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu được tổ chức một cách chặt chẽ, song họ đã thu được một số thắng lợi to lớn trong các cuộc đình công. Mặc dù bị bọn quân phiệt đàn áp và bọn thống trị ngoại lai cản trở, các tổ chức của họ vẫn phát triển bình thường và có thể nói là nhanh nữa. Hiện nay những người thuỷ thủ, công nhân luyện kim, công nhân đường sắt là những lực lượng thật sự mà bọn tư bản buộc phải coi trọng.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 9-11-1923.
cpv.org.vn

In trong sách Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc, tiếng Nga, Nxb. Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, tr 71-72.

Dịch theo bài in trong sách Những bài viết và nói chọn lọc.

Không phải chủ nghĩa quân phiệt đâu, nhưng… (28-9-1923)

Ông Clêmǎngxô đã chứng minh rất rành rọt cho thế giới nói chung, và cho người Mỹ nói riêng rằng nước Pháp không phải là một nước quân phiệt, cũng không phải là một nước đế quốc chủ nghĩa, hoàn toàn chẳng phải thế đâu nhé!

Thế nhưng ông ácsimbô lại vừa mới làm cho tiêu mất đôi chút cái vẻ mỹ miều của những lời nói của “Ông Cọp”, khi ông ácsimbô viết trong bản báo cáo vừa rồi của ông ta về ngân sách thuộc địa rằng:

Nǎm 1914, quân đội chiếm đóng gồm có 1.852 sĩ quan, 17.290 hạ sĩ quan và lính người Âu, 42.099 người bản xứ; lại phải thêm vào số đó 1.979 người trong các đội cảnh vệ bản xứ của Đahômây, Ghinê và Bờ Biển Ngà, hiện nay những đội lính này đã được thay thế bằng những đội quân chính quy. Tổng cộng quân số là 63.220 người.

Từ sau chiến tranh, người ta đã phải thiết lập tại các khu vực uỷ trị, Tôgô và Camơrun, những trại lính mà quân số lên tới 1.712 người.

Ngoài ra, còn phải thành lập, nhất là tại Tây Phi thuộc Pháp, những đơn vị đặc biệt để tuyển mộ, đǎng ký nhập ngũ và huấn luyện số binh lính người bản xứ phục vụ ở Pháp hoặc ở nước ngoài. Các đơn vị đó đã thu hút 2.237 người, trong đó có 271 sĩ quan và hạ sĩ quan người Âu.

Sau hết, con số những người bản xứ phục vụ ở Pháp hoặc ở nước ngoài, và do các thuộc địa trực thuộc Bộ Thuộc địa cung cấp, là 45.000 người.

Nếu chúng ta nói thêm rằng, chỉ riêng ở Đông Dương, chi phí về quân sự nǎm 1921, cũng đã hơn 35.600.000 phrǎng, trong khi đó ngân sách giáo dục có không đầy 350 nghìn đồng bạc và ngân sách về y tế không đầy 65 nghìn đồng bạc thì sẽ thấy ngay tất cả sự tốt đẹp của chế độ thực dân của cái nước Cộng hoà Pháp rất nhân từ và đã tài giảm quân bị này.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 28-9-1923.
cpv.org.vn