Thư viện

Toàn dân kháng chiến

Hiện giờ nạn xâm lǎng mỗi ngày một trầm trọng. Đã hơn một tháng nay, đồng bào ta ở Nam Bộ hy sinh biết bao xương máu để gìn giữ độc lập. Đối với quân Pháp hung tàn, đồng bào chúng ta trong đó đã khéo lợi dụng chiến thuật bất hợp tác, chiến thuật du kích và chiến thuật trường kỳ kháng chiến. Nhưng muốn thắng quân địch, chỉ trông vào sức chiến đấu ở tiền phương chưa đủ. Tại sao? Vì ngày nay, một khi chiến tranh đã bùng nổ ở nơi nào, ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn khắp các nơi khác. Chẳng những thế, nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các ngành hoạt động kinh tế, chính trị, vǎn hoá của toàn xứ. Có thể nói tóm tắt là chiến tranh không những chỉ phát động trong địa hạt quân sự ở tiền phương, mà còn phát động cả trong các địa hạt khác ở hậu phương. Vì vậy, muốn kháng chiến lâu dài để tới thắng lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy mọi lực lượng mới mong đi tới thắng lợi cuối cùng. Cậu bé chǎm chỉ học hành trong nhà trường cũng là kháng chiến. Anh dân cày cày cuốc ngoài đồng ruộng, anh thợ cặm cụi trong nhà máy, chị bán hàng buôn bán ngược xuôi, ông già xách giỏ đi câu cũng là kháng chiến. Các công chức, các nhà vǎn, nhà báo mải miết trước bàn giấy, cạnh tủ sách cũng là kháng chiến. Các y sinh, khán hộ lǎn lộn bên giường bệnh cũng là kháng chiến. Các nhà giàu có đem hết tài lực mở mang xưởng thợ, khai thác ruộng đất cũng là kháng chiến. Đó là toàn dân kháng chiến.

Nói tóm lại, muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, ngoài việc động viên quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫn kinh tế. Động viên tinh thần là phải tập trung hết thảy lực lượng tinh thần, ý chí, tư tưởng của từng cá nhân và của toàn quốc dân đều hướng về một chiều để cùng đi tới một mục đích kháng chiến. Như vậy, một mặt phải chấn khởi 1 tinh thần kháng chiến của toàn dân và một mặt làm cho họ tin tưởng ở chỗ thế nào cũng thắng lợi. Trong giờ phút nghiêm trọng, một mất một còn, quốc gia dân tộc phải đứng ở trên hết mọi sự. Nếu quyền lợi của dân tộc không còn, quyền lợi và sự nghiệp gì của cá nhân liệu có giữ được an toàn không ? Kìa xem người Do Thái, chỉ vì không có nước, nên bị lǎng nhục đến cực điểm, thậm chí không sao gửi chân được ở đất Đức. Rồi cả sinh mệnh và tài sản đều bị chà đạp một cách thảm thương, đau đớn. Cho nên trước nguy cơ dân tộc, là dân tộc mất nước, phải hy sinh hết cả ý riêng, tâm tính riêng, lợi ích riêng cho đến cả tính mạng cũng không tiếc. Hơn nữa, còn phải làm thế nào cho tất cả các tầng lớp nhân dân đều chung đúc tâm trí vào lợi ích của dân tộc mà phấn đấu. Dù đau khổ đến đâu mặc lòng, ai cũng phải trổ hết tài nǎng, làm hết nhiệm vụ để sáng tạo tất cả cái gì có thể giúp ích cho sự kháng chiến, để làm cho mọi việc đều được tǎng tiến.

Đó là động viên tinh thần, còn động viên kinh tế là làm cho nước được giàu thêm, dân được no ấm. Chúng ta tuy tranh thủ được độc lập, nhưng lại hưởng thụ một cái gia tài hầu như đổ nát. Ruộng đất, vì giặc Pháp, Nhật vơ vét hết thóc gạo để gây thành nạn đói, nên bị bỏ hoang rất nhiều. Lại cái nạn lụt gần đây đã ngâm mấy vạn mẫu dưới làn nước đỏ. Tưởng ngày mùa này, phong đǎng hoà cốc có thể đền bù vào chỗ thiếu gạo. Nào ngờ ngày mùa đã đến, đồng lúa sạch không vì lụt, vì hạn. Giặc đói sắp theo gót giặc Pháp để chôn vùi dân ta. Về công thương nghiệp, một trạng thái điêu linh đương bày ra trước mắt. Xưởng thợ, nhà máy, hầm mỏ vì chiến tranh làm thiếu nguyên liệu và khí cụ, nên phải đình đốn. Đường giao thông và khí cụ giao thông bị phá huỷ la liệt, làm cho nghề buôn bán bị ngừng trệ. Về tài chính lại càng khốn quẫn nữa. Bao nhiêu vàng bạc bị giặc Pháp, Nhật cướp đi mất cả. Giặc người, giặc đói đương đày đọa chúng ta. ở tiền phương, đồng bào Nam Bộ gian lao kháng chiến. Nào lương thực, nào quân nhu sao cho có đủ để duy trì sức kháng chiến. ở hậu phương, dân đói đương chờ thần chết lôi đi. Vậy cấp vụ 1 của chúng ta ngày nay là phải động viên nhân lực, động viên công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, giao thông, tài chính. Bao nhiêu trai tráng phải chịu huấn luyện vũ trang để chờ đưa ra mặt trận. Còn bao nhiêu ở lại phải gắng công, gắng sức ở đồng ruộng cũng như ở nhà máy để sản xuất ra thật nhiều thóc gạo, quân nhu, đồ dùng giúp cho chiến sĩ ngoài tiền phương, và cứu dân nghèo đói ở hậu phương.

Các nhà giàu có mau mau góp vốn lại mở các công ty kinh dinh công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính, giao thông để tích cực tǎng gia sinh sản, lưu thông buôn bán. Các thanh niên nên cố gắng học tập các kỹ thuật để trở thành những tay chuyên môn nhân tài ứng dụng vào các ngành thực nghiệp và các cơ quan hành chính. Ngoài ra, chúng ta còn phải cần kiệm bỏ hết mọi xa xỉ để lấy tiền cống hiến cho quỹ kháng chiến. Nhiều sức, giàu của, mới có thể kháng chiến lâu dài. Thế thì ở hậu phương làm sao góp được nhiều sức, làm được nhiều của, đó là kháng chiến, chứ không phải chỉ ra mặt trận mới là kháng chiến.

Thực hiện được toàn dân kháng chiến, phần thắng thế nào cũng về ta.

Q.T

Báo Cứu quốc, số 83, ngày 5-11-1945.
cpv.org.vn

Nhân tài và kiến quốc

Sau 80 nǎm bị bọn Pháp thực dân giày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là rất cao. Nay muốn giữ vững nền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hǎng hái đó vào con đường kiến quốc. Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi. Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều.

Chúng ta cần nhất bây giờ là:

Kiến thiết ngoại giao
Kiến thiết kinh tế
Kiến thiết quân sự
Kiến thiết giáo dục

Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài nǎng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hǎng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 91, ngày 14-11-1945.
cpv.org.vn

Thế giới với Việt Nam

Tự lúc giành quyền độc lập đến nay, xứ Việt Nam ta vẫn hết sức cố gắng để một mặt yên nội trị, một mặt gây thực lực chống xâm lǎng và tranh thủ ngoại giao được thắng lợi. Sức cố gắng ấy đã đem lại cho chúng ta những kết quả khả quan. Bên trong, các đảng phái và tất cả các tầng lớp nhân dân đã tinh thành đoàn kết để đi tới Quốc hội và quyết liệt đối phó với bọn thực dân Pháp. Những cuộc biểu tình khổng lồ và những cuộc vận động tuyên truyền rầm rộ ở Trung, Bắc, với những cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam Bộ đã làm sôi nổi dư luận hoàn cầu. Đó là một triệu chứng tỏ cho chúng ta biết rằng nếu chúng ta cứ tiếp tục tranh đấu, công cuộc ngoại giao của chúng ta sẽ thành công và nền độc lập của xứ ta sẽ được các nước trên thế giới thừa nhận.

Ta thử kiểm điểm lại thái độ của các nước và nhất là của Đồng minh đối với công cuộc vận động độc lập của chúng ta.

I -TRUNG HOA VỚI VIỆT NAM

Trước hết, ta xét ngay nước láng giềng của chúng ta là Trung Hoa, thực ra vì những mối quan hệ mật thiết giữa hai dân tộc Trung Việt, nên từ trước tôi nay, Trung Quốc lúc nào cũng tỏ thiện cảm với công cuộc cách mạng của chúng ta. Xin trích ra dưới đây những lời tuyên bố của các nhà chính khách và quân sự Trung Hoa.

Khi quân Tàu kéo vào Việt Nam, vị Thống lĩnh tối cao Tưởng Giới Thạch đã tuyên bố rõ: “Nhiệm vụ của những quân đội ấy chỉ là để thừa nhận sự đầu hàng của Nhật, chứ không hề có dã tâm gì về lĩnh thổ. Đối với sự độc lập của các dân tộc nhược tiểu thì vẫn tán thành theo lời di chúc của Tổng lý Tôn Trung Sơn. Rất hy vọng Việt Nam sẽ được tự trị để dần dần đi tới độc lập”.

Lại khi Tổng tư lệnh Hà ứng Khâm và Tư lệnh Lư Hán qua Việt Nam cũng bày tỏ chính kiến về Việt Nam trong các cuộc hội đàm với các nhà báo.

“Thái độ của Trung Quốc đối với việt Nam thế nào, Tưởng Chủ tịch đã từng diễn thuyết vào máy truyền thanh trong hồi tháng 8” – lời của Tổng tư lệnh Hà ứng Khâm.

“Nước Việt Nam cǎn bản là của người Việt Nam. Cứ ý riêng tôi, tôi rất biểu đồng tình với sự phản kháng oanh liệt của nhân dân Việt Nam trong Nam Bộ” – lời của Tư lệnh Lư Hán.

Và trước đây Ngoại giao bộ trưởng Tống Tử Vǎn cũng tuyên bố với các nhà báo ở Luân Đôn rằng:

“Đối với Việt Nam và Thái Lan, chúng tôi không có dã tâm xâm chiếm đất đai”.

Đanh thép nhất là diễn từ của Tham mưu Tổng trưởng Bạch Sùng Hy đọc trước học sinh quân Việt Minh ở Quảng Tây ngày 3-11-1943: “Việt Nam và Tàu có một thiên lịch sử quan hệ dài hơn 3000 nǎm. Lẽ tất nhiên Trung Quốc vui lòng dùng hết sức mạnh lớn nhất giúp đỡ nhân dân Việt Nam giành lại độc lập, giải phóng cho đất nước”.

Ngoài ra, đài vô tuyến điện Côn Minh luôn luôn kêu gọi dân chúng Tàu ủng hộ nền độc lập Việt Nam bằng những lời lẽ rất quyết liệt sau đây: “Pháp không thể vì lý do gì có thể trở lại Việt Nam được nữa. Cao Ly được độc lập thì Việt Nam cũng phải được độc lập. Việt Nam không phải thuộc địa của Pháp nữa. Các cường quốc liên hiệp hãy công nhận nền độc lập của Việt Nam và mang lại cho Việt Nam những sự giúp đỡ cần thiết, v.v.”.

Xem thế đủ thấy nước bạn Trung Hoa chúng ta tự chính giới, quân giới cho chí dân chúng đều nhiệt liệt biểu đồng tình và viện trợ nền độc lập của chúng ta. Rất mong sự giúp đỡ bằng tinh thần đó sẽ mang lại cho chúng ta sự giúp đỡ bằng vật chất thiết thực hơn nữa.

II- HOA KỲ VỚI VIỆT NAM

Thứ nữa, chúng ta không thể quên nước bạn của chúng ta là nước Mỹ, một nước dân chủ bao giờ cũng bênh vực sự tự do, độc lập cho các dân tộc nhỏ yếu. Thấy bọn thực dân Pháp và Hà Lan đương hoành hành ở miền Nam á châu, Tổng thống Tơruman lên tiếng cảnh cáo bằng lời tuyên bố trong ngày “Hải quân” ở Nữu Ước: “Tất cả các dân tộc đã bị vũ lực đè nén đều được giải phóng nếu sự thay đổi ấy thích hợp với quyền lợi của họ. Tất cả các dân tộc đều được tự trị lấy xứ sở mình. Họ phải có một Chính phủ tự trị của họ”.

Viên phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ cũng tuyên bố về tình hình độc lập Đông Dương: “Tất nhiên không thể nói tới việc thành lập chủ quyền người Pháp ở Đông Dương. Thái độ của chúng ta đối với Nam Dương thế nào thì đối với Đông Dương cũng vậy. Chúng ta sẵn sàng giúp sức xây dựng hoà bình trong hai khu vực ấy”.

Dư luận các báo Mỹ về Đông Dương lại càng sôi nổi hơn nữa. Nữu Ước thời báo ra ngày 27-9 viết rằng: “Dân chúng Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy trong thời đô hộ Pháp, song những cuộc nổi dậy ấy không bao giờ quan trọng bằng bây giờ. Các cuộc khởi nghĩa ở Nam Dương và Đông Dương là những dấu hiệu tỏ lòng công phẫn ngày một tǎng của cả khu vực hoàn cầu ấy đối với chính sách thực dân của Pháp và Hà Lan. Các nhà ái quốc ở những nơi này rõ ràng đòi thiết lập một Chính phủ độc lập và kết liễu chính sách thực dân. Người Việt Nam nhất định không trở lại dưới quyền người Pháp vì cái chính sách thuộc địa cũ rích của Pháp và Hà Lan là một sự đe dọa rõ ràng cho hoà bình không thể dung thứ được”.

Một phóng viên Mỹ Panlo Hop qua thǎm Việt Nam cũng đã tuyên bố rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc vǎn minh như các dân tộc khác trên thế giới, rất xứng đáng được hoàn cầu công nhận độc lập.

Những chứng cớ trên này tỏ rằng nước Mỹ đã chú ý bênh vực nền độc lập của xứ sở ta. Chúng ta có thể gửi một hy vọng lớn vào nước bạn giàu lòng nghĩa hiệp ấy.

III – NGA XÔ VIẾT VỚI VIỆT NAM

Ngoài Trung Hoa và Mỹ, nước Nga vừa rồi đã lên tiếng kết tội bọn thực dân và bênh vực những nước nhỏ yếu chúng ta. Báo Thời mới ở Nga hết sức ca tụng Hoa Kỳ định diệt hẳn mầm phát xít và cho mọi dân tộc quyền tự do dân chủ. Trái lại, báo đó công kích thái độ Anh đã nâng đỡ bọn thực dân Pháp và Hà Lan trong cuộc xâm lǎng Đông Dương và Nam Dương. Rồi báo đó nhắc thêm rằng cảm tình của tất cả lực lượng tiến bộ trên thế giới đã hoàn toàn thiên về những dân tộc hiện đang chiến đấu để giành tự do và rất xứng đáng được hưởng tự do. Nối lời báo Thời mới, Chính phủ Mạc Tư Khoa lại viết bài bình luận công kích hành động tàn ác của các nước thực dân đã ngǎn cản Nam Dương trong phong trào giành độc lập tự do. Mỗi lời cảnh cáo của Nga là một nhát búa đánh mạnh vào đầu bọn thực dân. Chúng ta rất tin tưởng ở sự can thiệp đắc lực của Nga Xô viết.

IV – ANH CÁT LỢI VỚI VIỆT NAM

Còn nước Anh tuy vẫn giữ chính sách can thiệp vào việc Nam Dương và Đông Dương, nhưng chính sách ấy bị công kích kịch liệt. 72 nghị viên Lao động Anh đã đem những vấn đề Đông Dương và Nam Dương ra chất vấn nghị viện và nghị viện cũng đã thảo luận gay gắt về những vấn đề đó. Đảng Cộng sản Anh yêu cầu Chính phủ rút ngay quân ở miền Nam châu á về và phải thi hành đúng Hiến chương Đại Tây Dương. Các báo Anh đều lên tiếng kêu gọi Chính phủ phải thay đổi chính sách của Anh tại á Đông. Có nhiều cuộc vận động lớn của các đoàn thể có thế lực do Đảng Cộng sản và Đảng Lao động Anh ủng hộ để buộc Chính phủ Anh phải thừa nhận nền độc lập của Đông Dương và Nam Dương.

V- CÁC NƯỚC NHỎ YẾU VỚI VIỆT NAM

Ngoài ra, Đảng quốc gia ấn Độ ở Anh, Liên đoàn ấn Độ ở Mỹ và nhiều dân tộc nhỏ yếu khác đã tổ chức những cuộc mít tinh phản đối chính sách thực dân và ủng hộ cuộc giải phóng dân tộc của Đông Dương và Nam Dương.

VI- HỘI NGHỊ MẠC TƯ KHOA

Lại trong cuộc hội nghị ngoại giao tam cường tại Mạc Tư Khoa, vấn đề Viễn Đông là vấn đề quan trọng được đem ra bàn luận. Tất nhiên vấn đề này phải nói tới cả vấn đề Đông Dương nữa. Kết quả cuộc hội nghị này sẽ đem lại hoà bình cho thế giới và độc lập tự do cho các dân tộc nhỏ yếu.

VII – KẾT LUẬN

Chúng ta cứ bền gan, vững chí xây đắp thực lực để kiên quyết chiến đấu, sức chiến đấu ấy sẽ làm cho hoàn cầu thừa nhận nền độc lập hoàn toàn của chúng ta.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 130, ngày 31-12-1945.
cpv.org.vn

Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương (6-1928)

Trong tất cả các thuộc địa Pháp, Đông Dương là một thuộc địa rộng nhất và giàu nhất, với 710.000 kilômét vuông, 20 triệu dân và 4 tỷ đồng về thương nghiệp hằng nǎm.

Người xứ Đông Dương cũng là những người bị bóc lột và bị chà đạp nhất vì thuế khoá mỗi nǎm một tǎng lên:

1913: 57.000.000 đồng (tính số tròn)

1915: 62.000.000 ” “

1917: 70.000.000 ” “

1920: 84.000.000 ” “

1922: 87.000.000 ” “

1928: 91.500.000 ” “

Ngoài khoản sưu thuế đó, người Đông Dương còn bắt buộc phải đóng góp nhiều khoản khác nữa: 32.300.000 phrǎng cho chi phí quân sự, 700.000 phrǎng cho chi phí hàng không (1927), v.v..

Trong khi bóc lột người bản xứ, bọn đế quốc Pháp lại cho là chúng đang đem lại sự giáo dục và dân chủ cho họ.

Với 20 triệu dân, mà (nǎm 1926) Đông Dương chỉ có được 3.395 trường học với chưa đầy 214.000 học sinh. Trong khi đó, người Đông Dương – do sáng kiến của mình – đã tổ chức ra 6.751 trường học, tập hợp được 99.800 học sinh. Nhưng Chính phủ thuộc địa lại cố tìm mọi cách để cản trở phong trào giáo dục đó: họ thường đóng cửa các trường tư hoặc cấm người bản xứ không được tổ chức các trường tư mới. Đó là nói về giáo dục.

Còn đây là “dân chủ”: Một giáo viên bản xứ lĩnh 555 phrǎng và một giáo sư người bản xứ lĩnh 1.200 phrǎng mỗi tháng, còn một giáo viên người Pháp lại lĩnh những 3.750 phrǎng và một giáo sư người Pháp lĩnh những 6.000 phrǎng mỗi tháng, đấy là chưa kể mọi thứ phụ cấp mà chỉ riêng giáo viên và giáo sư người Pháp mới được hưởng.

Ta hãy nêu ra một vài con số nữa: một viên thiếu uý Pháp lĩnh 62.244 phrǎng; một viên trung uý Pháp được 77.844 phrǎng; một viên đại uý Pháp thì được 93.444 phrǎng; một viên công sứ ở Bắc Kỳ thì mỗi nǎm được 234.000 phrǎng, chưa kể các khoản phụ cấp. Còn một công nhân nông nghiệp người bản xứ thì mỗi nǎm kiếm được từ 400 đến 500 phrǎng.

ách thống trị của bọn đế quốc được dựng lên không những chỉ bằng chính sách ngu dân, chế độ không bình đẳng và nạn bóc lột, mà còn bằng chính sách khủng bố và mật thám nữa. ở Pháp, người ta nói rằng xứ Đông Dương chưa bao giờ được phồn thịnh và an ninh như thế cả. Nhưng nhà tù ở Đông Dương lại chật ních và chế độ kiểm duyệt thì thường xuyên.

Đây là một đoạn trích dẫn hai chỉ thị của Chính phủ nói về chế độ kiểm duyệt:

“Tôi ra lệnh cho các ông… phải thoả thuận với các chủ sở bưu chính để đặt việc kiểm soát các thư từ và vǎn kiện đủ các loại nhằm chặn những thứ đó lại cho kịp thời…”.

Lệnh này là do viên thống sứ ở Cao Miên ký ngày 24-7-1925 gửi cho các nhân viên cảnh sát.

Một chỉ thị khác, gửi ngày 17-10-1926, yêu cầu các tỉnh trưởng hoặc những đại diện của họ phải hợp tác với cảnh sát để làm công việc đó và cho phép họ được “vào phòng gửi các bưu kiện để kiểm duyệt các thứ đó”.

Người dân Đông Dương bị tước quyền tự do được tổ chức, đi lại, ǎn nói và viết lách, họ đều bị bịt mồm bịt miệng và bị giám sát, tuy vậy đế quốc Pháp vẫn cứ luôn luôn run sợ cho nền thống trị của chúng. Chúng sợ cách mạng từ ngoài vào. Chính Varen, đảng viên

Đảng Xã hội là người được chúng giao cho trách nhiệm phải “trừ” mối nguy cơ đó. Và thực ra thì anh chàng đảng viên của Quốc tế thứ hai ấy đã cố gắng hết sức để xứng đáng với lòng tin cậy của các ông chủ của hắn. Chúng ta hãy nghe những lời thú nhận do anh ta ký tên đǎng trên tờ Tư bản ngày 21-2-1928:

“Phương pháp trừ bỏ một nguy cơ là phải phòng trước nguy cơ đó. Chính tôi đã làm như thế. Tôi đã đặt biên giới vào tình trạng phòng thủ. Lúc tôi sang tới nơi, thì số quân của ta giảm đi một nửa so với hồi trước chiến tranh, quân nhu thì rõ ràng là thiếu thốn, các vùng biên giới được trang bị tồi. Đồng ý với Chính phủ, tôi đã tìm đủ mọi cách để trong một thời hạn ngắn nhất, cải thiện được tình hình thật sự nguy ngập đó. Ngay trước khi tôi sang Đông Dương, quân nhu, đạn dược cũng đã được tải từ Pháp sang, tiếp theo là vũ khí, sau cùng là quân đội tiếp viện. Ngay khi tôi sang tới nơi, người ta đã gấp rút trang bị cho quân đội đóng ở vùng giáp giới Trung Quốc. Bây giờ, đằng sau vỏ bọc chắc chắn hơn, chúng ta có thể dứt điểm tiến hành tổ chức quân đội”.

Ngài Varen đã quên không nói thêm rằng mình cũng đã bán đạn dược cho bọn quân phiệt Trung Quốc ở Vân Nam, bạn đồng minh của ngài.

Dù bọn xã hội đế quốc chủ nghĩa có đề phòng như thế nào đi nữa, thì nạn nghèo khổ và sự bóc lột vẫn cứ thúc đẩy người dân Đông Dương làm cách mạng, để đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp.

WANG

———————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 49, tháng 6-1928
cpv.org.vn

Tết

Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ǎn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với:

Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,

Những gia quyến các chiến sĩ,

Những đồng bào nghèo nàn,

Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.
cpv.org.vn

Tự phê bình

Hỡi các đồng bào yêu quý,

Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân.

Nhờ sức đoàn kết của toàn dân mà chúng ta tranh được quyền độc lập. Nhưng Chính phủ vừa ra đời thì liền gặp những hoàn cảnh khó khǎn.

Ngoài thế giới, tuy chiến tranh đã hết rồi, nhưng hoà bình chưa đến. Trong nước thì miền Nam bị nạn xâm lǎng, miền Bắc bị nạn đói kém. Bộ máy thống trị cũ đã huỷ bỏ, nhưng nền nếp dân chủ mới chưa hoàn toàn. Tiền của dân ta đã bị bọn thực dân vơ vét sạch trơn, phần đông đồng bào ta đã lâm vào cảnh nghèo khó.

Trước hoàn cảnh khó khǎn đó, đồng bào đã cố gắng, người giúp sức, kẻ giúp tiền. Còn tôi thì lo lắng đêm ngày để làm tròn nhiệm vụ của mình, sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào.

Xây dựng nền độc lập của nước nhà; lãnh đạo cuộc kháng chiến miền Nam; ra sức kêu gọi tǎng gia sản xuất và tìm mọi cách cứu nạn đói ở miền Bắc; tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta, chuẩn bị thành lập Quốc hội.

Ngoài những việc đó, Chính phủ do tôi đứng đầu, chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân.

Tuy tranh được quyền độc lập đã nǎm tháng, song các nước chưa công nhận nước ta.

Tuy các chiến sĩ ta rất oanh liệt, song kháng chiến chưa thắng lợi.

Tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch.

Tuy Chính phủ ra sức sửa sang, song nhiều nơi chính trị vẫn chưa vào lề lối.

Tuy Chính phủ luôn luôn chủ trương rằng: hai dân tộc Việt – Hoa là như anh em, chúng ta cần phải thân thiện và hợp tác với anh em Trung Hoa, cũng như anh em Trung Hoa cần phải thân thiện và hợp tác với chúng ta, song vẫn có nơi chưa tránh hết sự xích mích giữa Hoa kiều và dân Việt.

Tuy Chính phủ luôn luôn chủ trương rằng: dân ta chỉ đòi quyền độc lập, chỉ kiên quyết chống chế độ thực dân; đối với kiều dân Pháp yên phận làm ǎn, chúng ta phải ra sức giữ gìn tính mệnh tài sản của họ cho được an toàn. Đó là vì nhân đạo, mà cũng có lợi cho mục đích cao thượng của chúng ta. Song sự tự động không hay đối với kiều dân Pháp vẫn xảy ra một đôi chỗ.

Có thể nói rằng: những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này, lẽ khác.

Nhưng không, tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi.

Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi. Từ nay, tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ.

Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 153, ngày 28-1-1946
cpv.org.vn

Gương sáng suốt của đời sống mới

Xuân nǎm nay, các vị kỳ lão làng Đình Bảng và làng Xuân Tảo đã đem số tiền mừng thọ (các cụ Đình Bảng 2400 đồng, các cụ Xuân Tảo 600 đồng) quyên vào quỹ Cứu quốc và ủng hộ chiến sĩ.

Các vị kỳ lão và nhân dân xã Đông Hội, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình, thì đem ba phần tư khoản tiền tế Thành hoàng 375 đồng và tư nhân thêm vào 116 đồng nữa để giúp các chiến sĩ ngoài mặt trận.

Họ Nguyễn Thượng ở làng Thượng Phúc, phủ Thanh Oai, tỉnh Hà Đông 1 , cũng giảm sự ǎn uống về việc cúng giỗ thường niên, để ra một nghìn đồng (1000đ) quyên vào quỹ kháng chiến.

Ba việc đó, chẳng những đã tỏ lòng vàng ngọc của đồng bào các làng xã kể trên, đồng thời cũng là một gương sáng suốt trong sự thực hành Đời sống mới cho đồng bào cả nước noi theo.

Hồ Chí Minh

Bản gốc, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Phải đình chỉ ngay những cuộc đánh úp tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ

Theo bản Hiệp định sơ bộ Việt – Pháp, thì sau khi đã ký kết, hai Chính phủ lập tức quyết định những phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời.

Thế mà các đại biểu Pháp đã không tôn trọng chữ ký, đã không thành thực làm theo những điều quy định. Họ đã công nhiên cho rải truyền đơn khuyên những chiến sĩ Việt Nam “phải đem khí giới đến nộp ở những đồn gần nhất của Pháp và chắc chắn sẽ không bị trừng trị” theo như báo Caravelle số 14 ngày 10-3-1946 đã đǎng. Chẳng những thế, họ lại còn phái quân Pháp đánh úp những chiến sĩ Việt Nam ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, cho đó là việc tiễu trừ bọn thảo khấu 1 .

Những hành vi trên này đã làm cho dân chúng Việt Nam nổi lòng công phẫn và bắt đầu nghi ngờ lòng thành thực của Pháp.

Chúng tôi thiết tưởng người Pháp rất trọng danh dự, trọng kỷ luật thì sao lại có những hành động hèn nhát và lừa bịp như thế. Chiến sĩ Việt Nam chiến đấu để giữ gìn đất nước, tranh thủ độc lập. Đó là những người đáng kính trọng, đáng sùng bái. Chỉ có quân đi cướp nước để sống nhờ vào sự áp bức, bóc lột các dân tộc nhỏ yếu mới gọi là những bọn thảo khấu đáng khinh bỉ, đáng trừ diệt. Những chiến sĩ cách mạng Pháp nǎm 1789 có thể gọi là những quân thảo khấu được không? Đó là những liệt sĩ anh hùng, chẳng những người Pháp phải kính mến mà cả người Việt Nam cũng sùng bái.

Chúng tôi cực lực phản đối hành vi phản bội của Pháp. Chúng tôi kêu gọi quân đội Pháp ngoài mặt trận nên hiểu rõ chính nghĩa, nên phân biệt bạn với giặc, mau mau gác súng lại, không bắn vào quân đội Việt Nam nữa. Muốn vậy các bạn nên mau mau thúc đẩy những người đại biểu Pháp ở Đông Dương phải mở ngay những cuộc đàm phán với Chính phủ Việt Nam, phải tuân thủ bản Hiệp định sơ bộ Việt – Pháp mà họ đã phải ký. Người Pháp phải thực tình hiểu người Việt Nam và đãi người Việt Nam bình đẳng thì người Việt với người Pháp mới cùng sống với nhau yên ổn trên dải đất chữ S này được.

Hỡi các chiến sĩ Việt Nam! Chúng ta đã thành thực ký kết với quân Pháp để tạm đình chiến. Trong khi đó, Chính phủ ta và Chính phủ Pháp sẽ mở những cuộc đàm phán để ký một bản hiệp ước chính thức công nhận chủ quyền của nước Việt Nam. Chúng ta tuy tạm gác súng để nghỉ ngơi, nhưng lúc nào chúng ta cũng sẵn sàng và quyết tâm chiến đấu cho giang sơn Tổ quốc, nếu người Pháp định lừa bịp ta, không thành thực ký kết với ta theo nguyên tắc bình đẳng.

Tóm lại, muốn Việt – Pháp đi tới chỗ thoả thuận có lợi cho cả đôi bên, người Pháp phải thành thực từ lời nói cho chí hành động, theo đúng bản Hiệp định đã ký mà đình chỉ ngay những cuộc xung đột ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ.

Q.T.

Báo Cứu quốc, số 187,
ngày 15-3-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử: Sức khỏe và thể dục

Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người yêu nước. Việc đó không tốn kém, khó khǎn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi ngày lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ.

Bộ Giáo dục có Nha Thể dục, mục đích là để khuyên và dạy cho đồng bào tập thể dục, đặng giữ gìn và bồi đắp sức khoẻ.

Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập.

Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Phương pháp tác chiến

Phép dụng binh.

Phép dụng binh, mỗi thời mỗi khác. Về thời cổ, theo Tôn Tử phải huy động “Nghìn chiến xa chạy thật nhanh dùng vào việc đánh phá. Phụ vào những chiến xa đó, phải có nghìn chiến xa bọc da dùng vào việc phòng ngự. Lại thêm mười vạn quân mặc áo giáp, đội mũ sơn và có đủ vũ khí”.

Đã động viên một số quân đội lớn như thế, còn phải lo tính việc chở lương thực và các chiến phí khác, nên Tôn Tử nói:

“Muốn điều động đại đội binh mã đi đánh phương xa, phải lo tính làm sao chở được lương thực ra ngoài chiến trường cách xa nghìn dặm, phải trù liệu mọi thứ chiến phí khác để chi về việc chiến tranh ở trong nước cũng như ở ngoài nước; về việc tiếp đãi ngoại giao, đại sứ, về việc thuê các gián điệp, về việc sắm các vật liệu, chế tạo vũ khí, chiến xa… Tính ra mỗi ngày phải tiêu đến hàng vạn triệu”.

Đời xưa bài binh bố trận cũng dùng chiến xa làm động lực chính. Những chiến xa đó có thể coi như đội cơ giới lớn ngày nay. Trong hồi chiến tranh trước và mới rồi, không nước nào không cố sức tổ chức đội cơ giới hoá có đủ các thứ chiến xa như xe tǎng, xe bọc sắt, xe hơi, xe tải, súng đại bác, v.v. để tǎng gia lực lượng đánh phá, chuyển vận, phòng giữ cho có hiệu quả.

Các chiến phí rất quan hệ đến sự thắng bại của chiến tranh. Quân đội với chiến phí bao giờ cũng đi đôi với nhau. Quân đội tinh nhuệ, nhưng thiếu chiến phí cũng thành quân đội hèn yếu. Chiến phí không biết thế nào gọi là đủ được. Phải do chiến tranh lâu hay chóng, quân đội nhiều hay ít, chiến trường xa hay gần mới có thể tạm thời quyết định được chiến phí.

Chiến phí ấy lấy ở đâu? Phải lấy ở dân chúng bằng cách đánh thuế, trưng thu, tịch thu… Có khi chiến tranh kéo dài, dân chúng phải tiết kiệm ǎn, mặc, phải nộp cả khí cụ bằng kim khí để đúc súng, chế đạn. Vậy trước khi tham dự chiến tranh, phải lo cung cấp chiến phí cho đầy đủ mới mong chiến thắng được quân thù.

Phải đánh thật nhanh để thắng nhanh.

Về vấn đề này, Tôn Tử nói: “Chiến tranh cần phải giải quyết thật nhanh chóng, sớm ngày nào hay ngày ấy. Kéo dài ra chỉ làm hao binh, tổn tướng, mất nhuệ khí chiến đấu, làm tài nguyên của quốc gia bị kiệt quệ, nhân dân điêu đứng”.

Thật vậy, chiến tranh càng kéo dài, càng bất lợi chẳng những quốc gia bị hãm vào vòng suy nhược, các nước khác lại nhân cơ hội dòm ngó hoặc gây chiến để cướp đất đai hoặc uy hiếp bắt phải nhượng bộ về phương diện này hay phương diện khác.

Vì vậy Tôn Tử khuyên: “Đã dự chiến tranh, phải tập trung hết thảy lực lượng, bày hết mưu kế thắng nhanh được quân thù mới có lợi. Trái lại, không xét tương lai, không xem tình thế để đến nỗi chiến tranh kéo dài sẽ xảy ra vạn sự không hay”.

Bất đắc dĩ mới phải gây ra chiến tranh. Vậy một khi đã dự chiến tranh không sao tránh khỏi được sự hao tổn. Muốn giảm sự hao tổn đó, phải giải quyết chiến tranh một cách thật mau chóng. Trong chiến lược của Nã Phá Luân 1 có nói: “Rút một ngày (mười hai giờ) thành mười giờ để mà tiến quân và tác chiến rồi sau sẽ nghỉ ngơi”. Chiến lược này cũng giống như chiến lược của Tôn Tử nghĩa là phải đánh mạnh như vũ bão, nhanh như chớp nhoáng. Một nhà danh tướng về hải quân là Nensông (Nelson) cũng có nói: “Giờ phút là đồng chí yêu quý của ta. Ta nên quý trọng người đồng chí ấy hơn những đồng chí khác”. Trong chiến tranh, giờ phút có quan hệ lắm, chỉ sai nhau 5 phút có thể quyết định được thắng bại. Các nhà danh tướng đời trước một khi ra trận, đều đánh thật nhanh, cướp được phút nào hay phút ấy. Thừa được lúc quân địch nhọc mệt, trễ nải không đề phòng, hay bỏ ngỏ một mặt nào, phải quyết đoán, phải dũng cảm tiến đánh cho thật nhanh. Nếu trù trừ, do dự, sẽ mất cơ hội tốt.

Nhưng đánh thật nhanh không phải là hấp tấp vội vàng mà quên cả cơ mưu. Phải vừa nhanh vừa có mưu cơ mới quyết định được thắng lợi.

Vậy về binh pháp: bất luận một động tác gì cũng phải nhanh. Hành quân nhanh, đánh trận nhanh, súng bắn nhanh, càng nhanh càng có lợi. Trong tất cả các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà đều có thể tuỳ lúc, tuỳ nơi mà lợi dụng, nhưng điều kiện thời gian, điều kiện nhanh chóng vẫn là quan trọng hơn hết.

Tôn Tử rất chú ý đến điều kiện này, nên thường nhắc đi nhắc lại luôn. Để kết luận, Tôn Tử nói:

“Tự xưa đến nay, không thấy chiến tranh kéo dài mà có lợi cho quốc gia bao giờ”.

Như thế là có ý nói chỉ đánh thật nhanh để quyết thắng mau chóng mới có lợi mà thôi. Về lợi hại cho quốc gia, Tôn Tử nói:

“Người nào không hiểu rõ chỗ hại của phép dùng binh, không thể hiểu rõ được chỗ lợi của phép đó được”.

Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy.

Q.Th. thuật

Báo Cứu quốc, số 242, ngày 17-5-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Muốn biết người phải thế nào?

Biết mình, biết người đánh trǎm trận được trǎm trận. Biết mình như kỳ trước đã nói là phải xem mình đã có đủ những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà, v.v. còn biết người nghĩa là biết tình hình bên địch thì không gì hơn là dùng gián điệp.

a- Sự quan trọng của gián điệp – Tôn Tử nói: “Chi phí hàng vạn hàng triệu về việc quân để chống nhau với địch trong một thời gian lâu dài, mong có ngày được thắng lợi, thế mà tiếc một vài trǎm để chi về việc gián điệp, đến nỗi không biết rõ tình hình bên địch, đành phải chịu thua. Người làm tướng như thế không đủ tư cách làm tướng, không đủ tài giúp chính phủ, không đủ trí thắng được quân địch”.

Thật vậy, không biết rõ quân địch, không thể cướp được thắng lợi một cách chóng vánh. Khi chiến tranh càng kéo dài, dân chúng càng khổ sở, thì thắng trận cũng chẳng thu hoạch được gì mà thua trận thì tai hoạ không sao kể xiết. Không biết rõ tình hình bên địch mà dám khai chiến thời có khác gì đánh bạc với chiến tranh.

Cho nên tướng giỏi, một khi đã dùng binh là cầm chắc được thắng lợi chỉ vì lúc chưa khai chiến đã biết trước được tình hình bên địch.

b- Các thứ gián điệp – Tôn Tử chia ra 5 thứ gián điệp.

1- Hương gián – Hương gián nghĩa là lợi dụng dân chúng bên địch làm gián điệp, rồi theo ngôn ngữ hành động của họ để phán đoán, có thể, lấy cả những bản ráp của những báo chí, thư từ, điện báo đem so sánh với những bản đã chép lại hoặc in ra để xét tình hình bên địch. Những sổ sách, giấy má trong công sở, nhà bưu điện, hãng thông tin… cũng có thể dùng làm tài liệu phán đoán được. Những tin tức đǎng lên báo hay nói miệng nhiều khi có ảnh hưởng rất lớn về quân sự, không thể không chú ý.

2- Nội gián – Mua chuộc bọn quan lại, tướng tá, binh sĩ cùng những người có nǎng lực như học giả, ký giả, các nhà tu hành, các nhà thực nghiệm… để họ báo cáo tình hình bí mật trong nội bộ của bên địch hoặc nhân ngôn ngữ và hành động của họ để phán đoán tình hình.

3- Phản gián – Mua chuộc bọn gián điệp của bên địch biến họ làm gián điệp của mình. Bắt được gián điệp của bên địch, lợi dụng nó báo cáo tình hình thực tế của nước nó cho mình. Hoặc giả vờ không biết nó là gián điệp, hoặc giả bày đặt bằng những mưu kế của mình cho nó biết rồi thả nó ra. Khi về nước, nó sẽ báo cáo những mưu kế ấy với người nước nó làm cho người nước nó tưởng là mưu kế thực.

4- Tử gián – Để cho gián điệp biết chuyện của mình nhưng mà chỉ là chuyện bịa đặt thôi. Rồi phái người gián điệp ấy ngầm sang bên địch hoạt động, một mặt lại bày mưu làm cho bên địch biết người gián điệp đó là của bên mình, tất nhiên người gián điệp đó bị quân địch bắt. Không chịu được tra khảo, gián điệp phải cung xưng cho địch tình hình của bên mình mà hắn đã biết lúc ra đi. Nhưng thực ra tình hình hắn báo cáo đó chỉ là giả dối. Theo lời cung khai này để mưu kế đánh mình, quân địch nhất định bị thua. Ngoài cách ấy lại có thể bảo gián điệp mình làm hướng đạo cho địch để đưa địch vào cạm bẫy. Trong khi chiến đấu, sai sứ sang trá hàng. Địch thấy hàng rồi không phòng bị nữa, mình liền thừa cơ tiến công.

Tất cả những hành động kể trên, quân thù sẽ tự biết bị lừa sau khi chúng đã thất bại. Cách làm gián điệp không có hy vọng sống như thế gọi là tử gián.

5- Sinh gián – Phái người sang bên địch dò xét tình hình để về báo cáo gọi là sinh gián. Tuy gọi là sinh gián nhưng cũng phải coi cái chết như thường mới có thể làm nổi. Phải là người can đảm, nhanh nhẹn, trầm tĩnh, kiên quyết và tinh thông phong tục, tập quán, ngôn ngữ của bên địch. Ngoài ra, còn phải có đủ tri thức về quân sự, về khoa học. Nhất là người nào khéo giả hình giả dạng được càng tốt. Hơn nữa, lợi dụng kế mỹ nhân lại càng đắc lực lắm. Những tay gián điệp này có khi hoạt động ở bên nước địch, có khi hoạt động ở một nước trung lập hay ở ngay chiến trường.

Vậy muốn biết rõ được tình hình bên địch cần phải chǎng lưới gián điệp khắp các ngành hoạt động của nước địch. Chiến tranh ngày nay biến hoá vô cùng. Chiến tranh về quân sự, kinh tế, ngoại giao, khoa học, chính trị và cân não. Mọi sự đều phiền phức, nên công việc gián điệp cũng rất là phiền phức. Lúc bình thời, gián điệp phải xem xét tình hình chính trị, quân sự của nước địch và xúi giục dân chúng nước địch phản đối chính phủ, hoặc nếu có thể, nổi dậy bạo động đánh đổ chính phủ, làm cho nội bộ địch bị phá vỡ. Về mặt chiến thuật, lúc bình thời, phải xem xét quân bị, binh sĩ, khí giới, địa hình của nước địch như thế nào; lúc chiến tranh phải tìm cách phá hoại đường sá, cầu cống, pháo đài hoặc chuẩn bị mọi công tác có lợi cho chiến thuật của nước mình.

Nhiệm vụ của gián điệp thực nặng nề. Làm được nhiệm vụ đó, thắng trận rất dễ dàng.

Q.Th

Báo Cứu quốc, số 248, ngày 24-5-1946
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Phương pháp dùng gián điệp

1- Đối với gián điệp phải thế nào – Tôn Tử nói: “Về việc quân, không ai thân bằng gián điệp, không xử với ai hậu bằng gián điệp, không việc gì bí mật bằng gián điệp”. Thực vậy có thân yêu gián điệp, gián điệp mới tận tâm và thành thực làm việc để đem lại những báo cáo xác đáng về tình hình bên địch.

Phải xử thân với gián điệp là vì vận mệnh của quốc gia còn hay mất, một phần lớn là công của gián điệp. Ngày trước Hán Sở tranh hùng, vua Hán muốn ly gián Hạng Vũ với Phạm Tǎng đã giao cho Trần Bình hàng mấy vạn cân vàng làm tiền phí tổn về việc phản gián điệp. Lại hồi Âu chiến trước đây, Đức bắt được hai tên lính thuỷ là người Đức bị nước Anh lợi dụng làm gián điệp. Lúc đem ra tra tấn, hai người đó cũng xưng là đã ký hợp đồng với Anh cam đoan nếu ám sát được vua Đức sẽ lĩnh thưởng 100 vạn đồng và nếu đánh đắm được chiến hạm của Đức sẽ lĩnh thưởng 50 vạn đồng. Việc xử hậu với gián điệp như thế thật không kể gì tốn kém.

Còn việc của gián điệp là việc bí mật nhất trong những bí mật. Nếu những tin tức của gián điệp báo cáo về lỡ để tiết lộ cho người ngoài biết, người gián điệp hay người truyền tin sẽ bị xử tử hình. Không nghiêm mật như thế, sợ quân địch biết mình chuẩn bị như thế nào rồi lại tìm cách đưa mình vào cạm bẫy. Để tiết lộ bí mật là việc tối kỵ của gián điệp. Nên, những giấy má báo cáo tin tức về tình hình bên địch phải giấu giếm thật kín đáo, cẩn thận. Cuốn vào điếu thuốc lá giấu trong mũ, đệm dưới đế giày, khâu trong tà áo là những phương pháp cũ rích dễ bị khám phá. Thường có nhiều phương pháp mới là: Viết thật nhỏ vào mặt trong khuy áo, đǎng quảng cáo vào một tờ báo của nước trung lập ngụ những ý bí mật ở trong đó, giấu trong hàm rǎng giả hay dưới lưỡi gần cổ họng, viết vào mặt trái tem gửi thư, hoặc dùng nhiều thứ nước hoá học để viết, hoặc đặt những dấu hiệu riêng với nhau…

2- Dùng gián điệp phải thế nào – Việc dùng gián điệp là việc rất khó, Tôn Tử nói: “Không phải người đại tướng thông minh, tinh đời, nhân nghĩa, không thể dùng gián điệp một cách đích đáng được”, vì hiểu rõ được người không phải là việc dễ. Không phải người đại tướng có đức hạnh, có nhân nghĩa, người gián điệp không chịu nghe theo. Đối với gián điệp đã đành phải ưu đãi họ, nhưng lại cần phải đem nghĩa khí cảm phục họ. Có như thế, gián điệp mới chịu gắng sức làm tròn nhiệm vụ. Người làm tướng còn phải có trí xét đoán tinh vi để phân biệt được thực hư trong những báo cáo của gián điệp. Có khi làm gián điệp cho mình mà biến thành gián điệp của địch. Có khi không tìm được tin tức xác thực để báo cáo, gián điệp tự bịa đặt ra tin giả dối. Lại có khi mới nghe địch tuyên truyền đã vội cho là việc có thực đem báo cáo về nước nên không khỏi trúng vào kế của địch định lừa.

Chẳng những đối với báo cáo của gián điệp phải xét đoán cẩn thận, mà đối với báo cáo của binh sĩ hay của các quân binh hạ cấp cũng phải đặc biệt chú ý. Vì muốn khoe khoang, thắng lợi ít lại nói ra nhiều. Vì muốn tránh lỗi, thất bại lớn lại nói là nhỏ. Nên người làm tướng phải là người tinh thông lắm mới có thể xét đoán được thực hư.

Trong tất cả các thứ gián điệp, nếu khéo biết dùng cách phản gián điệp, hiệu quả không phải nhỏ. Cho dò xét những gián điệp của nước địch phái sang nước mình. Đặc biệt chiêu đãi họ hết sức thoả mãn sự ham muốn của họ để mua chuộc họ quay lại làm gián điệp cho mình. Lợi dụng được phản gián điệp, sẽ biết rõ được tình hình bên địch hơn cả. Nhân đó, mình có thể dùng dân chúng và quan lại của bên địch làm gián điệp cho mình. Ngày trước Chu Vũ Vương diệt được nhà Thương để nắm chính quyền là nhờ có Khương Thái Công làm tham mưu Tổng trưởng cho nhà Thương đem hết tình hình của nhà Thương báo cáo cho Chu Vũ Vương.

Tôn Tử lại nói: “Muốn biết tình hình bên địch, không gì bằng hiểu rõ nhân vật của bên địch, từ người tướng cầm quân cho chí người phu ngựa. Phái gián điệp đi dò xét tên tuổi, tính cách và mối quan hệ của những người ấy thế nào, để tìm cách giao thiệp thân mật với họ. Rồi dùng tiền tài đút lót hoặc dùng kế mỹ nhân mua chuộc họ làm gián điệp cho mình. Lợi dụng được những hạng gián điệp ấy, sẽ chắc chắn nắm được thắng lợi trong tay”.

Vậy người làm tướng giỏi phải biết dùng người có mưu trí làm gián điệp cho mình. Đó là bí quyết trong phép dụng binh. Vì có cǎn cứ vào báo cáo xác thực của người gián điệp mới đủ tài liệu bày mưu, tính kế và định đường lối tiến thoái được. Đặt được kế hoạch xác đáng tức là biết mình, biết người, đánh trǎm trận được trǎm trận.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 254, ngày 31-5-1946.
cpv.org.vn