Thư viện

Các sự biến ở Trung Quốc (20-11-1926)

Của đặc phái viên chúng tôi

Quảng Châu, ngày 20-11-1926

Tình hình chung

Sự kiện nổi bật trong tuần qua là việc cải tổ cuối cùng hệ thống cai trị ở cấp tỉnh tại tỉnh Quảng Đông. Các viên chức được chọn ra để thực hiện kế hoạch mới, đã nhậm chức. Các biện pháp cần thiết cũng đã được thi hành và kết quả thì chẳng phải đợi lâu.

Các thành viên Chính phủ quốc dân đến Nam Xương không hàm ý là đã có quyết định dứt khoát sẽ dời trụ sở của Chính phủ về thành phố này hay về Vũ Xương. Như chúng tôi đã nói trong bài báo trước, sự di chuyển sẽ phụ thuộc vào kết quả hội nghị của đại diện Chính phủ với các tướng lĩnh quân sự, đứng đầu các đạo quân quốc gia và của đại biểu các tỉnh. Dư luận Trung Quốc tán thành chính sách này của Chính phủ, là sẽ không làm gì, không tiến hành những gì mà không được dân chúng ủng hộ.

Những chỉ thị của Hội đồng Chính phủ gửi các quan chức phụ trách hành chính cấp tỉnh trong các vùng do các lực lượng quốc gia đóng giữ đều yêu cầu củng cố các vùng lãnh thổ dưới sự kiểm soát của Quảng Châu. Các chỉ thị này, cho đến nay, đều được chấp hành nghiêm chỉnh và không có gì cho phép giả định rằng chúng sẽ không còn được chấp hành nghiêm chỉnh như thế nữa.

Sự thất bại của các đội quân chống quốc gia, do thống chế Tôn Truyền Phương chỉ huy ở Giang Tây đã loại bỏ hoàn toàn quyền lực của viên tướng này tại tỉnh đó. Thất bại này, xảy ra ngay khi thống chế Trương Tác Lâm triệu tập hội nghị quân sự ở Thiên Tân, dường như có gây được ảnh hưởng ít nhiều đến các sự biến ở miền Bắc. Chiến thắng của lực lượng quốc gia đối với quân đội của Tôn Truyền Phương làm thay đổi chính sách quân phiệt của Trương Tác Lâm. Trong khi giao cho phụ tá của mình là tướng Trương Tôn Xương, tỉnh trưởng Sơn Đông, lo bảo vệ tỉnh này chống mọi sự tấn công của quân quốc gia, ông ta về Bắc Kinh, và thái độ của thủ tướng Wellington Kou lúc ấy làm viên tướng quân sự cao cấp nhất ở miền Bắc rất lo ngại. Người ta không có tin tức cụ thể gì về thái độ của Trương Tác Lâm sau khi đến Bắc Kinh. Liệu ông ta có điều khiển được cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh hay ông ta sẽ bằng lòng làm kẻ bảo vệ cái Chính phủ này thôi?

Những điều kiện hiện nay của tình hình Bắc Kinh không làm ta yên tâm nếu xét trên những thông tin trên báo chí Bắc Kinh và Thiên Tân. Kỷ luật khó được duy trì trong binh lính đồn trú. Nhiều binh sĩ đã bị hành quyết trong tuần qua.

Tình hình tài chính ở Bắc Kinh xem chừng không có lối thoát. Số tiền vay nặng lãi và mấy triệu tǎng thuế hải quan không đủ để chi tiêu cho quân sự. Nhiều trường không được mở lại, giáo viên và giáo sư sẽ bãi giảng, nếu không được trả lương. Thái độ của các cường quốc nước ngoài đối với Hội nghị quốc tế về thuế quan chẳng thay đổi tí nào. Các cường quốc này chờ đợi mà cũng chẳng biết họ chờ đợi cái gì. Những đề nghị về một khoản công trái quốc tế thế chấp bằng việc tǎng thuế hải quan Trung Quốc, do hội nghị này thông qua, phải hủy bỏ. Bản thân Trương Tác Lâm phải đối phó với một tình hình tài chính đáng lo ngại hơn ở Mãn Châu. Sự phát hành tiền nhà binh, dưới cái tên là “Phụng phiếu” đã làm đảo lộn thương mại và công nghiệp. Không được nước ngoài trợ giúp, nước Mãn Châu sẽ phải phá sản. Không thể có ảo tưởng về vấn đề này. Dù các tỉnh rất giàu lập thành Mãn Châu quốc vẫn không đủ sức trả chiến phí cho bốn cuộc nội chiến và chi phí cho tất cả các xí nghiệp quân phiệt của Trương Tác Lâm. Người ta đặt ngay câu hỏi là Trương lấy đâu ra hàng triệu đồng để tiến hành các cuộc chiến tranh ấy, để duy trì quyền lực của mình và bành trướng quyền lực ra tận Bắc Kinh.

Chẳng bao lâu, Trương Tác Lâm sẽ bị cô lập và chỉ thu hẹp lại ở lực lượng và phương tiện của mình mà những cái này từ lâu không còn nữa. Sự liên minh của Trương với kẻ thù cũ của mình, Ngô Bội Phu, sẽ chỉ kéo dài trong thời gian cần thiết để có thể sử dụng sự liên minh này nhằm đánh thắng Quốc dân quân do thống soái Phùng Ngọc Tường chỉ huy. Sự liên minh này không nhận được sự giúp đỡ thiết thực nào của Trương, Trương đòi phải nhượng lại đất đai do Ngô Bội Phu kiểm soát. Những quan hệ với Tôn Truyền Phương không còn mờ nhạt hơn. Tôn đuổi quân của Trương đóng ở Giang Tô và tập hợp nǎm tỉnh: Chiết Giang, Giang Tô, An Huy, Giang Tây, Phúc Kiến và tự tuyên bố làm chủ những đất đai này. Thắng lợi của ông ta đối với Trương không phải là sự phát triển. Tạo ra cho mình một thế mạnh, ông ta theo đuổi một chính sách kiểm soát mà không ai cho là trung lập. Dù báo chí Trung Quốc nói đến một sự hợp tác có thể có giữa Trương và Tôn, chúng tôi vẫn tin rằng chỉ có vài thành viên thuộc hạ của chúng thương thuyết với nhau và báo chí đưa tin là đưa tin về điều ấy. Tôn không thể làm được điều đó bây giờ, vì trong hào quang thế lực của mình, Tôn không thể làm cho Trương chú ý về bất kỳ điều gì, vả lại thế lực ấy nay không còn nữa.

Sự kiện lí thú đáng ghi nhớ: trong khi các thủ lĩnh quân sự Tôn Truyền Phương và Ngô Bội Phu bị quân đội quốc gia đánh cho tan tác, bị loại trừ khỏi vũ đài chính trị – quân sự, thì lực lượng Quốc dân tập họp lại dưới trướng của thống chế Phùng Ngọc Tường, lại hoạt động trở lại. Hoạt động này, bây giờ dù không tấn công, cũng đã tỏ ra đáng gờm. Vùng mà Quốc dân đảng hoạt động hiện nay cách không xa biên giới Hồ Bắc, Hồ Nam, nơi Quốc dân đảng đóng. Việc liên lạc có thể dễ dàng.

Ở miền thượng Dương Tử, tỉnh Tứ Xuyên đang trong tình hình đêm trước của một cuộc cải tổ toàn diện. Tướng Nguyên Sâm, có dưới trướng 20.000 quân, đã đầu hàng Chính phủ quốc dân, nhận thi hành mệnh lệnh của Chính phủ và hợp tác thực hiện kế hoạch quốc gia. Một sự phục tùng như vậy nhất định có những hậu quả quan trọng đối với tình hình chung của Vân Nam, tỉnh này khó duy trì được thái độ thù địch đối với Chính phủ quốc dân. Về mặt này, ta sẽ có thể trông chờ những sự phát triển lý thú.

Thái độ của dân chúng các tỉnh rõ ràng là thuận lợi cho Chính phủ quốc dân. Như chúng tôi đã nhận xét ở trên, thái độ đúng đắn của binh lính quốc gia, lòng yêu nước và sự trong sạch của các thủ lĩnh dân sự và quân sự, sự đoàn kết giữa họ, lòng mong muốn thành thật và rõ ràng của họ là vì lợi ích chung, tất cả những cái đó làm cho dư luận dân chúng ủng hộ Chính phủ quốc dân. Dân chúng các huyện không bị đánh thuế, bị tịch thu, bị đối xử tàn tệ, họ thấy rằng của cải của họ được bảo vệ, và tự do của họ được tôn trọng, họ không bỏ lỡ cơ hội nào để chứng tỏ cảm tình của mình đối với quân giải phóng – đó là tên họ đặt cho binh lính quốc gia. Quân lính này đã nhiều lần thắng các lực lượng phản quốc gia vì nhờ được thông tin. Chẳng hạn việc nhanh chóng chiếm lại được Khúc Giang là nhờ những thông tin do dân cung cấp. Dân không giấu giếm rằng họ rất mong muốn được thấy các viên tướng đã bóp nặn họ phải chuồn đi nhanh chóng.

Ngoại giao với nước ngoài

Báo chí nước ngoài và Trung Quốc bàn cãi rất lâu về vấn đề công nhận Chính phủ quốc dân Quảng Châu. Điều không chối cãi được là chính phủ Anh chỉ xét vấn đề công nhận một chính phủ địa phương. Luân Đôn sẽ công nhận Quảng Châu như sẽ thừa nhận thủ lĩnh quân sự khác trong một hay nhiều tỉnh. Dư luận của nhân dân Trung Quốc phản đối mạnh mẽ một quan niệm như vậy. Nhằm mục đích tỏ rõ cho dư luận quốc tế thấy rằng Chính phủ có một cương lĩnh xây dựng lại quốc gia, Chính phủ quốc dân rất quan tâm áp dụng những biện pháp nhằm đạt mục đích ấy.

X.

—————————–

Báo L’Annam, số 122, ngày 16-12-1926 (tiếng Pháp).
cpv.org.vn

Các sự biến ở Trung Quốc (24-12-1926)

Của đặc phái viên chúng tôi

Quáng Châu, ngày 24-12-1926

Chính sách ngoại giao của Anh ở Trung Quốc

Chính sách ngoại giao của Anh có thay đổi không?

Báo chí ở nước Anh và Trung Quốc gợi ý rằng nó đã hoặc sẽ thay đổi.

Chúng ta đã thấy một hoạt động ngoại giao của Anh được bảo đảm ở Trung Quốc, ngay sau khi người đại diện mới của Anh bên cạnh Chính phủ Bắc Kinh, ông M.Lamxơn đến Bắc Kinh.

Nhà ngoại giao này đến Hán Khẩu, ở đây ông được Ngoại trưởng của Chính phủ quốc dân tiếp, và hai bên hội đàm nhiều lần, những cuộc hội đàm này chúng ta biết được qua thông báo của hãng thông tấn Roitơ.

Thông báo không đưa ra một sự việc mới nào. Qua lối diễn đạt ngắn gọn và sự tuyên truyền của hãng thông tấn ấy cho biết những cuộc hội đàm không thể không có kết quả, bắt buộc chúng ta phải kết luận rằng người đại diện của Anh nhận được, từ miệng của uỷ viên Chính phủ quốc dân, người có thẩm quyền, lời tuyên bố khẳng định những nét lớn của cương lĩnh chính trị dân tộc chủ nghĩa.

Chính vào lúc tin tức về những cuộc nói chuyện ấy lan truyền ở Hán Khẩu, chúng tôi được biết, đại biện lâm thời của Anh ở Bắc Kinh đã trao cho các đại diện của những chính quyền ký kết Hòa ước Oasinhtơn một công hàm mà nội dung chưa được công bố.

Tuy nhiên, báo chí Anh ở chính quốc hình như được thông báo chính thức về nội dung của nó, rằng công hàm ấy đề nghị các chính quyền đã ký kết các hiệp ước cho phép thu ở Trung Quốc thuế phụ thu 2,5% của biểu thuế hải quan, mà phần do hải quan Trung Quốc thu sẽ trực tiếp trao cho chính quyền các tỉnh.

Báo chí dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc kịch liệt phê phán một đề nghị như vậy, vì nó chỉ là một phương tiện nguỵ trang để nước Trung Hoa dân quốc tham gia vào sự phòng giữ và duy trì những hiệp ước bất bình đẳng cần phải được xoá bỏ.

Những cơ quan dân tộc chủ nghĩa trên toàn Trung Quốc còn nhấn mạnh khi đặt ra thuế phụ thu 2,5% ấy ở Quảng Châu và các cảng do mình kiểm soát, Chính phủ quốc dân đã đề nghị giao cho Hải quan Trung Quốc thu; đề nghị ấy bị bác bỏ, các cường quốc cũng phản đối việc tǎng thuế, và sự phản đối ấy không thay đổi tí nào quyết định của chính quyền tỉnh.

Việc này sẽ được thực hiện ở tất cả những cảng khác dưới sự kiểm soát của Chính phủ quốc dân.

Việc bộ trưởng Lamxơn chấp nhận đề nghị sẽ có lợi cho những người chỉ huy quân sự chống chủ nghĩa dân tộc và Chính phủ Bắc Kinh.

Vì vậy dư luận nhân dân tố cáo kịch liệt mưu toan ngoại giao nhằm cung cấp cho kẻ thù của Chính phủ quốc dân những phương tiện để có tiền của chống lại Chính phủ ấy.

Hình như đại diện của Anh không đặt vấn đề công nhận Chính phủ quốc dân đối với toàn bộ Trung Quốc.

Cương quyết duy trì những lợi ích và đặc quyền do các hiệp ước bất bình đẳng đem lại và áp đặt cho Trung Quốc, Chính phủ Luân Đôn, liên kết với chính sách đế quốc chủ nghĩa được thực hiện ở Trung Quốc của những nước ngoài có những lợi ích và đặc quyền ấy, không thể chịu trách nhiệm về một cuộc vận động ngoại giao đòi công nhận không điều kiện Chính phủ quốc dân cho toàn Trung Quốc.

Bộ trưởng Lamxơn không chỉ hội đàm với những uỷ viên của Chính phủ quốc dân. Một thông tin, về sau bị cải chính, nói rằng ở Nam Kinh ông ta hội đàm với chỉ huy quân sự chống chủ nghĩa dân tộc là Tôn Truyền Phương, trong khi đó một bức điện từ Thiên Tân cho biết rằng khi Lamxơn qua Thiên Tân thì được một chỉ huy chống chủ nghĩa dân tộc là thống chế Trương Tác Lâm tiếp đón.

Tuy nhiên, những cuộc nói chuyện, mà Bộ trưởng Lamxơn tiến hành ở Hán Khẩu với Eugène Trần, cho phép ông ta có được mọi sự chính xác mong muốn về Cương lĩnh chính trị của Chính phủ quốc dân.

Báo chí Trung Hoa ở những trung tâm dân tộc chủ nghĩa lớn kể rằng trong nhiều cuộc hội họp của nhân dân đã thông qua những quyết định chống lại một đề nghị như vậy, có thể sẽ gửi đến cho Chính phủ quốc dân nhằm bảo đảm với Chính phủ sự ủng hộ của nhân dân trong cuộc đấu tranh mở rộng sự kiểm soát của những miền dân tộc chủ nghĩa ở toàn Trung Quốc và thực hiện cương lĩnh chính trị theo chủ nghĩa dân tộc.

Sự tǎng cường mới của hạm đội Anh ở Trung Quốc

Chúng tôi đã nói đến việc tǎng cường hạm đội Anh ở các biển của Trung Quốc bằng cách tǎng thêm đội tầu thứ 3 từ Mantơ đến và nhiều tuần dương hạm tách ra từ hạm đội Anh ở Địa Trung Hải.

Những bức điện gửi từ Anh trong tuần ấy báo tin đã gửi đến Trung Quốc một đội tàu khu trục từ l.200 đến 1.500 tấn, kèm theo một tuần dương hạm 7.000 tấn.

Những bức điện này cũng báo tin rằng 2 tuần dương hạm đã được tách ra khỏi hạm đội ấn Độ Dương để tǎng cường cho lực lượng hải quân ở Trung Quốc.

Dư luận Trung Quốc ngạc nhiên về sự gia tǎng nhanh lực lượng hải quân Anh ở các biển Trung Quốc.

Báo chí của phái dân tộc chủ nghĩa không che giấu sự bất bình lớn của mình, và đã có những lời bình luận không có lợi cho nước Anh.

Vấn đề chung là: ý đồ của Anh là gì khi tǎng cường lực lượng hải quân ở các biển của Trung Quốc?

Tình hình ở Dương Tử

Sự tiến bộ của những lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Triết Giang được khẳng định.

Một chiến dịch mùa đông hình thành rõ rệt.

Những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc đến Phố Khẩu và Nam Kinh đòi hỏi những hoạt động quân sự quy mô lớn về phía những lực lượng dân tộc chủ nghĩa.

Người ta cũng kể lại rằng những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc ở Kashing, cách Thượng Hải vài chục km, đã rút lui và đặt phòng tuyến về phía sau.

Sự vận động này hình như khẳng định rằng những sĩ quan của viên tướng chống chủ nghĩa dân tộc Tôn Truyền Phương tìm kiếm được một sự thoả hiệp với các chỉ huy dân tộc chủ nghĩa.

Chắc chắn thái độ của họ là do tác động của thái độ nhân dân tỉnh Triết Giang, trong nhiều cuộc hội nghị chính trị công khai phản đối những đội quân ǎn cướp của Trương Tác Lâm và người cộng sự của y, Trương Tôn Xương khi chúng kéo xuống lưu vực sông Dương Tử.

Từ vùng thượng lưu Dương Tử, chúng ta nhận được tin tức về các lực lượng dân tộc chủ nghĩa đã chiếm được Tương và giải giáp những trung đoàn đáng nghi ngờ.

Người ta chờ đợi những sự phát triển quân sự ở phía tây tỉnh Hồ Bắc, chủ yếu là ở vùng biên giới Hồ Bắc – Hồ Nam.

Việc quân Quốc dân đảng, dưới sự chỉ huy của tướng Phùng Ngọc Tường, tiến đến biên giới phía tây của Hồ Nam, được thuật lại, trong khi không một tin tức nào khác được công bố về những hoạt động quân sự của những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc do thống chế Ngô Bội Phu chỉ huy.

Những hoạt động quân sự chống tỉnh An Huy được thông báo, những đạo quân tham gia ở đây được đặt dưới sự chỉ huy của những viên tướng nổi lên trong chiến dịch đánh những tên chỉ huy

chống những người dân tộc chủ nghĩa đang kiểm soát tỉnh này.

Tình hình ở Bắc Kinh và Thiên Tân

Những điều kiện được thuật lại trong bài báo trước của chúng tôi về tình hình ở Bắc Kinh không thay đổi.

Tình hình tài chính luôn luôn là bấp bênh và cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh tồn tại một cách khó khǎn với những sự vay mượn nhỏ ở các chủ ngân hàng Trung Hoa ở địa phương.

Ở Thiên Tân, quân luật vẫn có hiệu lực.

Nhà cầm quyền chống chủ nghĩa dân tộc ở Phong Hàng tiếp tục thông qua những biện pháp mà họ cho là có khả nǎng ngǎn chặn mọi phong trào dân tộc chủ nghĩa và tiếp tục vận động để có sự cộng tác của nhà cầm quyền ở những tô giới nước ngoài đối với công việc mà họ đang thực hiện.

Quảng Đông

Tình hình chung đáng yên tâm.

Việc đàn áp nạn cướp phỉ vẫn tiếp tục.

ở biên giới Trung Hoa – Đông Dương, bọn cướp bị tiêu diệt.

Những bǎng tham gia ám sát công sứ Pháp ở Long Châu đã bị bắt, bọn chúng thú nhận đã tham gia giết viên công sứ ấy và lập tức bị hành hình.

Chính phủ gửi quân để quét sạch vùng Vịnh Blát, nơi ẩn náu của bọn cướp biển đã tấn công nhiều tàu trên đường Hồng Kông – Thượng Hải, cũng như các cảng khác nằm ở bờ biển giữa hai thành phố.

Chính phủ Hồng Kông được thông báo về chiến dịch ấy và được yêu cầu bắt những tên cướp trốn ở lãnh thổ Trung Quốc bị Anh thôn tính. Cần nói rằng trong những tên cướp này có những thủ lĩnh nguyên là sĩ quan của viên tướng chống chủ nghĩa dân tộc Trần Quýnh Minh mà tổng hành dinh được đặt ngay tại Hồng Kông.

X.

——————————

Báo L’Annam, ngày 31-l-1927, (Bản tiếng Pháp).
cpv.org.vn

 

 

 

Các sự biến ở Trung Quốc (14-2-1927)

Quảng Châu, ngày 14-2-1927

Thái độ của các cường quốc nước ngoài

Những đơn vị đầu tiên của đạo quân viễn chinh mà Anh gửi sang Trung Quốc, gọi là để bảo vệ tính mạng và tài sản của kiều dân, đến Hồng Kông vào tuần vừa qua. Lúc bấy giờ người ta có nói đến việc chúng đổ bộ và lưu lại ở cảng này. Người ta cũng nói rằng chính quyền Hồng Kông có những biện pháp cần thiết để sắp xếp nơi trú quân cho đến khi chúng được gọi về. Một số thông tin nhận được từ Luân Đôn nói đến những yêu cầu gửi Chính phủ Luân Đôn đòi phải từ bỏ cuộc viễn chinh chống Trung Quốc, khiến cho những đạo quân Anh phải dừng lại ở Hồng Kông. Nhưng đó chỉ là những tiếng xì xào sai, vì những đơn vị đầu tiên của Anh, từ ấn Độ đến sau khi dừng lại 24 giờ ở cảng Hồng Kông, được đưa đến Thượng Hải, nơi tập trung lực lượng của đạo quân viễn chinh Anh.

Những nguồn thông tin khác của Anh thuật lại sự xuất phát từ Anh của những đơn vị khác của đạo quân viễn chinh ấy, cũng như việc gửi những đơn vị hải quân mới đến các biển của Trung Hoa. Một bức điện từ Hán Khẩu cho biết những cuộc nói chuyện giữa ngoại trưởng của Chính phủ quốc dân và phái viên Anh được nối lại. Những cuộc nói chuyện này bị gián đoạn do chính sách có tính chất hǎm doạ rõ rệt của Anh, nó chỉ có thể được nối lại với sự cam đoan dứt khoát của phái viên Anh đối với Ngoại trưởng Chính phủ

quốc dân về những ý đồ của Anh. Chính sách ngoại giao hiện nay của Anh ở Trung Quốc, với tất cả những sự khất hoãn, hình như chịu ảnh hưởng của hai trào lưu tuy có biểu hiện trái ngược nhau nhưng vẫn nhằm cùng một mục đích. Có thể Chính phủ Luân Đôn hoàn toàn được thuyết phục rằng việc trả lại những tô giới của nước ngoài cho Trung Hoa là một việc không thể tránh được và những biến cố ở Hán Khẩu vào đầu tháng 1 chỉ thúc đẩy thời hạn trả lại. Công khai chấp nhận sự ngẫu nhiên ấy là một sự mất mặt, làm ảnh hưởng đến uy tín của Anh. Khéo léo tìm kiếm những mánh khoé có thể che đậy được thực tế này, giới ngoại giao Anh khǎng khǎng đẩy mạnh việc gửi quân viễn chinh đến Trung Quốc, nhằm chứng tỏ rằng nước Anh sẽ bảo vệ tính mạng và tài sản của kiều dân ở Trung Hoa. Và nếu sau này giới ngoại giao Anh tán đồng những quan điểm của những người dân tộc chủ nghĩa, thì những nhân viên của nó sẽ có thể giải thích rằng họ chỉ tuân theo tình cảm hữu nghị và đoàn kết với Trung Quốc, tình cảm luôn luôn hướng dẫn chính sách của Anh. Các biến cố sẽ nói rõ rằng sự giải thích thái độ hiện tại của Anh trong việc nối lại các cuộc nói chuyện với Chính phủ quốc dân và đẩy mạnh việc gửi những đơn vị quân viễn chinh sang Anh, là đúng đắn.

Một số giới Trung Hoa thấy trong thái độ hiện nay của Anh thủ đoạn để thuyết phục những cường quốc khác ký hiệp ước liên kết với mình để trở lại chính sách thống nhất, chính sách rất có lợi cho quyền lợi của nước ngoài trong quá khứ. Cũng những giới này đã vui lòng nhận rằng dư luận ở Anh không nhất trí ủng hộ chính sách của chính phủ Luân Đôn, và những người theo Công đảng Anh liên kết với một số phần tử tự do, đòi Chính phủ từ bỏ những phương pháp hǎm doạ và tìm một giải pháp bằng thương lượng.

Dư luận nhân dân Trung Hoa nhất trí trong việc phản đối chính sách hǎm doạ của Anh. Báo chí do các viên chỉ huy quân sự ở miền Bắc kiểm soát và những cơ quan ở các trung tâm lớn của miền Bắc cũng tố cáo một chính sách như vậy. Thái độ này là một sự cải chính dứt khoát với điều quyết đoán của báo chí Anh ở Trung Hoa cho rằng một số giới Trung Quốc không những muốn mà còn mong đợi sự can thiệp của nước ngoài ở Trung Quốc.

Báo chí chính thức và không chính thức của Anh không ngừng nêu lên những lý do khéo léo nhất để che đậy mục đích thực sự của chính sách hǎm doạ của Anh. Khi thì họ khẳng định rằng nếu những phần tử Quốc dân đảng ôn hoà khống chế trong những hội đồng của đảng này, thì một sự thoả thuận với Anh sẽ nhanh chóng được thực hiện, khi họ tố cáo những sự xúi giục của nước Nga Xôviết là trở ngại duy nhất cho một sự thoả thuận như vậy.

Ở Trung Quốc, cũng như ở châu Âu, chính sách đối ngoại của Anh hình như bị chi phối bởi nỗi lo sợ thấy chủ nghĩa bônsêvích lan rộng trên lãnh thổ của mình, hay ở những nước tự trị và thuộc địa, trong những thần dân của Anh. Các nhà chính khách Anh không ngần ngại tuyên bố rằng đường lối xôviết ở Trung Quốc chỉ có mục đích làm áp lực đối với chính sách của Anh ở châu Âu, nhằm làm cho chính sách của Anh mềm đi và bớt cứng rắn theo quan điểm xôviết.

Tình hình ở Hán Khẩu

6 tuần đã qua từ khi Chính phủ quốc dân quản lý nhượng địa của Anh là Hán Khẩu. Không có một sự thay đổi nào trong nền hành chính hiện hành. Bốn phái viên của Chính phủ bảo đảm giải quyết những công việc hành chính và duy trì trật tự công cộng. Trong 6 tuần lễ ấy, không một sự kiện nào xảy ra làm cho người ta nghi ngờ việc chính quyền dân tộc đã trung thành với tất cả những lời hứa của mình. Tất cả các tin tức, kể cả những tin tức chống chủ nghĩa dân tộc, đều nhất trí thừa nhận rằng tình hình hiện tại ở Hán Khẩu là yên tĩnh. Nếu trong những cộng đồng người nước ngoài còn có một sự gò bó và e sợ về sự bất ổn của tương lai, thì điều đó là do chiến dịch báo chí Anh cho rằng một nguy cơ lớn đe doạ tính mạng và tài sản của người nước ngoài ở Anh, mặc cho những sự kiện xảy ra hằng ngày.

Hãy điểm qua tuyên bố của ông Eugène Trần, Ngoại trưởng, với báo chí Trung Hoa và nước ngoài, ông ta nhấn mạnh sự già cỗi của những chính sách của Chính phủ Anh bị sa lầy vào một con đường cũ (con đường Bắc Kinh) và luôn đề nghị với cái gọi là chính phủ tồn tại ở thành phố ấy giải quyết những vấn đề do những người dân tộc chủ nghĩa nêu lên. Ông Eugène Trần tuyên bố rằng chính Anh phải quyết định rằng quyền lợi kinh tế của Anh ở Trung Quốc sẽ phát triển tốt hơn với sự bảo hộ của Chính phủ quốc dân có cương lĩnh chính trị và quyền lực cần thiết để bảo đảm những cam kết trong một nước Trung Hoa cải tổ và tái thiết bởi những người dân tộc chủ nghĩa, hơn cái gọi là chính phủ ở miền Bắc Trung Hoa.

Ở miền Bắc Trung Hoa

Tin tức từ Bắc Kinh trong tuần qua nêu rằng thống chế Trương Tác Lâm tự xưng là tổng tư lệnh của những “An quốc quân”, tức là lực lượng tái lập hoà bình ở Trung Quốc, ông ta chuẩn bị tái lập đế chế. Không có gì đáng ngạc nhiên về một thông báo như vậy, việc tái lập ấy sẽ có những hậu quả quá quan trọng khiến thủ lĩnh quân phiệt Trương phải tuyên bố ngay.

Chính phủ của ông ta không đạt kết quả gì. Việc cải tổ nội các chỉ là một sự thay đổi người, những bộ trưởng Trung Hoa mới được chọn, cũng như những người cũ, phải thực hiện những ý muốn của ông chủ. Tình hình tài chính không hề thay đổi, và cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh tiếp tục sống bằng những xoay xở.

Những mâu thuẫn xẩy ra ngay trong việc quản lý tài chính của Bắc Kinh. Ngài Phrǎngxit Aglen, tổng thanh tra thuế quan Trung Hoa, từ chối gửi cho viên chức nước ngoài làm việc ở cơ quan này những chỉ thị về việc thu thuế phụ thu 2,5%, bị chính phủ ở Bắc Kinh cách chức, việc này gây nên những sự phản đối của đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh. Một bức điện mà Bắc Kinh nhận được ngày 12-1, cho biết rằng người bị cách chức không chịu bàn giao công việc. Chắc chắn là thanh tra Aglen, nhân một dịp phát hành trái phiếu kho bạc Trung Hoa, đã đứng tên những trái phiếu bán ra, nên không muốn làm lâu công việc của mình, vì vậy mà thủ lĩnh quân phiệt kiểm soát chính phủ Bắc Kinh bất bình, và viên thanh tra ương ngạnh bị cách chức.

Hoạt động quân sự ở Dương Tử

Trừ những tin tức xuất hiện trong báo chí Trung Quốc và nước ngoài ở miền Bắc về hoạt động của những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc, không một sự kiện nào đánh dấu hoạt động của những lực lượng ấy. Về phía lực lượng dân tộc cũng không có một tin tức nào nói tới. Có việc tập trung lực lượng quân sự ở cả hai phía.

Những thông tin khác làm nổi bật sự đi lên của đảng Phụng Thiên cũng như sự đi xuống của đảng Tchéty (?) và thủ lĩnh của nó, thống chế Ngô Bội Phu. Người cộng tác chính của thống chế Trương Tác Lâm vẫn là tướng Trương Tôn Xương, thủ hiến tỉnh Sơn Đông, tìm cách chiếm tỉnh Giang Tô và lúc này tự bằng lòng với điều đó. Việc chiếm đóng này gây nên sự bất bình lớn trong nhân dân tỉnh này.

Sự thiếu phối hợp giữa quân của Trương Tôn Xương và quân của tướng Tôn Truyền Phương, cộng tác viên của thống chế Trương Tác Lâm, ngày càng rõ, và báo chí quân phiệt ở miền Bắc thông báo rằng chỉ có quân của Phụng Thiên là sẽ tiến hành chiến dịch chống những lực lượng dân tộc chủ nghĩa.

Việc bảo vệ người nước ngoài

Báo chí nước ngoài đǎng những chỉ thị của Chính phủ quốc dân gửi nhà cầm quyền các tỉnh và các chỉ huy quân sự phải bảo vệ tính mạng và của cải của người nước ngoài sống ở các tỉnh của Trung Quốc, điều đó chứng tỏ rằng những lãnh tụ của Chính phủ này biết trách nhiệm và nhiệm vụ của mình.

X.

—————————-

Báo L’Annam số ra ngày 14-3-1927.
(Bản tiếng Pháp).
cpv.org.vn

Trả lời cho bọn De Gaulle (1)

Gần đây, Pháp quốc giải phóng ủy hội ở Alger, tuyên bố rằng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp sẽ sẵn lòng ban cho dân Việt Nam vài sự cải thiện.

Thưa Ngài, Tổ quốc của Ngài là đại Pháp, đã đầu hàng Hitler một cách rất vẻ vang, hơn 500 tướng và hai triệu lính của quý quốc đương bị Đức cầm tù một cách rất oanh liệt, ba phần tư non sông quý quốc đương bị người chiếm lĩnh. Bốn mươi triệu đồng bào của Ngài đương trong kiếp ngựa, trâu, nhân dân quý quốc hiện nay bánh không có ǎn, áo không đủ mặc, phải quyên áo cũ của nhân dân Việt Nam, một triệu thanh niên nam nữ nước Ngài phải qua làm cu ly bên Đức. Xin Ngài lo cứu nước và dân tộc của Ngài đã, rồi sẽ nói đến việc khác; còn Việt Nam chúng tôi, 40 nǎm nay nhờ “công đức” quý quốc đã nhiều rồi. Lần này, chúng tôi quyết dùng súng, đạn, gươm, dao để đạp đổ ơn huệ ấy và giành lại độc lập tự do cho Việt Nam. Chúng tôi xin Ngài chớ lo! Và chúc Ngài hai chữ Thất Bại!.

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

—————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Cách tổ chức các Uỷ ban nhân dân

Uỷ ban nhân dân (làng, huyện, tỉnh, thành phố) là hình thức Chính phủ trong các địa phương, sau khi khởi nghĩa thắng lợi. Toàn thể nhân dân Việt Nam (trừ bọn Việt gian bị tước công quyền) từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, Việt Minh hay ngoài Việt Minh, ai cũng có quyền ứng cử hay bầu cử người vào các Uỷ ban này. Uỷ ban có từ 5 đến 7 người phải cử ra:

1) Một Chủ tịch, đứng đầu Uỷ ban, có nhiệm vụ đốc suất, củ soát các Uỷ viên khác, liên lạc với các cấp bộ trên và các tổ chức trong địa phương, chiêu tập và điều khiển các cuộc họp.

2) Một Phó Chủ tịch, giúp đỡ và thay Chủ tịch khi anh này bận hay đi vắng.

3) Một Thư ký giữ sổ sách, làm biên bản trong các cuộc hội họp.

4) Một Uỷ viên phụ trách chính trị có nhiệm vụ thành lập toà án dân chúng trừng trị những kẻ phạm tội, trái luật, do thám, tiễu trừ Việt gian. Tuyên truyền hay huấn luyện chính trị cho nhân dân, làm cho họ đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ.

5) Một Uỷ viên phụ trách kinh tế tài chính, có nhiệm vụ:

a- Giữ và dùng quỹ địa phương, quyên tiền, thu thuế lợi tức luỹ tiến, v.v.;

b- Khuyếch trương nền kinh tế địa phương; nâng cao trình độ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp;

c- Cải tiến đời sống cho nhân dân.

6) Một Uỷ viên phụ trách quân sự, có nhiệm vụ:

a- Đốc suất tự vệ giữ vững an toàn cho nhân dân;

b- Võ trang và huấn luyện quân sự cho nhân dân; động viên họ lên trường tranh đấu du kích chống xâm lược.

7) Một Uỷ viên phụ trách xã hội, có nhiệm vụ:

a- Tổ chức và giám đốc các cơ quan y tế, vệ sinh, cứu tế, bài trừ hủ tục, v.v..

b- Tổ chức và điều khiển những cuộc giải trí công cộng, du lịch, ca kịch, chiếu bóng, hội hè, kỷ niệm.

c- Tổ chức và trông coi công cuộc giáo dục nhân dân: mở trường học, chống nạn mù chữ, mở thư viện, v.v..

Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký có thể kiêm phụ trách hoặc kinh tế, tài chính, hoặc tuyên truyền huấn luyện, hoặc quân sự, hoặc xã hội.

Họp Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thư ký thành Ban thường vụ để chỉ huy công tác hằng ngày.

Những uỷ viên phụ trách, nếu cần, có thể lấy một số người ngoài Uỷ ban lập ra các Tiểu ban tuyên truyền huấn luyện, Tiểu ban tư pháp, Tiểu ban quân sự, v.v.. Trong các tiểu ban đó Uỷ viên phụ trách sẽ làm Trưởng ban. Uỷ ban nào cũng có quyền giải quyết những vấn đề thuộc về địa phương mình, nhưng phải báo cáo lên cấp trên. Trong một thời hạn (Chính phủ sẽ định), Uỷ ban nhân dân phải chiêu tập đại hội địa phương để báo cáo công việc đã làm, trình bày và đưa ra thảo luận các công việc sẽ phải làm, bầu Uỷ ban mới.Ban thường vụ phải khai hội ít nhất mỗi tuần một lần, toàn thể Uỷ ban nửa tháng một lần để bàn bạc công tác. Trước ngày khai hội của Uỷ ban, ai có điều gì đề nghị, chất vấn hay phê bình cứ gửi cho Chủ tịch.

Xem như trên, Uỷ ban nhân dân tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, một chế độ dân chủ mới, khác hẳn các cơ quan do bọn thống trị cũ đặt ra.

Chiến thắng

Báo Cứu quốc, số 40, ngày 11-9-1945.
cpv.org.vn

Chính phủ là công bộc của dân

Non hai tháng trước đây, trước đây, trước cuộc khởi nghĩa 19-8-1945, nói tới hai chữ Chính phủ người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Trái lại, ai ai đối với Chính phủ nhân dân hiện nay cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn với một tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào. Người xưa nói: quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh. Các Uỷ ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có nǎng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt các Uỷ ban đó. Uỷ ban nhân dân làng trái với các hội đồng kỳ mục cũ thối nát, sẽ làm những việc có lợi cho dân, không phạm vào công lý, vào tự do của dân chúng. Nó hết sức tránh cuộc bắt bớ đánh đập độc đoán, những cuộc tịch thu tài sản không đúng lý. Uỷ ban nhân dân thận trọng hết sức trong chỗ chi dùng công quỹ, không dám tuỳ ý tiêu tiền vào những việc xa phí như ǎn uống. Những nhân viên Uỷ ban sẽ không lợi dụng danh nghĩa Uỷ ban để gây bè tìm cánh, đưa người “trong nhà trong họ” vào làm việc với mình.

Nói tóm lại, bao nhiêu những cái xấu xa, thối nát, bất công, áp bức của chế độ cũ, của các hội đồng kỳ mục trước sẽ không thể tồn tại trong các Uỷ ban nhân dân bây giờ.

Uỷ ban nhân dân là Uỷ ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ đó.

Chiến thắng

Báo Cứu quốc, số 46, ngày 19-9-1945
cpv.org.vn

Muốn thành cán bộ tốt, phải có tinh thần tự chỉ trích

Có nhiều đồng chí hoặc tự cho mình có trình độ nhận thức cao, có kinh nghiệm đầy đủ về công tác – hoặc vì không có tinh thần tiến thủ, chỉ biết tới đâu hay đó, nên không chịu học tập, không biết tự chỉ trích để sửa đổi những lầm lỗi và bồi bổ những thiếu sót. Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước. Muốn được thích hợp với tình thế, muốn cùng tiến hay vượt các bạn khác ta cần phải nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi. Sau khi làm xong một công tác gì, hay sau mỗi ngày làm việc, cần phải tự mình kiểm điểm xem có chỗ nào nhầm lẫn, chỗ nào chưa đầy đủ, có được ưu điểm gì nên nhớ, được kinh nghiệm gì quý đáng ghi. Phải bỏ hẳn thái độ “xong việc thì thôi”. Không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được.

Chiến thắng

Báo Cứu quốc, số 51, ngày 26-9-1945
cpv.org.vn

Thiếu óc tổ chức – một khuyết điểm lớn trong các Uỷ ban nhân dân

Chính quyền nhân dân thành lập đã được hơn một tháng. Nhưng nhiều nơi cách làm việc vẫn chưa đâu vào đâu cả. Ta có thể nói: một khuyết điểm lớn, chung cho phần đông các Uỷ ban nhân dân là bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức. Về cán bộ hành chính, ta phải thú nhận là thiếu rất nhiều. Người đi tuyên truyền, người chiến đấu thì có. Người ngồi bàn giấy làm việc cai trị rất hiếm. Vào trụ sở một Uỷ ban nhân dân, người ta nhận ngay thấy sự lộn xộn trong việc xếp đặt bàn giấy: đố ai biết chỗ ông chủ tịch, ông thư ký, ông tài chính ngồi đâu. Nhiều ông chủ tịch Uỷ ban thường không nhận định những công việc chính của mình phải đem hết tâm lực vào đó, mà thường chỉ dùng thì giờ để xử những vụ kiện vớ vẩn, tiếp những ông khách vu vơ, hay cặm cụi viết thư, viết bá cáo – việc có thể giao cho người khác làm được. Trong một Uỷ ban, nhiều khi có người rất rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có chuyện, có người lại bù đầu rối óc vì một mình phải kiêm đến mấy việc: nào ngoại giao, nào tư pháp, nào tài chính. Chia công việc không khéo thành ra bao biện: nhiều việc quá thì sao làm được đến nơi đến chốn, vì thì giờ và sức lực người ta chỉ có chừng. Có kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, phân công không sáng suốt thì việc cũng đến hỏng. Người nói giỏi lại cho vào việc chỉ cần khéo chân tay, người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định không thể nào thành công được. Việc dùng nhân tài, ta không nên cǎn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có nǎng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy.

Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ. Một điều thiếu sót nữa là trong khi làm công tác, kế hoạch đã sơ sài, phân công đã không sáng suốt, rồi sau khi làm lại không chịu kiểm điểm lại. Ta thường có tính tới đâu hay đó, xong việc thì thôi không biết ưu điểm hay khuyết điểm của mình, làm như thế mong tiến sao được. Cán bộ chǎm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa.

Chiến thắng

Báo Cứu quốc, số 58, ngày 4-10-1945.
cpv.org.vn

Tinh thần tự động trong Uỷ ban nhân dân

Tự động là không phải tựa vào ai, là tự mình biết biến báo xoay xở, tự mình biết thực hành công tác theo nhiều hình thức mới mẻ, phong phú.

Nhiều Uỷ ban nhân dân, một khi nhận được mệnh lệnh gì của cấp trên là chỉ biết cắm đầu cắm cổ thi hành đúng như vậy, thi hành một cách máy móc. Họ không biết tuỳ hoàn cảnh địa phương, tuỳ tình thế từng lúc mà châm chước đi, không biết biến báo, làm khác đi ít nhiều cho được thích hợp. Ví dụ, nhận được chỉ thị phải tổ chức “Tuần lễ vàng”, Uỷ ban nhân dân xã nọ đã biết chắc làng mình không ai có được một đồng cân vàng hay chỉ có rất ít, mà lại chủ trương chỉ lạc quyên độc một thứ vàng thôi, thì bảo đào ở đâu ra? Sao không biết quyên thóc, sắt, đồng, nếu làng ấy có nhiều các thứ ấy. Khi có công tác thì đem thi hành một cách máy móc. Khi làm xong việc lại chỉ ngồi không, không chịu bới việc ra mà làm nữa, cứ ỳ ra như xe bò lên dốc, không có người đẩy là y như đứng lại. Nhiều uỷ viên trong các Uỷ ban, đã được phân công rõ ràng, đã nhận phụ trách một việc nhất định, không biết xoay xoả nghĩ cách thực hành công tác mình cho có hiệu quả, lại nhất nhất điều gì cũng chỉ đòi hỏi chủ tịch hay thượng cấp, không biết tự quyết, tự định cái gì, như vậy làm sao công tác phát triển được. Có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm chứ. Nhưng tự động không phải là tự tiện. Nhiều bạn lại hiểu nghĩa tự động sai lạc hẳn đi, không coi kỷ luật chính trị vào đâu, muốn làm gì là cứ tự ý làm bừa đi, chẳng bàn hỏi thảo luận với ai, không theo pháp luật Chính phủ ban hành, không dựa vào ý nguyện dân chúng. Những ca bắt bớ, tịch thu tài sản bừa bãi thường xảy ra ở nhà quê. Hành động như vậy, các Uỷ ban đó vô tình gây nên nhiều chuyện có hại đến uy tín của Chính phủ, làm cho dân chúng oán thán kêu ca. Nói tóm lại, các nhân viên trong các Uỷ ban nhân dân phải rèn cho có một tinh thần tự động mạnh mẽ, nhưng phải bỏ tính cái gì cũng tự tiện…

Chiến thắng

Báo Cứu quốc, số 59, ngày 5-10-1945
cpv.org.vn

Khoan hồng mà không nhu nhược

Trước kia, do những lời vu cáo hèn nhát của bọn thực dân Pháp và bọn Việt gian, người ngoại quốc vẫn ngờ vực Việt Minh là cộng sản, và hồi chính quyền vừa thành lập lại có dư luận cho rằng Chính phủ là Chính phủ riêng của Việt Minh, nên không nhận sự hợp tác của ai. Chính sách rộng rãi, mềm dẻo của Chính phủ Hồ Chí Minh đã cải chính hùng hồn những dư luận sai lầm đó, đã vạch rõ cho thế giới biết Chính phủ này là hoàn toàn nhân dân chứ không phải thuộc riêng gì một đảng phái nay một đoàn thể nào. Chính phủ đã tỏ ra một thái độ rất khoan hồng, chính đại, chỉ coi bọn thực dân Pháp là kẻ thù chính cần tiêu diệt, còn đối với dân chúng Pháp chịu thừa nhận quyền độc lập Việt Nam thì nó vẫn thân thiện và sẵn sàng bảo vệ cho sinh mạng và tài sản. Đối với quan lại cũ, trừ những bọn đại gian, đại ác, Chính phủ Cộng hoà ta cũng tỏ một độ lượng không để tâm moi ra những tội cũ đem làm án mới làm gì. Thái độ đó của Chính phủ tỏ rõ một ý muốn duy nhất làm sao đem lại cho dân chúng được tự do độc lập hoàn toàn và để cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do độc lập ấy như muôn vật được hưởng ánh sáng mặt trời. Tiếc rằng, trái với chính sách khoan hồng của Chính phủ, tại thôn quê thường xảy ra những cuộc bắt bớ lung tung, những cuộc tịch thu bừa bãi không phải vì quyền lợi dân chúng mà chỉ vì thù riêng, vì tư lợi. Những hành vi trái phép của một số Uỷ ban nhân dân đó có thể đem lại tiếng không hay lây cho Chính phủ. Các Uỷ ban nhân dân không được bắt người vô tang chứng, không được tịch thu của cải trái phép. Nhưng nói như vậy không phải là các Uỷ ban nhất thiết không bắt bớ ai, tuyệt đối không tịch thu tài sản của ai. Những bọn thực dân tàn bạo và bọn tay sai của chúng mưu mô xâm phạm chủ quyền Việt Nam, phá hoại nền độc lập của ta, các Uỷ ban cần thẳng tay phanh thây chẻ xác chúng ra để làm gương cho kẻ khác. Phải khoan hồng nhưng không nhu nhược, như vậy mới thực là biết phụng sự quyền lợi quốc gia.

Chiến thắng

Báo Cứu quốc, số 61, ngày 8-10-1945.
cpv.org.vn

Sao cho được lòng dân?

Ta nhận thấy xung quanh các Uỷ ban nhân dân, một vài nơi tiếng phàn nàn oán thán nhiều hơn tiếng người khen. Dân chúng tín nhiệm ở Chính phủ trung ương nhiều hơn các Uỷ ban địa phương.Những Uỷ ban đó không những không được dân yêu, còn bị dân khinh, dân ghét là khác nữa.

Thứ nhất dân ghét các ông chủ tịch, các ông uỷ viên vì cái tật ngông nghênh cậy thế cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng, có được mấy khẩu súng lục trong túi lúc nào cũng lǎm le muốn bắn, đeo chiếc kiếm bên mình lúc nào cũng chỉ chực muốn chặt người ta. Người ta còn bĩu môi nói đến bà “phủ trưởng” nọ bận quần áo chẽn, tóc cắt ngắn cưỡi ngựa đi rong khắp chỗ mà chẳng có việc gì, người ta còn thì thào chỉ chỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều. Từ chỗ ngông nghênh xa phí đó rất dễ đi đến chỗ ỷ thế cậy quyền, làm nhiều điều quá tệ. Thậm chí có ông tư pháp khi xử kiện bắt tội nhân quỳ trước thềm đánh đập, chửi mắng tội nhân, hách dịch đúng như những “ông quan”, “ông thanh tra” dưới thời Pháp thuộc, Nhật thuộc! Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chǎm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý. Ngoài ra, đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và làm được.

Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư.

Chiến thắng

Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12-10-1945.
cpv.org.vn

Bỏ cách làm tiền ấy đi!

Một ông chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã nọ, sang dự cuộc hội họp tại một thôn bên cạnh, nhân nói chuyện về những việc cải cách trong làng mình lại khoe rằng thôn ông trong tháng vừa qua đã bán thứ vị như chánh phó lý, khán thủ, v.v. và đã thu được một món tiền khá lớn! Thật là trái ngược! Nói một hội đồng kỳ mục cũ làm tiền cho dân bằng cách bán thứ vị, còn nghe được. Một Uỷ ban nhân dân tổ chức theo một tinh thần dân chủ mới, rất cấp tiến lại đi làm tiền theo một phương pháp cũ rích cả có ý nghĩa gì, có ảnh hưởng xấu vô cùng là khác.

Các ông nói: miễn sao có tiền cho dân là được?

Không được! Tiền là mạch máu cho mọi công việc, tiền là cần thật nhưng không phải vì cần tiền mà cứ đi đè đầu bóp cổ hay dùng những thủ đoạn không chính đáng để vơ vét lấy tiền. Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ tức là gây cho dân chúng có óc hiếu danh, trong khi cần phải trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết thực, góp sức vào công cuộc giữ gìn và xây dựng đất nước. Trong lúc xung quanh mình, người ta mở ngày Vàng, ngày Vǎn hoá, diễn kịch để lấy tiền giúp quỹ này, quỹ khác, Uỷ ban nọ còn quay lại lối làm tiền cũ rích, bán ngôi thứ, thật đã tỏ rõ một khối óc đặc sệt. Những cuộc “làm tiền” phải đem theo nó một ý nghĩa tuyên truyền nữa mới được. Sao cho người ta nhận thấy rằng đồng tiền của người ta bỏ ra là một viên gạch để góp vào việc xây đắp nền móng quốc gia.

Bán ngôi thứ làm cho óc người ta đen tối thêm! Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa. Lòng sốt sắng làm tiền cho dân của ông chủ tịch nọ đáng hoan nghênh thật, nhưng cách làm tiền của ông có hại cho sự tiến hoá của dân, cần phải bỏ ngay đi, cũng như cần phải phủi đi hết những hủ tục khác: làm rượu ǎn mừng được bầu vào Uỷ ban, dùng chữ nho trong những tờ thông đạt, v.v..

Chiến thắng

Báo Cứu quốc, số 69, ngày 17-10-1945.
cpv.org.vn