Thư viện

Nguyễn Ái Quốc và con đường đi đến thắng lợi của Đảng

Nguyễn Ái Quốc, ra nước ngoài chỉ với hai bàn tay trắng cùng tinh thần yêu nước, thương dân và với một trí tuệ thiên tài, một nghị lực phi thường, một ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam chìm đắm trong “đêm trường nô lệ”, nhân dân Việt Nam sống rên xiết dưới gót giày của quân xâm lược. Một số phong trào yêu nước của các sĩ phu phong kiến thức thời và trí thức Tây học diễn ra mạnh mẽ nhưng đều thất bại. Sự thất bại này là do thiếu đường lối cứu nước khoa học và cách mạng nên không phát huy được nội lực, ý chí độc lập, khát vọng tự do của dân tộc.

Trong bối cảnh lịch sử ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết định đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn cho nhân dân Việt Nam.

Khi học ở Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành tiếp cận lịch sử, văn hóa, văn minh phương Tây, quan tâm tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản diễn ra ở Hà Lan, Anh, Mỹ và nhất là cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789. “Tự do – bình đẳng – bác ái” là những ngôn từ đẹp đẽ và cũng là khát vọng đặc biệt hấp dẫn đối với Người. Đó là quyền sống chân chính của mỗi dân tộc, mỗi con người nhưng sao các nước văn minh phương Tây lại xâm chiếm và nô dịch phương Đông qua chiêu bài khai hóa văn minh? Với nhãn quan chính trị sắc bén vượt thời đại, Nguyễn Tất Thành quyết định ra nước ngoài – sang phương Tây, nước Pháp – nơi mở đầu cuộc cách mạng tư sản điển hình, lại là nước đang cai trị Việt Nam để tìm hiểu.

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba, nhận làm phụ bếp trên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin của hãng Năm Sao rời cảng Nhà Rồng đi Mác-xây (Pháp). Hơn mười năm sau, chính Nguyễn Tất Thành với tên mới là Nguyễn Ái Quốc đã trả lời nhà báo, nhà thơ Nga Ô-xip Man-den-stam rằng: Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ “Tự do – bình đẳng – bác ái”. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi.

Chuyến đi lịch sử của Nguyễn Ái Quốc sang phương Tây khác xa với các vị tiền bối. Cụ Phan Bội Châu ra nước ngoài với 3.000 đồng do Duy Tân hội quyên góp. Cụ Phan Châu Trinh đến Pháp bằng chiếc vé mời của Hội Nhân quyền Pháp. Với Nguyễn Ái Quốc, ra nước ngoài chỉ với hai bàn tay trắng cùng tinh thần yêu nước, thương dân và với một trí tuệ thiên tài, một nghị lực phi thường, một ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân.

Bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu những cuộc cách mạng thế giới đã giành thắng lợi như cách mạng tư sản Mỹ năm 1776, cách mạng nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này nhưng thấy không thể đi theo cách làm của họ. Bởi vì, theo Người: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(1).

Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong trào công nhân Pháp. Tháng 11 năm đó, diễn ra một sự kiện rung chuyển thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người: Cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi, đưa học thuyết cách mạng của C.Mác từ sách vở trở thành hiện thực đầu tiên, đưa cách mạng thế giới bước sang thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Ba năm sau, tại Thủ đô Pa-ri diễn ra cuộc gặp lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc và Chủ nghĩa Mác-Lênin qua Bản Sơ thảo lần thứ nhất “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng xã hội Pháp. Luận cương của V.I.Lênin đã chỉ ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc, nên “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(2).

Giữa năm 1923, Người rời Pháp sang Liên Xô. Ở đây, Người tiếp thu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm cuộc Cách mạng Tháng Mười và tham gia vào Quốc tế Cộng sản. Trong cuốn sách Đường Kách mệnh, Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Và “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”(5).

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Nga Xô viết trở về Quảng Châu – Trung Quốc trên cương vị và nhiệm vụ mới: phiên dịch cho đồng chí Bô-rô-din – cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Quốc dân đảng, vừa phụ trách mục tuyên truyền của tờ báo Ca-non Ga-zet-te bằng tiếng Anh của Trung ương Quốc dân đảng. Về gần Tổ quốc là điều kiện thuận lợi để Người truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Người tiếp xúc với những thanh niên yêu nước hăng hái nhất trong nhóm Tâm tâm xã như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… Trên cơ sở đó, tháng 5-1925, Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí Trung Quốc, Hội bí mật đưa một số thanh niên trong nước sang Quảng Châu tham gia các lớp học chính trị; ra tờ báo Thanh niên in bằng giấy sáp, bí mật gửi về nước để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào đấu tranh của công nhân và quần chúng nhân dân. Qua đó, Người tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một đảng mác-xít ở Việt Nam.

Cuối năm 1929, đầu năm 1930, ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở Việt Nam đã khẳng định bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Song một nước có ba tổ chức cộng sản cùng hoạt động sẽ không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thống nhất về tư tưởng và hành động. Trước yêu cầu lịch sử đặt ra, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – Hội nghị từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 tại Hương Cảng – Trung Quốc.

Hội nghị thông qua Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Cương lĩnh đã chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày. Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại. “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”(6).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, liên tiếp giành nhiều thắng lợi.

Năm 1939, đại chiến thế giới II bùng nổ, quân Pháp đầu hàng phát-xít Nhật. Chúng cấu kết chặt chẽ với nhau đàn áp phong trào cách mạng và tăng cường bóc lột nhân dân thuộc địa, làm cho nhân dân Việt Nam “một cổ hai tròng”. Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương… liên tiếp diễn ra nhưng bị dìm trong bể máu, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng và hàng ngàn quần chúng ưu tú đã bị bắt, giết hại và tù đày…

Được sự nhất trí của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va với nhiệm vụ đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương.

Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung (thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Sau một thời gian khảo sát, nghiên cứu, đánh giá đặc điểm tình hình, từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, tại Khuổi Nậm-Pác Bó-Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. Vì vậy “bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”(7). Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, đồng thời đáp ứng đòi hỏi, nguyện vọng của nhân dân là giành độc lập dân tộc, thoát khỏi ách nô lệ. Tư tưởng này không những khắc phục quan điểm không đúng về đấu tranh giai cấp, mà còn tạo điều kiện cho tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác tiếp tục phát triển, đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh – một chủ trương mang tính chiến lược, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhằm đoàn kết hết thảy các lực lượng yêu nước trong một mặt trận để cứu nước, giải phóng dân tộc. Ở Lào cũng thành lập mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh và Cam-pu-chia thành lập mặt trận Cao Miên độc lập đồng minh… thể hiện rõ nét chính sách “dân tộc tự quyết”, hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc đấu tranh chung của toàn thế giới chống phát-xít xâm lược, bảo đảm cho cách mạng Đông Dương thành công.

Trước sự biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới và trong nước, bên cạnh việc dự báo thời cơ khởi nghĩa, Đảng và Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đưa ra một sách lược cần kíp là chuẩn bị lực lượng và đưa Đảng vào hoạt động bí mật. Bên cạnh Mặt trận Việt Minh, các đội Cứu quốc quân I, II, III, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Dù non trẻ, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng đã liên tiếp đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Cùng với chiến thắng đó, những thắng lợi của Cứu quốc quân, các đội du kích, tự vệ ở các địa phương đã góp phần củng cố, mở rộng khu căn cứ cách mạng Cao-Bắc-Lạng, Thái-Hà-Tuyên và động viên toàn dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Chiến tranh thế giới II bước vào giai đoạn kết thúc. Ngày 9-5-1945, phát-xít Đức đầu hàng đồng minh. Đêm 13-8-1945, ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 – hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(8). Lúc này Bác đang ốm nặng. Ở lán Nà Lừa đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cả dân tộc muôn người như một vùng lên “chớp thời cơ ngàn năm có một” giành chính quyền về tay mình.

Ngày 15-8-1945, phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 19-8-1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23-8, Thừa Thiên Huế giành được chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng. Ngày 25-8, nhân dân Sài Gòn-Gia Định giành được chính quyền… Hành động vùng dậy “lay trời chuyển đất” của hàng triệu quần chúng, tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào tất cả cơ quan đầu não của bọn việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của các thế lực thù địch, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra trang sử mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của một nước thuộc địa nửa phong kiến do đảng cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này đã tạo ra thế và lực mới, quyết định tiến trình đi lên của dân tộc Việt Nam; là nền tảng vững chắc đoàn kết, huy động sức mạnh của cả nước đồng lòng chung sức làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; anh dũng kiên cường, bền bỉ đấu tranh hơn hai thập kỷ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân năm 1975, thu non sông về một mối, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

______

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.274. (2) Sđd, tập 10, tr.127. (3) Sđd, tập 2, tr.268. (4) Sđd, tập 9, tr.314. (5) Sđd, tập 10, tr.128. (6) Sđd, tập 10, tr.9. (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2000, tr.55, tr.536. (8) Sđd, tập 3, tr.554.

Phạm Thị Nhung
Trường Sỹ quan Lục quân 2

xaydungdang.org.vn

Vấn đề phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và nâng lên tầm cao mới trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, nhà văn hoá lớn của thế giới. Người không chỉ truyền bá, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, đưa Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà Người còn phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin lên một tầm cao mới.

Picture1.jpg

1. Khi phân tích những mâu thuẫn của CNTB, C.Mác và Ph. Ăngghen đã tiên đoán khả năng cách mạng nổ ra trước tiên ở các nước tư bản phát triển nhất, nơi những tiền đề vật chất của CNXH đã đạt đến độ chín muồi nhất định. Mới đầu các ông cho rằng cách mạng sẽ nổ ra ở Anh, Pháp, sau đó là Đức. Theo các ông, giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản là một thời kỳ cải tiến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia, thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và Nhà nước của thời kỳ ấy là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản. Nhưng đến năm 1877, hai ông lại cho rằng cách mạng sẽ nổ ra ở phương Đông mà Nga là nước tiên phong. C.Mác tán thành ý kiến của Sécnưsepxki cho rằng nước Nga có thể không cần phải trải qua những đau khổ của chế độ tư bản mà vẫn chiếm đoạt được mọi thành quả của chế độ ấy. Như vậy, về cơ bản, lý luận của hai ông đều cho rằng các nước tư bản phát triển có thể đồng loạt tiến lên XHCN. Tuy nhiên, các ông cũng dự báo khả năng phát triển rút ngắn như nước Nga.

Thời C.Mác và Ph. Ăngghen, hệ thống thuộc địa của CNTB đã được mở rộng, nhưng cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chưa phát triển mạnh, bởi vậy, theo các ông, vận mệnh loài người, tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc vẫn phần lớn phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển.

Sang thời Lênin, khi phân tích CNTB ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ông cho rằng CNXH có thể thắng lợi thậm chí trong một nước tư bản tách riêng (một mắt xích trong sợi dây truyền), và ông nêu ra tư tưởng trong những điều kiện lịch sử nhất định, những nước lạc hậu có thể phát triển rút ngắn, bỏ qua, không phải trải qua giai đoạn phát triển TBCN. Những điều kiện đó là gì?

a) Phương thức sản xuất bị bỏ qua đã tỏ ra lỗi thời về mặt lịch sử.

b) Có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân đã giành được thắng lợi ở nước tư bản phát triển hơn.

c) Có đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân với đầy đủ kinh nghiệm và quyết tâm cùng toàn dân làm cuộc cách mạng giành được chính quyền về tay mình.

Thời Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, nên ông cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa. Bởi vậy, thay thế cho khẩu hiệu thời C.Mác “Vô sản tất cả các nước liên hợp lại”, ông đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

chuyende.jpg

Hồ Chí Minh trên góc độ của người thuộc địa, góc độ của các dân tộc bị áp bức đã phê phán một cách có căn cứ và hết sức sâu sắc chủ nghĩa đế quốc và đã chỉ ra rằng sức sống của chủ nghĩa đế quốc một phần quan trọng nằm ở thuộc địa. Người nói: “Hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc”(1274). Đây là điều quan trọng mà Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đó, Người viết: “CNTB là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”(1298). Tư tưởng này là sự cụ thể hoá và chứng minh cho quan điểm của Lênin về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản của các nước thuộc địa và các dân tộc bị áp bức để tiêu diệt CNTB – con đỉa có hai vòi. Người cho rằng cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc như đôi cánh của một con chim. Từ đó Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài cách mạng vô sản”, và Người đã gắn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với CNXH, mang lại sự giải phóng triệt để cho con người Việt Nam.

2. Chủ nghĩa Mác-Lênin đề cao vấn đề giai cấp, còn ở Hồ Chí Minh, vấn đề giai cấp gắn bó mật thiết với vấn đề dân tộc, không có giai cấp chung chung đứng ngoài dân tộc, hai cái đó liên hệ với nhau một cách uyển chuyển và biện chứng. Trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên quyền lợi giai cấp, vì có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp, tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi để giải phóng giai cấp. Theo Người, nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được tự do cho dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc còn chịu mại kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không lại được. Không nên thấy người ta làm thế nào mình cũng làm như thế, người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh. Ngoài ra, trên cơ sở phân tích xã hội phương Đông, Người còn cho rằng đấu tranh giai cấp ở các nước phương Đông không quyết liệt như ở phương Tây, còn ở Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của lịch sử. Bởi vậy, theo Người, “cần phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản, đó là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời, vì người ta sẽ không thể làm gì được cho người An nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của ta thắng lợi, phần lớn thế giới sẽ Xô viết hoá và lúc đó chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế, còn sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới (1,469). Như vậy, ở Hồ Chí Minh, dân tộc và giai cấp liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau, có điều ở mỗi thời điểm lịch sử cụ thể thì cái nào nổi trội hơn nhằm đạt đến mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể. Thực tiễn cách mạng 75 năm qua đã chứng minh cho sự đúng đắn của quan điểm này.

3. Nếu như C. Mác tán thành quan điểm của Sécnưsépxki cho rằng nước Nga có thể bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì Lênin cho rằng: “So với những nước tiên tiến, thì đối với nước Nga, bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là một điều dễ dàng hơn, nhưng tiếp tục cuộc cách mạng đó đến thắng lợi cuối cùng… lại là một điều khó khăn hơn” (2,478). Như vậy, theo Lênin, so với những nước tư bản tiên tiến, Nga làm cách mạng vô sản dễ hơn nhưng để đi đến thắng lợi cuối cùng thì lại khó khăn hơn. Khó đến mức mà hiện nay nước Nga xã hội chủ nghĩa là không còn nữa. Nghiên cứu tình hình cụ thể các nước phương Đông, Hồ Chí Minh cho rằng với những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào Châu Á, dễ dàng hơn là ở Châu Âu”(1,36). Như vậy, theo Bác, chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào Châu Á dễ dàng hơn Châu Âu. Điều này hoàn toàn có căn cứ, có cơ sở khoa học.

Như chúng ta đã biết, điểm khác biệt giữa Á với Âu, Đông và Tây là ở chỗ ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á lâu dài, dai dẳng, đã tạo nên một đặc điểm đặc trưng của phương Đông là việc không có sở hữu tư nhân về ruộng đất, cái mà C.Mác gọi là cơ sở, còn Ph.Ăngghen gọi là chiếc chìa khoá để hiểu toàn bộ phương Đông. Trong Kinh Thư có ghi: “Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ, suất hải chi tân mạc phi vương thần” nghĩa là đất đai dưới trời đâu chẳng là của vua, người trên đất đai ấy ai chẳng phải là thần dân của vua. GS. Trần Đình Hượu cho rằng cùng với chế độ “‘lãnh hữu” chứ không phải “sở hữu” và ruộng đất các nước phương Đông để tiến lên CNXH, hơn CNTB.

Nhưng để tiến lên CNXH và xây dựng thành công CNXH là hai việc khác nhau. Cái thứ nhất suy cho cùng nghiêng về tiền đề, cái thứ hai mới là mục đích Hồ Chí Minh cho rằng thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều, rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng vĩ đại, vẻ vang nhất nhưng là cuộc cách mạng gay go nhất, phức tạp, khó khăn nhất, là cuộc chiến khổng lồ chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Qua thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta trong những năm qua, chúng ta càng thấm thía tư tưởng của Người.

4. Chủ nghĩa Mác – Lênin qua lăng kính của Người trở thành một cái gì đó cực kỳ dễ hiểu, giản dị, dung dị, gần gũi đối với tất cả mọi người. Chẳng hạn, quan hệ giữa cán bộ, Đảng, Nhà nước và nhân dân được người mô tả bằng hình ảnh vô cùng quen thuộc: dân là nước, cán bộ là cá, Nhà nước, cách mạng là thuyền, đường lối là la bàn, Đảng như người cầm lái (hay trí tuệ con người cầm lái). Như chúng ta thấy, cá tách khỏi nước sẽ chết. Nước có thể chở thuyền nhưng cũng có thể lật thuyền. Thuyền không có la bàn không biết đi đâu. Thuyền không có người cầm lái thì không chuyển động. Như vậy, thật vô cùng dễ hiểu, không có dân là không có tất cả, dân là gốc, là cơ sở, nước ấy dân làm gốc.

Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân

Từ đó Người đưa ra tư tưởng dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của dân và xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người cho rằng thực hiện dân chủ là chìa khoá vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Hay một hình ảnh nữa, đoàn kết hay không đoàn kết, được Người ví như một bó đũa và một chiếc đũa đơn lẻ. Từ đó Người cho rằng đoàn kết tạo nên sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi, là thành công.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công đại thành công

Bởi vậy, chủ nghĩa Mác- Lênin trở nên gần gũi với những người dân lao động bình thường. Bác giải thích thế nào là chủ nghĩa Mác -Lênin, tsách vở mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được, hay hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Bác cho rằng muốn giữ gìn sự trong sáng của chủ nghĩa Mác –Lênin thì trước hết tự mình phải trong sáng (xem 4,272)

5. Chủ nghĩa Mác-Lênin có bàn đến đạo đức giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Mặc dù đã vạch ra được những nguyên lý nền tảng của đạo đức nhưng vẫn còn khá chung chung, chưa thật cụ thể.

Giống như C.Mác phê phán Hêghen, Người cho rằng đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức không phải từ trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển. Đạo đức là nền tảng của người cách mạng, nó giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Hồ Chí Minh đã nhìn ra đạo đức có thể nhân gấp 10 lần sức mạnh con người, đã nhìn ra ở phương Đông một tấm gương có giá trị gấp trăm bài diễn thuyết, bởi vậy, Người chú trọng vấn đề đạo đức, đặc biệt xây dựng mẫu người toàn diện cả đức lẫn tài, cả tâm hồn lẫn trí tuệ và sức khoẻ, phải trung với nước, hiếu với dân, phải thương yêu con người, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, phải có tinh thần quốc tế trong sáng. Đối với Người, nói là phải đi đôi với với làm, phải làm gương “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” xây đi đôi với chống và phải tu dưỡng đạo đức suốt đời giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

6. Trên cơ sở phân tích tình hình xã hội phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, Người cho rằng cuộc đấu tranh giai cấp ở đây không diễn ra giống như ở phương Tây. Vậy không giống ở điểm nào? Người cho rằng về phía Việt Nam người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và vô tổ chức, còn về phía bọn chủ thì không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những địa chủ hạng trung, hạng nhỏ và những kẻ ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở Châu Âu và Châu Mỹ, không có tỷ phú người An Nam. Những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi. Cho nên, nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa, nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc, người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có Tơrớl. Người thì nhẫn nhịn chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình, sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó không thể chối cãi được. Từ đó Người kết luận: “Xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây” (1,465).

Từ phân tích về giai cấp xã hội các nước phương Đông và Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đi gần đến cái mà C.Mác gọi là phương thức sản xuất Châu Á vốn coi trọng là tính tự trị độc lập, biệt lập của công xã. Cái đặc trưng này theo Người dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau, từ đó là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông. Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau (1,263).

Với tính cách đặc thù đó, Người đã đặt ra một vấn đề hoàn toàn chính xác khi cho rằng C.Mác cho ta biết sự tiến triển của các xã hội trải qua ba giai đoạn: “Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản, và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không?”(1,465). Bởi lẽ, ở phương Đông do ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á kéo dài dai dẳng từ sau khi tan rã của công xã nguyên thuỷ cho đến tận những năm đầu của thế kỷ XIX, nên xã hội ở phương Đông và Việt Nam không thật điển hình như ở phương Tây (nếu theo hệ quy chiếu phương Tây). Một số học giả khác lại cho rằng Việt Nam, Mông Cổ và cả Nga không trải qua chế độ nô lệ, thậm chí có người còn cho rằng Việt Nam không có chế độ phong kiến. Từ đó Hồ Chí Minh cho rằng tùy hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau “Ta không giống Liên Xô… ta có thể đi con đường khác để tiến lên CNXH” (6, 227). Hồ Chí Minh cho rằng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà C.Mác ở thời mình không có được. Người cho rằng “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông, đó chính là nhiệm vụ của các Xô viết” (1,465). Tại sao lại như vậy? Theo người: “C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (1,465). Qua đây ta đã thấy Người đã phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện cụ thể của các nước phương Đông và Việt Nam như thế nào. Điều này hoàn toàn xa lạ với cái gọi là khuynh hướng xét lại chủ nghĩa Mác.

Ngày nay trong công cuộc CNH-HĐH, thiết nghĩ những người giảng dạy và nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin học tập tinh thần phát triển sáng tạo ở Người để góp phần nhanh chóng đưa nước ta đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

___________________

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
2. C.Mác-Lênin và Ph.Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, Nxb Sự thật, Hà Nội 1958.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000.

Nguồn:  Triết học & Đời sống

hochiminhhoc.com

Bác Hồ với quê hương, quê hương với Bác Hồ

(ĐCSVN) – Trong gần 50 năm làm báo, tôi đã có gần 35 năm được hoạt động nghề nghiệp trên quê hương Bác Hồ kính yêu, trong đó có một kỷ niệm tôi không thể nào quên là đã được đón và phản ánh hoạt động của Người trong chuyến về thăm quê lần thứ 2 (ngày 8 tháng 12 năm 1961).

Bác Hồ về thăm quê ở Kim Liên, Nghệ An ngày 8-12-1961. (Ảnh tư liệu)

Ngày 8-12-1961 quả là một ngày khó quên với tôi dù ngày đó đã qua đi gần 50 năm. Trước đó mấy ngày, tin Bác Hồ sẽ về thăm quê đã được thông báo. Tuy không được phổ biến rộng rãi nhưng dù là nghe “lỏm” chúng tôi cũng háo hức chờ đợi. Rồi ngày đó cũng đến. Sân bay Vinh hồi đó còn thô sơ lắm. Trời thu khá rét nhưng khi chúng tôi, những nhà báo đến sân bay sớm hơn quy định thì bà con ở thị xã Vinh và các huyện lân cận đã có mặt từ bao giờ để đợi đón Bác.

Khi chiếc trực thăng từ từ hạ cánh thì dòng người cứ nhích dần vào khu đỗ trung tâm. Không quân nhạc, không pháo hoa. Máy bay vừa tắt cánh quạt thì từ cửa máy bay Bác kính yêu đã tươi cười vẫy tay chào cán bộ và bà con quê hương. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, quân khu 4 đứng sát cầu thang máy bay để đón Người. Nhưng thật bất ngờ, Bác Hồ nét mặt xúc động đã đi thẳng đến nơi các cụ lão thành mặc áo đỏ bắt tay thân thiết từng người rồi đến với các cháu thiếu niên. Bác nhìn quanh, tươi cười vẫy tay chào bà con nông dân đang đứng ở vòng ngoài rồi mới quay lại chào và thăm hỏi các vị lãnh đạo tỉnh, quân khu.

Hồi đó Nghệ An còn nghèo lắm. Cả lãnh đạo tỉnh ủy, ủy ban tỉnh đều chỉ có mấy chiếc com-măng-ca. Trong số xe ra đón có một chiếc xe hiệu “Gat 69” mui trần, kết hoa chắc để dành đón Bác. Lại một ngạc nhiên đầy xúc động nữa: khi đồng chí Bí thư tỉnh ủy Võ Thúc Đồng trân trọng mời Bác lên xe mui trần có kết hoa thì Người quay lại thân thiết mời cụ Lê Nhu, Chủ tịch MTTQ tỉnh người cao tuổi, đầu tóc bạc phơ lên xe đó còn mình lên một chiếc xe khác để về thị xã. Tiếng vỗ tay, tiếng hô “Hồ Chí Minh muôn năm” lại vang lên cho đến khi xe của Người đã đi khuất vào rặng phi lao đoạn đường Quán Bánh hướng vào thị xã.

Bác về thăm quê lần thứ hai ngắn lắm, chỉ trong 3 ngày, nhưng khi bàn về các điểm đi của Bác ai cũng ngạc nhiên. Về Kim Liên chỉ một buổi còn lại là đến với công nhân nhà máy cơ khí Vinh, nông dân trồng cây giỏi ở Vĩnh Thành (Yên Thành), nông trường chăn nuôi giỏi Đông Hiếu ở Nghĩa Đàn, rồi gặp gỡ các cụ lão thành, thăm trường sư phạm miền núi, làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An và nói chuyện với đại diện nhân dân trong tỉnh tại cuộc mít tinh chào mừng Người về thăm quê tại sân vận động thị xã Vinh.

Sách báo đã viết nhiều về lần thăm quê thứ 2 và cũng là lần cuối cùng trong đời hoạt động của Người. Đây là chuyến thăm mà Người đã hứa với Đảng bộ và nhân dân quê hương trong chuyến thăm lần thứ nhất sau 50 năm xa cách (tháng 6-1957) là: nếu Đảng bộ và nhân dân làm tốt trong sản xuất, xây dựng và xây dựng Đảng thì Bác sẽ về thăm lần nữa. Là người làm báo mới ra trường, không được chọn vào đội ngũ phóng viên tháp tùng chính thức nhưng tôi đã cố xin để đi theo Người cả chuyến. Và những điều ghi nhận được, cho đến bây giờ dù đã lên lão nhưng với tôi như vẫn còn tươi mới, như mới xảy ra đâu hôm qua, hôm kia thôi.

Đó là bài học công nông liên minh Bác dạy ở HTX nông nghiệp Vĩnh Thành và nông trường Đông Hiếu, đó là bài học đoàn kết, không ỷ lại, chung lo xây dựng quê hương ở xã Nam Liên. Đó là bài học về đãi ngộ và cống hiến, công bằng, “tre già măng mọc” nói với các cán bộ lão thành, đó là bài học về tổ chức cán bộ và xây dựng Đảng ở buổi làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ và bài học về đại đoàn kết toàn dân và sức mạnh của nhân dân khi nói chuyện với đại diện đồng bào toàn tỉnh và học sinh trường sư phạm miền núi Nghệ An. Với cán bộ, công nhân nông trường Đông Hiếu, Bác dặn: Nông trường là làm nông nghiệp kỹ thuật cao, là điểm tựa của nông dân toàn tỉnh. Đã là điểm tựa thì cán bộ, công nhân nông trường phải giúp nông dân trong vùng và toàn tỉnh để phát triển tốt chăn nuôi, trồng trọt, thâm canh tăng năng suất. Với công nhân Nhà máy cơ khí Vinh, Người khuyên: là đứa con công nghiệp đầu lòng của tỉnh, là nơi sản xuất nông cụ phục vụ nông dân thì phải sản xuất “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”. Nhanh, nhiều tốt là rất cần. Nhưng nông dân ta còn nghèo nên hàng làm ra đã tốt mà phải rẻ để bà con có tiền mua. Nếu nông dân dùng mà sớm hỏng thì phải sửa không mất tiền cho nông dân. Đó chính là liên minh công nông, là mối tình công nông thiết thực nhất. Ở nông trường Đông Hiếu, Bác đã chọn và tặng huy hiệu của Người ngay tại buổi nói chuyện cho 3 tấm gương tiêu biểu đã được tập thể công nhân bình chọn, đó là Nguyễn Văn Lang, tổ trưởng trồng trọt, Võ Trọng Tạo, tổ trưởng chăn nuôi và Trần Kim Mạnh, quản đốc. Bác nói: “Bác và Trung ương sẵn sàng thưởng nếu các cô, các chú thi đua làm kịp các chiến sĩ đó. Có “giao kèo” đấy nhé. Nếu các cô, các chú làm được như thế mà Bác không thưởng là lỗi tại Bác. Nếu Bác sẵn sàng thưởng mà các cô, các chú không làm được thì lỗi tại ai?”. Công nhân trả lời “Tại các cháu”. Bác hỏi có phải thế không? Có đồng ý như thế không? Cùng với tiếng “Dạ thưa Bác, đồng ý ạ” thì cả hội trường lại rộn lên, hướng về Người, ai cũng ngầm hứa phải làm thật tốt để sớm được nhận phần thưởng của Người.

Căn nhà lá của gia đình cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.  Ảnh: Tuấn Anh

Bài học sâu sắc mà tôi khắc ghi trong lòng là quan điểm về đãi ngộ và công tác cán bộ của Người tại buổi nói chuyện với cán bộ cách mạng lão thành của tỉnh. Sau khi nói về công lao đóng góp của các đồng chí cán bộ lão thành cho thành công của Đảng, của Cách mạng, Bác nói: “Bây giờ sang phần thứ hai. Đây là những điểm nhỏ, tôi gom góp, nói để các đồng chí rõ”. Về đào tạo lớp trẻ, Người nói: “Đảng rất quý, rất trọng các đồng chí già nhưng Đảng cũng rất cần nhiều cán bộ trẻ để làm những việc mà đảng viên già không làm được. Tôi cũng là một trong nhưng đồng chí già. Tôi có lái xe được không? Không, phải nhờ đồng chí trẻ. Muốn học lái xe thì phải học các đồng chí trẻ. Chớ có nói: sao mình không được đi, nó lại được đi xe”. Nói về quan điểm dùng người, sau khi nói về vai trò tham mưu của ban tổ chức từ Trung ương đến địa phương trong việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, Bác khẳng định: “Nhưng bất kỳ ai, có khả năng, đã đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phải dùng. Ví dụ: giữa hai đứa con của người trong Đảng và người ngoài Đảng. Con của đồng chí mình thì kém, dốt hơn, con của người ngoài Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn. Vậy thì ta nên đưa ai đi? Con của người ngoài Đảng hay con của người trong Đảng?(cả hội trường đồng thanh “con của người ngoài Đảng”). Đúng, vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết. Đảng lo việc cho cả nước. Đó là chính sách cán bộ”.

Từ sau ngày Bác vô thăm quê lần thứ hai, những lời dạy ân cần của Người từ xã quê hương Nam Liên đến nhà máy, hợp tác xã, trường học… cán bộ, nhân dân Nghệ An đều ghi sâu lời dạy của Người và thực hiện ngày càng tốt lời Người dạy. Những năm đó, nhà máy cơ khí Vinh duy trì thường xuyên tổ sửa chữa máy tuốt lúa lưu động về các hợp tác xã sửa miễn phí cho nông dân, nông trường Đông Hiếu đã giúp các hợp tác xã quanh vùng, nhất là xã Nghĩa Thuận trở thành đơn vị điều hành về sản xuất, chăn nuôi của Nghĩa Đàn. Công tác cán bộ ở Nghệ An ngày càng tốt hơn, giảm dần tình trạng “thành phố chủ nghĩa”trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ. Số lượng cán bộ, công nhân viên và xã viên được nhận huy hiệu của Người mỗi năm mỗi tăng, có người được tặng đến lần thứ hai như nữ anh hùng Hoàng Thị Liên ở cửa hàng ăn cảng Bến Thủy. Những đơn vị được vinh dự đón Bác trong hai lần về thăm quê đều trở thành những điển hình tiên tiến, nhiều đơn vị trở thành đơn vị anh hùng, xã anh hùng. Nghệ An từ một tỉnh nghèo đã phấn đấu trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước như mong muốn của Người.

Nghệ An, Hà Tĩnh, hai tỉnh được vinh dự đón Người về thăm đều trở thành những tỉnh đón vốn đầu tư nước ngoài vào loại lớn nhất nước trong thời kỳ xây dựng và đổi mới. Nghệ An, Hà Tĩnh còn là những đơn vị tổ chức tốt và triển khai có hiệu quả thiết thực trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Trung ương Đảng phát động.

Những ngày tháng 5 này trên quê hương Bác đang sôi động những phong trào thi đua trong sản xuất, xây dựng, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng nông thôn mới… Đảng bộ và nhân dân Nghệ An coi đây là những hành động thiết thực dâng lên chào mừng lần thứ 120 ngày sinh của Bác, báo công với Bác những việc làm được của những cán bộ, Đảng viên và nhân dân quê hương, hứa mãi mãi học tập và làm theo tấm gương của Người, mãi mãi xứng đáng là quê hương của Người, nơi mà Người đã có câu thơ xúc động trong lần về thăm quê thứ nhất sau 50 năm xa cách:

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao là tình!”

(*) Tất cả những câu trong ngoặc kép bài này đều trích nguyên văn trong tập “Bác Hồ với quê hương Nghệ An” do NXB Nghệ An ấn hành tháng 5-2006.

Thanh Phong

hochiminhhoc.com

Bác Hồ với Lê-nin

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tình cảm đặc biệt với V.I.Lê-nin. Từ lòng kính trọng và biết ơn vô cùng sâu nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Lê-nin, học tập, nghiên cứu học thuyết của Lê-nin để vận dụng vào cách mạng Việt Nam, dẫn nhân dân ta vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và tiến lên cùng thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, bắt đầu từ cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga do Lê-nin lãnh đạo.

Dấu ấn sâu đậm trên hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc là khi Người được tiếp xúc với học thuyết của Lê-nin về vấn đề giải phóng thuộc địa từ những năm 20 của thế kỷ 20. Ngay từ đấy Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết nhiều tác phẩm về Lê-nin và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, ca ngợi thiên tài và tấm gương đạo đức cách mạng cao cả của Lê-nin. Tin tưởng và đi theo con đường cách mạng do Lê-nin lãnh đạo, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ủng hộ Quốc tế Ba do Lê-nin thành lập. Ðồng thời ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam.

chuyende.jpg

Sự gặp gỡ của Nguyễn Ái Quốc với chủ nghĩa Lê-nin là một cuộc gặp lịch sử. Với quyết tâm tìm con đường cứu nước, sau bao năm bôn ba khắp các châu lục, vừa lao động kiếm sống, vừa hoạt động trong phong trào các dân tộc bị áp bức, phong trào công nhân, tháng 7 năm 1920, trên những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin, đăng trên báo Nhân Ðạo (L’Humanité) của Ðảng Xã hội Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi tưởng: Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình mà Người đã nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Ðây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vui mừng như vậy vì đã tìm thấy con đường cứu nước, cứu dân, con đường giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp và chế độ phong kiến – đó là con đường cách mạng vô sản. Tại Ðại hội Tua của Ðảng Xã hội Pháp cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Ðảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

lenin-october-revolution.jpg

Hướng về Lê-nin – lãnh tụ của Cách mạng Tháng Mười Nga, từ cuối năm 1923, đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật đến Liên Xô. Ngay sau khi Lê-nin từ trần, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài: Lê-nin và các dân tộc thuộc địa đăng trên báo Sự thật, số ra ngày 27-1-1924, với những dòng vô cùng xúc động: Khi còn sống, Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Trong những năm tháng học tập, hoạt động, nghiên cứu trên đất nước Xô-viết, Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm xuất sắc về Lê-nin và cuộc Cách mạng Tháng Mười. Ðặc biệt vào năm 1927, Hồ Chí Minh đã cho xuất bản cuốn sách Ðường cách mệnh làm tài liệu huấn luyện cán bộ để chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng. Trong tác phẩm quan trọng này, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Ðảng có vững cách mạng mới thành công. Ngày nay học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng cách mạng nhất, chân chính nhất là chủ nghĩa Lê-nin…; trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và đã thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật; không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc. Phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin…

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết nhiều tác phẩm về Lê-nin để giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân ta luôn ghi nhớ công ơn và học tập, vận dụng học thuyết cách mạng của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, học tập kinh nghiệm của nhân dân các dân tộc Xô-viết trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

lenin147.jpg

Vấn đề cốt tử nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục Ðảng và toàn dân ta là chăm lo xây dựng Ðảng thật sự là một đảng Mác – Lê-nin chân chính. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phấn đấu hy sinh vì lợi ích của nhân dân, mà Lê-nin là tấm gương tiêu biểu để Ðảng xứng đáng là “trí tuệ, lương tâm, danh dự” của dân tộc và thời đại, được nhân dân tin yêu…

Ðảng ta, nhân dân tự hào khẳng định rằng, trong hơn tám thập kỷ qua, đi theo con đường cách mạng của Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đã phát triển và làm phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng thực tiễn lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ðó là các vấn đề xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đã kết hợp nhuần nhuyễn ba yếu tố là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phong trào yêu nước và phong trào công nhân; về con đường cách mạng Việt Nam giải phóng dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; về đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công, nông, trí; về tiến hành hai chiến lược cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh giải phóng miền nam; về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân do Ðảng lãnh đạo; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…/.

Khánh Thuỷ
(Nguồn: ND)

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh với nền hành chính dân chủ cộng hoà

(ĐCSVN) – Hồ Chí Minh có ý thức từ rất sớm và rất sâu sắc về việc xây dựng một nền hành chính mới của chính thể dân chủ cộng hoà. Người đã sử dụng các biện pháp khoa học và hiệu quả để xây dựng một nền hành chính mới. Theo đó, nhiều quan niệm, nguyên lý đã định hình và đến nay còn nguyên giá trị với sự nghiệp cải cách hành chính nước ta hiện nay.

134.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh với những thành viên của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Ảnh: Tuấn Anh)

1. Xây dựng nền hành chính công vụ vì dân, khoa học

65 năm trước đây, trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm để xây dựng nên Nhà nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ cộng hòa”[1]. Bản chất của chế độ mới là dân chủ, cộng hòa. “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta.”[2] Chế độ ấy đã tạo ra và đòi hỏi một nền hành chính mới với chất lượng, tổ chức hoạt động và bộ máy nhân sự khác về chất so với trước đây.

Hồ Chí Minh rất coi trọng và quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền hợp pháp – hợp hiến với nền hành chính công vụ vì dân và khoa học. Đây chính là những công cụ đảm bảo cho tính chất của dân, do dân, vì dân của nền dân chủ, cộng hòa. Người đã quan tâm cả hai mặt: tổ chức các thiết chế của bộ máy nhà nước và ban hành các thể chế (hiến pháp và pháp luật) tạo cơ sở pháp lý và khoa học để tổ chức “một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Đó là một Nhà nước có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động thích hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam đương thời, mang tính khoa học về chính trị học, xã hội học, luật học và khoa học tổ chức hành chính.

Ngay từ khi còn đi tìm đường cứu nước, năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người yêu nước Việt Nam trong yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Véc-xây đã yêu cầu cải cách pháp luật ở Đông Dương để người bản xứ được bảo đảm về luật pháp như người châu Âu. Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ tư tưởng: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, Hồ Chí Minh đã chủ trương “thành lập chính quyền cách mạng” ở các căn cứ địa, các khu giải phóng lúc bấy giờ. Đến đầu tháng Tám 1945, mặc dù tình hình rất khẩn trương, Người đã kiên quyết triệu tập Đại hội quốc dân ở Tân Trào, cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam – một tổ chức “tiền chính phủ” để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực quản lý của chính quyền mới.

Trong Đường cách mệnh (1927) Người đã quan niệm rằng: “…làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” [3].

Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ, Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy trí tuệ của Đảng, toàn dân cùng với Quốc hội được bầu ra ngày 6-1-1946, soạn thảo bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Trong hoàn cảnh “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, việc thông qua Hiến pháp là thành quả to lớn của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta.

Những quy định của Hiến pháp 1946 về tổ chức bộ máy nhà nước từ Quốc hội, Chính phủ đến Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, về cơ quan tư pháp đều chứa đựng sâu sắc bản chất của một nhà nước pháp quyền kiểu mới, của dân, do dân và vì dân. Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Đó là sự hiện thực hóa, pháp chế hóa chế độ dân chủ, cộng hoà. Nhà nước của dân và do dân nghĩa là nhân dân xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền nhà nước, coi chính quyền là ruột thịt của mình. Nhà nước vì dân nghĩa là nhà nước mưu cầu quyền lợi, hạnh phúc cho nhân dân.

Khác với thuyết “Pháp trị” trong xã hội phong kiến coi pháp luật là công cụ bảo vệ lợi ích của thiểu số cầm quyền; khác với lý luận pháp quyền của xã hội tư sản coi pháp luật là công cụ duy lý chặt chẽ và vô tình để quản lý sao cho có lợi cho giai cấp tư sản, quan điểm về pháp luật của chế độ mới theo Hồ Chí Minh luôn xoay quanh vấn đề xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời hình thành pháp luật phục vụ cho quyền lợi của nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể quyền lực vừa là người được pháp luật bênh vực bảo vệ và theo đó, tính tích cực chính trị của công dân có vai trò rất quan trọng. Người cũng nhấn mạnh rằng, để Hiến pháp và pháp luật đảm bảo tính khách quan, phù hợp và phản ánh đúng đắn ý chí, nguyện vọng của nhân dân, Nhà nước phải thực hiện trưng cầu ý dân. Hồ Chí Minh là người đã nhiều lần kêu gọi nhân dân “ủng hộ chính phủ”, “giúp đỡ chính phủ” trong công việc hay “tìm người có tài đức” cho bộ máy nhân sự. Có lẽ đây là điểm khác biệt lớn nhất của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa so với các nền dân chủ đương thời.

Nền hành chính dân chủ cộng hòa theo Hồ Chí Minh còn là nền công vụ “chú trọng thực tế và nỗ lực làm việc”.

Cái thực tế mà Hồ Chí Minh quan tâm đầu tiên (và cũng chính là ham muốn tột bậc của Người) là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân. Trong cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc sau tháng 8 năm 1945, Người nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: “1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành”. Người còn nói: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ.” [4] Bởi vậy hoạt động của nền hành chính nhà nước trước hết phải phục vụ cho “độc lập – tự do – hạnh phúc”. Chính Người đã chọn tiêu ngữ ấy cho mọi văn bản hành chính của chế độ dân chủ cộng hòa.

Trách nhiệm lo hạnh phúc cho dân là trách nhiệm rất quan trọng của nền hành chính dân chủ cộng hòa. “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân, nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.”[5]

Người nêu quan niệm về nền hành chính mới: “Hành chính: Chính phủ dân chủ cộng hòa là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, nhưng không phải là chửi.”[6]

Thực tế ấy còn là sự nghiệp “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, là kế thừa được những giá trị truyền thống dân tộc và những thành tựu tổ chức nhà nước của các nước tiên tiến để tổ chức một bộ máy nhà nước pháp quyền phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Tinh thần thực tế còn là biết điều chỉnh khi hoàn cảnh đã thay đổi. Khi trực tiếp chủ trì và chỉ đạo việc sửa đổi Hiến pháp năm 1946, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, đó là bản “Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đó. Nó đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa. Vì vậy mà chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy”.

2. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nền hành chính mới

Hồ Chí Minh – người đặt nền móng cho nền hành chính Việt Nam hiện đại

Trước tiên là trên một quan niệm và triết lý tiên tiến, khoa học để xây dựng nền hành chính quốc gia theo chính thể dân chủ, cộng hòa. Có thể thấy rất rõ dấu ấn của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc Hồ Chí Minh lựa chọn mô hình, tổ chức, phương pháp vận hành nền hành chính mới. Nhu cầu của thực tiễn kháng chiến kiến quốc, phát triển sức sản xuất và chăm lo đời sống nhân dân…luôn được quán triệt sâu sắc trong qúa trình xây dựng nhà nước mới. Và công cuộc xây dựng nền hành chính mới cũng trước tiên phải phục vụ cho sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc” và xây dựng CNXH.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về một nền hành chính của dân, do dân, vì dân vừa mới mẻ vừa phản ánh đúng quy luật phát triển dân chủ. Nền hành chính gần dân, vì dân và có bổn phận “đem chính trị vào ở giữa dân gian” đã là một hiện thực của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó là nền hành chính làm công cụ đắc lực cho một nhà nước pháp quyền XHCN. Đó là nền hành chính ngay từ đầu tiên đã cương quyết chống lại những biểu hiện của các căn bệnh được coi là “mãn tính” của nhà nước như quan liêu, xa dân, cồng kềnh, giấy tờ và xa thực tiễn. Đó là nền hành chính vì dân và, trên nhiều lĩnh vực, được chính người dân bổ sung, điều chỉnh, giúp đỡ …

Từ khá sớm, trong bề bộn của công việc “kháng chiến, kiến quốc”, nhiều tiêu chí căn bản của công chức và công vụ của chế độ mới đã được Hồ Chí Minh xác lập với những quan điểm rất khoa học – cách mạng và chỉ dẫn rất chi tiết về phẩm chất, năng lực của công chức và tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính.

Các tư tưởng và biện pháp mà Hồ Chí Minh thực hiện trong quá trình xây dựng nền hành chính mang tính định hướng cho cải cách hành chính hiện nay.

Rất nhiều nguyên tắc do Hồ Chí Minh quy định hiện nay vẫn còn nguyên giá trị. Chẳng hạn nguyên tắc pháp quyền dân chủ, nguyên tắc “những gì có lợi cho dân phải hết sức làm, những gì có hại cho dân phải hết sức tránh”; nguyên tắc “vì việc mà tìm người chứ không vì người mà đặt việc”; nguyên tắc “xây dựng một nhà nước ít tốn kém”; xây dựng một nền hành chính gần dân, vì dân và gọn nhẹ (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa 1946 chỉ có 10 Bộ)

Tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh về xây dựng nền hành chính cũng rất nhiều độc đáo. Bên cạnh việc chỉ ra sự khác biệt về bản chất của nhà nước và nền hành chính khi so sánh với các nền hành chính đương thời, Người thấy được sự bất công của nền hành chính thực dân nhưng cũng thấy được những yếu tố hợp lý của nhà nước pháp quyền để kế thừa. Một số thao tác của quản lý truyền thống hoặc của nền hành chính nước ngoài có tính hợp lý cũng được Hồ Chí Minh kế thừa, chẳng hạn “chỉ thị tìm người tài đức”; phát huy dân chủ để chọn đúng người cho công việc kết hợp với thi tuyển để lựa chọn công chức; đề cao sự giám sát của nhân dân kết hợp với chế độ trách nhiệm và tính nêu gương của người lãnh đạo; thực hiện chế độ quản lí cán bộ – công chức…

Khá nhiều trí thức, công chức của chế độ cũ đã được Hồ Chí Minh “đắc nhân tâm”, sử dụng và họ đã tận hiến cho chế độ mới. Chẳng hạn, Giáo sư Vũ Đình Hoè đã hoàn thành sự uỷ thác của Hồ Chủ tịch, củng cố Bộ Tư pháp, xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp từ trung ương đến địa phương, đắc lực giúp Người đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền trong suốt 14 năm (1946 – 1960). Là người đứng đầu Bộ, ông đã kiên trì nguyên tắc “tư pháp nhân dân” và “tư pháp độc lập với hành chính” được ghi trong Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh chúng ta còn có thể thấy sự kế thừa khá nhiều nguyên lý của khoa học pháp quyền hiện đại và kinh nghiệm pháp lý – hành chính của nhiều quốc gia đương đại có nền hành chính pháp quyền, dân chủ. Hồ Chí Minh đã kế thừa hợp lý những kinh nghiệm thực tiễn và lý luận ấy nhưng không hề xa rời thực tiễn Việt Nam. Luật gia Vũ Đình Hoè – nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã nhận xét về qúa trình Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng thể chế và thiết chế hành chính cho nền dân chủ cộng hòa lúc đó rằng: “Người có một tư duy pháp lý nhạy bén tuỵệt vời, gần như thiên bẩm, thấu hiểu và thi hành một cách sáng tạo lý luận và thực tiễn chế độ pháp quyền của thời đại và của thế giới văn minh. Với quan điểm rất mới về nhà nước và pháp quyền, Người xây dựng chính quyền nhân dân trên đất Việt Nam ngàn năm văn hiến, vừa thoát vòng nô lệ của phương Tây”[7]

Từ những nền móng đồ sộ và rất căn bản ấy, Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa non trẻ cùng nền hành chính của mình đã hoàn thành trách nhiệm lịch sử của mình với quốc gia, trong sự nghiệp lãnh đạo cả dân tộc kháng chiến, kiến quốc xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa thành công và lãnh đạo đất nước trong suốt sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Những thành tựu lịch sử, to lớn của nền dân chủ cộng hòa không tách rời những tư tưởng rất khoa học và đầy đủ của Hồ Chí Minh về công vụ, công chức và nền hành chính mới mà chính Người đã dày công xây đắp.

3. Những việc cần làm để tiếp tục vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công vụ, công chức trong cải cách hành chính hiện nay.

Giữ vững tính chất XHCN, của dân, do dân, vì dân của nền hành chính pháp quyền nước ta.

Cải cách hành chính (CCHC) là để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; phát huy vai trò tham gia quản lý, tư vấn, giám sát và phản biện…của các tổ chức quần chúng với những quyết sách của nhà nước; là để cải thiện quan hệ giữa cơ quan, công chức nhà nước với công dân ở một số lĩnh vực hành chính công theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ trên cơ sở bình đẳng, song vụ giữa quyền và nghĩa vụ của hai bên.

Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần thực tế và gần dân của Chính phủ. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; nó có thể tiếp thu những yếu tố công năng – kỹ thuật của văn minh pháp quyền đương đại, nhưng cần lọc bỏ những yếu tố không phù hợp với tính chất và mục tiêu của chế độ XHCN mà toàn Đảng toàn Dân ta đang phấn đấu. Theo đó, mục tiêu của CCHC ở nước ta cũng là một trong những thao tác thực tiễn để định hướng XHCN.

Kiện toàn hệ thống chính trị để hỗ trợ cho cải cách hành chính

CCHC trước hết phải hướng tới giữ vững chế độ dân chủ XHCN. Nó phải hướng tới việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ phận trụ cột của nền dân chủ là Nhà nước. Cải cách và hoàn thiện nền hành chính nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và nền hành chính, nhằm giữ vững bản chất GCCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn liền chặt chẽ với quá trình đổi mới kinh tế, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững trật tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân…

Đẩy mạnh thể chế hóa công vụ và thực hiện nghiêm Luật công chức

CCHC và thể chế hóa công vụ, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Công chức hiện nay thực chất là để cho nền hành chính công, công chức và công vụ của nước ta trước hết thực sự trở thành “công bộc, đày tớ của nhân dân”. Mục tiêu cụ thể là phải tạo ra được những thiết chế, bộ máy, nhân lực và phương thức quản lý để xây dựng chế độ dân chủ XHCN, để “chính quyền và công chức “thực sự là công bộc của dân”. Bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân; hiện đại hóa và khoa học hóa nền công vụ, khắc phục tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ lạm dụng, lợi dụng quyền lực nhà nước để mưu lợi riêng… Đó là những bước tiến cơ bản của việc cải cách bộ máy nhà nước, chuyển từ một bộ máy thiên về thống trị, kiểm soát, điều hành… thành một bộ máy phục vụ xã hội, một nền hành chính “thật sự của dân, do dân và vì dân”.

Tiếp tục thực hiện các cơ chế mới (chẳng hạn cơ chế “một cửa”) để đảm bảo công khai hoá, minh bạch hoá các thủ tục hành chính, chống phiền hà và mất thời gian của nhân dân khi tới cơ quan nhà nước, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với dân để góp phần đổi mới mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân. Việc làm này giúp cho cán bộ – công chức nhà nước thật sự trở thành những đầy tớ mẫn cán, thạo việc, công tâm bởi luôn được minh bạch hoá công việc và phẩm chất. Nó cũng giúp cho dư luận xã hội được lành mạnh hoá: làm cán bộ là làm việc cho dân, làm người chân chính chứ “không phải là con đường thăng quan phát tài”; cán bộ là công bộc chứ không phải là nhóm xã hội được hưởng đặc quyền. Nó cũng góp phần điều chỉnh những lệch chuẩn, sai lệch giá trị xã hội đang xuất hiện ngay cả trong cơ quan nhà nước.

Công khai, minh bạch và tăng cường sự giám sát hoạt động hành chính công hiển nhiên là giải pháp tất yếu để khắc phục những vấn đề của hiện trạng hành chính nước ta. Tăng cường tính chuyên môn và đạo đức của người công chức và tính nêu gương của cán bộ lãnh đạo cũng là một trong những khâu rất quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp CCHC./.

[1] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 tập 4, tr.11
[2] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.160
[3] Hồ Chí Minh : Sđd, tập 4, tr. 8
[4] Hồ Chí Minh, Sdd, tập 7, tr. 274
[5] Hồ Chí Minh, Sdd, Tập 7, tr. 572-574.
[6] Hồ Chí Minh, Sdd; NXBCTQG. 1995, Tập 5, tr.60.
[7] Hồi ký Vũ Đình Hoè, NXB Hội Nhà văn. 2004 tr. 701.

PGS. TS Nguyễn An Ninh

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh với cuộc đổi mới tư duy đầu tiên của cách mạng Việt Nam để tìm đường cứu nước

“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là quy luật vận động của thực tiễn chính trị xã hội Việt Nam qua những trải nghiệm tìm kiếm, sàng lọc. Nó được xác định từ nhiều vận động dích dắc của lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và thực sự chuyển biến từ quá trình đổi mới tư duy đầu tiên mà Hồ Chí Minh là người khởi dẫn

BacHo.jpgHồ Chí Minh đẹp nhất tên Người. Ảnh: Tuấn Anh

1. Những hạn chế của lối tư duy cũ trong việc tìm đường giải phóng dân tộc và phát triển đất nước

Giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cả dân tộc Việt Nam ở trong bối cảnh là đất nước vốn đã lạc hậu trì trệ bởi chủ nghĩa phong kiến lại bị chủ nghĩa thực dân (CNTD) xâm lược, đô hộ. Bối cảnh ấy làm nảy sinh hai nhu cầu lớn: làm thế nào để giải phóng dân tộc, giải phóng các giai cấp? Và làm thế nào để phát triển đất nước? Và, đã có nhiều lực lượng ưu tú của Dân tộc đã đi tìm cách để giải quyết các nhu cầu trên. Trước khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước, Dân tộc ta hồi đó từng có 2 trải nghiệm: con đường theo ý thức hệ phong kiến và con đường theo ý thức hệ dân chủ tư sản.

Con đường cứu nước bằng ý thức hệ phong kiến cổ truyền xuất phát từ một triết lý có từ nghìn năm trước: “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, người Việt Nam tự quản lý công việc nội bộ. Ý nghĩa triết lý ấy thật giản dị. Và kể từ ngày 5/6/1858 khi thực dân Pháp và Tây Ban Nha xâm lược đất nước, nhiều thế hệ của người Việt Nam đã đánh Tây, cứu nước theo tư duy ấy.

Con đường cứu nước thứ hai, phức tạp hơn một chút, là giải phóng dân tộc và sau đó, phát triển đất nước theo con đường TBCN. Ý thức hệ chi phối con đường này là tư tưởng dân chủ tư sản. Nó xuất hiện từ khá sớm, trước cả sự kiện 1858. Nhiều bậc thức giả, sỹ phu của triều Nguyễn đã ý thức được tình trạng lạc hậu của Việt Nam và bối cảnh thế giới đang trong cuộc “Mưa Âu, gió Á” với nhiều chuyển động từ chế độ phong kiến sang chế độ dân chủ tư sản và, họ đã đi tìm đường cứu nước từ tư duy ấy.

Các giải pháp để cứu nước theo hai con đường phục quốc phong kiến và dân chủ tư sản đều bị thất bại. Vì sao những giải pháp ấy lại thất bại? Về logic, cả dân tộc hiện có 2 nhu cầu lớn, theo đó nó định ra những mục tiêu của cách mạng. Có giải quyết được quan hệ giữa mục tiêu giai đoạn – trước mắt và mục tiêu chiến lược lâu dài thì mới có phương pháp cách mạng, tạo ra động lực, thu hút được đồng minh, đoàn kết dân tộc… Thành hay bại của một giải pháp cứu nước đều phải giải quyết được các mục tiêu và mối quan hệ giữa những mục tiêu ấy. Chúng ta cùng xét từng giải pháp.

– Tư tưởng phong kiến bất lực trước nhu cầu giải phóng và phát triển.

Đi theo ý thức hệ này, đương thời có hai nhóm: một là phong trào yêu nước của nhân dân theo ngọn cờ của các sỹ phu, tướng lĩnh và thủ lĩnh nông dân và những hành động của triều Nguyễn. Cả hai đều trên nền tư tưởng của ý thức hệ phong kiến. Mục tiêu trực tiếp của con đường này là quang minh: đánh Tây xâm lược, phục quốc, độc lập; nhưng mục tiêu chiến lược lâu dài để phát triển đất nước sẽ như thế nào, thì còn nhiều lúng túng. Vấn đề là sau khi giành độc lập, sẽ lại tiếp tục xây dựng lại thể chế phong kiến vậy, liệu điều đó có đủ đáp ứng nhu cầu dân chủ của cả xã hội, đặc biệt là khối nông dân đông đảo nhất?

Các phong trào yêu nước do những bậc sỹ phu, tướng lĩnh và thủ lĩnh nông dân đương thời liên tục nổ ra khắp đất nước với tinh thần dũng cảm ngất trời: “đầu dám thay đầu, chân nối chân”. Song dường như với triết lý giản dị “Sông núi nước Nam…” hay lòng dũng cảm “Vì nước tấm thân đã trải, còn mất cũng cam, giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào ngại”… thì chưa đủ để giải phóng và phát triển. “Chớ đem thành bại luận anh hùng”. Chủ nghĩa yêu nước và sự hy sinh vì đại nghĩa dân tộc của những con người này thật đáng tôn vinh. Sự thất bại của phong trào yêu nước này còn cho thấy một bài học lớn: để cứu nước thì chỉ hành động “truyền hịch, dựng cờ khởi nghĩa” và Cần vương là chưa đủ…

134.jpgHồ Chí Minh với các thành viên chính phủ lâm thời. Ảnh: Tuấn Anh

Nhu cầu phát triển đất nước trong một xã hội được tổ chức thành nhà nước bao giờ cũng in dấu ấn của chủ thể cầm quyền. Nhưng do chế độ bạc nhược hủ bại và tự cô lập với những khát vọng của nhân dân nên trước đó, triều Nguyễn đã lạnh lùng khước từ những sáng kiến tìm lối phát triển. Các điều trần, các phương án canh tân của nhiều bậc thức giả như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Lộ Trạch… đều bị chối từ để cấm cố dân tộc trong phương thức phong kiến. Nó kìm hãm tư tưởng xã hội trong thứ bậc cổ lỗ theo kiểu Sĩ – nông – công – thương… và đã không còn phản ánh đúng cơ cấu giai cấp của xã hội; và nó “bịt mắt” làm ngơ trước những khát vọng giải phóng, nhu cầu dân sinh, dân chủ…

Triều đình phong kiến nhà Nguyễn cũng ý thức được sự mất mát khi va chạm lợi ích với thực dân Pháp xâm lược. Song lợi ích ích kỷ của tập đoàn thống trị và sự kìm hãm của hệ tư tưởng phong kiến đã dung dưỡng những tư tưởng đầu hàng, bảo thủ cổ hủ, biện luận cho những thối nát bất lực: lấy “Năm đạo thường” để quản lý đất nước; “lấy đạo Nho để giáo hóa quân Tây dương”… Nó làm nguội lạnh những nhiệt huyết của các bậc sỹ phu, thậm chí lấy đạo trung quân để lấn át lòng ái quốc bằng việc tiếp tay cho thực dân Pháp đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Bất lực và phản bội, một bộ phận triều Nguyễn đã hi sinh độc lập dân tộc để cứu vãn lợi ích ích kỉ của phong kiến. Nó đã tách khỏi dân tộc bằng các Hiệp ước cắt đất, đầu hàng với thực dân Pháp.

Tư tưởng phong kiến trước đây, khi gắn bó với chủ nghĩa yêu nước của Dân tộc đã làm trọn chức phận của nó mỗi khi đất nước bị xâm lăng. Nhưng giờ đây nó đã bất lực, hủ bại. Nho giáo là hạt nhân của tư tưởng phong kiến Việt Nam, đã không còn đủ sức để giải thích một hiện tượng mới mẻ là chủ nghĩa thực dân. Thậm chí có lúc nó từng được sử dụng như vũ khí trong công cuộc chống xâm lăng và góp phần xây nên “thành lũy của chủ nghĩa dân tộc” (Phan Bội Châu). Ở giai đoạn đầu tiên của cuộc kháng Pháp, tư tưởng “dị chủng, dị tộc” khá rõ. Chống xâm lược là chống quân Tây dương tà đạo, dị chủng, man di… Nó ảo tưởng vào thuyết “đồng chủng, đồng văn”; xa hơn cũng chỉ thấy được “dân tộc Trung Hoa cũng bị nô dịch như ta” chứ chưa thấy được bản chất giai cấp của hiện tượng áp bức dân tộc. Về sau, tư tưởng này còn xuất hiện trong luận thuyết “đồng chủng, đồng văn” của các bậc sỹ phu đi theo con đường dân chủ tư sản. Đạo quân thần đã không đủ để giữ bờ cõi trước sự xâm lăng của thực dân – tư bản, nhưng Nho vẫn còn cái “giá đỡ” là thể chế phong kiến nên vẫn tồn tại. Nhà Nguyễn lại còn tận dụng những phần lạc hậu nhất, trì độn nhất của ý thức hệ Nho giáo để biện luận cho sự bạc nhược và hủ bại của mình.

Cái nguyên nhân sâu xa của sự thất bại của phong kiến Việt Nam đương thời là lạc hậu về tư tưởng hủ bại về thể chế. Các nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu và Nguyễn Khắc Viện đều đã chỉ ra: Chủ nghĩa bảo thủ Nho giáo; chủ nghĩa quan liêu của quan lại; tư tưởng tiểu nông của nông dân… là những vật cản lớn của giải phóng và phát triển.

– Tư tưởng dân chủ tư sản cũng đã là một tìm tòi mới, song cũng chung sự thất bại khi tìm giải pháp để giải phóng và phát triển dân tộc. So với tư tưởng phong kiến thì đây là một trình độ cao hơn và nó cũng đã có sức hấp dẫn nhất định với một bộ phận của xã hội Việt Nam.

Hệ tư tưởng tư sản đương thời ở Việt Nam có hai loại ảnh hưởng: Loại ảnh hưởng thứ nhất là một số yếu tố khai hóa đã xuất hiện như tự do, bình đẳng, dân chủ… dù đã méo mó đi nhiều thông qua chế độ thực dân. Nguyễn Ái Quốc trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã mô tả hình ảnh của Nữ thần công lý khi sang thuộc địa thì cái cân “công lý” bị biến thành thuốc phiện và thanh gươm bảo vệ “tự do” trở thành công cụ đàn áp, chém giết dân tộc An Nam. Song dù sao, nhiều tư tưởng dân chủ phương Tây vẫn có tác dụng thức tỉnh với một bộ phận của xã hội – chủ yếu là sinh viên, trí thức Tây học và công chức… Nó là khởi điểm để một bộ phận vươn tới trình độ mới và có thể tạo ra những sắc thái mới trong đời sống xã hội đô thị…

Loại ảnh hưởng thứ hai, có một nhóm xã hội có lúc đã coi hệ tư tưởng tư sản như một giải pháp tìm đường cứu nước. Nó chưa tạo ra được một thể chế dân chủ mới nhưng đã từng là một tìm tòi và là một ngọn cờ tư tưởng của nhiều bậc thức giả đầu thế kỷ XX mà đại biểu là Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu. Thậm chí có cả những hành động với mục tiêu đáng trọng như khởi nghĩa Yên Bái (2-1930).

Vì sao hệ tư tưởng tư sản bất lực và thất bại?

Nó cũng như ý thức hệ phong kiến, đã không giải quyết được đồng thời hai nhiệm vụ của lịch sử Việt Nam là giải phóng (dân tộc và các giai cấp bị áp bức) và phát triển đất nước. Nó lại thiếu cơ sở xã hội (lúc đó giai cấp tư sản dân tộc còn rất non yếu) và không giải quyết triệt để những nhu cầu dân chủ của đông đảo xã hội là công nhân và nông dân. Giả định rằng, con đường này thành công (như phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn độ) thì công nhân và nông dân vẫn tiếp tục thân phận bị bóc lột và áp bức và độc lập dân tộc vẫn bị đe dọa bởi chủ nghĩa thực dân mới.

Điều đáng chú ý là nó mang tính phi logic, vì không thể lấy tư tưởng tư sản để chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cùng việc giải quyết những hệ quả chính trị xã hội do chính chế độ gây ra. Hệ tư tưởng dân chủ tư sản có thể là mới mẻ so với lập trường phong kiến nhưng nó cũng đã bị lịch sử vượt qua về thời đại bằng Cách mạng XHCN tháng Mười.

Cuộc tìm tòi giải pháp cho độc lập và phát triển dân tộc chưa đến hồi kết.

2. Các tình huống đặt ra nhu cầu đổi mới tư duy về con đường cứu nước.

Nhìn tổng quát, những hệ tư tưởng đã được vận dụng cho cuộc cứu nước và giải phóng dân tộc hồi đầu thế kỷ XX, tính cụ thể đến ngày 5/6/1911 – ngày Nguyễn Ái Quốc xuất dương đi tìm đường cứu nước, đều là những ý thức hệ đã cũ và chưa thể được chấp nhận cho nhu cầu giải phóng và phát triển của Việt Nam. Các tình huống mà thực tiễn đặt ra là:

Kẻ thù của độc lập dân tộc giờ đây đã khác, phương thức xâm lược, bóc lột cũng khác trước. CNTB là một hiện tượng thế giới, bằng chủ nghĩa thực dân, nó đang muốn “tạo ra thế giới theo hình ảnh của nó”. CNTB Pháp hơn phong kiến Việt Nam một phương thức sản xuất, khác về thủ đoạn thống trị, lại là một thế lực quốc tế… thì không thể đánh đổ nó chỉ bằng chủ nghĩa dân tộc tuần túy.

Phát triển là nhu cầu lớn của cả dân tộc. Sự nghèo nàn, lạc hậu của Dân tộc ta đương thời là do chìm đắm trong chế độ phong kiến đã hàng chục thế kỷ, nay lại thêm sự áp bức của chế độ thực dân. Lặp lại chế độ phong kiến không phải là lối thoát và đi lên CNTB lại cũng không phải là giải pháp tối ưu, vì tuyệt đại đa số của Dân tộc hồi đó là nông dân và công nhân. Muốn phát triển đất nước, trước tiên phải giải phóng được sức mạnh của lực lượng ấy.

Trước Mac, vấn đề độc lập dân tộc chưa có ai giải quyết trên lập trường duy vật và biện chứng về lịch sử. Xâm lược và thống trị là một hiện tượng xã hội có căn nguyên về kinh tế là chế độ tư hữu, về chính trị chế độ là người áp bức bóc lột người. Không có dân tộc thượng đẳng và hạ đẳng, không có số phận của dân tộc đi thống trị, khai hóa và số phận của dân tộc bị trị, bị đô hộ. CNTB, CNĐQ là cơ sở kinh tế – chính trị của hiện tượng nô dịch dân tộc mà biểu hiện cụ thể là chủ nghĩa thực dân, toàn cầu hoá TBCN…

Hạt nhân của vấn đề là phương thức bóc lột giá trị thặng dư. Nạn dân tộc này áp bức dân tộc khác đều bắt nguồn từ chế độ người bóc lột người. Để thỏa mãn cơn khát lợi nhuận, CNTB tạo ra một thế giới theo hình ảnh của nó và theo cách của nó: tìm kiếm thị trường, nhân công và tài nguyên … từ xâm lược, áp bức và nô dịch. Nạn dân tộc này áp bức dân tộc khác đều bắt nguồn từ chế độ người bóc lột người. Giải quyết vấn đề độc lập dân tộc ở thời đại ngày nay có nghĩa là chống CNTB, CNĐQ và các biến thái của nó. Nhưng CNĐQ chỉ tạo ra những tiền đề, mảnh đất để CNCS gieo hạt giống giải phóng chứ chưa chuẩn bị đầy đủ cho cách mạng XHCN (Do áp bức, bóc lột, bần cùng hóa, do chính sách ngu để trị … ). CNXH phải thông qua cách mạng giải phóng dân tộc để nhân dân giành lấy quyền độc lập tự do về chính trị, và qua đó xây dựng độc lập về kinh tế, xã hội. Độc lập dân tộc và những mục tiêu dân chủ, dân sinh… có nhiều điểm gắn bó và chỉ có thể giải quyết triệt để khi gắn với con đường XHCN.

Lý luận CNXH khoa học là cơ sở để giải quyết vấn đề dân tộc của xã hội hiện đại. Học thuyết ấy đã làm rõ bản chất kinh tế của nhu cầu giải phóng dân tộc là giải phóng các giai cấp – tầng lớp đang bị áp bức, bóc lột trong các dân tộc thuộc địa. GCCN và sứ mệnh lịch sử thế giới của nó là giải pháp để gỉai quyết triệt để những hiện tượng xã hội trên. Lực lượng để thực hiện sứ mệnh lịch sử giải phóng các dân tộc thuộc địa là GCCN và nhân dân các dân tộc thuộc địa dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Con đường là từ giải phóng dân tộc tiến lên XHCN, “giữa hai cuộc cách mạng không có bức tường thành nào ngăn cách”. CNXH và CNCS sẽ xóa đi nạn người bóc lột người và là căn nguyên sâu xa nhất của vấn đề áp bức dân tộc và theo đó, giải quyết cơ bản vấn đề độc lập dân tộc.

3 – Những đột phá của Hồ Chí Minh để đổi mới tư duy về con đường giải phóng dân tộc và phát triển đất nước

“Độc lập cho đất nước tôi, tự do cho đồng bào tôi đó là tất cả những gì tôi muốn tất cả những gì tôi hiểu”. Đó cũng là khát vọng của cả dân tộc mà Hồ Chí Minh là người thấu hiểu và phát ngôn trước quốc tế. Bài học kinh nghiệm của các bậc tiền bối cho thấy nêu chỉ khư khư với chủ nghĩa giáo điều Nho giáo hoặc Tân thư, Tân văn (những phụ phẩm của lý luận dân chủ tư sản) thì không thể giải quyết được vấn đề của Việt Nam. Phải đứng trên mảnh đất hiện thực Việt Nam để tiếp nhận “cái linh hồn của chủ nghĩa Mac”, từ đó xác định triết lí phát triển của mình.

“Không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động”. Hồ Chí Minh viết như vậy ở trang đầu cuốn “Đường Cách Mệnh”. Vậy hạt nhân của lý luận cách mạng Việt Nam là gì? Đó là giải phóng Dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người để từ đó bước vào chặng phát triển với chất lượng mới. Cũng chỉ từ đó mới có thể bảo đảm cho độc lập dân tộc và giải phóng triệt để xã hội, con người. Với tư duy khoa học và cách mạng như vậy, Hồ Chí Minh đã có những đột phá – đổi mới trong việc giải quyết những nhu cầu của Dân tộc qua việc tiếp hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với nhu cầu của cách mạng Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp để giải quyết vấn đề dân tộc. Đấu tranh cách mạng ở nước ta, trước tiên diễn ra dưới hình thức đấu tranh dân tộc – đó là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với chủ nghĩa đế quốc, thực dân Pháp; nhưng chế độ thực dân nửa phong kiến lại là một thực thể kinh tế – chính trị đang áp đặt ách bóc lột giá trị thặng dư và bóc lột thuộc địa lên các giai cấp và tầng lớp lao động Việt Nam. Ở Việt Nam đương thời, công nhân – nông dân – trí thức đang chịu “một cổ đôi ba tròng” là ách bóc lột của chủ nghĩa phong kiến và chế độ bóc lột giá trị thặng dư. Họ cũng là nòng cốt cho lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc. Nếu chỉ thấy cái dân tộc mà không có lập trường giai cấp thì sẽ đi theo lối mòn của ý thức hệ phong kiến hoặc dân chủ tư sản, và hiển nhiên không thể “tranh được độc lập cho dân tộc” và thỏa mãn khát vọng giải phóng, dân chủ của nông dân và công nhân.

Mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam đương thời là hình thái đặc biệt của mâu thuẫn giai cấp: giữa dân tộc Việt Nam với CNTD Pháp, Hồ Chí Minh coi đó là mâu thuẫn bao trùm và chi phối. Sau này, Luận cương chính trị 10/1930 cũng chỉ ra cơ sở kinh tế của “lối bóc lột phong kiến lại chiếm địa vị trọng yếu” chứ chưa phải là phương thức bóc lột giá trị thặng dư của CNTB. Vì vậy, “chủ nghĩa dân tộc còn là một động lực lớn của đất nước”. Nhưng chính bản thân động lực này cũng đã có sự chuyển hóa: trên lập trường GCCN chứ không phải dân tộc chủ nghĩa như trước; định hướng của nó “sẽ là cơ sở hiện thực cho chủ nghĩa quốc tế” và cách mạng XHCN; hạt nhân xã hội của nó là những người cộng sản vươn lên nắm lấy ngọn cờ dân tộc.

Độc lập cho tổ quốc và tự do, hạnh phúc cho mỗi người lao động là thành quả đầu tiên của con đường theo chủ nghĩa Mac-Lênin. Lý tưởng của GCCN là CNCS nhưng mục tiêu trực tiếp của nó ở Việt Nam là làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng người lao động thoát khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân, ách áp bức của đế quốc và phong kiến – địa chủ. Theo đó “vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và nông dân là bạn đồng minh của giai cấp công nhân; liên minh công – nông – trí thức là cơ sở đại đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc. Qua đó, sức mạnh của GCCN còn non trẻ được nhân lên bằng sức mạnh của giai cấp đại biểu cho lợi ích của dân tộc và người lao động.

Rõ ràng đấu tranh giai cấp ở Việt Nam có hình thức dân tộc. So với chủ nghĩa Mác, thứ tự của quá trình giải phóng có khác ở chỗ, yếu tố giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu chứ không phải chỉ là giải phóng giai cấp. Nhưng sự nghiệp giải phóng và phát triển Dân tộc lại có được động lực to lớn hỗ trợ là những thành quả giải phóng các giai cấp- tầng lớp lao động, là đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người lao động. Độc lập, tự do, hạnh phúc là mục tiêu, là thành quả và là những động lực luôn gắn bó trong tư duy Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam

CNXH khoa học đến với cách mạng Việt Nam tuy tự nhiên nhưng không hề dễ dàng, đơn giản. Tự nhiên vì đây là nhu cầu chung của cả dân tộc Việt Nam trong việc tìm đường để phát triển và giải phóng. Nhưng không hề đơn giản vì phải có một nhãn quan mới khoa học và cách mạng, mới thấy được mối quan hệ giữa bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc và đặc biệt là thấy được hình thái dân tộc của đấu tranh giai cấp và vận dụng lý luận đấu tranh giai cấp vào giải quyết vấn đề dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã gắn kết hai lực lượng mạnh mẽ nhất của Dân tộc là phong trào yêu nước và phong trào trào công nhân với một lý luận khoa học và từ đó tạo ra được hạt nhân, bộ tham mưu, đội tiền phong là Đảng cộng sản cho cuộc đấu tranh vì giải phóng và phát triển. Kể từ đây, cách mạng có bước chuyển mới về tư duy: người Việt Nam bắt đầu cuộc giải phóng và phát triển bằng đổi mới tư duy, bằng giác ngộ lý luận chứ không phải bằng hành động “truyền hịch, dựng cờ khởi nghĩa” như xưa.

Như vậy, “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là quy luật vận động của thực tiễn chính trị xã hội Việt Nam qua những trải nghiệm tìm kiếm, sàng lọc. Nó được xác định từ nhiều vận động dích dắc của lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và thực sự chuyển biến từ quá trình đổi mới tư duy đầu tiên mà Hồ Chí Minh là người khởi dẫn./.

PGS.TS Nguyễn An Ninh
Theo Tạp chí Tuyên giáo

hochiminhhoc.com

Những điều tâm huyết Bác Hồ căn dặn cán bộ, đảng viên Nghệ An

(TCTG)- Kỷ niệm 121 năm sinh nhật của Bác Hồ và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, mỗi việc chúng ta nghĩ, mỗi việc chúng ta làm hàng ngày trên tinh thần cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, cũng chính là “coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”, để thiết thực “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011.

Một trong những thành công lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi tự hào của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã xây dựng thành công ở Việt Nam một chính Đảng Mácxít – Lêninít, trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo quần chúng nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 lịch sử. Với thắng lợi đó, mục tiêu Độc lập dân tộc và CNXH được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn từ năm 1930 đã từng bước trở thành hiện thực. Nhà nước Việt Namdân chủ cộng hoà, nhà nước của dân, do dân, vì dân được sáng lập. Một trang sử mới trong lịch sử dân tộc đã bắt đầu với những trọng trách không kém phần nặng nề, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, những người ngày hôm qua còn phải hoạt động trong bí mật, ngày hôm nay đã nắm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương xuống đến các địa phương phải không ngừng tu dưỡng, phấn đấu.

1. Lời nhắn nhủ của Hồ Chí Minh đến các đồng chí “tỉnh nhà”

Thành công của cách mạng Tháng Tám đã mang lại độc lập cho Tổ quốc ta, tự do cho đồng bào ta. Một kỷ nguyên mới, với những thuận lợi mới đi liền cùng khó khăn và những thách thức khôn lường.Trong bối cảnh đó, với trách nhiệm của người đứng đầu Nhà nước, ngày 17/9/1945, Chủ tịch Chính phủ đã gửi Thư cho các đồng chí tỉnh nhà. Trong bức thư này, Hồ Chí Minh khẳng định: Cuộc dân tộc cách mạng thành công này có những ý nghĩa rất to lớn, song bên cạnh những thuận lợi, cũng còn vô vàn những khó khăn thử thách. Và để vượt qua những trở ngại, để bảo vệ và củng cố chính thể dân chủ cộng hoà còn non trẻ, “chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”, “không sợ có khuyết điểm” và phải “lập tức sửa đổi ngay” (1) những khuyết điểm đã bắt đầu xuất hiện. Lý do để Người căn dặn như vậy, chính là vì: Đảng có vững cách mạng mới thành công. Giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền, song trong mọi thời điểm, Đảng ta không có lợi ích nào khác là phục vụ nhân dân, vì nhân dân. Trong khi đó, “cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể” (2) Cuối thư, bằng tình cảm của một người con với quê hương, bằng những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong những năm tháng hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh chân thành nhắn nhủ: “Trong công tác, có vấn đề gì khó giải quyết, các đồng chí cứ viết thư thảo luận với tôi. Tôi rất sẵn sàng giúp ý kiến” (3).

Ngày 19/12/1946, chỉ 15 tháng sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đọc Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), đất nước ta đã bước vào cuộc trường chinh chống Pháp, trong một tương quan lực lượng chênh lệch. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, nhân dân cả nước từng bước triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, kiên cường chống thực dân Pháp xâm lược với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(4). Từ những ngày đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đạt đến trình độ tối cao” (5). Trong khi cả dân tộc đang “ở trên ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn” (6), thì cũng lại Hồ Chí Minh trực tiếp gửi đến các đồng chí tỉnh nhà những lời căn dặn chí tình: “Mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, làm cho nước được thống nhất và độc lập” (7). Để có thể làm được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một “cẩm nang”, yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể Đoàn thể phải “sáng suốt, khôn khéo, Cẩn thận, kiên quyết, Siêng năng, nhất trí”(8), để đồng tâm hiệp lực lãnh đạo cách mạng.

Đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, quan tâm đến sự lớn mạnh của bộ máy lãnh đạo các cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm, trao đổi với lãnh đạo của Tỉnh những vấn đề về rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng ta đang cầm quyền, đang trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đó, Người nhấn mạnh rằng, trong số những cán bộ, đảng viên của Đảng, vẫn có không ít người “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ”. Tính cục bộ địa phương đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì dường như từ nó mà “sinh ra những việc, xem qua thì hình như không quan hệ gì mấy”, nhưng “kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung”.

Cũng trong bức thư này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra một căn bệnh không kém phần nguy hiểm, luôn là nguy cơ dẫn đến sự thoái hoá, biến chất của mỗi người cán bộ, đảng viên, đó là bệnh óc bè phái: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe” (9). Từ căn bệnh này, những người có quyền lực hoặc kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu của mình dù không có tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài và họ đã quên mất rằng, việc nước là việc chung của tất cả mọi người, chứ không phải việc riêng của một số người, một dòng họ. Đó thực sự là một khuyết điểm lớn, rất có hại, rất nguy hiểm, “làm cho Đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí,

thường hỏng việc”.

Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn nêu ra một căn bệnh phổ biến thường thấy ở mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng – đó là tính cô độc, hẹp hòi: “Có đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con bằng hữu vào chức này việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có Đoàn thể chịu”; “có nơi, các đồng chí chẳng những không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau, tha thứ cho nhau, giấu cả Đoàn thể”(10). Tất cả những biểu hiện đó, dù dưới dạng nào cũng thật là có hại. Hoặc do vô tình, hoặc do cố ý, họ không hiểu rằng: “Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở” (11). Vì vậy, muốn sự nghiệp kháng chiến thành công, muốn nguồn sức mạnh nội lực của cả dân tộc được nhân lên, thì những người lãnh đạo phải biết dùng chỗ hay của người, giúp người sửa chỗ dở. Người lãnh đạo giỏi thì phải “gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được”. Ngoài ra, Người còn không ngần ngại chỉ ra rằng: “Còn những đồng chí hay có tính kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, cho mình là cựu đồng chí, cựu chính trị phạm thì giỏi hơn ai hết, ai cũng không bằng mình” (12), thì thực sự đã quá tự mãn, đã “bó mình lại, không cho mình tiến bộ thêm”.

Không chỉ căn dặn cán bộ, đảng viên của Đảng ở tỉnh nhà, những người sẽ góp phần không nhỏ vào sự lớn mạnh của Đảng những điều mà Người từng tiên liệu và đã từng được chứng kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng định: các đồng chí có nhiều ưu điểm như “nhẫn nại, chịu khó, kiên quyết, tháo vát và nhiều sáng kiến…Nhưng trong thời kỳ khó khăn nặng nề này, chỉ có những ưu điểm ấy thôi cũng chưa đủ. Các đồng chí cần phải đem căn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục cho những khuyết điểm vừa kể trên thì chúng ta mới chắc đi đến hoàn toàn thắng lợi”(13). Cuối cùng, Người nhấn mạnh: Các đồng chí phải làm tốt công tác cán bộ. Chọn người phải đích đáng, quyền hạn phải phân minh… và nhất là phải tránh “cái lối lạm quyền, bao biện, xung đột, phù diện và suy tỵ, không phụ trách”. Người mong những người con ưu tú của tỉnh nhà, những công bộc của dân luôn lòng mình hướng đến chí công vô tư và phải “đem toàn bộ tinh thần cách mệnh mà khắc phục khuyết điểm, phát triển các ưu điểm”, để chấn chỉnh công tác, để lãnh đạo toàn dân hăng hái tham gia kháng chiến.

2. Lời Người dặn khi về thăm “tỉnh nhà”

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, vừa xây dựng một chế độ xã hội mới ở miền Bắc, vừa tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai. Đối với Nghệ An, một tỉnh miền Trung nghèo về kinh tế và giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, thì việc không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng thắng lợi CNXH và đảm bảo đánh thắng giặc Mỹ xâm lược là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.

Tháng 6/1957, sau nhiều năm xa cách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm quê hương Nghệ An lần thứ nhất. Trong lần gặp gỡ này, Người tập trung nói với cán bộ, đảng viên về ưu điểm, khuyết điểm và nhiệm vụ trước mắt. Theo Người: Đại đa số các đồng chí đã chịu cực, chịu khổ, chịu khó để hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao phó. Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn hiện tượng mất đoàn kết nội bộ và “đây là một khuyết điểm quan trọng”(14). Mặt khác, bệnh suy bì về đãi ngộ và địa vị, làm việc gì cũng sợ khó, tự kiêu tự đại, chưa thực hiện được khẩu hiệu cần, kiệm, liêm chính, thậm chí có người còn mê tín là những tồn tại hiện thời trong một số cán bộ, đảng viên và những tồn tại ấy làm suy yếu tổ chức Đảng. Sau đó, Người nói về những nhiệm vụ trước mắt của toàn tỉnh, đặc biệt là phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và mong đội ngũ lãnh đạo của tỉnh cùng toàn dân quyết tâm đưa Nghệ An giàu truyền thống cách mạng thành “một tỉnh gương mẫu”.

4 năm sau, khi về thăm quê lần thứ 2 (12/1961), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Lần này, cũng đề cập đến vấn đề vai trò và trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tổ chức cơ sở Đảng trong việc lãnh đạo nhân dân tổ chức sản xuất, Người khẳng định: “Nói Đảng cũng rộng đấy. Nhưng trước hết là ai? Chi bộ. Hễ chi bộ tốt thì hợp tác xã tốt, chi bộ kém thì hợp tác xã kém. Đó là kinh nghiệm chung”(15) và “muốn biết Đảng địa phương của mình mạnh hay yếu, khá hay kém hãy nhìn vào sự lãnh đạo của cấp uỷ” (16). Từ thực tế của Nghệ An, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn thực sự đoàn kết nội bộ, muốn thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thì nhất định “phải dân chủ nội bộ. Muốn dân chủ nội bộ tốt thì cần gì nữa? Phải phê bình, tự phê bình” (17).

Còn khi về thăm cán bộ xã Nam Liên, Nghệ An (ngày 9/12/1961), Người cũng nói rất cụ thể: “Trong xã có lực lượng lãnh đạo, có lực lượng giúp lãnh đạo, phải làm gương mẫu cho đồng bào…hơn 230 đảng viên, đoàn viên, phải gương mẫu trong mọi công việc trong tăng gia sản xuất, trong học tập. Nên như thế mà phải như thế. Nếu đảng viên không gương mẫu thì không xứng đáng là đảng viên”(18). Theo Người, chỉ có làm được như thế những người cán bộ, đảng viên của xã mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng mà nhân dân xã đã giao cho họ, mới đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng đời sống mới, xây dựng CNXH.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với những cán bộ, đảng viên lâu năm của tỉnh, và không quên nhắc lại mấy điều cốt yếu. Đó là Đảng ta là Đảng chỉ có một điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoài ra, Đảng ta không còn có lợi ích nào khác. Vì thế, “khi Đảng giao việc gì, bảo việc gì đều làm nấy, không kể sang hèn, địa vị cao thấp; không có việc gì khó Đảng giao không làm. Đó là những anh hùng…không đòi hỏi gì cho gia đình và cá nhân cả. Đó là những người con ưu tú của Đảng, của cách mạng”(19). Họ đã thực sự vì Tổ quốc và nhân dân, lo thì lo trước mọi người, vui thì vui sau mọi người. Và cũng vì thế, họ góp phần làm cho Đảng ta lớn mạnh, chắc chắn, ngày càng phát triển. Song giờ đây, công việc khó khăn hơn, to lớn hơn, phức tạp hơn, phải làm cho “nước càng ngày càng mạnh, dân càng ngày càng giàu”, nên cần phải có lớp cán bộ trẻ kế cận. Công việc ngày càng nhiều, “một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học” để thực hiện tốt 2 nhiệm vụ: “A, Bất kỳ Đảng giao cho việc gì, nhân dân giao cho việc gì, phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ. B, Đào tạo thanh niên cho họ làm việc hơn mình, không nên nạnh kẹ. Mặt khác, thanh niên nên phải biết công lao của các đồng chí già, phải thấy các đồng chí già đã trải qua phong ba bão táp, có kinh nghiệm, thanh niên phải học tập” (20). Tại cuộc nói chuyện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trao đổi với các đồng chí cán bộ, đảng viên của tỉnh nhiều nội dung quan trọng khác liên quan đến công tác xây dựng Đảng, và khẳng định: Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị.

Vào những năm sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không có điều kiện để về thăm quê hương Nghệ An. Tuy nhiên, Người vẫn dành cho Nghệ An sự quan tâm sâu sắc. Trước khi từ biệt đồng bào và chiến sỹ cả nước để trở về với thế giới người hiền, ngày 21/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bức thư cuối cùng cho Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Vẫn không ngoài những băn khoăn, trăn trở của một người đứng đầu Đảng và Nhà nước đối với quê hương Xôviết khi “kinh tế của Nghệ An tiến còn chậm”, song Người cũng nêu rõ 4 nhiệm vụ (thực hiện dân chủ, khôi phục và phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu) mà Đảng bộ tỉnh phải thực hiện trong thời gian tới. Điểm đầu tiên và cũng là điểm Người nhấn mạnh nhất trong thư, chính là phải “tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân”. Đồng thời, Người mong “cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thường xuyên phê bình trước nhân dân, khuyến khích nhân dân phê bình. Khiêm tốn lắng nghe ý kiến của nhân dân để phát huy những việc tốt, sửa chữa những việc sai, làm công tác tốt hơn” (21).

Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên cần khuyến khích nhân dân góp phần xây dựng Đảng, góp ý kiến về vệc chọn người vào Đảng, tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, để mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân ngày càng thêm mật thiết. Cuối thư, Người viết: Nghệ An là một tỉnh rộng lớn, có tài nguyên phong phú, có nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng. Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc.

3. Nhớ về Người nhân dịp tháng Năm về

Trong suốt gần 1/4 thế kỷ là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, là vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho công tác xây dựng Đảng sự quan tâm sâu sắc. Thấm nhuần những nguyên tắc về xây dựng một chính Đảng kiểu mới, trong sạch vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rất rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Họ thực sự là tiền vốn của Đoàn thể, là gốc của mọi công việc và Đoàn thể mạnh hay yếu, tiền phong hay tụt hậu phụ thuộc rất nhiều vào họ. Vì vậy, trong nhiều nội dung của công tác quan trọng này, những tiên liệu, những chỉ dẫn của Người về những căn bệnh thường mắc của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nói chung, và quê hương Nghệ An nói riêng từ những ngày đầu của chính thể dân chủ cộng hoà đã thực sự là những cảnh báo kịp thời, có ý nghĩa thời sự sâu sắc.

Không phải ngẫu nhiên, những tâm sự của Người cách đây hơn nửa thế kỷ, lại dường như mới xảy ra hôm trước. Thực tế, phần lớn cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Đảng, Chính phủ, các tổ chức chính trị khác trong hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN đã luôn quán triệt sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác Đảng và xây dựng Đảng, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Song bên cạnh đó, ở nhiều nơi và trong nhiều thời điểm, vẫn còn không ít những cán bộ, đảng viên đã dần dần quên mất trọng trách của mình, từng bước tha hoá, biến chất, làm giảm uy tín và sức mạnh của Đảng. Đó là một hiện trạng đáng buồn và hơn lúc nào hết, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng thành công, để Đảng ta xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân như mong ước của Người, thì không thể không ôn lại những lời căn dặn đầy tâm huyết, những cảnh báo kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm nào với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và xứ Nghệ nói riêng năm xưa.

Với ý nghĩa đó, kỷ niệm 121 năm sinh nhật của Bác Hồ và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, mỗi việc chúng ta nghĩ, mỗi việc chúng ta làm hàng ngày trên tinh thần cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, cũng chính là nhằm “coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”, để thiết thực “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, và theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011./.

Bài và ảnh: TS. Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

_________________

Chú thích:

1,2,3, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, tập 4, tr21
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2001, tập 8, tr160
5,6,7,8. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr76
9,10, 11,12, 13. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr77, 78
14. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 8, tr407
15, 16, 17. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr441, 442, 443
18. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr456, 457
19. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr462
20. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr468
21. Hồ Chí Minh, Sđd, tập 12, tr481

tuyengiao.vn

Bản lĩnh Hồ Chí Minh

Tác giả: TƯƠNG LAI

Dám nghĩ đến những “nghịch lý táo bạo” chính là sự thể hiện tinh thần dám chịu trách nhiệm đối với sự nghiệp mình đang theo đuổi, dám chịu trách nhiệm với chính mình. Cái đó chính là bản lĩnh

Bản lĩnh Hồ Chí Minh là sự kết tụ và phát huy mạnh mẽ và sáng tạo bản lĩnh dân tộc Việt Nam ta trong tư tưởng, trong hành động, trong mọi ứng xử của “con người giàu chất người nhất trên thế giới này” (1)

Kỷ niệm 120 ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh giục giã những ai đang suy tư về vận nước nghĩ về bản lĩnh cần phải có để đủ trí lự và quyết tâm vượt lên mọi thử thách, có cái đã có tiền lệ mà ông cha ta cũng như Hồ Chí Minh đã chủ động đối phó một cách tuyệt vời, đồng thời cũng có những cái chưa có tiền lệ. Suy ngẫm kỹ về thực trạng, xem ra lúc này, bài học từ Hồ Chí Minh cấp bách nhất, trực tiếp nhất song cũng thuộc loại khó nhất là bài học về bản lĩnh của Bác.

Bản lĩnh là một khái niệm vừa trừu tượng, nhưng cũng vừa rất cụ thể. Bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc từ truyền thống dân tộc, một dân tộc vốn nằm trong thế kẹt oái oăm của vị trí địa-chính trị, mà muốn tồn tại và phát triển thì phải phát huy đến mức cao nhất khí phách “có cứng mới đứng được đầu gió”, “sóng cả không ngả tay chèo” sóng gió hung bạo và dữ dằn của Biển Đông, không chỉ từ trời mà thường trực hơn, xảo quyệt hơn là từ người.

Bàn về sự phát trịển của các nền văn minh, nhà sử học lớn nhất thế kỷ XX, Arnold Toynbee đưa ra luận điểm: “Thiên nhiên phải đến với con người như một khó khăn cần phải vượt qua. Nếu con người chọi lại thách thức thì sự chống trả của nó tạo những nền tảng cho nền văn minh của họ”.

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ta là một minh chứng sống động cho luận điểm đó. Chúng ta có đủ bản lĩnh vượt qua những nghịch lý để đi tới. Thiên nhiên đã vậy, nhưng con người Việt Nam không chỉ phải “chọi lại thách thức” của thiên nhiên mà quyết liệt hơn là phải thường trực “chọi lại” với những thế lực ngoại xâm hung bạo vốn trường kỳ theo đuổi mục tiêu thôn tính cái dân tộc nằm ngay trên ngã tư giao thương quốc tế từ Ấn Độ dương sang Thái Bình dương, đầu cầu của vùng Đông Nam Á, cứ khăng khăng không chịu thần phục, không chịu đồng hóa. Nếu không có bản lĩnh, dân tộc này đã bị diệt vong từ lâu rồi.

Xin gợi một ví dụ thay cho những giải thích dài dòng : Khi cuộc đàm phán về Hiiệp định Paris sắp ngã ngũ, H. Kissinger nói một câu đại ý: “nếu Việt Nam chỉ anh dũng thì Mỹ thừa sức đè bẹp, nhưng chúng tôi không thể đè bẹp được vì các anh vừa anh dũng vừa thông minh”.

Trong chuyến thăm Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, dừng lại trước các cọc gỗ Bạch Đằng và được nghe về ba lần đánh thắng Nguyên Mông, trả lời câu hỏi đùa của ông Lê Đức Thọ : Mỹ có muốn đánh với Việt Nam ba lần không, ông Kissinger nói “Tôi xin ông, một lần đã là quá đủ lắm rồi”! Khi xem bản ghi câu thơ của Lý thường Kiệt “Nam q1uốc sơn hà nam đế cư”…Kissinger lại nói : “hình như tôi đã nghe câu này ở đâu nhiều lần rồi”, và tiếp “À, đây là chương I điều 1 của bản Hiệp định Paris”! (2)

Liệu ông Kissinger có biết những chiếc cọc gỗ mà ông nhìn thấy đó không chỉ đã dìm chết quân Nguyên vào thế kỷ XIII, mà trước đó hai thế kỷ đã được Ngô Quyền sử dụng để chọc thủng thuyền, dìm chết quân xâm lược nhà Tống. Và sẽ càng thú vị hơn, nếu học giả Kissinger lại được biết thêm rằng, hiện vẫn còn miếu thờ một bà lão mở quán nước bên đường đã mách nước cho Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương để ngài bày binh bố trận tiêu diệt quân xâm lược. Sau khi thắng trận, Trần Hưng Đạo đã cho lập nên miếu thờ ấy!

Trên đất nước này, cơ man là những miếu thờ, đền thờ những vị anh hùng cứu nước xuất thân áo vải chân đất, và nếu thống kê tất cả các vị thành hoàng được thờ tại các làng để thấy ngoài những tổ phụ ngành nghề thì tuyệt đại bộ phận là những người có công với nước. Có hiểu sâu điều này, mới hiểu được về bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Bản lĩnh ấy được thôi thúc và định hình từ truyền thống một gia đình sĩ phu, khoa bảng, nơi con người xứ Nghệ được tôi luyện trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên mà trước hết là đất đai và thời tiết. Bản lĩnh ấy được khẳng định từ buổi khởi đầu của hành trình tìm đường cứu nước với hai bàn tay và nghị lực phi thường được nung nấu từ trái tim yêu nước mãnh liệt của người thanh niên Nguyễn Tất Thành, bôn ba khắp năm châu, bốn biển để rồi trở thành Nguyễn Ái Quốc, người chiến sĩ quốc tế vốn nặng lòng vì đất nước .

Từ những bước đi ban đầu trên hành trình tìm đường cứu nước cho đến khi trở thành người lèo lái con thuyền đất nước vượt qua bao phong ba bão táp để cập bến an toàn là sự chứng minh sinh động bản lĩnh ấy.

Nguyễn Ai Quốc, đến với học thuyết của C.Mác và Ph. Angghen, từ thân phận của một người mất nước, một người dân thuộc địa, một người được hấp thu nền học vấn và triết lý phương Đông, rồi được bổ sung văn hóa và triết lý phương Tây, trước hết là văn hóa Pháp. Con người ấy, so với C.Mác, Ph Angghen và V. I Lênin, thì trải nhiều oan nghiệt, cay đắng về thân phận cá nhân hơn nhiều. Từ thân phận ấy, Hồ Chí Minh dễ có sự thông cảm sâu sắc hơn và mãnh liệt hơn với người dân thuộc địa nói riêng và những người lao động nghèo khổ, những dân tộc đang bị nô lệ, phải gánh chịu áp bức, bất công trên thế giới nói chung.

Sự cảm thông ấy không chỉ dừng lại ở thân phận cá nhân để nhìn ngắm và suy đoán về thế giới, mà đã vượt khỏi chính mình để có được cái tầm cao của người chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Chính với cái tầm ấy mà Nguyễn Ái Quốc trở thành Hồ Chí Minh. Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ trước, phải trở thành người chiến sĩ cách mạng quốc tế thì mới thực hiện được sự nghiệp cứu nước, vì vậy, từ bước khởi đầu sự nghiệp cho đến khi từ biệt thế giới này, mục tiêu nhất quán của con người yêu nước Hồ Chí Minh là cứu nước, là giải phóng dân tộc.

So với C.Mác, Ph. Angghen và V.I Lênin, cũng như so với những chí sĩ Việt Nam khác như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…, học vấn của Hồ Chí Minh không bằng. Nhưng bù vào đấy là sự thâm nhập vào cuộc sống, lăn lộn nhiều hơn, đi nhiều hơn, thấy nhiều hơn, đến được nhiều chân trời hơn, sống với nỗi khổ đau của con người nhiều hơn. Những con người ở nhiều đất nước, nhiều châu lục, nhiều màu da, nhiều tiếng nói, nhất là tiếng nói của những người cùng khổ.

Quả là hiếm có lãnh tụ cách mạng nào có điều kiện tắm mình trong những quằn quại suy tư, những khát vọng rộng lớn của con người đến như vậy. Đấy là một nét độc đáo trong nhân cách và phẩm chất Hồ Chí Minh. Điều này khiến cho Hồ Chí Minh biết cảm nhận và rung động mãnh liệt, sâu lắng với con người trong sự sống đa dạng và phức tạp để hiểu ra rằng: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do”. Chính những yếu tố đó đã nung nấu, chưng cất và kết tụ lại để định hình bản lĩnh Hồ Chí Minh!

Làm sao có thể kể ra đủ những sự kiện, những hành vi, những tư tưởng thể hiện bản lĩnh ấy, xin chỉ nói đôi điều gợi ý trực tiếp nhất cho viện rèn bản lĩnh theo gương Bác Hồ đối với tuổi trẻ, để mà dồn trọn niềm hy vọng về một ngày mai tươi sáng của dân tộc vào nguồn sinh lực bất tận của dân tộc.

Trước hết là dám có chính kiến và đấu tranh để bảo vệ chính kiến đó. Về bước khởi đầu, trong trả lời nhà báo Mỹ Anna Louise Strong, Bác nói: “Những người Việt Nam, trong đó có cả cha tôi, thường tự hỏi nước nào có thể giúp phá bỏ ách đô hộ của người Pháp. Một số cho rằng Nhật Bản, những người khác cho rằng nước Anh và một số khác lại cho rằng nước Mỹ. Tôi cho rằng cần phải ra nước ngoài để tự tìm lấy câu trả lời cho mình”.

Mùa Xuân năm 1925, trong thư gửi một học giả yêu nước, Nguyễn Ái Quốc viết : “Thay vì trách cứ người khác, tôi cho rằng trước hết là tự trách mình. Chúng ta phải tự hỏi rằng “tại sao người Pháp lại có thể đàn áp chúng ta? Tại sao dân ta lại ngu muội như vậy? Tại sao cách mạng của chúng ta chưa thành công?” (3) Quả thật không dễ gì có những câu “tự hỏi” ấy!

Nhưng chính là bắt đầu từ những câu hỏi đó mà hành trình tư duy của Người ngày càng mở rộng và bay cao cùng với những bước chân bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm con đường cứu nước.

Trong các cuộc tranh luận để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Pháp mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những thành viên sáng lập, Nguyễn dám mạnh mẽ chất vấn : “Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì “? (4)

Từ quan điểm đó, Nguyễn tự mình vận động, thuyết phục bạn bè, đồng chí của mình để rồi cuối cùng sáng lập nên một tờ báo nhằm tuyên truyền phổ biến “quan điểm cách mạng” ấy. Tờ báo “Người cùng khổ” ra đời từ ý tưởng ấy mà Nguyễn vừa là người chủ bút, người in ấn, người phát hành cùng vài người đồng chí chí cốt giúp đỡ.

Từ chính kiến của mình mà dám đặt lại những vần đề lý luận mang ý nghĩa đột phá của sự vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng. Chẳng hạn, vào năm 1924 người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã dám đặt ra vấn đề : “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” vì thế, theo Nguyễn, phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”! (5)

Có hiểu bối cảnh đề xuất luận điểm ấy, khi mà quyền lực và ý chí của Stalin được áp đặt một cách tuyệt đối trong đời sống lý luận cũng như trong hoạt động của các đảng cộng sản mới thấy hết được bản lĩnh của Hồ Chí Minh khi dám đưa ra những kiến nghị “động trời” đó! Không phải là Nguyễn không dự kiến được những hệ lụy mà mình sẽ phải gánh chịu, và thực tế thì Người đã từng phải gánh chịu. Thế nhưng Nguyễn không thể không nói lên một sự thật đang diễn ra là  ở Việt Nam, “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây…Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ” (6)

Độc lập suy nghĩ và dám chịu trách nhiệm về những suy nghĩ và những kiến nghị của mình vì Nguyễn có một trái tim đập cùng nhịp với đời sống của nhân dân mình.

Theo William J. Duiker, tác giả của cuốn sách về Hồ Chí Minh xuất bản ở New York năm 2000 thì “đây là một nghịch lý táo bạo, nhưng lại là một thực tế tuyệt vời “. Không dám nghĩ về những “nghịch lý táo bạo”, chỉ biết đi theo con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước trong một thề giới đầy biến động mà mọi dự đoán đều không chắc chắn  thì làm sao có thể hướng đến mục tiêu mong muốn.

Chính vì thế, trong những cuộc tranh luận để đi tới thành lập Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc suy nghĩ nhiều về một câu nói của Jaurès, nhà cách mạng Pháp được người ta nhắc đến: “trung thành với truyền thống không có nghĩa là quay về những thế kỷ đã lụi tàn để ngắm một dãy dài những bóng ma, mà trái lại đem hết sức mình tiến về phía tương lai, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó”.

Cho nên, nói đến truyền thống là nói đến yếu tố “động’ của truyền thống mà không thể dừng lại ở những cái tĩnh, cái “đã định hình” ru ngủ cái gọi là sự “ổn định” vốn có quán tính là khước từ mọi sự canh tân. Nó củng cố tính bảo thủ được khoác cho những tấm áo đủ mọi màu sắc để xoa dịu những số phận bị kìm hãm, để đánh lừa những đầu óc muốn đổi mới.

Cung cách “sống lâu lên lão làng”, cái trật tự “lão quyền”, “ông bảy mươi phải hỏi ông bảy mươi mốt” đã làm thui chột sức trẻ và sự năng động sáng tạo của tuổi trẻ. Chính đấy là mảnh đất nuôi dưỡng sự trì trệ, được củng cố bằng chủ nghĩa bình quân, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa quan liêu!

Biện chứng của cuộc sống, biện chứng của sự phát triển đòi hỏi phải tấn công vào sự “ổn định trì trệ” ấy. Nếu chỉ quen với con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước, sẽ dẫn đến thảm hoạ vì con đường mòn đó không có lối ra trong một thế giới đầy biến động với những bước đột phá mà mọi sự dự đoán đều không chắc chắn như đã nói ở trên.

Dám nghĩ đến những “nghịch lý táo bạo” chính là sự thể hiện tinh thần dám chịu trách nhiệm đối với sự nghiệp mình đang theo đuổi, dám chịu trách nhiệm với chính mình. Cái đó chính là bản lĩnh.

Và khi đã xác định rõ con đường, bản lĩnh thể hiện ở quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu đã vạch ra. Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có một đoạn giúp khắc họa rõ nét bản lĩnh ấy : “Đêm ấy tôi nghỉ lại với Bác trên cái lán giữa rừng. Lúc nào tỉnh, Bác chỉ nói chuyện tình hình : “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Mỗi lúc nhớ ra điều gì, Bác lại dặn. Bác lúc ấy chắc cũng thấy mình yếu quá, có ý muốn dặn lại công việc. Chỉ có công việc!”.

Chính bản lĩnh ấy giúp dự liệu mọi khó khăn và giải pháp vượt qua khó khăn. Chẳng hạn như, ngày 11.9.1946, trả lời phóng viên “Thời báo New York” liệu chiến tranh có phải là tất yếu không, Hồ Chí Minh khẳng định: “Có. Chúng tôi buộc phải chiến đấu…. Chiến tranh là gian nan và đau buồn nhưng chúng tôi sẽ thắng. Chúng tôi có một vũ khí hùng mạnh như những khẩu đại bác hiện đại, đó là tinh thần dân tộc…Tinh thần con người còn mạnh mẽ hơn máy móc. Và máy móc không thể có hiệu quả trong đầm lầy và rừng rậm. Hàng triệu mái lều tranh có thể được coi như con ngựa thành Tờ-roa để ngăn chặn quân xâm lược…”.

Niềm tin không gì lay chuyển nổi ấy là hệ quả của tính kiên định và sự minh triết trong tư duy của một bản lĩnh đã được tôi luyện khiến nhiều dự phóng của Bác Hồ như những lời tiên tri. Ví như, năm 1941, trong cuốn sách nhỏ viết làm tài liệu tuyên truyền về “Lịch sử nước ta”, ở cuối có mục “Những năm tháng quan trọng”, Bác viết : “1945-Việt Nam độc lập”! Cũng trong Hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, lúc ấy có người hỏi Bác về điều này, Bác chỉ trả lời : “Để xem sao”!

Một ví dụ khác: trong diễn văn đọc tại lễ mừng Quốc khánh 2.9.1960, Bác nói : “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc-Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Trong bút tích bản thảo in trên báo “Nhân Dân” số ra ngày 30.4.1985 cho thấy : Bác gạch dưới những chữ “chậm lắm là 15 năm nữa”! Hay như chuyện Bác từng căn dặn Tư lệnh của bộ đội Phòng không-Không quân: “Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội! (7)

Có người nói đó là dấu ấn của thiên tài. Có thể như vậy. Thế nhưng, phải chăng những dấu ấn của thiên tài ấy là sự thăng hoa kỳ diệu của một bản lĩnh tuyệt vời, bản lĩnh Hồ Chí Minh. Bản lĩnh dám đặt ra và giải quyết những vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn.

Vì mục tiêu trước sau như một là giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân mà vì mục tiêu đó Hồ Chí Minh dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán, thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Không kiên định tinh thần Tổ quốc trên hết, không thể bản lĩnh vạch ra quyết sách sáng suốt tuy đau đớn ấy.

Cũng với bản lĩnh đó mà Hồ Chí Minh chủ trương đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951 mà mục tiêu trước hết là để “nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”.

Đúng là “Hồ Chí Minh là người linh hoạt, chủ động, từ việc lớn đến việc nhỏ, từ tuổi thanh niên đến cuối đời. Có thể nói con người ấy có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”. Có được điều đó vì “Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại” (8).

Với những phẩm chất được hun đúc, trui rèn trong ngọn lửa chiến đấu hơn nửa thế kỷ, đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử, người thanh niên yêu nước, bằng bản lĩnh phi thường của mình đã trở thành Hồ Chí Minh. Đúng là không phải chiếc ghế nguyên thủ quốc gia mà chính là sự “nhạy cảm”, sự “thấu hiểu”, “sự nhận thức” đó khiến cho Người được lịch sử chọn lựa làm lãnh tụ của nhân dân ở vào thời điểm có ý nghĩa nhất, đáp ứng được đòi hỏi của đất nước, của cuộc sống đất nước cần bước vào quỹ đạo chung của thời đại.

Trong dòng chảy bất tận của thời gian, có những thời điểm xuất hiện những con người đáp ứng một cách tuyệt vời đòi hỏi đã chín mùi của lịch sử, người ta gọi đó là sự xuất hiện của thiên tài. Điều này cho thấy thiên tài không ra đời từ những cuộc tranh bá đồ vương để giành nhau chiếc ghế quyền lực.

Đành rằng trong lịch sử không thiếu những nhân vật đã bước vào lịch sử bằng con đường như vậy, đó là hôn quân, bạo chúa và những gian hùng bị người đời phỉ nhổ. Phải chăng sự bi hài của lịch sử là có sự trộn lẫn chính tà ấy để giúp cho nhân dân có dịp nhận ra chuyện vàng thau lẫn lộn ấy. Đó cũng là cách để cho nhân dân tự vượt lên chính mình, biết tự “xoay chung quanh mặt trời của chính mình” mà không để bị lừa bịp như C.Mác đã từng chỉ ra. [“Lời nói đầu của Phê phán triệt học pháp quyền của Hégel]. Hạnh phúc và may mắn biết bao khi dân tộc ta có được một lãnh tụ như Hồ Chí Minh, một bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Điều cần nói thiên tài Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của người dân mà ngược lại. Thiên tài Hồ Chí Minh, bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc, được hình thành từ cuộc sống của nhân dân mình. Mỗi người Việt Nam đều có thể nhìn thấy mình trong sự nghiệp Hồ Chí Minh, trong trái tim của Hồ Chí Minh. Cái làm nên thiên tài Hồ Chí Minh, rèn đúc nên bản lĩnh ấy nhịp đập của trái tim “Người Yêu Nước” Hồ Chí Minh luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà Người gửi gấm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân, vì “nếu nước độc lập mà nhân dân không được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”!

Không có trái tim ấy, không thể có bản lĩnh ấy. Vì rằng, “ở đâu nội dung của sự tất yếu phổ biến không nhất trí được với trái tim, thì sự tất yếu ấy – xét về nội dung- không là gì cả, và phải nhường chỗ cho quy luật của trái tim”9. Có lẽ thực chất của “quy luật trái tim” mà Hégel nói đây trước hết là sự trung thực với chính mình, là bản sắc cá nhân được thể hiện một cách chân thực. Vì nói cho đến cùng , quy luật của trái tim là sự phản ánh chân thực nhất biện chứng của cuộc sống với tất cả những sắc thái phong phú và phức tạp của nó. Cho nên, những gì mà trái tim thờ ơ thì mắt cũng không nhìn thấy được !

__________________

Chú thích : Ghi để biết xuất xứ, không cần phải đăng nếu tòa soạn thấy không cần thiết

1. Theo Việt Phương. Vietnamnet ngày 15.5,2010
2. Theo Võ Văn Sung. “Suy ngẫm về trường phái ngoại giaoHồ Chí Minh”NXBCTQG.2010, tr. 62
3. Theo  William Ducker trong “Hồ Chí Minh” Heperion New York 2000
4.5,6 Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 1. NXBCTQG. 1995, tr. 466
7. “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh” NXBQĐND. Hà Nội, 1990. tr.224
8. Phạm Văn Đồng “Hồ Chí minh, Quá khứ Hiện tại và Tương lai” Tập I. NXB ST. Hà Nội 1991,tr.29, tr.98
9. G.W.F.Hegel. “Hiện tượng học tinh thần.” Bùi văn Nam Sơn dịch. NXB Văn học 2006, tr.769.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Hồ Chí Minh: Một thời đại và mãi mãi

(Tuần Việt Nam) – Dân tộc này đã đi tới thắng lợi vì họ đã sống một đời sống của niềm tin.Có lòng tin và tạo dựng được niềm tin của dân tộc – Đó là di sản lớn nhất mà Bác để lại cho chúng ta.

Bác Hồ – Người là niềm tin tất thắng

Bác Hồ với các cháu thiếu niên, nhi đồng.

Đêm 16 tháng 5, chương trình truyền hình trực tiếp kỷ niệm 50 năm Đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Chiến tranh đã kết thúc 34 năm, nhưng những gì được tái hiện dù ít ỏi trong chương trình này vẫn làm tôi bàng hoàng về sự khốc liệt của cuộc chiến. Chiến tranh không phải là điều mà bất cứ dân tộc nào mong đợi. Nhưng chiến tranh đã minh chứng nhân cách, giấc mơ và lòng quả cảm của nhân loại cho hoà bình và lẽ phải của mình.

Và một lần nữa, tôi được nghe lại những bài hát viết dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, không một ngày đi trên con đường đầy bom đạn ấy, nhưng qua những bài hát, tôi đã nhận ra sự phi thường của một dân tộc. Những bài ca bay qua cái chết. Những bài ca hiển lộ tâm hồn và tinh thần của một dân tộc.

Quyền năng của một con người vì lợi ích dân tộc

Vì sao trong những năm tháng gian khổ nhất, đói rét nhất và máu chảy nhiều nhất của dân tộc, những đứa con của dân tộc ấy lại sẵn sàng hiến dâng tất cả sự sống của mình không một chút đắn đo hay sợ hãi? – tôi nhiều lần tự đặt câu hỏi.

Có lẽ, vì họ đã nhận ra lẽ sống chân chính của con người được sinh ra trên mặt đất này. Có lẽ, vì họ đã sống một đời sống của niềm tin – niềm tin gắn liền với tên tuổi của một người ái quốc vĩ đại: Hồ Chí Minh. Khi cái tên Hồ Chí Minh vang lên thì niềm tin của mỗi người dân Việt Nam lúc đó đã được dựng lên bền vững, chói sáng và bất diệt.

“Dân tộc này đã đi tới thắng lợi vì họ đã sống một đời sống của niềm tin – niềm tin gắn liền với tên tuổi của một người ái quốc vĩ đại: Hồ Chí Minh.

Khi cái tên Hồ Chí Minh vang lên thì niềm tin của mỗi người dân Việt Nam lúc đó đã được dựng lên bền vững, chói sáng và bất diệt.”

Điều gì đã khiến cái tên Hồ Chí Minh trở nên thiêng liêng và mang một quyền năng đến vậy?Hồ Chí Minh – Người không phải là một vị Thánh, không phải là một nhà thuyết giáo siêu phàm, Người chỉ là một người yêu con người và yêu tổ quốc với toàn bộ sự sống của mình. Và dân tộc đã nhận ra đó là người con suốt đời hiến dâng cho lợi ích của dân tộc.

Ngay từ khi còn hoạt động ở nước ngoài, khi số phận và con đường của dân tộc Việt Nam vẫn chìm trong bóng tối, khi không ít người Việt Nam nhìn về tổ quốc với nỗi tuyệt vọng, thì Hồ Chí Minh, mọi nơi, mọi lúc chỉ biết đến dân tộc và đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình.

Ngay cả những lúc, những nơi chỉ một mình, xung quanh là những thế lực luôn luôn muốn dập tắt tiếng nói về độc lập, tự do của những dân tộc đang nô lệ, Người vẫn cất lên tiếng nói kiêu hãnh về dân tộc, tiếng nói của khát vọng tự do cho dân tộc ấy.

Bà con kiều bào ta ở Thái Lan về nước được vinh dự đến thǎm Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch

Bác Hồ tới thăm nhà máy diêm Thống Nhất.

Khoảng thời gian Người sống xa tổ quốc để tìm đường giải phóng dân tộc mình khỏi kiếp sống nô lệ đủ làm cho những người khác mệt mỏi và kiệt sức về chính giấc mơ họ từng mang theo: một dân tộc Việt Nam độc lập, tự do. Nhưng giấc mơ đó trong con người Hồ Chí Minh càng ngày càng lớn, càng toả sáng và không một phút giây dừng lại.Người đã đi đến tận cùng của giấc mơ đó bằng con đường của một chiến sỹ đấu tranh kiên định và bền bỉ cho tự do.

Quyền năng của con người biết đặt niềm tin vào dân

Trở về tổ quốc, trước mắt Người là những người dân Việt Nam nô lệ lầm than. Nhưng Người biết rằng: trong những con người nô lệ lầm than kia đang trú ngụ giấc mơ lớn lao và mãnh liệt về độc lập, tự do. Sứ mệnh của Người là đánh thức giấc mơ lớn của toàn bộ dân tộc từ bóng tối, từ đói nghèo, từ gông cùm và từ máu chảy.

Khi Người cất tiếng, những kiếp nô lệ đã đứng dậy đi theo người. Người đứng vào giữa những người nô lệ, không phải với danh nghĩa một lãnh tụ khởi nghĩa, mà với danh nghĩa của một con người cùng chung số phận nô lệ, chung giấc mơ lớn về tự do và là một người bạn lớn của những người cùng khổ.

Khi chính quyền cách mạng đầu tiên được thành lập, Người đã tập hợp tất cả những người con ưu tú nhất của dân tộc này làm một. Với Hồ Chí Minh, tất cả những người Việt Nam đều là những đứa con của một dân tộc bị áp bức.

“Người đặt niềm tin vào từng con người nhỏ bé. Khi ấy, những con người nhỏ bé và vô danh đó bỗng vụt lớn lên với niềm kiêu hãnh làm người và sẵn sàng hiến dâng tất cả cho giấc mơ tự do của con người.”

Người bước đến trước một người nông dân với niềm tin mãnh liệt rằng người nông dân đó là một người yêu nước chân chính. Và người nông dân đó trở thành một chiến sỹ đấu tranh cho tự do của dân tộc.Người bước đến trước một cháu bé với niềm tin ấy và cháu bé trở thành một chiến sỹ đấu tranh cho tự do.

Khi Người đặt niềm tin vào những con người nhỏ bé và vô danh thì con người đó vụt lớn lên với niềm kiêu hãnh làm người và sẵn sàng hiến dâng tất cả cho giấc mơ tự do của con người.

Đối với Hồ Chí Minh, dân tộc là trên hết. Dân tộc là tài sản của tất cả con người sinh ra trên mảnh đất của dân tộc đó kể cả những người đã có một thời lầm lạc. Chính vì vậy mà tất cả nhân dân Việt Nam đã đứng bên người trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Hai câu chuyện nhỏ

Có biết bao câu chuyện đã làm nên sự vĩ đại của Hồ Chí Minh. Nhưng có hai câu chuyện làm tôi không thể nào quên được.

Lời hứa của lãnh đạo và nhân cách một dân tộc

Câu chuyện thứ nhất kể về lời hứa của Hồ Chí Minh trước một cô bé dân tộc ít người.

Những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, một lần Người ghé qua một bản người Thái. Một cô bé trong bản nói với Người là em muốn có một chiếc vòng bạc. Người đã hứa với em bé đó.

Sau chín năm, kháng chiến thành công, không ai ở bản người Thái đó còn nhớ câu chuyện về cô bé xin chiếc vòng bạc và lời hứa của Người. Bởi chuyện đó là một chuyện quá nhỏ bé và không cần phải nhớ đối với một vị Chủ tịch nước. Nhưng Người đã quay lại bản người Thái đó.

Bác Hồ dặn dò về chăm lo nhà ở cho người dân.

Người trở lại để thực hiện lời hứa của một con người với một con người trong khi đất nước lúc đó còn ngàn vạn công việc và ngàn vạn thách thức. Đấy là danh dự của một con người. Đấy là tình yêu và sự tôn trọng nhân dân của một lãnh tụ cho dù nhân dân có lúc là những người đói khát, u buồn và tăm tối.

“Lời hứa trước một đứa trẻ cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc.

Khi người lãnh đạo thực hiện được lời hứa trước một đứa trẻ thì mới có khả năng thực hiện được lời hứa trước một dân tộc.”

Nhân cách lớn của Hồ Chí Minh là ở đó. Sự linh thiêng của Hồ Chí Minh là ở đó. Bởi lời hứa trước một đứa trẻ cũng hệ trọng như lời hứa trước một dân tộc. Khi người lãnh đạo thực hiện được lời hứa trước một đứa trẻ thì mới có khả năng thực hiện được lời hứa trước một dân tộc.Việc làm đó của Hồ Chí Minh không chỉ làm cho cá nhân Người trở nên vĩ đại mà làm cho nhân cách của dân tộc này trở nên vĩ đại.

Sứ mệnh lớn lao nhất của một lãnh tụ không phải là làm cho dân tộc trong một năm hay hai năm tăng trưởng được bao nhiêu phần trăm mà là làm cho dân tộc ấy hiển lộ là một dân tộc có nhân cách lớn. Và chỉ khi có nhân cách lớn, con người mới thực sự cải biến được thế gian.

Một đêm thức trắng và quyết định tử hình

Câu chuyện thứ hai về Hồ Chí Minh là câu chuyện một đêm thức trắng của Người để quyết định tử hình hay không một cán bộ có chức quyền của quân đội đã phạm tội tham nhũng trong lúc toàn thể nhân dân Việt Nam đang chịu bao gian khổ và hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Cuối cùng, Người đã ký vào bản án tử hình kẻ phản bội nhân dân. Tội của vị quan chức kia đã rõ ràng. Luật pháp với tội danh ấy cũng đã rõ ràng. Nhưng Hồ Chí Minh đã thức trọn một đêm để đi đến quyết định cuối cùng.

Người thức trắng không phải vì suy nghĩ về sự thiệt, hơn của bản án đó. Đêm trắng ấy là một đêm mà chủ nghĩa nhân văn trong trái tim Người mất ngủ.

Trong cái đêm trắng tưởng dài bất tận ấy, một bên là gia đình và những người thân của vị cán bộ quyền chức phạm tội đợi quyết định cuối cùng của người lãnh tụ tối cao của dân tộc. Còn một bên là toàn dân tộc đợi quyết định này.

Quyết định của Hồ Chí Minh lúc đó sẽ gián tiếp khẳng định với dân tộc rằng: máu của dân tộc này đã và đang đổ xuống là cho lợi ích và sự trong sạch của dân tộc, không phải cho một số kẻ hưởng lợi từ máu của những con người chân chính. Cuối cùng, lợi ích dân tộc phải cao hơn tất cả mọi lợi ích cá nhân.

Ở Việt Bắc, Bác Hồ thường đến thăm các gia đình người dân tộc.

Bác Hồ tới thăm gia đình nông dân.

Từ cái đêm thức trắng lịch sử ấy, chúng ta chưa bao giờ được biết đến một đêm trắng nào nữa cho dù mức độ tham nhũng của một số cán bộ có quyền chức còn nguy hại hơn vị cán bộ quân đội năm xưa. Phải chăng luật pháp chúng ta đã thay đổi? Hay phải chăng nhân cách của dân tộc này có điều gì bất ổn?Việc một cán bộ có quyền chức tham nhũng nhưng không bị xử đúng tội hay là xử “giả vờ” không phải là làm chúng ta mất đi mấy trăm tỷ hay mấy nghìn tỉ mà sự thiếu nghiêm minh đó làm mất đi niềm tin của dân tộc.

Bởi dù không muốn thì chúng ta đều phải thừa nhận rằng: chỉ là những cán bộ có quyền chức, những người đầy tớ của nhân dân như Hồ Chí Minh từng nói, mới là những người có điều kiện tham nhũng.

Và họ là người mang tính quyết định trong việc tạo dựng niềm tin cho dân tộc đặc biệt ở những thời kỳ khó khăn mà dân tộc phải đương đầu.

Đêm trắng ấy là bài học lớn trong khía cạnh chống tham nhũng của dân tộc ta, nhưng lớn hơn nó là bài học về chủ nghĩa yêu nước. Hồ Chí Minh đã thức trắng một đêm để rồi dân tộc của Người được thanh thản kể cả khi hiến dâng sự sống cá nhân cho lợi ích của dân tộc.

Nếu Người không thức trắng một đêm như thế thì dân tộc này có thể phải thức trắng ngàn đêm sau đó để mà cúi đầu suy ngẫm.

Khi niềm tin đang bị mai một đi, khi lợi ích của dân tộc đang bị lợi ích cá nhân đe dọa, thì những câu chuyện về Bác cần được kể lại ngày ngày.

Có lòng tin và tạo dựng được niềm tin của dân tộc – Đó là di sản lớn nhất mà Bác để lại cho dân tộc.

Hai câu chuyện nói trên phải được kể lại ngày ngày trong đời sống của chúng ta, nhất là khi niềm tin của người này người khác đang mai một đi, khi lợi ích của dân tộc đang bị lợi ích cá nhân đe dọa. Hai câu chuyện đó chứa đựng bí quyết làm nên nhân cách lớn của một con người và cũng là của một dân tộc.Trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, thời đại Hồ Chí Minh là thời đại một lần nữa làm nên nhân cách lớn của dân tộc Việt Nam. Dân tộc này đã trở thành biểu tượng cho những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, biểu tượng của lẽ sống làm người, biểu tượng của giấc mơ về độc lập, tự do và sự dâng hiến không mệt mỏi cho giấc mơ ấy.

Và Hồ Chí Minh là người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam trong thời đại ấy. Sự hiến dâng của Hồ Chí Minh cho dân tộc và nhân cách của Người mãi mãi là sự linh thiêng và quyền uy của cái Đẹp. Đó không chỉ là tài sản vô giá của một thời đại mà là của mãi mãi. Bởi ở đó chứa đựng ý nghĩa tối thượng của đời sống thế gian: Giấc mơ hoà bình và sự dâng hiến toàn vẹn cho giấc mơ ấy.

Hạnh Nguyên

tuanvietnam.vietnamnet.vn

“Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” một áng hùng văn của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, sáu mươi năm đã trôi qua. Cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đã kết thúc được 30 năm. Đất nước ta đã sạch bóng quân xâm lược. Mục tiêu độc lập thống nhất đã giành được.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân đang ra sức đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa để sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Trong không khí kỷ niệm 60 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đọc Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, chúng ta cảm nhận thấy hào khí của Lời kêu gọi cứu nước, đồng thời cũng thấy trong văn kiện lịch sử này những nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự.

“Hỡi đồng  bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”.

Hãy nhớ lại tình hình lúc ấy: nước ta vừa giành được độc lập thì nạn ngoại xâm đã ập tới. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với Chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người ký với đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, Người qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Phôngtenblô. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. Còn nước còn tát, Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp tạm ước 14-9-1946. Ngày 16-9-1946, Người rời cảng Tulông (Pháp) trở về nước. Ngày 16-10, Người gặp Đácgiăngliơ ở Vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14-9 không được thực hiện ở Nam bộ. Tại Bắc Bộ, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng ngày 23-11-1946. Tại Hà Nội, những hành động khiêu khích của quân Pháp ngày càng trắng trợn. Dã tâm gây hấn của Pháp ở Thủ đô bộc lộ rõ rệt khi quân đội Pháp gửi tối hậu thư buộc ta phải hạ vũ khí.

Trước tình hình đó, ngày 18, 19 tháng 12 năm 1946 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc.

Từ ngày 3 đến 19 tháng 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về làng Vạn Phúc (Hà Đông) sống trong nhà ông Nguyễn Văn Dương, tại đây ngày 19 tháng 12, trên căn gác xép, Người viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

20 giờ ngày 19 tháng 12, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 20 tháng 12 tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), đài  Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

Như vậy là mặc dù Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách ngăn chặn chiến tranh nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, đối  phương chủ trương gây chiến. Không còn con đường nào khác, Hồ Chí Minh phải dùng chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa. Hồ Chí Minh không chút ảo tưởng về lòng nhân từ của bọn xâm lược. “Độc lập tự do không thể cầu xin mà có được”. Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Đó là quan điểm cơ bản mà Hồ Chí Minh luôn nắm vững trong Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 cũng như trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đó cũng là quan điểm mấu chốt trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Khi đã buộc phải kháng chiến thì Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Tiếp theo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là văn kiện thứ hai đề cập đến mục tiêu chính trị  của cuộc cách mạng và cuộc kháng chiến. Đó là Độc lập Tự do Hạnh phúc, là những khát vọng của một dân tộc đã bị mất nước, bị nô lệ 80 năm. Bởi vậy ta có thể hiểu vì sao toàn dân Việt Nam đã hưởng ứng Lời kêu gọi của Bác Hồ và các thế hệ người Việt Nam, từ đời cha đến đời con đã tự nguyện hy sinh chiến đấu đến cùng cho những mục tiêu ấy.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Trong Lời kêu gọi này, Hồ Chí Minh đã trình bày quan điểm “chiến tranh toàn dân” một cách vô cùng giản dị và hào hùng. Có thể nói nét độc đáo, đặc sắc nhất trong đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là ở hai chữ toàn dân.

Chỉ thị này được coi như một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự về khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân là lực lượng vũ trang ba thứ quân. Tiếp theo Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến  là văn kiện thứ hai mang tính cương lĩnh quân sự về kháng chiến toàn dan. “Toàn dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn dân tộc.

Hồ Chí Minh có một lời kêu gọi dành riêng cho bộ đội, tự vệ, dân quân:

“Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước”.

Hưởng ứng Lời kêu gọi này, quân và dân Hà Nội, mùa đông năm 1946 đã nêu cao tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” nay đã trở thành truyền thống của Thủ đô. Xây dựng bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, bồi dưỡng ý chí chiến đấu, xây dựng và phát huy nhân tố chính trị tinh thần của bộ đội, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở cho mọi mặt xây dựng quân đội là một quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”.

Lời tiên đoán này của Chủ tịch Hồ Chí Minh 9 năm sau đã trở thành sự thật với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Ba mươi năm sau đội quân bách chiến bách thắng của Người đã cắm lá cờ chiến thắng lên nóc dinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đem lại độc lập thống nhất cho đất nước.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Hịch cứu nước của Tổ quốc, là một áng hùng văn sáng chói những nét đặc sắc của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Trung tướng Hồng Cư

ANHTHU

hanoimoi.com.vn

Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt đông cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở Kim Liêm huyện Nam Đàn, tình Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội.

Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân. Người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào

Với tình cảm yêu nước thương dân vô hạn, năm 1911 Người đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.

Từ năm 1912 đến năm l917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nước ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động, Người thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Người sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vesailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và Người bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, Người khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới là con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Năng 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo “Người cùng khổ “ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925.

Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ nhất Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Ngườil kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc .Nguyễn Ái Quốc là Ủy viên thường trực Bộ phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế Cộng sản

Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) chọn một số thanh niên Việt Nam yêu nước đang sống ở Quảng Châu, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ Việt Nam Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách “Đườg Kách mệnh” – một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho dường lối cách mạng Việt Nam. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô) ,sau đó đi Berlin (Đức), đi Bruxell (Bỉ) tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về Châu Á.

Tử tháng 7 năm 1928 đến tháng 11 năm 1929, Người hoạt đông trong phong trào vận Đảng Việt kiều yêu nước ở Thái Lan, tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long gần Hương Cảng, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (Hội nghị của Đảng tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương), đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cao trào cách mang 1930-1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hong Kong. Đây là một thời kỳ sóng gió trong cuộc đời hoạt Đảng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Mùa xuân năm 1933, Người được trả tự do.

Từ năm 1934 đến 1938, Người nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Matxcova. Kiên trì con đường đã xác định cho cách mang Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10 năm 1938, Người rời Liên Xô về Trung Quốc bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Người về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ khi qua biên giới, Người vô cùng xúc động.

Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng. quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8 năm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam, thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Qủang Tây. Trong thời gian 13 tháng bi tù, Người đã viết tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù) với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9 năm 1943, Người được trả tự do.

Tháng 9 năm 1944. Người trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12 năm 1944, Người chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước đồng minh. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội Nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân Đã hop quyếtđịnh tổngkhởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8 năm 1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 2 tháng 9 năm J 945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.

Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thưc dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết húc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III, họp vào tháng 9 năm 1960, Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà”. Tại Đại hội, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt qua khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Từ năm 1965 đến năm 1969, cùng với Trung ương Đảng, Người tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng trong điều kiện cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.

Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử. Người viết:“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đă đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27 tháng 1 năm 1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện được mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tu vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã vân dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, sáng lập Đảng Mác- Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn kết hợp chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm,liêm, chính, chí công. vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị

Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, hội nhập với thế glới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bảo Tàng Hồ Chí Minh – Tháng 5 năm 2004

tuoitre.vn

Hồ Chí Minh với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

(TCTG) – “Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại. Tình yêu nước thương nòi của Người sâu sắc bao la, không lấy gì so sánh được. Bác Hồ đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp cứu nước của dân” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

(TCTG) – Chủ nghĩa yêu nước là nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là hành trang của Người khi đi tìm đường cứu nước. Người viết: “Lúc đầu, chính do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lênin”(1). Người đã tìm thấy trong cương lĩnh về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin sự phù hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành trong quá trình lập nước, trong đấu tranh giành độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của ngoại bang, xác lập có ý thức về sự thống nhất, bản sắc nổi bật và riêng biệt của cộng đồng đó bằng mối liên kết lâu dài về lịch sử văn hóa.

Ngay từ thuở ban đầu, người Việt Nam vời tư cách là một nhóm đã thể hiện tình cảm chung trong một quá trình dần dần nhận thức sơ đẳng về số phận chung và đặc điểm nổi bật về bộ tộc và văn hóa. Qua một nghìn năm bị phong kiến Trung Quốc đô hộ, Người Việt Nam gắn bó bằng di sản dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa chung, đa sát cánh bên nhau, quyết tâm giữ gìn bản sắc của mình, luôn luôn lấy sự đoàn kết và sức mạnh dân tộc để vượt qua thời kỳ khó khăn. Đến khi giành được độc lập, ý thức dân tộc của người Việt đã phát triển thành nhận thức và khái niệm hiện đại bắt rễ sâu trong quần chúng nhân dân. Nhà nghiên cứu Duiker nhận xét: “Hai ngàn năm đấu tranh để sinh tồn chống sự đô hộ chính trị và văn hóa của Trung Quốc đã tạo ra ở Việt Nam một tinh thần dân tộc điển hình, mang tính chất tự ý thức dân tộc nhiều hơn và thiết tha hơn so với bất cứ nơi nào khác ở Đông Nam Á”(2).

Chủ nghĩa yêu nước là sự biểu hiện của tự ý thức dân tộc dưới dạng hệ thống quan điểm tư tưởng lý luận và hệ giá trị của dân tộc. Đó là ý thức hệ dân tộc hoặc chủ nghĩa dân tộc – yêu nướcÝ thức hệ đó bắt đầu từ lòng tự hào về “Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời”(3). Tiếp đó là ý thức về quyền độc lập dân tộc, bắt đầu từ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” cho đến quyết tâm “Sát Thát” ở đời Trần, tinh thần quyết chiến của Nguyễn Huệ “Đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho Nam quốc sơn hà chi hữu chủ”, từ triết lý “Nước là của chung chứ không phải của một dòng họ nào” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) đến nhà nước của dân vì dân, do dân và “lòng căm ghét bọn xâm lược”(4). Chủ nghĩa dân tộc – yêu nước Việt Nam là chủ nghĩa dân tộc chân chính chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bài ngoại như một số nơi trên thế giới.

Khi đi sâu vào chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh lại gặp phải một mâu thuẫn lớn: trong sơ đồ phả hệ lý luận Mácxit chưa có vị trí của chủ nghĩa dân tộc – yêu nước. Lý do đơn giản là: chủ nghĩa Mác cho rằng dân tộc và nhà nước quốc gia dân tộc chỉ ra đời cùng với chủ nghĩa tư bản, khi đã có một thị trường thống nhất. Việt Nam chưa qua chủ nghĩa tư bản, chưa hình thành dân tộc thì làm sao có được ý thức hệ dân tộc. Luận điểm này được khái quát từ lịch sử chủ nghĩa phong kiến cát cứ ở phương Tây. Chính ở đây, Hồ Chí Minh đã có một phát hiện lớn: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu ÂuMà châu Âu là gì? Đó chưa phải toàn thể nhân loại. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(5). Hàng loạt bài báo của Người vào đầu những năm 20 đã đề cập đến vấn đề này. Để thực hiện sự bổ sung đó, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu từ phân tích quá trình hình thành các dân tộc phương Đông, mối quan hệ giai cấp và dân tộc dẫn tới nêu bật các đặc điểm đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa dân tộc của phương Đông.

Nhuần nhuyễn tư duy biện chứng “Phân tích cụ thể trong tình hình cụ thể”, Hồ Chí Minh đã đi đến những phát hiện cực kỳ quan trọng, đóng góp vào kho tàng lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin. Những đóng góp đó là:

– Xuất phát từ thực tiễn lịch sử, Hồ Chí Minh cho rằng các dân tộc phương Đông không diễn ra sự thay đổi tuần tự và đầy đủ các hình thái kinh tế xã hội như ở phương Tây, mà nó đã bỏ qua một số giai đoạn. Đó là chế độ chiếm hữu nô lệ và nông nô (tức phong kiến cát cứ)(6). Vì vậy, cơ cấu giai cấp và đặc điểm giai cấp có sự khác biệt với phương Tây. Từ nhìn nhận tiến trình lịch sử đó, Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra các dân tộc ở phương Đông, gắn liền với chế độ ruộng đất công xã và phong kiến tập quyền, có sớm hơn chủ nghĩa tư bản rất nhiều, đã hình thành dân tộc và chủ nghĩa dân tộc yêu nước.

– Do bị các nước tư bản xâm lược, biến thành thuộc địa, các nước này bắt buộc phải tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ, trước khi chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

– Dân tộc và ý thức dân tộc ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung có trước khi chủ nghĩa tư bản xâm lược thuộc địa trong khi giai cấp công nhân chưa hình thành, “chủ nghĩa dân tộc đã hiện đại hoá khi chuyển từ giới thượng lưu này sang giai thượng lưu khác”(7), vì vậy chủ nghĩa dân tộc – yêu nước là nền tảng tư tưởng của các phong trào yêu nước, chống chủ nghĩa thực dân. “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(8).

– Chính việc khai thác thuộc địa đã tạo ra giai cấp công nhân, do đó lợi ích của giai cấp công nhân, phù hợp với lợi ích dân tộc, chỉ có giải phóng được dân tộc mới giải phóng được giai cấp công nhân, cho nên lợi ích của giai cấp công nhân phụ thuộc vào lợi ích dân tộc.

– Đảng Cộng sản, người lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp phải là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin vời phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là của giai cấp công nhân vừa là của toàn dân tộc.

Cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong việc sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong công cuộc lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tập hợp lực lượng đoàn kết toàn dân tộc, với quyết tâm sắt đá “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Hồ Chí Minh đã gắn kết độc lập dân tộc về mặt chính trị với độc lập kinh tế. Người viết: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(9). Tuy nhiên độc lập về kinh tế không có nghĩa và đóng cửa, khép kín. Ngay từ năm 1924, từ việc khảo sát thực tế, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự đơn độc. Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, sự phối hợp hành động và cổ vũ lẫn nhau”(10). Từ góc nhìn đó, Người đưa ra những chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế. “Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá; hai là để điều hòa với kinh tế thế giới và giữ gìn hòa bình”(11). Như vậy tư tưởng chiến lược của Hồ Chí Minh là không những gắn hội nhập kinh tế với phát triển kinh tế nước ta, mà còn gắn với bảo vệ hòa bình và an ninh quốc gia. Đó cũng là một nội dung quan trọng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Người còn nói: “Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỉ lại”(12). Người cũng lưu ý rằng: trong hợp tác, Việt Nam không chỉ thừa hưởng những giá trị văn minh nhân loại mà phải đóng góp vào nền văn minh chung bằng những giá trị sáng tạo của mình mà người gọi là “có vay có trả”. Người tha thiết mong muốn nước nhà phải giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Người đặc biệt nhấn mạnh rằng: trong mở cửa, hội nhập, “Chính phủ… muốn cho danh chính, lợi chính thì Danh, làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và lợi, làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới”(13).

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sự sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh, là bộ phận cấu thành quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định rằng những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong công cuộc đổi mới dưới đây đã không tách rời khỏi việc phát huy chủ nghĩa yêu nước đó: Việt Nam đã đạt được vị thế quốc tế cao nhất trong lịch sử của mình với tư cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Việt Nam ngày nay là đối tác chiến lược của nhiều nướcChính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác hữu nghị cùng với những thành công trên mặt trận kinh kế và văn hóa đã mang lại cho Việt Nam vị thế đó./.

Hồ Văn

——————

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, t.12, Nxb CTQG, H, tr.474
(2) Tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong tư tưởng cách mạng Việt Nam, tr.232.
(3) Sđd, t.3, tr.216.
(4), (5), (6), (7), (8), (10) Sđd, t.1, tr.466, 465, 465, 467, 466, 263.
(9), (13) Sđd, t.4, tr.152, 43.
(11) Sđd, t.5, tr170
(12) Sđd, t.8, tr.30.

tuyengiao.vn