Thư viện

Chu đáo từ việc nhỏ nhất

Bất kể ai vinh dự được sống, làm việc gần Bác đều có thể kể về hàng trăm việc làm, cử chỉ chăm lo chu đáo từ việc nhỏ nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với mọi người.

Cuối năm 1950, Bác đi dự Lễ tổng kết chiến dịch Biên giới. Khi về, Người không quên gửi quà cho hai nữ nhân viên văn phòng. Đó là mấy chiếc kẹo sôcôla, quà chiến lợi phẩm sau chiến dịch Biên giới, chiêu đãi tại hội nghị.

Ở chiến khu, gần nơi Bác ở có các cháu là con của các đồng chí lãnh đạo, như con các anh Trần Duy Hưng, Trường Chinh… Lâu lâu, vào chủ nhật, Bác cho đón các cháu vào chỗ Bác chơi, chiều lại về với bố mẹ. Một hôm, vợ đồng chí Trường Chinh đến thăm Bác, có dắt theo con nhỏ. Hai bác cháu chơi với nhau rất vui. Bác hỏi: “ở đây với Bác nhé!”. Cháu bé vui vẻ nhận lời ngay. Nhưng đến khi mẹ về, cháu quên ngay lời hẹn ở lại, vội chào Bác và chạy theo mẹ. Bác tiễn cháu, nước mắt rưng rưng: “Cái nghiệp mình thế, không có gia đình!…”. Bà Trường Chinh lặng người, thương Bác vô cùng!. Hơn ai hết, bà biết Bác luôn quan tâm chăm lo cho gia đình mọi người và thường nhắc nhở bố trí cho các gia đình cán bộ ở gần cơ quan.

Theo lời kể của nhiều người, buổi tối hôm diễn ra Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần đầu tiên, tại Việt Bắc hồi tháng 5 năm 1952, có chiếu phim. Bác ngồi xem ở hàng cuối, cạnh nhà thơ Tú Mỡ. Phe phẩy quạt giấy, Tú Mỡ cố ý quạt nghiêng sang phía Bác. Một lúc sau, Bác bảo Tú Mỡ đưa quạt và Người cũng phe phẩy, cố ý để Tú Mỡ cùng được hưởng mát. Chiếu bóng xong, mọi người lục tục đứng dậy ra về, Bác vội đứng lên, giơ tay ra hiệu trật tự và nói to: “Hãy khoan đã, để cho các cháu bé ra trước, kẻo lộn xộn, các cháu sẽ lạc đấy!”. Bác lo toan hàng vạn việc lớn lao, nhưng vẫn không quên những việc nhỏ, đời thường mà nhiều người không hề nghĩ tới…

Thanh Hương

Bữa tiệc tân gia nhà sàn Bác Hồ

Chuyện làm nhà cho Bác Hồ ở đã được báo cáo trước với Bác, kể cả phần dự trù kinh phí. Sợ việc làm nhà ồn ào, bụi bặm ảnh hưởng tới sức khỏe của Bác nên anh em đợi đúng dịp Bác đi công tác mới khởi công. Ai nấy đều thấy vinh dự, tự hào được làm nhà cho Bác Hồ nên đều cố gắng hết sức mình, sao cho nhà Bác đẹp, chắc chắn và xong trước ngày Bác đi công tác về. Một đợt thi đua tự giác, không cần phát động…

Quả nhiên, trước hôm Bác về, mọi việc đều đã đâu vào đấy. Nhìn ngôi nhà sàn hai gian thoáng đãng, tầng dưới bốn phía đều để trống, tầng trên chia làm hai phòng, một phòng để Bác làm việc, một phòng để Bác nghỉ, xung quanh là hành lang rộng có mành che, mọi người vừa mừng, vừa hồi hộp. Không biết ngôi nhà có hợp ý Bác không ? Ai cũng mong được nghe ý kiến trực tiếp của Bác.

Như đoán được ý nghĩ của mọi người, Bác tổ chức một bữa “tiệc ngọt”, liên hoan ngay ở tầng dưới ngôi nhà sàn. Anh em nói vui, gọi đó là “bữa tiệc tân gia” mừng nhà mới của Bác. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh (người có vinh dự được giao nhiệm vụ thiết kế và thi công nhà sàn Bác Hồ) kể rằng, không khí buổi liên hoan vừa thiêng liêng, vừa đầm ấm lạ thường. Bác như người cha hiền từ với đàn con xúm xít chung quanh, vui mừng khi trong nhà làm được một việc lớn. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Nói về việc làm nhà sàn, Bác khen:

– Các chú làm như thế là nhanh, tốt, bảo đảm thời gian, nhưng còn một khuyết điểm. Các chú có biết khuyết điểm gì không ?

Mọi người nhìn nhau lo lắng. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh vội đáp lời:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ!

– Chú nói đúng ! – Bác cười, chòm râu rung nhè nhẹ.

– Thưa Bác, làm nhà để Bác ở, chúng cháu ai cũng cố gắng làm tốt, làm đẹp trong từng phần việc của mình. Mỗi người dù rất tiết kiệm, nhưng vẫn phải thêm thắt tý chút. Chúng cháu còn muốn Bác ở nhà đẹp hơn, tốt hơn – Anh Ninh lại đỡ lời.

– Nước ta còn chưa giàu – Bác Hồ nói tiếp – dân ta còn khổ, chưa đủ nhà ở. Bác ở thế này là quá tốt rồi, các chú không phải lo cho Bác.

Hôm tân gia và cũng là ngày Bác dọn về ở nhà sàn đúng ngày 18-5-1958, một ngày trước sinh nhật của Người. Nhà sàn trở thành món quà sinh nhật lớn thật có ý nghĩa.

Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Thương Bác vô cùng !…

Bà Dương Thúy Liên, cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch từ năm 1949 đến năm 1954, kể lại rất nhiều câu chuyện cảm động về Bác Hồ kính yêu, nhất là sự giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống, trong sinh hoạt của Bác.

Bà Dương Thúy Liên, cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch từ năm 1949 đến năm 1954, kể lại rất nhiều câu chuyện cảm động về Bác Hồ kính yêu, nhất là sự giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống, trong sinh hoạt của Bác.

Bà kể: “Ngoài công việc chuyên môn của văn phòng, tôi còn nhận thêu thùa, may vá quần áo, chăn màn, vỏ gối cho Bác. Nhiều tấm áo rách, phải vá đi, vá lại mấy lần Bác mới chịu bỏ, thay áo khác. Có lần, anh Cần (người phục vụ Bác) đưa cho tôi chiếc vỏ gối màu xanh hòa bình và bảo vá tiếp chỗ rách. Cầm chiếc vỏ gối đã vá đi vá lại, miếng vá nọ thay miếng vá kia, tôi rưng rưng nước mắt, nói với anh Cần:

– Thôi, anh đừng bắt tôi vá áo gối cho Bác nữa, tôi thương Bác lắm, anh thay chiếc áo gối khác cho Bác dùng !

– Tôi đã đề nghị với Bác thay áo gối mới, nhưng Bác chưa đồng ý. Chị chịu khó vá giúp tôi ! – Anh Cần nói.

Tay cầm kim mà tôi không đưa nổi mũi kim. Tôi xúc động và thương Bác quá chừng. Bác thường giải thích, đất nước vẫn còn nghèo, dân ta vẫn còn khổ, mọi người, mọi nhà đều phải thực hành tiết kiệm, Bác căn cơ như thế cũng là việc nên làm… Mỗi lần may vá quần áo, chăn màn cho Bác, tôi đều thấy thân thương, gần gũi như đang chăm sóc người cha. Bác đối với chúng tôi cũng như người cha, người anh đối với con em mình”.

Bà Liên còn kể, hồi ở chiến khu Việt Bắc, có một lần Bác đi công tác về muộn và khá mệt, bà được mọi người giục nấu cháo để Bác ăn. Đang nằm nghỉ, nghe thấy chuyện nấu cháo, Bác liền nhổm dậy bảo: “Còn cơm thừa, cô Liên đem nấu cháo cho Bác, vừa nhanh chín, vừa đỡ phí !”. Mấy người có mặt khi đó đều lặng đi vì thương Bác. Đã mệt, không ăn được cơm, mà lại ăn cháo cơm nguội rời rạc, khó ăn, ai mà không thương Bác. Biết thế, nhưng bà Liên vẫn phải làm theo, nếu không sẽ bị Bác phê bình nghiêm khắc.

Vũ Trần

bqllang.gov.vn

“Ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”

Quân dân miền Trung vừa phải gồng mình đối chọi với một đợt lũ chồng lũ lịch sử mà gần nửa thế kỷ qua mới có. Trong lúc việc khắc phục hậu quả lũ chưa xong thì cơn bão số 7 lại đang trên đường tiến vào đất liền. Thiên tai đã và đang đe doạ đến cuộc sống của rất nhiều người dân đất Việt.

Nhớ lại sáu mươi năm trước, trong thư gửi đồng bào trung du và hạ lưu chống lụt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Người ta thường nói “thuỷ, hoả, đạo, tặc”. Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”.

Thực hiện lời dạy của Bác, trong suốt sáu chục năm qua, cùng với nhiệm vụ xây dựng, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, cả nước đã dồn sức, dốc lực trong công cuộc phòng chống thiên tai. Cũng như trên mặt trận chống giặc ngoại xâm, trên mặt trận phòng, chống lụt bão, vai trò của quân đội đã luôn ở vị trí xung kích. Đặc biệt, trong đợt lũ lịch sử vừa qua, các đơn vị quân đội đã là lực lượng chủ công trong việc sơ tán dân, cứu hộ, cứu nạn. Nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi… sẽ khó phai mờ hình ảnh các anh Bộ đội Cụ Hồ thức suốt đêm để bảo vệ an toàn đê biển, lội nước đến tận bụng để cõng người già, trẻ em ra khỏi vùng nguy hiểm, thả hàng cứu trợ bằng máy bay trực thăng…

Tuy nhiên, qua đợt cao điểm phòng, chống thiên tai vừa qua, cũng phải thẳng thắn đánh giá, ở một vài địa phương đã không thực hiện tốt lời Bác dạy, chưa coi việc ” ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”, tổ chức hiệp đồng chưa tốt, để xảy ra thiệt hại lớn về người và tài sản. Thậm chí có nơi bị động khi nước lũ lên nhanh, các phương tiện thông tin liên lạc khi bão, lũ ập về không phát huy được tác dụng. Công tác sơ tán dân đã không thực hiện kiên quyết, dẫn đến những tai nạn đáng tiếc cho dân. Việc khắc phục hậu quả chưa kịp thời, dẫn đến những tổn thất do bão lũ gây ra rất lớn.

Để chống được giặc ngoại xâm, từ hàng nghìn năm nay, chúng ta đã có rất nhiều bài học xương máu từ công tác tổ chức, chỉ huy, xây dựng chiến thuật, thế trận…Để phòng, tránh và ngăn chặn thiên tai, chúng ta cũng đã từng có những kinh nghiệm rất quý từ việc đắp đê chống lụt đến chuyện xây nhà chống bão. Thế nhưng, cũng giống như chống giặc ngoại xâm để “ngăn giặc lụt”, đòi hỏi người dân vùng lụt phải tổ chức chặt chẽ, có thế trận hiệp đồng, có chỉ huy, sự phối hợp giữa các lực lượng…

Việt Nam nằm trong vùng có nhiều thiên tai của thế giới, trong đó nhiều nhất là bão, lũ. Dù khoa học kỹ thuật đã phát triển đến mức rất cao, nhưng cho đến thời điểm này, chúng ta chưa có khả năng điều chỉnh hướng đi của bão theo ý muốn, chưa có khả năng khống chế thời tiết mưa, nắng trên diện rộng. Vì vậy việc tránh thiên tai là rất khó. Thế nhưng, chúng ta hoàn toàn có khả năng giảm thiểu tác hại của thiên tai thông qua các giải pháp thích hợp như sơ tán dân khỏi vùng nguy hiểm, không cho tàu thuyền hoạt động ở những vùng có gió bão, neo chắc nhà cửa, tổ chức tốt việc cứu nạn… “Ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm”, lời dạy của Bác Hồ từ sáu chục năm trước, cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên tính thời sự.

Lê Văn Thuỳ

bqllang.gov.vn

Mong có sức khoẻ để phục vụ Đảng và nhân dân

(ĐCSVN)-“Tôi chỉ nghĩ sao còn có sức khỏe tốt để làm được nhiều việc Đảng và nhân dân giao cho. Tôi cũng rất tin tưởng và mong muốn lớp đảng viên trẻ hôm nay sẽ học tập thấm nhuần tư tưởng đạo đức của Bác Hồ, luôn phát huy được vai trò gương mẫu của người Đảng viên”.

Tôi gặp ông tại hội nghị khen thưởng của thành phố về tấm gương người tốt việc tốt. Tôi cứ có ấn tượng mãi về ông, nhìn bề ngoài trông ông giống như một “Bác chủ nhiệm hợp tác xã thời bao cấp”, dáng vẻ hiền lành, nụ cười đôn hậu chất phác. Ông Nguyễn Văn Nịnh ở số 10/11B ngõ Thanh Miến, Phường Văn Miếu, Quận Đống Đa, Hà Nội – hiện ông là Bí thư chi bộ cụm dân cư số 2 thuộc phường Văn Miếu. Ông sinh năm 1932, năm nay đã bước sang tuổi 75 và có hơn 57 năm tuổi Đảng, sinh ra và lớn lên tại quê lụa Hà Đông, xuất thân từ một gia đình bần nông.Năm 1949 sớm được giác ngộ cách mạng, người thanh niên 16 tuổi Nguyễn Văn Nịnh đã tham gia du kích tập trung của xã chiến đấu chống càn quét của thực dân Pháp. Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, ông gia nhập bộ đội chủ lực F320 tham gia chiến dịch Trung du – Hà Nam Ninh. Năm 1952 bị giặc Pháp bắt giam tại nhà tù Nhà Tiền Hà Nội (Nay là nhà in Tiến Bộ), sau bị chuyển vào nhà giam Hạnh Thông Tây, Sài Gòn. Mặc dù bị địch tra tấn dã man nhưng ông vẫn giữ vững ý chí chiến đầu kiên cường của người chiến sỹ cách mạng. Hòa bình lập lại, ông được trao đổi tù bình về E55 thuộc Bộ tổng tư lệnh, sau đó ông chuyển về ngành giao thông vận tải. Trải qua các thời kỳ được học tập đào tạo chính trị, chuyên môn nghiệp vụ từ công nhân sửa chữa động cơ ô tô trở thành cán bộ chính quyền, công đoàn cơ sở của ngành vận tải ô tô. Dù ở bất cứ vị trí nào, ông luôn phát huy phẩm chất người lính bộ đội Cụ Hồ, hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Về hưu trở về đời thường, bầu nhiệt huyết cách mạng và mong muốn được cống hiến vẫn tiếp tục thôi thúc người Đảng viên lão thành không quản tuổi cao, sức khỏe ông đã tham gia nhiều hoạt động ở địa phương như: Chi hội trưởng Hội cựu chiến binh, thành viên ban công tác Mặt trận, Bí thư chi bộ cụm dân cư. Với bản tính nhiệt tình và đầy trách nhiệm ông lại tối ngày lăn lộn với phong trào, luôn gương mẫu đi đầu trong thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước. Trong cuộc sống gia đình ông thực sự là một tấm gương sáng cho các con cháu noi theo. Hàng ngày, ông đảm đương việc nội trợ, từ mua bán thực phẩm đến nấu nướng giặt giũ và thuốc men chăm sóc người vợ bị ốm suốt 14 năm kéo dài của bệnh tiểu đường cao huyết áp. Năm 2001 vợ ông bị tai biến tê liệt nửa người, lúc đầu nằm bất động ông đã học và thực hiện phương pháp chữa bệnh cho vợ cùng chế độ ăn uống hợp lý, thuốc men uống đều theo sự chỉ dẫn của bác sỹ, ông đã tự tiêm cho bà một ngày 4 lần. Ông thường xuyên đưa bà ra vườn hoa bằng xe lăn để rèn luyện sức khỏe mong kéo dài tuổi thọ cho bà. Ông còn nuôi một cháu ngoại từ nhỏ sau khi mẹ cháu qua đời, đến nay cháu ngoại của ông đã lập gia đình và có công ăn việc làm ổn định.

Ông tâm sự “ Tôi tuổi đã cao, sức khỏe giảm đôi lúc thay đổi thời tiết, bệnh phổi và bệnh tim do di chứng của thời kỳ bị giặc tra tấn tù đày lại làm cho tôi có những cơn đau tức ngực khó thở, có lúc tôi nghĩ sở dĩ tôi vượt qua được những khó khăn vất vả chồng chất trong cuộc sống hàng ngày về gia đình lại đảm nhiệm được bí thư chi bộ là người đứng đầu lãnh đạo khu dân cư với biết bao diễn biến hàng ngày xảy ra. Tôi chỉ tự nhủ mình phải toàn tâm toàn trí không tiếc sức mình óc nghĩ chân bước tay làm cùng với tập thể cấp ủy, cán bộ cơ sở củng cố kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, cùng nhau hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao”.

Trước khi chia tay, tôi mới nói mục đích của buổi gặp gỡ. Ông cười khiêm tốn nói : “Tôi chỉ nghĩ sao còn có sức khỏe tốt để làm được nhiều việc Đảng và nhân dân giao cho và bù đắp lại một phần cho vợ tôi lúc tuổi xuân ở nhà chăm sóc mẹ già em nhỏ đảm đương công việc gia đình để tôi yên tâm đi kháng chiến”./.

Lê Châu

bqllang.gov.vn

Bài học trong lần gặp Bác

Đã vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng bà vẫn tích cực tham gia công tác phụ nữ ở phường Thanh Lương. Các con bà đều đã trưởng thành, công tác ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước… Tên bà đã từng được Nhà xuất bản Giáo dục đưa vào bài toán đố học sinh cấp I thời chống Mỹ: “Chị Nguyễn Thị Minh Liên mỗi công ca máy dệt được 28,5m vải…”.

“Năm 1958, tôi xung phong vào công trường xây dựng Nhà máy dệt 8-3, đến cuối năm 1964 các phân xưởng dệt, sợi, nhuộm đã được hình thành. Lớp công nhân đầu tiên vào phân xưởng dệt có bà Kiều Minh Châu, tôi, Nguyễn Kim Dung… Đúng ngày 8-3-1965, Nhà máy khánh thành và vinh dự được đón Bác về thăm. Từ phân xưởng dệt, tôi chạy như bay sang phân xưởng nhuộm. Anh chị em đứng quanh Bác đông nghịt. Tôi cố kiễng chân lên để nhìn Bác cho rõ và nghe Người nói chuyện.

Làm theo lời Người dạy, cả nhà máy bừng lên khí thế mới hăng say sản xuất “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt” và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Tôi đảm nhận từ 4 máy lên 8 máy rồi 12 máy trong suốt ca dệt và thường xuyên đạt 28-30m vải một công ca máy, dẫn đầu phân xưởng dệt phẳng. Ngoài giờ sản xuất, tôi tham gia đại đội tự vệ của nhà máy. Là phụ nữ chân yếu tay mềm, nhưng chúng tôi đều phải luyện tập thành thục để bắn trả máy bay Mỹ. Năm 1968, tôi được chọn đi hội thao các môn quân sự ở trường bắn dưới Từ Liêm do Bộ Tư lệnh Thủ đô tổ chức và đạt 4 điểm 10 ở môn bắn súng, giành giải Nhất. Cũng sáng hôm ấy tôi được lãnh đạo nhà máy báo chuẩn bị lên gặp Bác. Tôi vô cùng hồi hộp và sung sướng. Chiếc xe con đưa tôi vào đến sân Phủ Chủ tịch rồi mà tôi vẫn thấy trống ngực đập thình thịch. Ngồi trong phòng khách, tôi hồi hộp chờ đợi giây phút được gặp Bác. Rồi Bác xuất hiện vẫn chiếc áo ka ki giản dị mà tôi nhìn thấy trên ảnh. Bác tươi cười ôm hôn tôi hỏi “Nữ du kích Hoàng Ngân đoạt giải Nhất ở hội thi hôm qua đây phải không ? Cháu giỏi lắm !”. Nói sao hết bao nỗi xúc động của tôi lúc đó. Người ân cần hỏi chuyện chồng tôi đi B năm nào ? ở chiến trường nào ? Mẹ già có khỏe không? Các con đi sơ tán có khỏe không ? Học giỏi không?”. Tôi trả lời từng câu hỏi của Bác mà lòng cảm động khôn xiết. Bác đưa tôi vải lụa mang về biếu mẹ già và vải áo cho hai con, tặng tôi huy hiệu của Người. Người ôm hôn tôi lần nữa và dặn dò tôi cố gắng nuôi con tốt, sản xuất và chiến đấu giỏi, xứng đáng là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu. Tôi nhận quà và nghe Bác dặn mà nước mắt bỗng trào dâng.

Sau lần gặp Bác, tôi vinh dự được đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc. Đó là những kỷ niệm thiêng liêng không bao giờ phai mờ trong ký ức tôi, người thợ dệt, cán bộ công đoàn phân xưởng dệt Nhà máy Dệt 8-3. Nhớ lời Bác dạy, tôi đã vượt qua nỗi đau đớn khi chồng tôi hy sinh. Tôi đã nén chịu riêng mình để các con yên vui học hành. Một mình gánh vác hai bên nội ngoại, tôi như con thoi giữa nhà máy và hai quê, vừa bảo đảm chất lượng vải trong ngày tăng ca (từ 2h chiều đến 6h sáng hôm sau), vừa lo cho cha mẹ già và hai con ăn học. Những ngày gian nan ấy, tôi luôn như thấy lời Bác văng vẳng và hình ảnh Bác bên mình tiếp thêm cho tôi sức mạnh vượt qua khó khăn. Năm 1969, trong đoàn đại biểu của Nhà máy đi viếng Bác, trước linh cữu của Người tôi thầm hứa sẽ khắc ghi lời Người dặn dò. Trong cuộc thi thợ giỏi toàn miền Bắc lần thứ hai, tôi đã giành giải nhất. Năm 1976, tôi được chọn vào đoàn đại biểu của Hội LHPN VN đi thăm các nước bạn bè.

Những lời Người dặn luôn thôi thúc tôi phấn đấu, trong 10 năm liền (1967-1977) tôi liên tục giữ vững danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn ngành dệt. Tôi vẫn dặn dò con cháu phải liên tục học và làm theo tấm gương của Người vì tôi có được như ngày nay là nhờ những bài học mà tôi đã học được trong lần gặp Bác.

Nguyễn Phạm

bqllang.gov.vn

“Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai ?…”

Chuyện xảy ra vào đêm giao thừa tết Nguyên đán năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Cũng giống như nhiều cuộc viếng thăm không theo chương trình.

Bác cùng vài đồng chí cảnh vệ, cải trang như những cán bộ bình thường, bất ngờ vào thăm nhà chị Tín. Gần đến giao thừa, chị Tín vẫn mải miết gánh nước thuê để sáng mùng một Tết có cơm cho 4 đứa con. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước. Nắm chặt bàn tay Bác, chị bộc bạch:

– Cháu… cháu không ngờ lại được Bác đến thăm… – Chỉ nói được vậy, chị đã òa khóc.

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai… – Vị Chủ tịch nước ân cần an ủi.

Vào nhà chị Tín (thực chất chỉ là cái lều bán mái), trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một nén hương. 4 đứa nhỏ, lớn nhất 10 tuổi đang ngồi trên giường chia nhau một gói kẹo. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó 4 năm, bản thân chị không có việc làm ổn định, lại đông con nên cuộc sống vô cùng vất vả. Bác đã trò chuyện, thăm hỏi khá lâu 5 mẹ con chị Tín.

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác trầm ngâm suy nghĩ. Về đến nhà, các đồng chí trong Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Ai nấy đều băn khoăn vì thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện, Bác nói: “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số cán bộ các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta”.

(Theo “Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ” – NXB Thanh Niên, tháng 5-2006)

bqllang.gov.vn

Bài học từ vài chục giây

Gặp đèn đỏ ở ngã tư, một đồng chí bảo vệ định yêu cầu bật đèn xanh mở đường cho xe Bác. Bác ngăn lại: “Các chú không được làm như thế. Phải gương mẫu tôn trọng luật lệ giao thông, không nên bắt người khác nhường quyền ưu tiên cho mình”…

Câu chuyện giản dị nhưng thấm vào lòng người thật nhiều điều. Xã hội chúng ta ngày nay, lắm kẻ vượt đèn đỏ giao thông nhưng số người tuân thủ kỉ luật cũng không ít. Điều đáng nói ở đây, Bác Hồ xét trong tư thế là vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, là người được cả dân tộc tôn kính thì việc nhường đường cho Bác là điều nên làm và không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng Bác đã không nhận sự ưu tiên đó.

Bác dạy chúng ta một bài học sâu sắc về cách sống, cách làm người giữa xã hội đầy các mối quan hệ. Không phải chỉ ở chuyện giao thông mà tất cả mọi chuyện, chúng ta đều phải biết tuân thủ những qui tắc đã đặt ra.

Bác đã nêu gương trước tiên cho tầng lớp cán bộ đảng viên về một cách sống biết tuân thủ và phục vụ quần chúng xã hội. Bác Hồ thường nói “cán bộ là đầy tớ của nhân dân” và Người đã sống suốt đời cho nguyên tắc đó. Trong khi không ít vị lãnh đạo hôm nay sa vào cuộc sống tư lợi, tham ô tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, đọc lại mẩu chuyện nhỏ về Bác, ta thấy trách nhiệm của người cán bộ nhà nước thật lớn lao.

Đọc câu chuyện, bản thân mỗi người nhận ra sự ích kỉ, nhỏ nhen thường ngày của mình. Chúng ta quá coi trọng cái tôi mà nhiều lúc sống theo suy nghĩ chủ quan, vi phạm các nguyên tắc chung của xã hội. Bác đã cho chúng ta một bài học thiết thực về chân lí sống “mình vì mọi người – mọi người vì mình”. Cũng như Lê-nin đã từng xếp hàng cắt tóc đợi đến lượt, hành động của Bác làm sáng ngời phẩm chất của người lãnh tụ.

Bác chỉ dừng lại vài chục giây trước đèn giao thông nhưng đã dạy cho tất cả chúng ta một bài học lớn.

Cao Văn Thái

bqllang.gov.vn

Hai lần vinh dự được gặp Bác Hồ

Cuối năm 1950, chúng tôi gồm 20 cán bộ quân đội và tỉnh uỷ viên các tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Sa Đéc… thuộc Khu 7, Khu 8 được cử ra Bắc học tập. Đoàn do đồng chí Nguyễn Oắng (Năm Oắng), Tỉnh uỷ viên Gia Định làm trưởng đoàn.

Điểm tập trung xuất phát cuộc hành quân bộ dài ngày vượt núi rừng Trường Sơn của chúng tôi là xã An Nhơn Tây, nơi có cơ quan tuyên huấn thuộc Khu uỷ Khu 7 lúc đó. Đồng bào địa phương rất mừng khi được biết đây là một trong những đoàn cán bộ đầu tiên, con em của Nam Bộ được ra Bắc học tập và có một mong muốn là khi chúng tôi đến nơi phải xin được gặp Bác Hồ để về kể lại cho đồng bào nghe. Đó cũng là mong ước của chúng tôi. Vì vậy, khi vừa đặt chân đến trạm khách Trung ương ở Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi đã tha thiết đề đạt với trạm nguyện vọng ấy.

Sau đó không lâu, vào một sáng tháng 5 năm 1951, tại trạm khách, trong lúc mọi người đang đọc sách, trò chuyện, đi dạo dưới bóng cọ xanh mát, thì bỗng có ai đó reo to: “Bác, Bác Hồ đến!”. Chúng tôi chạy ùa ra đón Bác. Lần đầu tiên trong đời tôi được nhìn thấy Bác. Bác rất bình dị, đầu đội chiếc mũ lá, quần nâu vén cao trên đầu gối, mình khoác chiếc áo véc tông màu xanh lá cây đã cũ, chân đi dép cao su, tay chống chiếc gậy nhỏ.

Mọi người quấn quýt theo chân Bác bước vào lán gần nhất. Trong lán chỉ có hai chiếc sạp, thấy chúng tôi đông quá không đủ chỗ ngồi, Bác chủ động trở về sân. Chúng tôi ngồi vây quanh Bác. Hôm ấy, tại trạm khách Trung ương, ngoài đoàn chúng tôi vừa ở Nam Bộ ra còn có đoàn cán bộ Việt kiều cứu nước ở Thái Lan, đoàn cán bộ đi học ở Bắc Kinh cũng mới về. Thấy chúng tôi đã ổn định chỗ ngồi, Bác lấy trong túi ra chiếc đồng hồ quả quýt, bật nắp xem giờ và nói:

– Hôm nay Bác bận phải đi họp Trung ương nên chỉ ghé thăm các cháu chốc lát thôi. Bây giờ các cháu muốn hỏi chuyện gì nào?

Sau lời giải đáp câu hỏi của một số cán bộ Việt kiều ở Thái Lan về tình hình thế giới và trong nước, nhìn thấy hai cháu gái của Bác Tôn vừa học ở Bắc Kinh về. Bác ân cần hỏi:

– Đi đường leo núi, các cháu có mỏi chân lắm không?

Rồi Bác chỉ cách chữa mỏi chân bằng cách ngâm chân vào nước tiểu hoặc nước nóng theo kinh nghiệm dân gian.
Bác dặn thêm:

– Các cháu được bạn giúp ăn học, nay về nước phải viết thư ngay để cảm ơn các đồng chí cán bộ nhà trường bên đó.

Chúng tôi lặng yên nghe Bác nói… Lúc Bác đứng dậy để đi họp ai cũng quyến luyến xin được chụp ảnh với Bác làm kỷ niệm. Bác trìu mến nhìn chúng tôi cười.

Sau lần đó, đoàn chúng tôi rời trạm khách, tập trung về học Trường Nguyễn Ái Quốc (khoá 3). Tiếp đó, theo phân công, một số đồng chí đi học quân sự, một số đi nghiên cứu tại ViệnMác-Lênin ở Bắc Kinh.

Thời gian trôi đi, đến cuối năm 1952, lúc cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc đang bước vào giai đoạn quyết liệt, đoàn chúng tôi (được bổ sung thêm một số cán bộ Đại đoàn 304 và 320) được lệnh trở vào Nam Bộ chiến đấu. Lại một vinh dự lớn, bất ngờ đến với chúng tôi, đó là: được Bác cho vào gặp, ăn bữa cơm thân mật với Bác. Trong bữa cơm, Bác rất vui, nhắc nhở chúng tôi:

– Chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ phải được phát động rộng khắp như lưới mạng nhện, làm cho kẻ địch đi đến đâu cũng phải mắc lưới, bị vây, bị đánh, làm cho chúng đông mà phân tán, mạnh trở thành yếu.

Bác ân cần dặn dò:

– Quân, dân, chính, Đảng phải đoàn kết như ba ông đầu rau. Làm cách mạng cũng ví như nấu một nồi cơm. Nồi cơm muốn đứng vững và nấu chín phải có đủ ba ông đầu rau, thiếu một ông thì nồi cơm đổ…

Lời Bác giản dị, dễ hiểu nhưng ý nghĩa thật sâu sắc.

Kể từ ngày chúng tôi được gặp Bác Hồ đến nay đã hơn nửa thế kỷ. Hình ảnh giản dị, tư tưởng, tình cảm và những lời chỉ dạy của Người luôn in đậm trong tâm trí chúng tôi; là nguồn cổ vũ, động viên chúng tôi cùng đồng bào, chiến sĩ Nam bộ vượt qua mọi khó khăn thử thách đi đến ngày thắng lợi.

Đồng Kim Hải
(Ghi theo lời kể của Đại tá Đặng Vũ Bát, nguyên cán bộ Tổng cục Chính trị).

bqllang.gov.vn

Sự lựa chọn của thầy giáo Nguyễn Tất Thành

Mùa thu năm 1910, thầy giáo Nguyễn Tất Thành quyết định thôi nghề dạy học ở Phan Thiết, để đến Sài Gòn, chuẩn bị cho cuộc hành trình đi tìm con đường cứu nước. Và ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành, mang tên mới là anh Ba, rời bến cảng Nhà Rồng, làm việc cho chiếc tàu buôn La-tút-sơ Tơ-rê-vin của Pháp.

Trong cuốn sách “Những mẩu chuyển về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, Trần Dân Tiên đã kể về chuyện thầy giáo Thành (anh Ba) với người bạn. Khi thầy giáo Thành muốn rủ anh cùng đi tìm đường cứu nước, anh ngạc nhiên hỏi: “Tiền đâu?”, Thành đã giơ đôi bàn tay ra và trả lời: “Đây! Tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi…”. Anh bạn không thể tin nổi một người thanh niên mảnh khảnh, dám ra đi làm một việc tày trời như thế, lại chỉ bằng hai bàn tay trắng! Trong khi đó, đã có rất nhiều nhà yêu nước vừa có thế, vừa có lực, loay hoay tìm đường cứu nước, cứu dân trong vô vọng. Không chỉ có một mình anh bạn kể trên, mà còn rất nhiều người khác đã rất ngạc nhiên khi biết thầy giáo Thành đang dạy học rất an nhàn ở trường Dục Thanh do các nhà yêu nước có tên tuổi lập ra; và đặc biệt, thầy giáo Thành là “cậu ấm yêu” của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, hà cớ gì phải đi làm thuê kiếm sống trên con tàu của Pháp? Kỹ sư Bùi Quang Chiêu, một tri thức có địa vị cao ở Sài Gòn, thật bất ngờ khi gặp thầy giáo trẻ Nguyễn Tất Thành trên con tàu ấy, ông đã nói với Thành: “Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề này đi. Con nên chọn một nghề khác danh giá hơn…”. Anh Ba lễ phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không”.

Nhà nghiên cứu Đào Phan nhận định: “Dĩ nhiên, chỉ cần anh Ba tỏ vẻ đồng ý là ông Chiêu, một kỹ sư vào làng Tây đầy thế lực hồi đó, có thể giới thiệu ngay cho anh một nghề bàn giấy ở nước Pháp… Bùi Quang Chiêu không thể hiểu nổi cái phép xử thế ấy của Nguyễn Tất Thành đối với thời đại, khi nhà yêu nước trẻ tuổi vẫn cứ tiếp tục làm cái nghề khó nhọc của các thuỷ thủ đại dương trong nhiều năm nữa…”. “Trên con đường đời rộng lớn từ thời trẻ đến buổi già, đã có bao lần Bác phải lựa chọn hết sức gay go trong thái độ xử trí đối với nhiều tình huống thời đại. Nhưng chắc hẳn cái lựa chọn có ý nghĩa cột mốc quyết định trước tiên đối với sự nghiệp cách mạng và nhân cách của Bác, là khi thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm dứt bỏ cương vị trí thức để ra đi trên vị trí công nhân nhằm tìm đường cứu nước”.

Khi nghiên cứu về “Hai mươi điểm vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, nhà nghiên cứu Lê Quốc Sử đã khẳng định: “Nguyễn Tất Thành đã bỏ danh vọng của người thầy giáo, một trí thức, để trở thành người lao động và đã ra đi tìm đường cứu nước bằng con đường công nhân, của người phụ bếp, của người thuỷ thủ. Chính con đường “vô sản hoá” của Bác đã đi, trở thành một nguyên lý tuyệt vời để rèn đúc nên những chiến sĩ Cộng sản chân chính của Cách mạng Việt Nam, mà các lớp học trò về sau của Bác đều đã đi theo…”.

Tìm hiểu về con đường mà thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã lựa chọn cách nay gần thế kỷ, chắc hẳn chúng ta đều đồng tình với kết luận của nhà nghiên cứu Đào Phan: “Nếu không có sự lựa chọn từ Phan Thiết của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành để hoá thân vào giai cấp công nhân, thì làm sao có sự lựa chọn từ Pa-ri của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc để đi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin… Nếu không có sự quyết định từ Phan Thiết của thầy giáo Nguyễn Tất Thành, thì bạn thử nghĩ xem, làm sao có những quyết định từ Quảng Châu, Hương Cảng, Tân Trào, Hà Nội… của lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với tiền đồ của Tổ quốc? Trong cách xử trí đối với thời đại qua một sự lựa chọn rất độc đáo từ bấy giờ, thiên tài của thầy giáo trẻ tuổi ở trường Dục Thanh quả đã báo trước sự lỗi lạc của vị Chủ tịch nước Việt Nam”.

Ban Biên tập

bqllang.gov.vn

Chuyện về đôi dép của Bác Hồ

Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ. Bác đi từ ở chiến khu Bác về…” Đó là lời một bài hát về đôi dép cao su giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều người biết về đôi dép ấy khi Bác ở chiến khu, khi đi thăm đồng bào, đồng chí. Câu chuyện của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, người có nhiều năm công tác tại Cục Cảnh vệ (Bộ Công an) đề cập đến đôi dép Bác Hồ trong một lần công du quan trọng ra nước ngoài.

Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ. Bác đi từ ở chiến khu Bác về…” Đó là lời một bài hát về đôi dép cao su giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều người biết về đôi dép ấy khi Bác ở chiến khu, khi đi thăm đồng bào, đồng chí. Câu chuyện của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, người có nhiều năm công tác tại Cục Cảnh vệ (Bộ Công an) đề cập đến đôi dép Bác Hồ trong một lần công du quan trọng ra nước ngoài.

Thiếu tướng kể, đó là lần đầu tiên ông được bảo vệ Bác đi công tác nước ngoài – thăm Ấn Độ. Trời rét, Bác vẫn dặn anh em cảnh vệ mang theo dép cao su để “sang bên đó Bác đi cho tiện, hơn nữa cũng quen dùng”. Khi lên máy bay, Bác đi giầy vải cho ấm. Nhân lúc đó, mọi người bàn nhau đem giấu dép cao su, vì nghĩ đơn giản, ra nước ngoài, Bác phải đi giày lễ tân cho sang trọng. Nhưng khi máy bay sắp hạ cánh, Bác liền hỏi dép cao su. Mọi người muốn đặt Bác vào sự đã rồi, nên thưa “dép để dưới bụng máy bay!”. Bác phê bình, “các chú làm vậy là không được!”. Khi máy bay dừng hẳn trên sân, Bác yêu cầu lấy bằng được dép cao su để đi.

Đến viếng mộ Thủ tướng Gandi, theo quy định chung mọi người đều phải để giầy dép bên ngoài. Bác là khách quý, nhân viên lễ tân mời Bác cứ đi dép, nhưng Bác không chịu. Bác cúi xuống cởi dép, một tình huống ngoài dự kiến đã xảy ra. Các nhà báo chen lấn nhau để quay phim, chụp ảnh cho bằng được đôi dép của Bác. Bà con Ấn Độ có mặt khi đó cũng cố đến gần để nhìn tận nơi, thậm chí sờ được tay vào đôi dép cao su giản dị. Tất cả đều thực sự xúc động về sự thanh cao, giản dị, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Cũng trong lần công tác ấy, Bác nhận lời tiếp vợ chồng vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ấn Độ. Bữa tiệc diễn ra thân mật, chân thành, ấm cúng khiến cả hai ông bà đều rất xúc động. Cả hai càng xúc động hơn, kính trọng Bác hơn khi thấy Người đi dép cao su. Họ nghẹn ngào bày tỏ: “Nghe tiếng đã lâu, hôm nay mới thấy tận mắt, đúng là Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị, thân thương quá!”.

Nguyễn Lê

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh và vấn đề rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh xây dựng đội ngũ và chăm lo, bồi dưỡng cán bộ là một công việc trọng yếu của Đảng. Hơn ai hết, Người hiểu rất rõ rằng “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Vì thế mà “phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều mà Người quan tâm trước hết ở người cán bộ cách mạng là vấn đề đạo đức. Với những thanh niên Việt Nam yêu nước tại lớp Huấn luyện chính trị Quảng Châu, khi giảng về Tư cách người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại. Chịu khó. Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật”. Theo Người, “Tự mình phải; Đối người phải; Làm việc phải” trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” là hệ tiêu chuẩn thuộc về tư cách đạo đức cách mạng mà người cán bộ, đảng viên nhất định phải có. Những phẩm chất này là đòi hỏi nghiêm khắc đối với người cán bộ cách mạng, giúp họ có sức hấp dẫn, quy tụ, lôi cuốn được quần chúng, nhằm hoàn thành những nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng Cộng sản từ hoạt động bí mật đã trở thành Đảng cầm quyền. Tình hình mới và những trọng trách mới đòi hỏi người cán bộ, đảng viên càng phải cố gắng phấn đấu vươn lên. Tiên liệu được tình hình, và đặc biệt là để củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các cán bộ, đảng viên, phải làm việc theo nguyên tắc “Hết sức nghe mệnh lệnh của Chính phủ”. Phải thật thận trọng, phải giữ gìn trước những cám dỗ của quyền lực, trước những thói hư tật xấu của chế độ cũ, của lớp quan lại cũ và cũng phải luôn tâm niệm rằng “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác công việc chung cho dân” nên “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh… Phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Ở mỗi giai đoạn nhất định của tiến trình cách mạng, quan niệm về phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ, đảng viên lại có những yêu cầu cụ thể. Song nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì, đó phải là những con người dám xả thân cho cách mạng, đi tiên phong trong phong trào quần chúng, phải biết “làm việc”, biết “sửa đổi lối làm việc” và luôn luôn phải rèn luyện đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Như sông có nguồn thì mới có nước, như cây phải có gốc, vì nếu không có gốc thì cây chết, người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng, vì nếu không có đạo đức cách mạng, thì “dù tài giỏi đến đâu cũng không thể lãnh đạo được nhân dân”. Đạo đức cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đạo đức hành động vì nhân dân, thể hiện bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng vững vàng, tự tin và dám chịu trách nhiệm trước bất kỳ khó khăn nào. Người cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, để lòng mình hướng đến “chí công, vô tư”, để “khi đi thì dân tiếc, sắp đến thì dân mong”.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, rèn luyện người cán bộ, đảng viên có đủ đức và đủ tài, vừa hồng và vừa chuyên. Thời chiến cũng như thời bình, nơi chiến trường hay tại hậu phương, trong học tập, lao động, sản xuất hay khi chiến đấu, Người luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ cán bộ, đảng viên để họ thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Theo Người, chừng nào chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh thường mắc như cậy quyền và cậy thế, kiêu ngạo và xa hoa, quan liêu và coi thường quần chúng, tự kiêu và không muốn học tập, không thực hiện tốt phê bình và tự phê bình vẫn còn hiện hữu, thì chừng đó cán bộ, đảng viên sẽ không thể hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, hoàn thành những trọng trách mà nhân dân tin tưởng giao phó.

TS. Văn Thị Thanh Mai
(Bảo tàng Hồ Chí Minh)

bqllang.gov.vn