Thư viện

Bác Hồ với việc tăng gia sản xuất

BH tang gia

Bác rất chú ý tới việc tăng gia sản xuất và bản thân Người cũng tích cực tham gia. Thời kỳ kháng chiến, lúc mới lên rừng khó khăn nhiều, thóc gạo hiếm, nhân dân đói, cán bộ cũng đói, cơ quan di chuyển luôn Bác thường động viên chúng tôi tăng gia sản xuất, Bác nói:

– Các chú làm mà không ăn thì dân ăn, đi đâu mà thiệt.

Bác còn chỉ thị phải học và làm theo những người dân địa phương, Bác nói:

– Các chú phải phát nương, muốn phát được nương thì phải hỏi dân.

Chúng tôi học tập kinh nghiệm phát nương, trồng mướp, khoai lang, đậu, rau và bắp. Kết quả là chẳng thiếu thứ gì. Hàng ngày, đến giờ tăng gia, Bác cũng tham gia.

Bác thích ăn hoa quả và lá bí. Hồi ở thác Khấu Lấu năm 1949-1950, chúng tôi trồng rất nhiều bí đỏ, có lần Bác hỏi:

– Bí của các chú có bao nhiêu quả. Chúng tôi trả lời không biết.

Bác bảo:

– Sáng mai các chú cho chặt một ít que nứa, vót nhọn rồi đếm xem bao nhiêu que, đến chỗ nào thấy quả bí thì cắm một que, sau đó đếm số que còn lại thì ra số bí.

Nghe lời Bác, chúng tôi đếm được ba trăm quả. Khi thu hoạch Bác bảo đem sang biếu Văn phòng Trung ương và các đồng chí công an. Kết quả đã khuyến khích được việc tăng gia sản xuất, phong trào nhân rộng và phát triển mạnh.

Chúng tôi ăn sáng bằng bí đỏ thoải mái. Anh Cả(1) đưa 200 vạn tài chính chỉ để mua gạo, muối và mắm. Anh Dũng và anh Định đi câu cá ở suối. Chúng tôi vào làng mua thóc, xay giã ăn dần, có cám nuôi gà, trứng đủ để Bác ăn thường xuyên không phải mua. Vậy là sinh hoạt cũng tạm đủ.

Ở chiến khu, công việc kháng chiến bận rộn. Tuy vậy đôi lúc Bác cũng tìm được cho mình một chút thư giãn, đó là thả mình trong cảnh vật thiên nhiên của núi rừng. Bác nuôi một đôi chim bồ câu trắng, Bác cho chim ăn. Đôi chim quấn quít cạnh Người, có khi đậu lên hai vai. Chúng tôi ngắm Bác, giữa khung cảnh núi rừng Việt Bắc trông Bác như một ông tiên, tạm thời quên hết mọi việc nhọc nhằn, khó khăn của những ngày kháng chiến.

Khi về Hà Nội, phá đất trồng rau, trồng chuối, Bác cũng tham gia, vườn nhài Bác góp nhiều công chăm sóc. Ao cá chúng tôi vét bùn, Bác nhận cho cá ăn. Lúc đầu Bác luyện cho cá ăn bằng mõ, sau vỗ tay. Thế là cứ nghe tiếng vỗ tay là cá bơi đến ăn dầy đặc cả bờ ao, trông thật vui mắt.

Hữu Kháng

(1) Đồng chí Nguyễn Lương Bằng

Theo http://www.mattran.org.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện từ cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò

Đúng dịp tỉnh Tuyên Quang long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng Di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào và kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, tôi tình cờ được nghe kể về một loài cây có tên “cây hoa Bác Hồ” ở Lũng Trò, xã Trung Trực (Yên Sơn) – nơi Bác Hồ đã ở và làm việc từ 19-12-1948 đến 10-1-1949. Vậy là thực hiện ngay chuyến đi đến nơi có câu chuyện kể và được biết thêm nhiều điều thú vị mà thiêng liêng.

Cây hoa Bác Hồ

Từ trung tâm xã Trung Trực, chúng tôi đi chừng hơn cây số đến Thôn 5, Đồng Hon. Leo hết con dốc phía bên phải tỉnh lộ 185 rồi xuống đến Lũng Trò. Đây là thung lũng nhỏ, xanh mát cây rừng, lọt giữa núi Lũng Trò, đồi Mỏ Noọng, đồi Trai Ảnh. Một dòng suối nhỏ, nước róc rách, len lỏi lộ cả những viên cuội dưới đáy như lời reo chào khách lạ. Ngôi nhà sàn ngay bên suối của vợ chồng chị Triệu Thị Hòa và anh Nguyễn Văn Hùng nằm đúng trên mảnh đất năm xưa dựng lán Bác Hồ. Chị Hòa bảo, cả thung lũng hiện có 2 hộ đồng bào Tày sinh sống, chứ ngày đó (ngày Bác Hồ và bộ đội về làm lán ở để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp) tuyệt nhiên không có người ở, cây cối rậm rạp, rất nhiều cây Trò. Bà con gọi Lũng Trò là vì vậy.

Theo sách  “Di tích lịch sử – lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tuyên Quang” (Sở VHTT&DL tỉnh phát hành năm 2010), lán Bác ở Lũng Trò được làm theo kiểu nhà sàn, tầng trên để ngủ ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, vừa tránh được thú dữ, vừa tránh không khí ẩm thấp của núi rừng. Lán quay hướng Nam, nhìn xuống suối. Sáng sáng Bác thường xuống suối rửa mặt, tay cầm theo ống bương đựng nước để khi trở lên đến thềm nhà thì rửa chân. Trước cửa lán, Bác trồng khóm hoa vừa để ngụy trang, vừa có hoa đẹp để ngắm. Từ căn lán này, ngày 19-12-1948, Bác Hồ đã viết Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm hai năm kháng chiến toàn quốc, Điện gửi nhân dân Pháp, gửi thư cho đồng bào Công giáo toàn quốc nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh… Cũng tại đây, Bác gửi thư chúc mừng năm mới đến toàn thể đồng bào chiến sỹ nhân Tết Dương lịch 1949, ký Sắc lệnh thành lập một Hội đồng giáo dục có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục ấn định chính sách và kế hoạch giáo dục, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà. Bác thường xuyên truyền tinh thần lạc quan cách mạng đến cán bộ và nhân dân, chú trọng công tác tư tưởng, nhắc nhở các đồng chí cảnh vệ, phục vụ, bộ đội phải làm tốt công tác dân vận, tổ chức dạy chữ quốc ngữ cho dân, hướng dẫn bà con ăn ở hợp vệ sinh, tham dự các buổi sinh hoạt với nhân dân.

cay hoa bh 1Anh Nguyễn Văn Hùng (ngoài cùng bên phải) đang
 giới thiệu về cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Lũng Trò không còn rậm rạp, hoang vu như ngày ấy. Theo chân anh chị chủ nhà và anh cán bộ văn hóa xã, chúng tôi đến khu vực năm xưa là lán Bác. Căn lán Bác ở và các lán của bộ đội, của cán bộ phục vụ từ lâu đã không còn dấu vết. Nhưng thật kỳ diệu, khóm hoa Bác trồng nơi cửa lán năm xưa giờ vẫn xanh tươi, dù khu vườn đã qua biết bao mùa phát cỏ, gieo trồng. Đây là loại cây dây leo, rễ cọc cắm rất sâu vào đất, lá to hơn lá hoa nhài, thường nở hoa màu đỏ vào những tháng cuối năm âm lịch. Hết mùa hoa cũng là mùa gieo trồng vụ mới, người dân phát dọn cả khu vườn, nhưng chồi cây lại nhú lên từ sâu trong lòng đất, lại nảy lộc, đơm hoa. Người già, người trẻ ở Trung Trực đều khẳng định vùng này không hề có loại cây nào như thế. Không một ai biết tên cây. Chỉ biết cây do Bác trồng, nên bà con đã đặt tên cây là cây hoa Bác Hồ. “Trông cây lại nhớ đến Người”, trước vạt cây lạ, đặc biệt xanh tốt giữa đám dong giềng đang nở hoa đỏ ối bên dòng suối Lũng Trò, tôi bỗng như thấy hình ảnh Bác tại Lũng Trò, lúc suy tư làm việc trong lán, lúc ân cần trìu mến chăm sóc khóm hoa. Xin phép đưa một nhánh hoa về trồng, tôi muốn được chăm sóc hoa như lưu giữ một kỷ vật thiêng liêng về Bác. Được biết, gần đây xã Trung Trực đã giao nhiệm vụ cho anh chị Hùng – Hòa trông coi, chăm sóc khóm hoa. Vợ chồng anh đã coi đó là vinh dự của gia đình. Khung ảnh trong nhà hiện treo những tấm hình chụp các đoàn khách đến Lũng Trò thăm cây hoa Bác Hồ nở đỏ rực rỡ.

Khắc ghi lời Bác

Ông Ma Phúc Quý, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Trung Trực năm nay đã gần bảy mươi tuổi. Ông là con trai của Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến xã Ma Phúc Nghiêm ngày ấy. Trong căn nhà đơn sơ ngay cửa ngõ vào Lũng Trò, ông kể cho chúng tôi nghe chuyện cây hoa Bác Hồ, chuyện những ngày cha mẹ ông vinh dự được phục vụ Bác Hồ, phục vụ bộ đội. Hồi ấy ông còn nhỏ, nên những chuyện về Lũng Trò chủ yếu được biết qua lời kể của cha mẹ. Nào chuyện mỗi tuần, bộ đội trong lũng lại ra thôn dạy dân tập võ, vui văn nghệ; chuyện bà con trong thôn đóng góp tre nứa, lá cọ làm lán, đóng góp gà, gạo và các loại thực phẩm khác nuôi bộ đội.

cay hoa BH 2Trường THCS Trung Trực (Yên Sơn) mới được đầu tư xây dựng
 thu hút con em học sinh trong xã đến trường.    

Có gia đình đóng góp nhiều bạc trắng, có nhà đem đến con lợn 65 kg. Mẹ ông, bà Đào Thị Hồng vốn không biết chữ, nhưng được tổ chức phân công tiếp nhận đồ bà con ủng hộ Việt Minh, có cân đong cẩn thận, báo cáo Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến xã viết giấy biên nhận, ký tên hẳn hoi. Những ngày Ban Việt Minh xã và bộ đội làm lán đón Bác Hồ, mẹ ông ngày ngày nấu cơm, cha ông đưa cơm vào trạm gác, đánh kẻng cho bộ đội ra lấy. Có một chuyện cha kể làm ông nhớ mãi. Ấy là một lần đưa cơm vào lán, được gặp cụ già dáng cao, râu dài ở một căn lán bên kia suối. Cụ già dặn dò: Chú là người đứng đầu phải gương mẫu vận động, giác ngộ cách mạng cho bà con để kháng chiến sớm thắng lợi. Lời dặn dò ôn tồn, giản dị mà sâu sắc. Sau này, khi mọi người trong các lán ở Lũng Trò đã rút đi nơi khác, ông mới biết cụ già hôm ấy chính là Bác Hồ. Luôn đinh ninh lời Bác, vị Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã đã lãnh đạo Trung Trực thành căn cứ cách mạng thủy chung, giữ bí mật, bảo vệ cán bộ. Cậu bé Ma Phúc Quý mới ra đời năm ấy được nuôi dưỡng và trưởng thành  trong truyền thống cách mạng của gia đình, thôn xóm, sau này thành bộ đội tận chiến trường nước bạn Lào, rồi đảm nhiệm cương vị Bí thư Đảng ủy xã (1996 – 2000), Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã (2000 – 2004).

Trong số những người cao tuổi nhất ở Trung Trực hiện nay có cụ Đàm Văn Xuyên, cũng nguyên là Bí thư Đảng ủy xã, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, ở thôn Đồng Quảng. Cụ Xuyên năm nay đã ngoài chín mươi tuổi, dáng vẻ chậm chạp, nhưng đôi mắt còn tinh anh và tai nghe vẫn rõ. Cụ rành rọt kể cho chúng tôi về những ngày Bác Hồ và bộ đội về Lũng Trò. Ngày ngày tập luyện, tối lại sinh hoạt nghe cán bộ nói chuyện, vui văn nghệ, học chữ quốc ngữ. Nhắc đến Di tích lán Bác ở Lũng Trò và cây hoa Bác Hồ, cụ Xuyên tỏ ý day dứt vì lúc còn công tác chưa đề nghị cho Lũng Trò được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng. Nay cụ đã ở tuổi gần đất xa trời, chỉ mong các thế hệ sau giúp tháo bỏ niềm day dứt bấy lâu.

Trong câu chuyện với chúng tôi, Bí thư Đảng ủy Nguyễn Văn Sáu không giấu niềm tự hào vì Trung Trực vinh dự được Bác Hồ từng ở và làm việc, vì Trung Trực hiện vẫn lưu giữ được cây hoa Bác Hồ là kỷ vật thiêng liêng của Bác. Anh cho biết xã đã làm hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận Lũng Trò là Di tích lịch sử quốc gia. Cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò đã được nhân gốc đem trồng trước cột cờ trụ sở xã để mỗi cán bộ, đảng viên ngày ngày chăm sóc như một lời tự nhắc nhở học tập và làm theo Bác. Đảng bộ Trung Trực nhiều năm liền trong sạch vững mạnh, được Tỉnh ủy tặng Bằng khen Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu (2009 – 2011). Trong Cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Trung Trực được huyện Yên Sơn chọn là xã điểm và được khen thưởng. Nhưng quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã đều nhận rõ những ưu khuyết điểm của mình để đề ra phương hướng khắc phục và đăng ký những việc làm theo Bác cụ thể, sát thực trong từng thời kỳ.

Năm 2012 này, mỗi tập thể, cá nhân ở Trung Trực đều chọn được nội dung làm theo Bác Hồ gắn với nhiệm vụ được giao. Đảng ủy xã chọn việc nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, quan tâm phát triển đảng viên. Ủy ban nhân dân xã đề cao thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gần dân, lắng nghe dân. Chi bộ Trường Trung học cơ sở xã giúp học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp đồng nghiệp sử dụng phần mềm tin học trong soạn giảng. Cá nhân đồng Chí chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chọn thực hiện nội dung “nâng cao trình độ năng lực, nghiên cứu kỹ văn bản trước khi triển khai thực hiện, kiểm tra chặt giấy tờ trước khi ký”…

Nhớ lời Bác trong thư chúc mừng năm mới viết năm 1949 tại Lũng Trò “đồng bào sẽ xung phong thi đua tăng gia sản xuất về mọi nghề, mọi ngành, diệt giặc đói, giặc dốt…”, Trung Trực đã tìm được hướng phát triển từ chính đồng đất của xã. Cùng với cây lúa, xã đang phát triển hơn 200 ha cây dong giềng và cây chuối làm hàng hóa. Đã có những hộ đầu tư máy móc, nhà xưởng để thu mua dong củ, chế biến bột tại chỗ, giải quyết đầu ra cho cây dong. Dẫu đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhưng bà con vẫn tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, đóng góp làm đường bê tông đến các thôn được 2 km năm 2011, đóng góp xây dựng Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Tuyên Quang được 10 triệu đồng, giải phóng mặt bằng xây dựng Trường Trung học cơ sở xã theo hướng chuẩn quốc gia, xây dựng hồ Khuôn Lù và các tuyến mương phục vụ sản xuất. Xã đã chỉ đạo việc củng cố các lớp học thôn bản, tạo mọi điều kiện để hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho 38 trẻ trong độ tuổi. Mức lương thực bình quân đạt 720 kg/người/năm  và 1,1 triệu đồng/người/tháng là kết quả đáng trân trọng đối với một xã vùng sâu, vùng xa.

Tạm biệt Trung Trực, trong tôi vẫn in đậm hình ảnh cây hoa Bác Hồ và những tâm sự của các đồng chí lãnh đạo xã về thực hiện lời dạy của Bác để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Và mãnh liệt một niềm tin không lâu nữa, hồ sơ đề nghị Lũng Trò là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (đã được Bảo tàng tỉnh trình Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) sẽ được phê duyệt, để nơi này là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau. Rồi đây, cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò với sức sống diệu kỳ từ hơn nửa thế kỷ qua sẽ được nhiều người biết đến, được nhân giống và chăm sóc ở nhiều nơi như giữ gìn một kỷ vật quý giá về Bác, như một cách để mỗi người tự nhắc mình thường xuyên học tập và làm theo Bác Hồ.

Theo baotuyenquang.com.vn
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Chuyện về Bác Hồ với Vua bếp huyền thoại Escoffier

Laura Lam tiếp tục có viết về quãng thời gian Bác Hồ – khi đó là chàng thanh niên Văn Ba, làm việc cùng đầu bếp huyền thoại người Pháp Escoffier, với những chi tiết ít người biết về vị lãnh tụ của chúng ta.

“Đứng trước tòa nhà mới xây trên nền đất cũ, tâm trí tôi lại trở về với Khách sạn Carlton, nơi chàng thanh niên Văn Ba (Hồ Chí Minh) đã làm việc. Tôi mường tượng ra khu bếp lớn của Vua bếp Auguste Escoffier với đội ngũ 60 nhân viên của ông ấy, tất bật chạy quanh trong những bộ áo choàng trắng cùng mũ vải trắng tinh tươm.

chuyen ve Bac Ho voi nguoi dau bep 1Khách sạn Carlton năm 1920

Trước khi chuyển đến khách sạn Carlton lộng lẫy, Escoffier đã từng làm việc cho khách sạn Savoy, nơi ông xây dựng được danh tiếng là cha đẻ của phong cách nấu ăn Pháp. Escoffier là người cung cấp thực phẩm cho nhà bếp Hoàng gia Anh, cho các phụ nữ quý tộc Châu Âu, cho những người nổi tiếng và những người siêu giàu. Được Hoàng tử xứ Wales đánh giá cao, nên khi Hoàng tử trở thành Vua Edward VII năm 1901, Escoffier được giao trọng trách chuẩn bị cho bữa tiệc đăng quang của nhà vua mới. Năm 1913, ông gặp Hoàng đế Wilhelm II tại bữa tiệc chiêu đãi cấp quốc gia dành cho 146 nhân vật quyền cao chức trọng Đức. Hoàng đế đã rất ấn tượng với phong cách nấu ăn của Escoffier và dành cho ông lời ca tụng: “Tôi là Hoàng đế của nước Đức, nhưng ông là ông vua của các đầu bếp”.

Thực đơn của Escoffier gồm những món xuất phát từ những ý tưởng chỉ có ở riêng ông. Như món thịt gà đông được làm từ ký ức của ông về con tàu Jeannette bị mắc cạn trên băng năm 1881; món bánh làm bằng quả đào là để tỏ lòng tôn kính danh ca người Australia, Nellie Melba; món làm từ dâu tây, dứa, kem chanh là món ăn tỏ lòng kính trọng với nghệ sĩ Pháp lừng danh Sarah Bernhardt. Nhiều món ăn của ông đã trở thành những món ăn kinh điển của người Pháp.

Bí quyết của người đầu bếp huyền thoại này là sử dụng những thành phần tươi nhất và nguyên chất nhất để làm nên những món ăn với kỹ thuật cao nhất cùng tính giản đơn. Ông cũng đề cao tiêu chuẩn vệ sinh trong khi chế biến. Năm 1919, Tổng thống Poincaré đã trao tặng Escoffier Bắc đẩu Bội tinh để ghi nhận tài năng đặc biệt cũng như công lao của ông quảng bá phong cách ẩm thực Pháp. Ba năm sau đó, ông được phong chức Sĩ quan Đội sĩ quan danh dự nhân một bữa tiệc quốc gia tại Palais d’Orsay.

chuyen ve Bac Ho voi 2Khách sạn Carlton bị phá hủy trong cuộc chiến Blitz ở London năm 1940

Khách sạn Carlton là nơi được Winston Churchill (sau này là Thủ tướng Anh) yêu thích. Ngày 4/8/1914, khi Churchill đang ngồi dùng bữa trong khách sạn này, Anh đã tuyên chiến với Đức và các đồng minh của Đức. Chiến tranh đã bùng nổ hai ngày trước đó, khi quân Đức tấn công lính Pháp. Escoffier và Văn Ba cũng có mặt tại khách sạn khi lời tuyên chiến được đưa ra. Văn Ba đã rất phấn chấn. Anh âm thầm hy vọng cuộc chiến này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Ở London, anh lặng lẽ chờ cơ hội để bộc lộ. Escoffier tiếp tục phụ trách công việc bếp núc của khách sạn Carlton cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ I (8/1914 -11/1918).

Khi Văn Ba bắt đầu công việc của mình vào mùa Xuân năm 1913, anh chỉ là một chân trong nhóm rửa bát ở khu bếp của Escoffier. Với nhân viên này, không có gì hay ho khi chứng kiến những khách hàng giàu có và nổi tiếng để lại nhiều thức ăn trên đĩa sau mỗi bữa. Bất kỳ khi nào nhìn thấy một khoanh bít tết lớn hay miếng thịt gà to còn chưa được đụng đến, anh lại chuyển chúng sang một chiếc đĩa sạch và gửi trở lại nhà bếp. Một lần, Escoffier hỏi Ba “Tại sao anh không vứt những thức đó vào thùng rác như những người khác? Ba trả lời “Những thứ này không nên vứt đi. Ông có thể mang chúng cho người nghèo”.

Escoffier lấy làm thích thú và tỏ ý rất hài lòng với câu trả lời này. “Chàng trai trẻ thân mến ơi, hãy nghe ta. Giờ thì gạt ý tưởng mang tính cách mạng đấy của anh sang một bên và ta sẽ dạy cho anh nghệ thuật nấu nướng. Nó sẽ mang đến cho anh rất nhiều tiền”.

chuyen ve Bac Ho voi 3Tấm bảng treo trên tòa nhà mới. Không có tài liệu nào của Khách sạn Carlton thoát khỏi cuộc chiến tranh. Các nhà sử học Nga và Việt Nam cùng những nguồn khác cho rằng chàng thanh niên Văn Ba đã làm việc ở Khách sạn Carlton từ năm 1913 đến 1917

Ngay sau cuộc đối thoại này, Văn Ba được đưa lên khu vực làm bánh và Escoffier đã truyền cho anh nghệ thuật làm món tráng miệng của Pháp. Anh làm theo những hướng dẫn của vị vua bếp một cách siêng năng và với niềm thích thú thực sự. Ba học rất nhanh công thức làm các loại bánh ngọt của Pháp. Escoffier là người tiên phong trong kỹ thuật trộn các thành phần bánh, xử lý bột nhào và bí kíp nướng bánh sao cho ra lò được những chiếc bánh với lớp vỏ giòn và bóng mịn.

Ngay từ đầu, người thày thông thái của Ba đã chú ý đến sự thông minh nổi trội của cậu học trò và ông luôn đánh giá cao tính chín chắn, thái độ lịch thiệp của Ba. Năm 1917, Escoffier chuẩn bị cho sinh nhật lần thứ 71 của mình, ông đã nghĩ đến việc nghỉ ngơi sau khi tìm được người sẽ kế thừa tài sản vô giá là những công thức làm món ăn của ông. Văn Ba đã theo học ông được 4 năm và là một trong những đầu bếp được ông quý mến nhất. Escoffier không nghi ngờ về việc Ba có được một sự nghiệp đầy hứa hẹn trong thế giới của các đầu bếp Pháp.

Tuy nhiên, một buổi tối, Ba đã nói chuyện với Escoffier. Tin tức về phong trào Duy Tân bị Pháp đàn áp đã đến với Ba và anh cảm thấy rất bồn chồn. Anh thông báo với Escoffier tin sẽ rời London và bắt tay vào một sứ mệnh mới. Có thể quyết định này bắt nguồn từ sự kiện ở Đông Dương, mà cũng có thể là do cuộc Cách mạng Nga bất ngờ nổ ra. Escoffier biết hoài bão chính trị của Ba rất tốt. Nhưng ông cũng cảm thấy buồn bã khi chàng thanh niên có vẻ ngoài thư sinh kia lại từ bỏ bộ đồ trắng để bắt đầu một cuộc sống mà khi ấy, ông cho là đầy những nguy cơ và không có gì chắc chắn.

Khách sạn Carlton bị Đức Quốc xã phá hủy hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng vào London, thường được gọi là cuộc chiến London Blitz, trong những năm đầu 1940, sau 57 đêm Hitler ra lệnh không kích liên tục thành phố này. Đây là giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II (tháng 9/1939-tháng 8/1945).”

Theo Laura Lam (Việt Hà dịch)
Dantri.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Câu chuyện gặp Bác Hồ và việc sản xuất nước lọc Penicilline tại Việt Bắc của cố Giáo sư Đặng Văn Ngữ

P1

GS Ngữ trình bày công trình chiết xuất Penicilline

Nhân một chuyến lên Việt Bắc cùng Giáo sư Đặng Văn Ngữ theo dõi tình hình thực hiện công tác tiêu diệt sốt rét, Giáo sư đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện gặp Bác Hồ và việc sản xuất nước lọc Penicilline tại An toàn khu (ATK) Việt Bắc. Giáo sư Đặng Văn Ngữ kể:

“… Lên đến Việt Bắc, tôi gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Cụ Hồ Đắc Di, Giám đốc Trường Đại học Y Dược khoa, Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ Y tế; là những người tôi đã biết từ trước tại Hà Nội. Tôi trình bày nguyên tắc làm Penicilline ở thể bột và hơi lo ngại vì thấy ở Việt Nam lúc ấy không có máy móc, dụng cụ để làm được bột Penicilline. Bác sĩ Tùng bảo: “Ở đây anh không có dụng cụ nhiều bằng ở Liên khu IV (cũ), nhưng anh được sự lãnh đạo và giúp đỡ của Chính phủ Trung ương, lại có tập thể chúng tôi giúp đỡ, nhất định anh sẽ đạt nhiều kết quả hơn ở Liên khu IV.

Sau hai ngày đường leo đèo, lội suối, cùng với Ông Nguyễn Văn Huyên và Bác sĩ Tôn Thất Tùng, chúng tôi bước lên một nhà sàn. Trong nhà đã có 14 đến 15 người ngồi xung quanh bếp lửa nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Tôi được giới thiệu và biết rằng những người đang ngồi đây là các vị Bộ trưởng và Thứ trưởng trong Chính phủ. Một lúc sau thì Bác đến. Mọi người đều đứng dậy vui vẻ chào. Bác bắt tay mọi người. Khi đến phía tôi, Bác chỉ cái cà vạt của tôi, vừa cười vừa nói: “A! Chú Ngữ đã đến, không cần phải giới thiệu, nhìn cà vạt ở cổ thì biết ngay người mới ở ngoại quốc về”. Sau đó Bác bảo mọi người cùng ngồi, rồi mở cho xem một tập ảnh của Đoàn đại biểu đi Varsovie mới mang về tặng Bác. Bác giản dị và chân tình. Gặp Bác, tôi không thấy bối rối lo sợ, lúng túng như tôi tưởng tượng; trái lại, tôi có cảm tưởng thân mật như một người con đi xa về gặp cha vậy.

Sau bữa cơm trưa hôm đó, tôi lại được gặp riêng Bác, Bác bảo:

– Bộ đội ta cần rất nhiều thuốc để chữa vết thương, chú phải cố gắng giải quyết vấn đề thuốc. Nghe nói chú biết làm Penicilline. Chú có kế hoạch gì không?

– Dạ có. Tôi rút trong túi ra một bản kế hoạch đã chuẩn bị sẵn với sự tham gia ý kiến của Bác sĩ Tùng và Bác sĩ Di. Trong kế hoạch có đề ra việc thành lập một Phòng nghiên cứu Trung ương. Phòng ấy sẽ chỉ huy một số Phòng nghiên cứu ở địa phương. Các phòng địa phương sẽ huấn luyện và cung cấp nhân viên làm nước lọc Penicilline cho các trạm phẫu thuật ở tiền tuyến.

Bác chăm chú nghe tôi trình bày. Nghe xong, Bác chỉ tay vào đoạn cuối cùng, phần huấn luyện của bản kế hoạch và bảo:

– Chú nên chú trọng về phần này, phần này phải làm trước. Chú phải huấn luyện cho nhiều y tá đi phục vụ ngay cho tiền tuyến. Các phòng thí nghiệm cũng cần thiết, nhưng chú sẽ có thì giờ làm sau, chú cần bao nhiều thời gian để huấn luyện một y tá có thể làm được Penicilline?”.

– Thưa Bác, chừng một tháng. Tôi trả lời.

– Thôi, cứ cho là 3 tháng, cho rộng rãi. Còn vật liệu, chú cần những gì?

– Thưa Bác, cần nhất là chai, lọ; nếu có thì chai bẹt càng tốt; nếu không tạm dùng chai tròn cũng được, nhưng phải có hàng nghìn chai mới sản xuất kịp.

Bác liền cho mời đồng chí Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Tổng Công đoàn; Ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục; Ông Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y và Ông Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Bộ Tài chính tới. Bác nhắc các vị ấy giúp đỡ tôi để công tác chung có hiệu quả.

Giáo sư kể tiếp “… Trên đường về, tôi ôn lại những lời Bác dạy. Tôi hơi tiếc vì Bác dạy chưa nên tổ chức Phòng nghiên cứu Trung ương vội, chỉ đào tạo cán bộ làm nước lọc Penicilline. Tôi tự nghĩ nếu có nghiên cứu mới thích thú, mới phát hiện được cái mới, chứ đào tạo cán bộ làm nước lọc Penicilline thì dễ quá. Nhưng tôi lại nghĩ lại, nếu tôi muốn nghiên cứu cao xa thì ở lại ngay Nhật Bản mà nghiên cứu, chứ đã về với kháng chiến thì tất nhiên phải góp phần vào kháng chiến, đưa sự hiểu biết của mình ra phục vụ cho bộ đội, cho nhân dân. Tôi lại kiểm điểm lại công việc tôi đã làm ở Liên khu IV, kiểm điểm lại chủ trương làm Penicilline bột với điều kiện kháng chiến khó khăn, phức tạp; nhưng không thực sự phục vụ trước mắt. Nếu có làm ra bột Penicilline, số lượng sản xuất trong một tháng có thể không đủ để chữa bệnh cho một người; vả lại Penicilline bột làm trong điều kiện kháng chiến chỉ là Penicilline vàng, nếu không có tủ lạnh thì không giữ được lâu. Như vậy sản xuất Penicilline ấy chẳng có ích lợi gì cho kháng chiến.

P2Bác sĩ Đặng Văn Ngữ giới thiệu kết quả kiểm tra nước lọc Penicilline với Bác sĩ,
Bộ trưởng Bộ Y  tế Hoàng Tích Trí tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, năm 1952.

Tôi thấy rõ tôi mới ở ngoại quốc về mà được Bác giao cho nhiệm vụ như thế, thực tế hợp với khả năng của tôi và cũng là một vinh dự vô cùng to lớn. Bắt tay vào việc, mới thấy rằng không phải nghiên cứu gì cao xa, chỉ nghiên cứu làm được nước lọc Penicilline với điều kiện kháng chiến cũng là một vấn đề rất khó khăn, phức tạp. Về đến nhà, mở gói nấm để làm Penicilline ra xem lại thì thấy nấm không còn công hiệu nữa, những nấm khác ở ngoài đã lẫn lộn vào. Thật là một sự bất ngờ và rất đau đớn cho tôi. Trước khi đi tôi đã chú ý để giống nấm vào phòng sạch sẽ nhất ở Việt Bắc, là phòng mổ của Anh Tùng, thế mà vẫn bị tạp nấm rơi vào. Có người bảo ở Việt Nam nhiều tạp nấm lắm, nên không nghiên cứu về nấm được. Ngay ở Viện Pasteur có đủ phương tiện như vậy, bọn Pháp cũng không đặt vấn đề nghiên cứu nấm được, huống là ở Việt Bắc. Nhưng tôi đã hứa với Bác, đã có sự giúp đỡ của Chính phủ, và tôi tin tưởng ở sự tận tâm góp sức của các anh em đang làm việc với tôi lúc ấy. Chính vì vậy tôi đã quyết tâm loại cho kỳ được tạp nấm đã lẫn vào ống nấm Penicilline.

Giọng Giáo sư trầm hẳn xuống: “Ôn lại quãng đời của tôi, tôi chưa có khi nào lo lắng, và chưa có khi nào tôi thấy một cách rõ rệt trách nhiệm của tôi đối với công tác nghiên cứu bằng lúc này. Hồ Chủ tịch và Chính phủ đang hàng ngày, hàng giờ mong đợi kết quả của tôi, hàng nghìn thương binh, bệnh binh đang chờ nước lọc Penicilline”.

Giáo sư xót xa: “Ngày ngày tôi cấy hàng trăm cái nấm lấy ở ống giống ra để thử với vi trùng, nhưng ngày nào cũng như ngày nào, vi trùng đều mọc quanh cái nấm; chứng tỏ rằng nấm không còn tác dụng chống vi trùng nữa. Ròng rã suốt ba tuần lễ, tối nào trước khi đi ngủ cũng đầy hy vọng, mong chóng sáng để đọc kết quả thử nấm. Nhưng đến sáng lấy nấm ở tủ ấm ra xem thì lại thất vọng. Ở Nhật Bản, tôi đã bao nhiêu lần làm tinh khiết nấm và còn tinh khiết những nấm khó hơn nhưng không bao giờ bị thất bại cả; tôi nghĩ vẫn không thấy vì sao về Việt Nam lại thất bại. Các nấm mà tôi đã mất bao nhiêu công trình đưa từ Nhật Bản về đến Bangkok rồi đưa lên Việt Bắc, các nấm ấy bây giờ không còn giá trị nữa chăng? Bao nhiêu hy vọng phục vụ bộ đội được xây dựng trên ống nghiệm này sẽ tiêu tan cả chăng? Đã nhiều lần, tôi sắp viết thư lên báo cáo với Bác Hồ là nấm đã hỏng và chịu tội với Bác. Nhưng tôi nghĩ không thể làm như thế được. Tôi đã hứa với Bác, với các vị Bộ trưởng; nhất định tôi phải làm kỳ được.

Đêm đến, vấn đề nấm đeo đuổi tôi mãi không ngủ được. Một hôm tôi ngủ dậy vào lúc 3 giờ sáng, lấy nấm ra xem … Lúc này, gương mặt Giáo sư như bừng sáng. Giáo sư kể tiếp: “Tôi mừng đến trào nước mắt khi thấy tất cả các con nấm đều có công hiệu, vi trùng không con nào mọc được gần nấm cả. Bấy giờ tôi mới hiểu ra lý do thất bại của mình. Vì tủ ấm của tôi chỉ là một cái thùng sắt có đốt ngọn đèn dầu nhiệt độ không đủ, nấm lại bị lẫn với tạp nấm khác nên chỉ tác dụng trên vi trùng trong một thời gian ngắn, đến sau vi trùng mọc mạnh dần thì nấm không còn chống lại được nữa. Như thế là nấm chưa hoàn toàn mất, và lúc ấy tôi nắm được quy luật tác dụng của nấm trên vi trùng trong điều kiện tủ ấm của tôi. Nhất định thế nào cũng loại được tạp nấm ra, tôi theo dõi nấm mọc hàng giờ trong một đêm, một ngày. Sau một tuần lễ, tôi đã được nấm tốt trở lại, mạnh như cũ.

Xong giống nấm thì tôi nhận được 20 anh em y tá ở Quân y Cục gửi sang học làm nước lọc Penicilline. Cùng đi theo để học và để giúp đỡ các anh em y tá học tập có hai anh em sinh viên dược khoa là anh Tiến và anh Thiều. Tất cả đều chưa biết một tí gì về kỹ thuật nuôi cấy vi trùng và nấm. Nhưng tất cả đều có một lòng hăng hái vô cùng mãnh liệt. Sau một tuần lễ, anh em đã nắm được kỹ thuật căn bản và tôi đã chuyển dần anh em vào công tác nghiên cứu. Vấn đề nghiên cứu lúc bấy giờ là tìm một thứ nước để nuôi nấm. Nấm nuôi ở nước ấy phải nhả nhiều Penicilline và nước nuôi nấm ấy phải là một thứ nước dễ làm, để các anh em y tá có khả năng làm được và phải dùng nguyên liệu sẵn có trong nước.

Sau khi tìm ra được một thứ nước nuôi nấm rất tốt và rất rẻ tiền là nước thân ngô. Nguyên liệu dùng là thân ngô, sau khi đã bẻ bắp và trẩy hết lá. Nguyên liệu ấy ở đâu cũng tìm thấy và hoàn toàn không mất tiền mua. Những khó khăn về kỹ thuật đã được giải quyết xong. Nhưng còn một vấn đề cần bàn, cần giải quyết nữa mới thực hiện được chương trình; đó là vấn đề chai, lọ. Theo chỉ thị của Bác, Tổng Liên đoàn Lao động tích cực giúp đỡ vấn đề này, các Xưởng Thủy tinh đều cố gắng thổi nhiều chai bẹt để sản xuất Penicilline. Tôi đã gửi mẫu chai bẹt đi nhiều nơi. Sau ba tháng, nơi nào cũng có báo cáo là chưa làm được. Các xưởng thủy tinh đang vấp phải một khó khăn về khuôn để thổi chai. Khuôn thổi chai là một cái khuôn gồm hai mảnh bằng gang. Các xưởng đã thử rất nhiều khuôn nhưng không có gang tốt nên chỉ thổi vài lần là khuôn lại vỡ.

Chiến dịch Biên giới 1950 đã đến mà vẫn chưa có một chai bẹt nào cả. Tất cả các anh em đã học xong, chỉ còn có chai bẹt nữa là có thể ra phục vụ ngay được. Một ngày chậm là hàng trăm thương binh không có thuốc. Tôi họp anh em y tá lại và đưa vấn đề ra bàn. Tôi nói: “Anh em công nhân ở xưởng thủy tinh đã cố gắng nhiều mà chưa làm được chai bẹt, nếu ta giải thích cho anh em biết công dụng của chai bẹt trong việc sản xuất Penicilline, nhất định anh em sẽ phát huy sáng kiến và giải quyết được vấn đề”. Tôi cử một anh xuống Xưởng Thủy tinh của Cục Quân y trực tiếp trình bày vấn đề cho anh em công nhân. Quả nhiên sau khi thảo luận sôi nổi, anh em công nhân Xưởng Thủy tinh đã có sáng kiến xếp gạch thành khuôn và thổi được chai.

Suốt ba ngày Tết Nguyên đán, anh em thổi chai không nghỉ, và đến mùng 8 Tết, anh em thổi được 800 chai mới. Đây là một bài học mà tôi luôn luôn nhớ, nêu rõ khả năng vô tận của giai cấp công nhân. Các anh em đã thực hiện khâu cuối cùng trong công tác làm nước lọc Penicilline, một khâu mà tôi không làm được vì tôi phải ở xa và rất xa tiền tuyến để huấn luyện cán bộ và nghiên cứu thêm để cải tiến phương pháp. Nước lọc Penicilline được đưa ra phục vụ cho thương binh một cách rộng rãi với những kết quả tốt đẹp là nhờ Cục Quân y đã giúp đỡ nhiều để tổ chức các Trạm Sản xuất được nước lọc Penicilline, nhờ các đồng nghiệp ở các Phân Viện trong khi dùng nước lọc Penicilline đã tận tình theo dõi thương bệnh binh, nhận xét tỷ mỷ kết quả của nước lọc Penicilline trên các loại vết thương. Nhưng căn bản là nhờ sự tận tâm phục vụ của anh em y tá phụ trách sản xuất nước lọc Penicilline. Có anh đã có sáng kiến viết những tài liệu nhỏ để phổ biến công hiệu và cách sử dụng nước lọc Penicilline để phối hợp với các y sĩ đem ra phổ biến cho đơn vị, có anh đã đào tạo ngay tại chỗ cho anh em y tá khác để nhân thêm nhiều những Trạm Sản xuất nước lọc Penicilline.

P tong hop

Nước lọc Penicilline đã đem lại những kết quả rất tốt đẹp, giúp ta giải quyết khó khăn về khan hiếm thuốc trong lúc biên giới chưa mở rộng và trong lúc địch tăng cường bao vây ta, đặc biệt bao vây về phương diện thuốc men. Có bác sĩ quân y đã tuyên bố: “Lần này chúng tôi không lo sợ về số thương binh đưa về nhiều, vì chúng tôi đã có nước lọc Penicilline thừa dùng để chữa cho thương binh”. Các Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp, Hữu Chánh nhận thấy nước lọc Penicilline so với Sulfamide thì công hiệu hơn hẳn. Trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt ở Nghĩa Lộ và Yên Bái, báo cáo của xưởng XFI cho rằng 80% thương binh đã trở về đơn vị sau khi dùng nước lọc Penicilline. Những vết thương trước phải điều trị lâu, ngày nay thời gian điều trị rút ngắn hơn. Có nhiều trường hợp so với trước thì rất dễ phải cưa tay, cưa chân; nhưng dùng nước lọc Penicilline không những vết thương lành liền mà còn làm cho thương bệnh binh chóng khỏi …

Mới đó mà đã 45 năm (1/4/1967 – 1/4/2012), kể từ ngày Cố Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cùng một số anh chị em đồng nghiệp đã khác hy sinh trên chiến trường Thừa Thiên Huế tại chiến khu Hòa Mỹ, nay thuộc xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền khi đang ôm ấp hoài bão nghiên cứu vaccine chống sốt rét. Giáo sư đã ra đi nhưng sự nghiệp của Giáo sư vẫn còn sống mãi trong chúng ta, những người đang kế tục xuất sắc sự nghiệp phòng chống sốt rét hiện nay.

Theo Trang tin điện tử Viện sốt rét ký sinh trùng – Côn trùng Quy nhơn.

Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Nhân cách và tài trí của Người trong việc tiếp khách phụ nữ quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài mà còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất. Nhiều chính khách nguyên thủ quốc gia khi tiếp xúc với Bác đều cảm thấy quý mến và nể trọng. Đặc biệt, các vị khách quốc tế đã được gặp Bác, dù chỉ một lần, đều có sự cảm phục sâu sắc.

Trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xin kể lại một số mẩu chuyện tiếp khách phụ nữ quốc tế của Bác nhằm giúp bạn đọc tăng thêm niềm tự hào, tôn kính đối với Người – một danh nhân văn hóa của nhân loại…

Đầu năm 1958, nhận lời mời của Tổng thống nước In-đô-nê-xi-a, Bác Hồ đã sang thăm quốc đảo này trong thời gian 10 ngày. Vợ chồng Tổng thống Xu-các-nô đón Bác hết sức trọng thể về mặt quốc gia, nhưng lại thân tình như người anh cả trong đại gia đình. Cả hai vợ chồng luôn tháp tùng cùng Bác đi thăm nhiều nơi trên đất nước có hơn 3.000 đảo dừa xinh đẹp.

Xu-các-nô là vị Tổng thống tài hoa, từng đạo diễn phim, soạn nhạc và cả chỉ huy dàn nhạc. Ông có khá nhiều vợ trên một số hòn đảo, vì vậy mà đệ nhất phu nhân không khỏi nổi máu Hoạn Thư. Thời gian Bác Hồ ở thăm, Bác đã có các cuộc gặp riêng vợ chồng Tổng thống và có nhiều ý kiến phân giải rất sâu sắc. Về sau, bà Xu-các-nô đã nói: “Tôi lấy làm biết ơn anh cả Hồ”.

Bác mời ông bà Tổng thống sang thăm nước ta, vợ chồng Tổng thống vui vẻ và nhận lời. Nhưng không hiểu sao lần sang thăm Việt Nam của Tổng thống Xu-các-nô sau khi Bác Hồ thăm lại In-đô-nê-xi-a lại không có bà Tổng thống đệ nhất phu nhân Xu-các-nô. Nhà nước ta đón tiếp cực kỳ trọng thể. Có 24 phát đại bác đón và tiễn; có chiếu lót đường và thảm đỏ trải trước Dinh Chủ tịch nước. Khi lên máy bay, một lần nữa Tổng thống In-đô-nê-xi-a phát biểu: “Xin tạm biệt anh cả Hồ Chí Minh”.

Hai tháng sau, bà Xu-các-nô lại sang thăm nước ta cùng với một số bà khác với tư cách Phu nhân Tổng thống. Thông báo ngoại giao đưa tin trên báo, nhân dân ta xôn xao: Ai ra đón bà? Chủ tịch Hội Phụ nữ, bà Thập chăng? Nhưng khi máy bay của bà Xu-các-nô đáp xuống phi trường Gia Lâm thì đã thấy Bác Hồ cầm hoa đón bà. Sau khi tặng hoa, bắt tay bà Tổng thống và các bà trong đoàn, Bác đến máy phóng thanh, không đọc diễn văn mà nói vài lời vắn tắt: “Nhân dân ta vừa đón Tổng thống nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a Xu-các-nô đem tới cho chúng ta tình đoàn kết, hòa bình, hữu nghị, thì lần này, nhân dân và phụ nữ Hà Nội lại đón thím Xu-các-nô. Tôi thân ái chào mừng và chúc thím trong thời gian ở thăm Hà Nội, Việt Nam tự nhiên như ở trên đất nước mình. Phụ nữ Hà Nội rất mến khách và cảm tình với phụ nữ In-đô-nê-xi-a và phụ nữ thế giới.”

Hàng ngàn người có mặt vỗ tay và cười vui khi nghe Bác gọi bà Tổng thống bằng thím. Vậy đó, với một Tổng thống nước đông dân In-đô-nê-xi-a và phu nhân, Bác Hồ của chúng ta đã được họ tôn vinh là người anh cả. Không phải ngẫu nhiên mà Bác gọi đệ nhất Phu nhân Tổng thống Xu-các-nô bằng thím.

Với nữ ký giả Pháp – bà Mađơlen Ríepphê, Hồ Chủ tịch là người cha thân yêu, hễ nữ ký giả này đến Hà Nội là xin vào gặp Bác, được Bác tiếp chuyện, mời cơm. Bác hỏi thăm nước Pháp, các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp và những người bạn của Bác nay ai còn ai mất. Mađơlen coi Bác như người cha của mình.

Còn con gái Thủ tướng Nê-ru (Ấn Độ) theo cha sang thăm Việt Nam, Bác Hồ đã dành thì giờ trò chuyện thân tình như đối với con cháu. Sau này, bà thay cha lên làm Thủ tướng nước Ấn Độ, có dịp gặp đoàn Việt Nam là bà bày tỏ lòng kính trọng với Bác Hồ. Theo bà thì Bác Hồ thật vĩ đại bởi Bác vô cùng giản dị. Bà noi gương Bác Hồ về phong cách gần gũi nhân dân.

Đặc biệt, cô con gái luật sư Lô-zơ-bai cùng cha sang Hà Nội thăm Bác Hồ, cô yêu quý Bác và bắt Bác chiều cô như khi Bác ở trong nhà cô tại Hồng Kông. Hồi ấy, Bác hoạt động bí mật, bị nhà cầm quyền Hồng Kông bắt, định nộp cho Pháp. Luật sư Lô-zơ-bai và cả gia đình đã giúp Bác thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù. Năm 1969, khi nghe tin Bác qua đời, cô con gái ông bà luật sư khóc nức nở và cùng với cả gia đình đã để tang Bác như đối với một người ruột thịt…

Hồng Nhung
Theo http://www.vhttcs.org.vn

Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Mừng cho các cháu, Bác càng thương nhớ mẹ

Một lần trên đường đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), Bác Hồ đã nhắc đến mẹ Bác.

mung 1Bà Hoàng Thị Loan (1868 – 1901)
Thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hôm ấy khi xe ôtô đến Quảng Oai, một đoàn các em bé gái cổ quàng khăn đỏ, em mặc áo hoa, em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng. Nhìn thấy các cháu vui, Bác Hồ cũng vui theo. Người nói với chú Vũ Kỳ và các chú ngồi cùng xe:

– Này! Các chú thấy không, các cháu được ăn mặc đẹp, được đi học, cháu nào cũng vui vẻ phấn khởi, Bác mừng cho các cháu.

Rồi giọng Bác bỗng trầm hẳn xuống.

– Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà.

Mọi người cùng đi không nén nổi cảm xúc trước tình cảm của Bác đối với mẹ Bác là cụ Hoàng Thị Loan.

mung 2

Bác Hồ ra đời tại quê ngoại ở ngôi làng Hoàng Trù (tên nôm na là Cồn Trùa sau thành làng Chùa) huyện Nam Đàn, trong ngôi nhà tranh ba gian. Ngôi nhà nằm gần sát nhà cụ Hoàng Đường, được cụ dựng lên vào dịp lễ thành hôn của con gái Hoàng Thị Loan và ông Nguyễn Sinh Sắc vào năm 1883. 

Đây là gian thứ ba để bộ khung cửi dệt vải. Bà Loan thường khuya sớm dệt vải, dệt lụa giúp gia đình những lúc khó khăn, thiếu thốn. Sát bên là chiếc võng cói dài để bà tiện tay ru con những lúc đang đưa thoi dệt vải. Những lời ru ngọt ngào và âm thanh của khung cửi êm đềm là ký ức khó quên trong quãng thời thơ ấu của ba chị em cậu Nguyễn Sinh Cung ngày ấy.

(Theo Một số lời dạy và mẩu chuyện về
Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh – NxbCTQG)
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Bữa cơm gia đình

Khoảng cuối năm 1951, trong một lần đến thăm và nói chuyện với học viên lớp chính trị của quân đội ở Việt Bắc. Bác bảo anh Phương – chồng tôi là cán bộ phụ trách lớp.

– Chiều nay, chú cho Bác ăn bữa cơm, vì nói chuyện xong, tối, Bác còn phải đi họp với một chi bộ ở Định Hóa.

– Bấy giờ tôi cũng làm văn thư ở Hiệu bộ, nên anh Phương cử người nhắn tôi chuẩn bị.

Công việc của Bác xong xuôi, Bác về đến cơ quan thì cơm nước cũng đã sẵn sàng. Sinh hoạt ở rừng còn thiếu thốn, kham khổ. Anh em muốn “bồi dưỡng” cho Bác, để Bác khỏe, nhưng lại sợ. Nhưng rồi cũng quyết định thịt một con gà “tăng gia” kiếm ít măng rừng làm cơm mời Bác.

Bác ngồi vào bàn ăn, bảo anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), hai vợ chồng tôi và đồng chí cảnh vệ cùng ăn. Tôi cứ một mực từ chối:

– Thưa Bác cháu ăn rồi. Mời Bác và các anh, các chú xơi cơm đi…

Mãi sau, Bác mới đồng ý và bắt đầu dùng cơm. Vào bữa cơm Bác nói:

– Cô cho Bác xin quả ớt.

Tôi ngại quá, bèn nói thật:

– Thưa Bác, chúng cháu sợ Bác ăn ớt có hại sức khỏe nên không dám cho vào măng nấu ạ.

Bác quay sang anh Phương:

– Chắc chú lệnh cho cô văn thư chứ gì. Thế là chú quan liêu rồi…

Anh Văn chỉ tủm tỉm cười nói thêm:

– Ớt là “vi-ta-min-ơ” của Bác đấy.

Bữa cơm của Chủ tịch nước giản dị, vui vẻ, thân mật như bữa cơm trong một gia đình ấm cúng.

Cơm nước xong Bác hỏi tôi:

– Cô thư ký được mấy cháu, tên là gì?

Anh Phương đỡ lời tôi:

– Thưa Bác, được ba cháu gái đặt tên là Thu Thủy, Thu Thảo, Thu Vân.

Bác cười hiền từ, nói:

– Tôi có hỏi chú đâu! Sao đặt tên “văn chương” thế!

Gọi là “Thu Ngô, Thu Khoai, Thu Sắn” có hay không?

Mọi người cùng cười vui vì biết Bác liên hệ với phong trào tăng gia sản xuất, trồng thêm màu ngô, khoai, sắn… sản xuất nhiều lương thực đóng thuế nông nghiệp, nuôi bộ đội đánh giặc, mà Chính phủ mới phát động.

Lát sau, Bác lại bảo:

– Bác nói vui thế thôi. Những cái tên Việt Nam ấy rất đẹp.

Chưa kịp nghỉ ngơi, Bác đã chuẩn bị lên đường, Bác đeo balô đi trước, hai đồng chí cảnh vệ, anh Văn tiếp bước sau Bác. Mới đông mà sương chiều Việt Bắc đã xuống rất nhanh tụ thành những đám mây lụa mỏng trắng bìa rừng.

Chúng tôi nhìn theo Bác, ung dung, khoan thai như đi dạo cảnh thiên nhiên hùng vĩ, ngỡ ngàng như vừa được qua một giấc mơ đẹp trong một bữa cơm gia đình.

Theo http://www.nvhtn.org.vn

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Chuyện về Ao cá Bác Hồ

Được thăm ao cá Bác Hồ
Chúng em mừng quá reo hò vỗ tay
Cá mè, cá chép, cá chày
Bỗng dưng rẽ nước bơi đầy mặt ao.

Em nghe mấy bạn thì thào
Được gần bên Bác thảo nào cá ngoan.

                                (Nguyễn Ngọc Ký)

A1Ao cá Bác Hồ

Vào Lăng viếng Bác xong, du khách được đi thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Khi đi đến khu nhà sàn và ao cá Bác Hồ, du khách nào cũng thích thú ngắm nhìn đàn cá bơi lội chen nhau ngoi lên mặt nước đớp mồi. Từ thời Pháp, khi xây dựng Phủ toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch), Chính phủ Pháp đã cho đào một chiếc ao với mục đích để chứa nước. Sau là chỗ để hươu nai trong vườn sau Phủ Toàn quyền (vườn Bách Thảo bây giờ) xuống uống nước. Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, nơi này được chọn là nơi làm việc của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, đồng thời là nơi sống và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi đây cũng là nơi Hồ Chí Minh đã qua đời. Ngày về Thủ đô, sống và làm việc ở nhà sàn, Bác Hồ đã gợi ý anh em phục vụ cải tạo nơi này thành ao nuôi cá vừa để cải thiện đời sống, vừa làm cho không khí thêm trong lành… Nghe theo lời gợi ý của Bác, anh em bảo vệ đã tập trung làm. Chỉ sau một tuần, công việc nạo vét hồ đã hoàn thành.

Sau khi ao đã được dọn sạch, nạo vét và kè lại bờ thành ao nuôi cá, Trại cá giống Đình Bảng đã mang sang những giống cá tốt thả vào ao. Những cây dừa, bụt mọc, liễu… được trồng đã tỏa bóng mát xuống mặt hồ rộng 3.320m2, độ sâu trung bình là 2m với 16 loài, 6 nhóm cá tung tăng bơi lội. Đặc biệt, nhiều loài cá như chép, trắm đen…, xung quanh ao trồng dâm bụt, cạnh bậc lên xuống trồng dừa, như hình ảnh miền Nam trong trái tim Người.

A2Cây bụt mọc bên ao cá Bác Hồ

Cá được thả ở đây là cá rô phi, chép, mè, trôi, trắm cỏ… Trong hồ còn phát triển khá nhiều loại trai, nhiều con đã kết ngọc. Riêng cá trắm phát triển rất nhanh và có lần anh em đánh được con cá nặng 24kg. Vì Bác nói rằng nuôi cá phải chọn loại dễ nuôi, mau lớn và sinh sản nhiều. Đó là những loại cá có giá trị kinh tế của nước ta. Phương châm đó của Người là một bài học lớn cho cán bộ ngành Thuỷ sản suy nghĩ trong công tác nghiên cứu của ngành mình gắn với quan điểm kinh tế, đem lại lợi ích thiết thực cho phong trào sản xuất.

BH bên ao cáBác Hồ bên ao cá

Bác chăm đàn cá rất chu đáo. Hàng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều là lúc Bác cho cá ăn. Thức ăn chủ yếu cho cá thường là cám, ngoài ra buổi sáng lúc ăn điểm tâm, Bác để lại một lát bánh mỳ, cơm được anh em phục vụ phơi khô đựng vào chiếc hộp để cạnh cầu ao. Bác nhớ đặc điểm của từng con cá chép đỏ nên có lần sau khi đi công tác về, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ – Thư ký riêng của Bác – xem tại sao không thấy con cá gáy đỏ của Bác về ăn như mọi khi? Mấy hôm sau Bác rất vui kể rằng con cá gáy đỏ lại đã trở về rồi. Bác còn chú ý bảo vệ đàn cá, những năm trời rét đậm, Bác nhắc anh em kiếm bèo tây về ngăn vào một góc ở hướng Bắc để che gió lùa và cho cá có nơi trú ẩn. Cá Bác nuôi rất mau lớn, đàn cá rô phi sản lượng mỗi năm một tăng nên đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện bữa ăn. Cứ mỗi khi có khách trong nước hay ngoài nước được Bác mời cơm thì món ăn “cây nhà lá vườn” là cá Bác tự tăng gia. Hàng năm cứ vào những ngày lễ hoặc Tết cổ truyền, Bác lại nhắc anh em phục vụ bắt một số cá lên làm quà biếu các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời tặng anh em trong đơn vị bảo vệ cùng các gia đình trong cơ quan. Từ ngày Bác đi xa, các đồng chí lãnh đạo của Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch cùng với ngành Thuỷ sản trực tiếp trông nom ao cá, vẫn giữ nguyên truyền thống tốt đẹp và cảm động này vào ngày sinh nhật Bác 19 tháng 5 hàng năm.

Từ khi có ao cá, dù bận đến thế nào, sau giờ làm việc Bác cũng ra cầu ao gọi cá cho ăn. Những con cá dần quen với những tiếng vỗ tay của Bác. Bác thường bảo: “Phải rèn luyện để trở thành một thói quen tốt”.

Chỉ sau một thời gian ngắn huấn luyện, đàn cá chỉ nổi lên mỗi khi nghe tiếng vỗ tay quen thuộc. Có lần, Bác đi công tác lâu ngày, những người phục vụ cho con cá ăn theo cách Bác vẫn làm. Khi về, Bác ra cầu ao gọi cá nhưng mãi không thấy cá đâu. Bác buồn gọi người phục vụ ra và bảo: “Chú ạ, có mấy con cá quen mà Bác vỗ tay gọi mãi chẳng thấy nó về. Chắc chú nào bắt mất rồi!”.

Bác nói vậy nhưng thực ra Bác biết ao cá vẫn còn nguyên, chỉ có điều lâu ngày không được huấn luyện nên cá không còn thói quen cũ. Bác nói với người phục vụ: “Con người ta cũng vậy, để tạo thói quen tốt phải đòi hỏi sự kiên trì và khổ công rèn luyện. Thói quen xấu thì tiếp thu nhanh lắm!”.

Có một câu chuyện mà đến nay nhiều người vẫn thường nhắc, đó là chuyện Bác Hồ bày cách cân cá. Có lần bắt được con cá trắm đen nặng tới 24kg. Vì con cá quá to lại giãy rất khỏe nên nhiều người loay hoay mà không thể nào cân được.

Anh em cứ đặt lên cân thì cá lại nhảy xuống. Thấy vậy, Bác liền cười và bảo: “Một chú ôm con cá và đứng lên cân. Sau đó chú bỏ cá xuống, cân mình xem bao nhiêu cân rồi lấy tổng số trừ đi là ra”. Lúc ấy anh em mới chợt ồ lên vì cách giải quyết đơn giản thế mà chẳng ai nghĩ ra.

Cá từ ao cá Bác Hồ còn được đưa đi các địa phương để phát triển phong trào. Năm 1959, Hợp tác xã Tiền Phong – Yên Sở, Thanh Trì, Hà Nội là đơn vị đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng gần 100 con cá rô phi để nuôi. Địa phương thứ hai được nhận cá rô phi của Bác Hồ là tỉnh Quảng Bình. Đầu năm 1969, một đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy ra Trung ương họp được vào báo cáo với Bác về thành tích của tỉnh. Bác hỏi thăm về tình hình sản xuất và đời sống của tỉnh, đồng chí cán bộ báo cáo đời sống của nhân dân khó khăn vì thu nhập chính là nghề cá thì bị địch phong tỏa bờ biển, cá giống không đủ để nuôi, Bác chỉ tay ra phía ao cá trước nhà nói: “Nếu thiếu giống thì Bác sẽ cho cá giống. Trong lúc cá biển gặp nhiều khó khăn các chú cần đẩy mạnh nuôi cá để có thêm thức ăn bồi dưỡng sức dân“. Mùa thu năm ấy, Bác đột ngột qua đời, nhưng theo lời Bác, dịp 19/5/1970 đại diện tỉnh Quảng Bình đã đến Văn phòng Phủ Chủ tịch để nhận 1.200 con cá rô phi giống trong ao cá Bác Hồ. Đoàn xe chở cá đã vượt 500km liên tục trong 3 ngày vào đến địa phương… Năm 1979, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bộ Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp và Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Ao cá Bác Hồ”. Sau cuộc phát động, cá giống từ ao cá trong khu Phủ Chủ tịch được gửi cho nhiều địa phương: Thái Bình, Hải Hưng, Thanh Hoá, Hà Nội. Từ miền Bắc vào miền Nam, từ miền núi đến vùng đồng bằng, nhiều hợp tác xã đã đầu tư hàng vạn ngày công để cải tạo những ao tù, đồng cớm thành khu “Ruộng cả ao liền”, có nơi thâm canh nuôi cá như Kiến Xương, Thái Bình. Những ao cá này như những chuồng trại tự nhiên chăn nuôi loài “gia cầm” dưới nước, là cái “kho thực phẩm” ở nông thôn để giải quyết hậu cần tại chỗ ở nước ta. Riêng miền Bắc đã có khoảng 4,5 vạn héc ta diện tích ao nhỏ là mặt nước nuôi cá và cho năng suất cao. Phong trào “ao cá Bác Hồ” được phát triển rầm rộ trong cả nước, nhằm phát huy tiềm năng của loại mặt nước phong phú này.

A4Thăm ao cá Bác Hồ

Đã hơn 40 năm Bác đi xa, hàng năm ao cá của Người vẫn được tu sửa nhằm tạo cảnh quan môi trường sinh thái vừa để phục vụ khách tham quan. Việc giữ gìn và phát triển đàn cá Bác Hồ vừa có ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền với cuộc sống đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, để mỗi lần vào Lăng viếng Bác, thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và ngắm nhìn ao cá Bác Hồ, mỗi chúng ta như lại thấy bồi hồi xúc động nhớ Bác qua những vần thơ của Tố Hữu:

Con cá rô ơi chớ có buồn
Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn
Dừa ơi cứ nở hoa đơm trái
Bác vẫn chăm tay tưới ướt bồn.

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

20 năm kể chuyện Bác Hồ

truyen1Ông Nguyễn Ngọc Truyện

21 năm qua, ông Nguyễn Ngọc Truyện (thường gọi là Năm Truyện) ở 42 Bùi Văn Danh, phường Mỹ Xuyên, TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang không ngừng tìm tòi, ghi chép và kể lại hàng trăm câu chuyện về cuộc sống bình dị, thanh tao của Bác Hồ.

“Hiểu về Bác một mình thì uổng quá”

Ông Năm Truyện sinh năm 1925. Tháng 10 năm 1946, ông tham gia kháng chiến, theo đoàn quân tập kết ra Bắc vào năm 1954. Sau đó, ông được cử đi học Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch Hà Nội. Tốt nghiệp ra trường với tấm Bằng Cử nhân kinh tế, ông tham gia giảng dạy tại trường Thương nghiệp miền Bắc.

Ông Nguyễn Ngọc Truyện may mắn được gặp Bác hai lần, hình ảnh về Bác đã in đậm trong tâm trí của người một thời là lính Cụ Hồ.

Ông kể về lần đầu gặp Bác: “Lúc đó trường Thương nghiệp mượn nhà lá của Trường Công an (C500) để dạy học. Hôm đó, đang giảng bài cho sinh viên thì hay tin Bác Hồ đến thăm, tôi vội vàng chạy theo đám người đi xem mặt Bác. Nhưng mà thật buồn khi gần ngay trước mắt đó mà không thể hỏi thăm sức khỏe, không được trò chuyện cùng Người”.

Lần thứ hai, ông Năm Truyện được gặp Bác khi Người đến thăm binh chủng bộ binh ở Xuân Mai, Hà Tây. Từ lòng kính yêu đối với Bác, từ sự khâm phục ý chí, cuộc đời hoạt động Cách mạng của Người đã thúc đẩy ông Năm Truyện sưu tầm, lưu giữ những tài liệu quý, để một ngày nào đó được viết về Bác.

Năm 1975, ông Năm Truyện trở về Long Xuyên và làm Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Thương nghiệp Miền Nam.

Bận bịu với công việc của một nhà giáo, mong ước viết sách về Bác đành gác lại. Tuy nhiên, ông vẫn tích cực sưu tầm tư liệu thông qua việc đặt báo, tìm sách.

Năm 1998, chị Nguyễn Thị Tuyết Nga, con gái ông có dịp đi công tác ra Hà Nội, lúc về được ghé thăm quê Bác. Biết ba mình đam mê sưu tập tư liệu về Cụ Hồ, chị đã tìm những cuốn sách hay nhất viết về Người của Nhà xuất bản Nghệ An đem về tặng ba.

Với một lượng tư liệu khổng lồ, phong phú, lên tới vài nghìn đầu báo, đầu sách, ông Năm say sưa đọc, nghiền ngẫm mà không biết chán. Với ông, những câu chuyện về cuộc đời Bác Hồ vô cùng bình thường, giản dị nhưng lại chứa đựng nhiều điều cao quý về đạo lý làm người. Lúc nghỉ hưu, ông đã có thời gian thực hiện mơ ước là viết cuốn sách, tập hợp những mẩu chuyện về cuộc đời của Bác.

Ông Năm chia sẻ: “Tôi đọc tư liệu về Bác Hồ, tôi hiểu về Bác một mình thôi thì uổng quá! Cho nên tôi “tập viết” thành sách để có thể giáo dục cho mình, đồng thời để giáo dục cho nhiều người khác, nhất là thế hệ thanh niên, làm cho cuộc đời này tốt hơn”.

“Ra đi Bác dặn còn non nước…”

83 tuổi đời, 61 năm tuổi Đảng, ông Năm Truyện vẫn còn miệt mài với sách bút, với tài liệu và những câu chuyện về Bác Hồ

Từ năm 1988, ông Năm Truyện đã đặt bảy đầu báo ngày, 15 đầu báo xuân và lang thang khắp nơi để tìm những cuốn sách hay về Bác. Nghe tin ở đâu có sách hay và mới là ông tìm đến xem bằng được.

Từ việc thai nghén đó, cộng thêm việc đảm nhiệm vai trò làm công tác tuyên giáo ở Đảng ủy Phú Xuyên và phụ trách tờ tin (phát hành hàng tháng), ông đã nghĩ ra cách giới thiệu về cuộc đời Hồ Chủ tịch qua những mẩu chuyện in trên tờ tin.

Cứ mỗi số, ông lại tìm tòi, chắt lọc và đưa ra một câu chuyện trên đó. Tổng cộng, có 70 truyện đã được đăng tải. Mẩu chuyện đầu tiên là “Nguyễn Tất Thành trên tàu La tu sơ Tờ rê vin”, sau này đổi tên thành “Từ thành phố này Người đã ra đi”.

Thế rồi với quá trình miệt mài làm việc, đến quý II năm 1999, cuốn sách đầu tay của ông Năm Truyện đã được hoàn thành gồm 100 mẩu chuyện.

Cuốn sách mang tên “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”, năm 2000, khi Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành cuốn sách, đã đổi tên thành “Ra đi Bác dặn còn non nước”. Cuốn sách ra đời nhân kỉ niệm 110 năm Ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh 19/05/1890 – 19/05/2000.

Trên cơ sở cuốn “Ra đi Bác dặn còn non nước”, ông Năm Truyện đã bổ sung thêm 150 mẩu chuyện mới về Bác và bốn tiểu sử của những người thân của Bác thành cuốn “Hồ Chí Minh – Cứu tinh dân tộc Việt”.

Quyển sách này đươc biên soạn trong thời gian hai năm (2000-2002). Đây là cuốn sách mà ông trân trọng nhất bởi nó được bổ sung vào tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh nhân kỉ niệm 118 năm Ngày sinh của Người (19/05/1890 -19/05/2008).

Ngoài hai cuốn sách đã được phát hành nói trên, sau khi có cuộc vận động Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Truyện còn viết thêm hai cuốn sách nữa. Đó là cuốn “Cánh sen vàng” viết từ 15/10/2006 đến 19/05/2007 có 120 mẩu chuyện, trong đó có 22 mẩu chuyện phục vụ đợt học tập: Sửa đổi lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần kiệm liêm chính, muốn gần dân thì đừng xa dân…

Nếu như các cuốn sách đã viết và xuất bản trước đó là sự chắt lọc những mẩu chuyện về cuộc đời Bác thì đến cuốn “Sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác” lại đi ngược lại – khai thác khía cạnh lòng dân với Bác. Cuốn sách được viết từ 10/06/2007 – 09/11/2007) gồm 79 mẩu chuyện.

Mở đầu là câu chuyện “Ngôi mộ cánh sen” ở Đồng Tháp. Cả cuốn sách là 79 bông hoa tươi đẹp, chứa đựng tấm lòng của cả dân tộc với Bác Hồ kính yêu. Cuốn sách được NXB Thanh Niên phát hành vào Ngày Quốc khánh 02/09.

Có nhà báo viết rằng: “Nếu như cần khai thác, thì các tác phẩm của ông Năm Truyện hoàn toàn đủ chất liệu cho nhà thơ, nhà làm phim, nhà viết sử, nhà nghiên cứu…hoàn thành tác phẩm lớn về Bác”.

Trong căn nhà nhỏ trên đường Bùi Văn Danh, ảnh Bác Hồ được đặt ở vị trí cao nhất trên ban thờ tổ tiên. Ngoài ra, ảnh Hồ Chủ tịch còn được treo khắp nơi trong phòng khách. Hai tủ sách lớn sưu tập tư liệu về Bác Hồ luôn được che phủ cẩn thận để tránh bụi bám vào.

Ông Năm Truyện tâm sự: “Tôi hạnh phúc vì mình đã góp phần vào công giới thiệu cuộc đời bình thường, giản dị của Bác Hồ đến với người dân”.

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Dám nghĩ, dám nói, dám làm

QĐND – Chiều 29-12-1920, tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, 70% đại biểu bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, trong đó có lá phiếu của Nguyễn Ái Quốc, người thanh niên tha hương yêu nước vừa tròn 30 tuổi. Sau này trong đoạn hồi ký “Con đường dẫn tôi tới chủ nghĩa Lê-nin”, chính Người kể lại rằng, hồi đó đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa cộng sản là gì, Người đều chưa hiểu. Trước Đại hội, nghe người ta bàn Quốc tế thứ hai, hai rưỡi, hay Quốc tế thứ ba (tức Quốc tế Cộng sản), Người cũng chưa hiểu. Dù vậy, Người vẫn “xông vào” các cuộc tranh luận sôi nổi và “đập mạnh” những lời lẽ chống lại sự nghiệp giải phóng thuộc địa. Không chỉ tham gia các cuộc họp của chi bộ mình, Người còn đến các chi bộ khác để thảo luận và để nhận thức rõ hơn vấn đề mình đang quan tâm. Chính nhờ tích cực thảo luận, hỏi các đảng viên khác, Người đã được giải thích, được tiếp cận Luận cương của Lê-nin và tìm ra chân lý, tìm ra con đường cứu nước.

Người thanh niên trẻ Nguyễn Ái Quốc ở Đại hội Tua. Ảnh: Internet

Một thế kỷ đã trôi qua, nhìn lại câu chuyện Bác Hồ đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin trên hành trình tìm đường cứu nước, có rất nhiều điều để chúng ta học tập. Trong đó, phải kể đến đức tính dám nghĩ và dám nói của Bác, dù ở vị trí một đảng viên trẻ ở xứ thuộc địa, vốn tiếng Pháp còn hạn chế vậy mà Người vẫn không chút tự ti, dám “đập mạnh” những quan điểm trái chiều. Các chữ “xông vào”, “đập mạnh” trong hồi ký cho thấy thái độ rất cách mạng của một người cách mạng đang khát khao tìm đường đưa dân tộc mình và các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân.

Cùng với tư duy dám nghĩ, dám nói thì câu chuyện trên còn bộc lộ một phẩm chất đáng quý: Tư duy độc lập, sáng tạo. Tuổi trẻ khát khao sáng tạo và cống hiến. Lúc đó, với Người “điều mà tôi muốn biết hơn cả – và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp là: Vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?”. Từ suy nghĩ ấy, chính Người đã mạnh dạn nêu câu hỏi ấy lên, một “câu hỏi quan trọng nhất”, đã góp phần khơi nguồn hình thành một dòng chảy chủ lưu trong nhận thức và hành động của Đảng Xã hội Pháp trước khi tán thành Quốc tế Cộng sản.

Bài học từ sự mạnh dạn của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc thời trai trẻ gợi cho chúng ta hôm nay, nhất là lớp trẻ cần có tư duy dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Thực tiễn đất nước trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay đang rất cần tư duy dám nghĩ, dám nói, dám làm và “nghĩ, nói, làm” những điều mới mẻ, thiết thực, giải đáp được những câu hỏi hóc búa nảy sinh từ thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mà toàn dân ta đang phấn đấu.

Nguyễn Văn Minh
qdnd.vn

“Bác không thể ấm một mình”

Ông Nguyễn Tùng là người có 7 năm được kề cận phục vụ Bác Hồ. Hiện ông đã 84 tuổi, đang sống cùng con cháu tại xã Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là câu chuyện được ông Tùng kể với báo Nghệ An về một trong rất nhiều kỷ niệm về Bác vào dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Người.

“Cuối năm 1959, rét cắt da cắt thịt. Trong giờ nghỉ giải lao cuộc họp Bộ Chính trị, anh Ba (Lê Duẩn) vẫy tôi lại nói nhỏ: “Tùng về mua một bếp sưởi điện đặt vào nơi làm việc để Bác Hồ đỡ rét”.

Lúc vào phòng làm việc thấy trên nhà sàn có cái bếp sưởi điện, Bác gọi tôi hỏi. Vốn đã được dặn trước, tôi trả lời: “Thưa Bác, Bộ Chính trị quyết định đặt lò ở đây đấy ạ”. Bác im lặng không nói gì, tôi đến định bật công tắc, Bác bảo: “Quyết định của tập thể Bác phải phục tùng, nhưng tập thể quyết đặt bếp chứ không quyết mở giờ nào nên mở hay không là quyền Bác”.

Hôm sau tôi báo cáo với anh Ba, anh phàn nàn: “Thế Tùng không có cách gì mở bếp à”. Tôi nghĩ được một mẹo. Tối đó, Bác đang làm việc thì tôi lên: “Thưa Bác, cháu rét lắm ạ”. Bác mỉm cười độ lượng: “Rét thì mở lò mà sưởi”. Tôi thích chí vì mẹo của mình đã đạt. 30 phút sau Bác hỏi: “Chú Tùng thấy ấm đủ chưa?”. Tôi lúng túng: “Thưa Bác đủ rồi ạ”. “Đủ thì đi làm nhiệm vụ”. Tôi vội đi xuống, Bác cũng tắt luôn lò sưởi.

Sáng hôm sau, giờ tập thể dục, Bác bảo: “Cái bếp lò vướng lắm, Bác đi lại không thoải mái”. Tôi báo cáo anh Ba, anh đành trực tiếp gặp Bác đề đạt nguyện vọng đặt lò sưởi vì lo cho sức khỏe của Bác. Bác ôn tồn: “Bác cảm ơn Bộ Chính trị, cảm ơn sự quan tâm của dân, của Đảng, Bác biết mở ra thì ấm, nhưng hiện nay toàn dân đang rét, Bác không thể ấm một mình. Hơn nữa, điện đang rất cần cho nông nghiệp, công nghiệp, các cơ sở sản xuất đều thiếu điện nhiều lắm, mình phải biết tiết kiệm. Bao giờ Bắc Nam thống nhất, nhân dân cả nước đều ấm, lúc đó Bác sẽ sưởi”.

Tình thương bao la “hy sinh tất cả chỉ quên mình” của Bác ở trong câu chuyện này là một bài học quý báu còn nguyên tính thời sự, để tất cả cán bộ, đảng viên học tập và noi theo.

Nam Đàn
baobinhdinh.com.vn

Bác Hồ ở Tân Trào

Ngày 21.5.1945, ngày Bác Hồ về Tân Trào để lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Những ngày đầu, Bác sống trong gia đình ông Nguyễn Tiến Sự, Chủ nhiệm Việt Minh của thôn Tân Lập.

Khi Bác về Tân Trào, bà con nhân dân không biết Bác là ai. Tuy nhiên, với lối sống giản dị, khiêm tốn, Bác đã được bà con nhân dân cảm phục, quý mến gọi bằng cái tên trìu mến, thân thương, kính trọng là Ông ké Cách mạng.

Lúc về thôn Tân Lập, Bác phải làm việc thường xuyên, nhưng những bữa cơm hàng ngày của Bác lại quá đạm bạc nên Người rất gầy yếu, mệt mỏi. Để bồi dưỡng sức khỏe cho Bác, một lần ông Nguyễn Tiến Sự bắt một con gà định thịt. Thấy vậy, Bác nhất định bắt thả gà ra. Người nói: “Đừng bầy vẽ làm gì. Tôi có phải là khách đâu, gia đình ăn thế nào thì tôi ăn thế”. Rồi Bác nói tiếp: “Nếu người cán bộ nào đến cũng mổ gà thì nhà lấy đâu ra lắm gà vậy”. Thấy ông Sự còn băn khoăn, Bác hỏi: “Nhà có vừng, có chè xanh không?”. Ông Sự đáp: “Hạt vừng thì còn mấy ống, còn chè xanh thì trên nương rất nhiều”. Bác vui vẻ nói: “Thế thì không lo, măng luộc lên, chấm muối vừng, nước chè xanh làm canh chan cơm. Ăn như thế cũng là ngon rồi”…

Trong những ngày đầu của Cách mạng tháng Tám, đời sống của nhân dân còn cực khổ, Bác đã đồng cam cộng khổ cùng nhân dân. Dân mặc gì, Bác mặc nấy. Dân ăn gì, Bác ăn nấy. Dân ở thế nào, Bác ở như vậy… Giữa vị lãnh tụ của cách mạng và người dân không hề có khoảng cách là một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ về sự gắn bó với nhân dân của người cách mạng.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là ở những điều giản dị như thế.

Minh Tuyên
baobinhdinh.com.vn