Thư viện

Câu chuyện đối nhân xử thế tài tình của Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiCách đây hơn 50 năm về trước, một buổi sáng tháng 5 năm 1960, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, diễn ra buổi lễ đón tiếp Tổng thống nước Cộng hoà Ghi Nê (*) là Xê – Cu Tu – Rê (Sekou Toure) theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Mít-tin trọng thể đã diễn ra từ 7 giờ sáng. Đồng bào Thủ đô, cán bộ công nhân viên chức, các giáo viên, học sinh, sinh viên các trường Đại học có mặt rất đông đúc và trên tay đều cầm cờ hoa vẫy chào Hồ Chủ tịch và Tổng thống Tu- Rê đi ra lễ đài.

Lớp chúng tôi đứng trong hàng ngũ sinh viên dự lễ phía trước lễ đài gần đó nên nhìn rất rõ Bác Hồ và Tổng Thống Xê Cu Tu- Rê.

Sau phần nghi thức ban đầu của buổi lễ rồi đến phần phát biểu của Tổng thống. Trong bài diễn văn thống thiết của Tổng thống, sau đó ông ta dừng lại, nhìn sang Bác Hồ và nói một giọng rất tôn kính:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ là vị lãnh tụ rất quý mến của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân dân Ghi- Nê chúng tôi”.

Tiếng pháo tay hoan hô vang dội cả quảng trường Ba Đình.

Ông nói tiếp:

“Đối với tôi, cái tên Hồ Chí Minh đã khắc sâu trong trái tim tôi, tôi rất yêu quý Người. Cho nên hôm nay khi tôi sang thăm Việt Nam thì được tin vợ tôi mới sinh được một đứa con trai rất khôi ngô tuấn tú, tôi liền điện về nói vợ tôi đặt tên cho nó là Hồ Chí Minh”.

Nói xong câu đó, ông Tổng thống nhìn sang Bác Hồ chúng ta và nói nhỏ gì đấy… chắc là ông ta xin phép Bác được đặt tên con ông như thế.

Khi nghe như vậy mọi người cứ xì xào râm ran lên mà không vỗ tay. Có người nói to: “Ông Tổng thống này trịch thượng thật, khinh người thật! dám cả gan đem tên vị lãnh tụ của chúng ta đặt cho con mình à!?”.

Nhiều người cũng nói như vậy và tỏ ra khó chịu, bực tức lắm. Nghe tiếng xì xào trong biển người dự lễ tại quảng trường Ba Đình hôm đó, Bác Hồ chúng ta đã hiểu ý của nhân dân Thủ đô không hài lòng về chuyện này và tiếp đó Bác Hồ liền đứng ra trước micrô nói ngay với tất cả đồng bào, cán bộ một cách nhẹ nhàng vui vẻ:

“Kính thưa đồng bào! Tổng thống Xê-Cu Tu-Rê rất quý mến Bác nên mới muốn đặt tên cho con trai yêu quý của mình là Hồ Chí Minh. Phong tục của nước họ là như vậy, chúng ta hãy thông cảm. Còn Bác thì không có vợ, không có con, đồng bào biết rồi đấy. Cho nên Bác có ý kiến đề nghị với đồng bào thế này nhé: Trong ngày hôm nay, nếu chị em phụ nữ nào ở nước Việt Nam ta mà sinh con thì ta đặt tên cho con là Xê- Cu Tu-Rê có được không ?”.

Bác tươi cười nói năng một cách hoà nhã, chân thành và hợp lý như vậy. Tiếng vỗ tay và hô vang: “Đồng ý, đồng ý !”.

Người thông dịch liền dịch ngay cho Tổng thống Tu- Rê biết điều đó và ông bày tỏ lời cám ơn nhân dân Việt Nam đã quý mến ông.

Thế là đồng bào ta không thắc mắc gì nữa mà lại thỏa mãn vô cùng cách giải thích ứng xử kịp thời của Bác Hồ.

Được chứng kiến sự kiện này, tôi cảm thấy Bác Hồ quá nhạy cảm, thông minh trong việc đối nhân xử thế tình huống tâm lý thật tài tình. Nhiều người bàn tán rằng: “Bác Hồ chúng ta đối đáp vấn đề tâm lý này thật hay quá! sâu sắc quá! Tổng thống Xê-cu Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi Nê chỉ sinh được một Hồ Chí Minh, còn nhân dân Việt Nam ngày hôm nay sẽ sản sinh ra được nhiều người con Tu- Rê. Như vậy không nói ra cũng đủ hiểu rằng chỉ một Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng bao nhiêu Tổng thống Tu- Rê…”.

Tôi cũng thầm nghĩ như vậy và vô cùng thích thú với một chuyện thực tế mà tôi đã mắt thấy, tai nghe như vậy. Có thể trong thâm tâm của Bác Hồ không bao giờ có tính so sánh đề cao mình như vậy đâu. Đó là một sự ngẫu nhiên đối nhân xử thế của Người một cách kịp thời cho thoả ý, thoả lòng mong muốn của đồng bào ta và của cả đôi bên. Đó cũng là xuất phát từ tấm lòng nhân ái của Bác “Trọng người như thể trọng ta”.

Từ thời tôi còn là học trò các trường phổ thông, tôi đã từng đọc sách báo và đã nghe nhiều chuyện về cách ứng xử rất thông minh tài tình của Hồ Chủ tịch, nhưng tôi vẫn chưa tin 100%. Tôi nghĩ rằng, chắc người ta đã thêu dệt thêm, tô điểm thêm câu chuyện cho hấp dẫn nhằm đề cao vị Chủ tịch của đất nước Việt Nam mà thôi. Đến khi tôi được trực tiếp chứng kiến sự kiện này vào giữa năm Canh Tý (1960), trong buổi lễ đón tiếp Tổng thổng Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi- Nê thì tôi mới cảm thấy thực sự Bác Hồ có cách đối nhân xử thế với khách Quốc tế thật nhạy cảm, thông minh tuyệt vời !…

——————–

Chú thích: * Nước Cộng hoà Ghi Nê (Guinea) nằm ở Tây Phi, trên bờ Đại Tây Dương.Diện tích: 245.857 Km2. – Dân số: 9.467.800 người. – Quốc khánh: 2/10/1958. Ghi-nê là nước dân tộc chủ nghĩa đầu tiên ở châu Phi có quan hệ ngoại giao với ta – 9/10/1958,

Trao đổi đoàn: Phía Ghi-nê: Cố Tổng thống Xê-cu Tu-rê (Sekou Toure) thăm Việt Nam năm 1960.

Phía Việt Nam: Phó Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ thăm Ghi-nê năm 1978, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thăm Ghi-nê tháng 3/1994. Hai bên đã ra thông cáo chung, ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế, Văn hoá, Khoa học kỹ thuật và Thương mại, hai bên thỏa thuận thành lập Uỷ ban về hợp tác giữa hai nước.

Theo p5media.vn
Vkyno (st)

Trường học của Bác

Chuyện kể về NgườiCó lần, nhân câu chuyện kể với các bạn trẻ trong Khu Phủ Chủ tịch, Bác Hồ nói: “Các cô, các chú bây giờ đi học có trường, có bàn ghế, có thầy cô, bạn bè, sách vở, giấy bút, có giờ giấc đoàng hoàng. Tối đến có đèn điện, thế mà học một năm không lên được một lớp là không đúng. Ngày xưa, lúc Bác đang tuổi các cô, các chú thì tất cả bàn ghế, thầy, bạn, sách vở, giấy bút chỉ có trong bàn tay này thôi”. Bác giơ bàn tay trái lên nói tiếp: “Hồi ấy Bác làm bồi tàu, làm người quét tuyết ở Anh rồi đi làm phụ bếp. Làm việc từ sáng đến tối, suốt ngày không được cầm đến tờ báo mà xem. Đến đêm mới hết việc, mới được đọc sách, đọc báo. Ban ngày muốn học chỉ có một cách là viết chữ lên mảnh da tay này. Cứ mỗi buổi sáng viết mấy chữ rồi đi cọ sàn tàu, cọ thùng, đánh nồi, rửa bát, thái thịt, băm rau, vừa làm vừa nhìn vào da bàn tay mà học. Hết ngày, người thì mồ hôi đầm đìa, chữ cũng mờ đi, cuối buổi đi tắm mới xoá được chữ ấy đi. Coi như đã thuộc. Sáng mai lại ghi chữ mới”.

Sách “Hồ Chí Minh, đồng chí của chúng ta” gồm nhiều hồi ký của các bạn Pháp viết, Nhà xuất bản Xã hội Pari in năm 1970 có trích một đoạn Bác trả lời phóng viên A.Kan (Báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp) như sau: “Tôi không có hạnh phúc được theo học ở trường đại học. Nhưng cuộc sống đã cho tôi cơ hội học lịch sử, khoa học xã hội và ngay cả khoa học quân sự. Phải yêu cái gì? Phải ghét cái gì? Cũng như tôi, tất cả người Việt Nam cần phải yêu độc lập, lao động, Tổ quốc”.

“Tất nhiên không phải riêng tôi mà toàn thế giới đều kính trọng những nhà báo chân chính. Tôi cũng có thời gian học làm báo, cũng có thời gian tôi bỏ ngòi bút, cầm súng để chống lại kẻ thù, chống lại chủ nghĩa thực dân. Khi tôi còn ở Pháp, khi còn biết ít tiếng Pháp tôi đã là Tổng Biên tập, Biên tập và phát hành cả một tờ báo”.

Bác thường nói với cán bộ: “Học thêm được một thứ tiếng nước ngoài coi như có thêm một chìa khoá để mở thêm một kho tàng tri thức. Việc học là việc suốt đời”.

Theo Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Tiếng sáo Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiNghệ sĩ  Đinh Thìn, diễn viên độc tấu sáo của Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam là người từng nhiều lần được gặp Bác Hồ. Ông kể trong niềm bồi hồi xúc động: “Tôi không bao giờ quên buổi đầu tiên được Bác tiếp. Hôm đó, Bác chỉ muốn gặp bốn người, ở bốn Đoàn: Một hát, một múa, một xiếc và một sáo. Tôi đã thấy Bác nhiều lần nhưng chỉ thấy từ xa, hôm ấy bên Bác tôi không sao kìm nén được xúc động. Ôi, Bác giản dị quá! Râu tóc Bác bạc phơ, da dẻ hồng hào trong bộ quần áo lụa Hà Đông đẹp như ông Bụt trong cổ tích. Thấy chúng tôi lúng túng vì xúc động, Bác liền kéo cả nhóm ngồi xuống quanh Bác. Bác hỏi chuyện từng người rồi bảo tôi có mang sáo thì thổi cho Bác nghe. Bác ngồi dựa hẳn vào thành ghế, chăm chú nghe tôi thổi sáo. Hôm đó, tôi thổi một làn điệu đuổi trong chèo. Nghe xong, Bác gật gù rồi hỏi:

– Cháu học ai ?

– Dạ thưa Bác, cháu học ông cụ trong Đoàn ạ. Cụ là một nghệ nhân, đã từng đi biểu diễn khắp nơi trong nước. Cụ là người thổi sáo hay nhất hiện nay ạ.

Bác cười rồi bảo :

– Thế thì tốt, cháu đã gặp thầy rồi đó. Âm nhạc dân tộc của ta rất hay. Thanh niên phải là người thừa kế vốn cổ, học tập các bác nghệ nhân già và phát huy nó lên. Cháu là thanh niên, cháu phải làm nòng cốt, tiếp thu và phát triển âm nhạc dân tộc.

Hôm khác nữa, tôi có may mắn được tới chỗ Bác. Bác đang tiếp khách riêng, trong phòng người nghe không đông lắm. Tôi thổi bài “Nhớ về Nam”, Bác nghe rất chăm chú, thổi xong tôi cúi đầu chào định quay về chỗ ngồi thì Bác đứng dậy. Cầm chiếc sáo của tôi, Bác hỏi :

– Chiếc sáo này cháu tự làm hay mua ?

– Thưa Bác, cháu tự làm đấy ạ.

–  Tự lực cánh sinh như thế là giỏi. Làm sáo cũng không khó lắm phải không cháu ? Trong kháng chiến chống Pháp, Bác thấy bộ đội làm sáo nhanh lắm, đi hành quân hay đi tập đều mang theo, thổi rất vui. Nói rồi Bác cầm ống sáo để đưa lên miệng thổi. Thấy Bác cầm chưa đúng tư thế, tôi thưa với Bác :

– Bác để môi vào sát miệng lỗ sáo ạ.

Bác để môi lại và nhẹ nhàng thổi, lòng ống sáo có gió liền phát ra thành tiếng. Bác hỏi :

– Ngón tay để thế này đúng chưa ?

Tay tôi run hẳn lên. Tôi khẽ cầm vào tay Bác sửa từng ngón bịt vào từng miệng lỗ sáo. Bác để sáo lên miệng thổi, tư thế thoải mái hẳn. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác. Bác lấy hơi thổi nhẹ, hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác thành một làn điệu dân ca đồng quê uyển chuyển điệu cò lả. Bác thổi vừa dứt, tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên vừa sung sướng. Bác bỏ ống sáo xuống, lấy dáng điệu cúi chào như một diễn viên thực thụ, tiếng vỗ tay, tiếng cười vui vẻ lại vang lên.

Bác nói to :

– Thật là không thầy đố mày làm nên!

Lần gặp Bác đó đã để lại trong tôi những ấn tượng không thể phai mờ. Bác đi tìm con đường cứu dân cứu nước từ lúc còn trẻ. Bước chân của Người đã trải khắp năm châu bốn biển nhưng câu hát đồng quê vẫn lắng đọng trong lòng.

Sau những lần được gặp Bác, thổi sáo cho Bác nghe, tôi lại lao vào học tập, khổ luyện, biểu diễn phục vụ đồng bào. Tôi thấy mình cố gắng làm việc bao nhiêu cũng không xứng đáng với công ơn của Bác. Tôi càng yêu chiếc sáo – chiếc sáo may mắn đã được Bác thổi, tôi càng say mê âm nhạc. Điệu cò lả Bác thổi cứ vang vọng, quấn quýt bên tôi, nâng dắt cổ vũ tôi trên bước đường nghệ thuật

Theo hppt://phuly.edu.vn
Huyền Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Cựu Bí thư Trung ương Đoàn kể chuyện gặp Bác Hồ

Ông Nguyễn Văn Đệ sinh năm 1927 tại Nghệ An, tham gia cách mạng từ năm 1947, hoạt động trong nhiều tổ chức đoàn thể, trong đó có 15 năm ở cương vị Bí thư Trung ương Đoàn. Kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời ông là lần được gặp Bác Hồ và nghe những lời chỉ bảo ân cần của Người.

Đúng 6h45 phút ngày 12.7.1965, Văn phòng Trung ương Đoàn nhận được điện thoại từ văn phòng của Bác do đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác) gọi và báo cho biết đúng 7h, đồng chí Bí thư Trung ương Đoàn, phụ trách Thanh niên xung phong lên gặp Bác.

Ông Đệ được đồng chí Vũ Quang (là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn) cử lên gặp Bác. Thực ra ông đã được gặp Bác nhiều lần, được nghe Bác nói chuyện. Nhưng đây là lần đầu tiên ông được trực tiếp báo cáo với Bác cho nên tâm trạng của ông lúc đó rất hồi hộp.

7h kém 5 phút, ông được vào phòng làm việc của Bác. Đúng 7h, Bác từ phía cửa sau đi vào, tay cầm một chiếc quạt lá cọ. Thấy Bác tới, ông liền đứng dậy chào, Bác bắt tay ông và nói: Chú ngồi xuống đi, chú tên gì?
Ông vừa trả lời những câu hỏi của Bác và báo cáo tình hình công việc. Nghe xong Bác bảo: “Tốt! Chú uống nước đi rồi kể cho Bác nghe, các chú đã tổ chức thanh niên xung phong như thế nào? Các cháu gái, trai đi Thanh niên xung phong ra sao? Có hăng hái tự nguyện không?”. Nghe Bác hỏi xong, ông liền báo cáo với Bác, đại ý từ sau khi được Bác, Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ, Ban chấp hành Trung ương Đoàn đã họp, ra nghị quyết  giao cho các tỉnh thành phố tuyển Thanh niên xung phong, độ tuổi từ 18 – 30, thành phần thì 50% nữ, 50% nam. Số thanh niên hăng hái đi tuyển rất đông nên vượt chỉ tiêu, nhất là nữ thanh niên ai cũng đòi đi cho nên việc giải thích cho người ở lại còn khó hơn là giải thích với người ra đi…

Nghe báo cáo xong thấy Bác rất vui và hỏi: “Thế các chế độ chính sách đối với thanh niên xung phong, các bộ, ngành các chú đã báo cáo cụ thể chưa? Đối với các cháu gái có chính sách gì cụ thể không?” Nghe Bác hỏi đến đây, ông đỏ mặt lúng túng, vì khi bàn đến chế độ chính sách không đề cập vấn đề này. Nhưng ông trấn tĩnh và nói liều: Dạ thưa Bác, chúng cháu có bàn riêng vấn đề này, về vệ sinh cho chị em phụ nữ… Bác nói tiếp: “Các chú cùng các ngành lao động phải hết sức chú ý tới các đặc điểm riêng của các cháu gái. Trong công việc cũng không nên phân công cho các cháu gái làm việc quá nặng làm ảnh hưởng đến sức khỏe các cháu sau này”.

Bác đứng dậy cười tươi đưa 2 tay lên trước bụng hỏi: “Còn cái này nữa, to ra thì các chú làm sao?”. Người nói: “Các chú phải giáo dục căn dặn các cháu gái phải biết tự trọng giữ mình, đấu tranh chống lại hành động không đúng đắn của các cháu trai. Các chú tổ chức cho thanh niên xung phong là việc hệ trọng, để đánh thắng giặc Mỹ cần có thanh niên dũng cảm, chịu đựng được gian khổ ở những nơi địch đánh phá ác liệt để sửa đường, sửa cầu vận chuyển hàng hóa súng đạn. Thanh niên hăng hái đi là tốt, nhưng các cháu phải hết sức chú ý tới việc chăm lo giáo dục sức khỏe, học tập văn hóa và đời sống vật chất và tinh thần của thanh niên… Các chú giáo dục động viên các cháu gái, trai làm việc tốt, học tập tốt, báo cáo thành tích cho Bác để Bác khen thưởng”.

Ngày 26.9.1966, sau hơn một năm, Bác đã gửi thư khen lực lượng Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, thực hiện đúng lời hứa với thanh niên xung phong. Ngày 27.1.1969 Bác lại gửi thư khen đại đội Thanh niên xung phong 333, toàn là các nữ thanh niên đã lập thành tích xuất sắc…

Bác Hồ ngày đêm quan tâm tới những việc lớn lao của cách mạng, nhưng Người không quên những việc nhỏ, cụ thể liên quan tới đời sống thường ngày của nữ thanh niên xung phong. Lần gặp Bác tuy ngắn ngủi nhưng để lại trong ông Đệ biết bao kỷ niệm. Những lời dạy của Bác đã theo ông trong suốt cuộc đời.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Bác Hồ chơi bi-a với bác sỹ Nhữ Thế Bảo

Bác sỹ Nhữ Thế Bảo (20-6-1912 – 2-4-1983), quê ở làng Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông từng làm Viện trưởng Quân y viện 108, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô, Cục trưởng Cục Bảo vệ sức khoẻ TƯ, Ủy viên Thường trực Hội đồng bác sỹ TƯ, đặc trách chăm sóc sức khỏe của các vị lãnh tụ: Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng… 

15.1.BacsyNhuthebao a1
Bác Hồ chơi bi-a với bác sỹ Nhữ Thế Bảo

Nhữ Thế Bảo xuất thân trong một gia đình dòng dõi khoa bảng. Cha ông là Nhữ Trọng Túc, đậu cử nhân, được bổ nhiệm chức Hàn lâm viện thị độc học sỹ và được triều đình nhà Nguyễn cử đi sứ, giữ mối quan hệ bang giao với Trung Quốc trong nhiều năm. Ngoài ra, các cụ tổ nhiều đời đều nối tiếp nhau đỗ đại khoa như: Tiến sỹ Nhữ Văn Lan (1463), tiến sỹ Nhữ Tiến Dụng (1664), tiến sỹ Nhữ Đình Hiền (1680), bảng nhãn Nhữ Trọng Thai (1733), tiến sỹ Nhữ Đình Toản (1736), hoàng giáp Nhữ Công Chân (1772)…

Tốt nghiệp y khoa năm 1938, khi vừa tròn 26 tuổi, Nhữ Thế Bảo là một trong số những người tiêu biểu nhất của lớp trí thức trẻ đầu tiên sớm giác ngộ cách mạng, đem hết tài năng, trí tuệ và lòng nhiệt thành phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Khi còn là học sinh ông đã cùng bạn bè tham gia cuộc bãi khóa để tang cụ Phan Chu Trinh. Trong thời gian làm thầy thuốc ở mỏ than Hòn Gai (từ 1939-1945), trước Tổng khởi nghĩa ông đã bắt liên lạc với cán bộ Việt Minh và tham gia tổng khởi nghĩa, giành chính quyền ở Hòn Gai, được cử làm Ủy viên xã hội trong Ủy ban cách mạng Hòn Gai.

Năm 1946, ông cùng một số trí thức yêu nước sáng lập ra Đảng Xã hội Việt Nam. Cuối năm 1946, thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hà Nội ngập trong khói lửa với 60 ngày đêm quyết tử để bảo vệ Thủ đô, ông tham gia trong Ủy ban bảo vệ thành phố với cương vị Phó Trưởng Ban Y tế ngoại thành. Cuối tháng 1-1947, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam và làm Giám đốc Quân dân y phân khu Tây bắc TP. Hà Nội. Bác sỹ Nhữ Thế Bảo đã trở thành một trong những chiến sỹ tiên phong thành lập ngành Quân y Việt Nam.

15.2.BacsyNhuthebao a2Bác sỹ Nhữ Thế Bảo (thứ 2 từ phải sang)tháp tùng Bác Hồ trên biển Hắc Hải

Trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ, ác liệt, ông tham gia quân đội, xông pha trên các chiến dịch ở mặt trận, được giao trách nhiệm lãnh đạo chủ chốt trong các đơn vị quân y. Một người đồng nghiệp, từng sát cánh bên ông trong những ngày gian khổ đó kể: “Năm 1952 cùng đồng chí đi phục vụ chiến dịch Quang Trung, đồng chí đi bộ từ đơn vị này sang đơn vị khác, nêu gương dũng cảm phục vụ không nghĩ đến bản thân mình, chỉ nghĩ đến việc cứu tính mạng của chiến sỹ”…

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông được chuyển công tác về Bộ Y tế (1956). Ngoài đảm nhận cương vị lãnh đạo chủ chốt đơn vị ông được Trung ương Đảng, Chính phủ tín nhiệm giao đảm trách chăm sóc sức khoẻ các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, đặc trách chăm sóc sức khoẻ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng và Phó Chủ tịch Nguyễn Lương Bằng… Hơn 20 năm biệt phái công tác tại Phủ Chủ tịch, ông ngày đêm theo sát các bước đường công tác để chăm sóc sức khoẻ cho các vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta.

Với tất cả tài năng, tâm sức, bác sỹ Nhữ Thế Bảo đã luôn ở bên và chăm sóc sức khỏe cho Bác Hồ đến những giây phút cuối cùng. Sau khi Người qua đời, với những cống hiến trong công tác, bác sỹ Nhữ Thế Bảo đã được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng Bằng khen với lời ghi: “Đã tận tụy hoàn thành nhiệm vụ phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người còn sống”.

Theo Đại Đoàn Kết
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch qua lời kể của nữ văn công xứ Nghệ

“Đúng 7h tối, có tiếng còi ô tô, “Bác đến”, một thành viên kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ”, bà cụ Vinh, nữ văn công Nghệ An năm xưa nhớ lại.

Những sinh nhật giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong hai lần Hồ Chủ tịch về thăm quê (năm 1957 và 1961), có một người phụ nữ đã hát dân ca Nghệ Tĩnh cho Người nghe. Sau đó cô được ra tận Phủ Chủ tịch để cất lên những lời ca ngọt ngào xứ Nghệ. Gần 48 năm qua kể từ lần cuối được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Lệ Vinh nguyên là cán bộ nhà văn hóa Trung tâm thành phố Huế, ngày nay vẫn nhớ như in những kỷ niệm về Bác.

Bà Vinh quê ở Thanh Hóa, trước kia làm trong đoàn văn công Nghệ An, cho biết, trong những ngày tháng công tác đã qua, bà rất vinh dự được gặp Hồ Chủ tịch 3 lần, mà 2 lần lại đúng vào lúc Người về thăm quê ở Nghệ An. Bà xúc động: “Đó là những giờ phút hạnh phúc nhất của đời tôi, để lại trong tâm hồn tôi những ấn tượng không thể phai nhòa đối với vị cha già dân tộc.”

Người phụ nữ 79 tuổi nhớ lại, cuối hè năm 1957, tin Hồ Chủ tịch về thăm quê lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước đã tạo nên niềm vui to lớn trong lòng nhân dân xứ Nghệ. Mọi người tập trung tại sân vận động thành Vinh để chào đón và nghe cụ Hồ nói chuyện. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, cả biển người im phăng phắc, tất cả đang hướng về phía Người, lắng nghe lời dạy: “Cán bộ phải chí công vô tư, phải đặt lợi ích của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, phải đoàn kết, gương mẫu…”

“Đang nói, Người bỗng xin phép cởi áo ngoài cho mát. Tất cả mọi người đều rộ lên cưòi thoải mái. Thật tự nhiên cởi mở, thân mật như cha nói với con”, bà cụ trầm ngâm nhớ lại.

Ngày hôm sau, Hồ Chủ tịch về thăm quê ở Kim Liên. Khi trở về thành Vinh, Người đi xe mui trần, nhân dân lại được dịp chiêm ngưỡng vị lãnh tụ cách mạng. “May mắn làm sao, lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ đứng gần xe Người. Cụ mặc quần áo kaki giản dị, mái tóc trắng bạc, nước da hồng hào, đứng thẳng dậy giơ tay chào đồng bào, mắt sáng long lanh và hiền từ. Mọi người nhìn Người hoan hô không ngớt.”, bà Vinh kể lại.

Hồ Chủ tịch phát kẹo cho đoàn văn công Nghệ An cuối năm 1961 sau khi xem biểu diễn. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh: Tường Vi

Cuối năm 1961, Hồ Chủ tịch lại về thăm quê lần thứ hai. Hôm ấy, đoàn văn công Nghệ An đang luyện tập thì nhận được chỉ thị của tỉnh ủy: Văn công sẽ biểu diễn phục vụ vị lãnh đạo và Người muốn nghe dân ca Nghệ Tĩnh. Cả đoàn đều reo mừng, sung sướng. Lúc bấy giờ đoàn văn công Nghệ An chỉ chủ yếu hát chèo, hát mới, diễn kịch nói chứ không có tiết mục dân ca. Diễn viên hầu hết đều là lớp trẻ mới lên nên chưa ai biết hát dân ca. Bà Vinh nói: “Ơn lãnh tụ đối với mỗi người như trời biển, vậy mà chúng tôi những người làm công tác văn nghệ lại không đáp ứng được một nhu cầu nhỏ của Người. Thật là một điều thiếu sót.”

Dòng suy tư ấy đưa bà Vinh về lại những năm tháng chống Pháp phải sơ tán lên Nam Đàn, cạnh bờ sông Lam. Nơi đó, man mác những chuyến đò dọc ngang mang đầy tiếng hát âm vang của hàng chục cô gái kéo sợi và tiếng hát đò đưa, ví dặm, ví phường vải, ru con ấy… Vậy là cô gái văn công khi ấy đánh bạo xung phong hát dân ca Nghệ cho Hồ Chí Minh nghe.

Bà kể lại: “Tôi thử hát nhẩm cho đoàn nghe, một đồng chí lớn tuổi trong đoàn bảo tôi hát đúng và nghe cũng được. Tôi sung sướng quá”. Trong lúc đó Ty văn hóa cũng mời được một “cây” hát dân ca. “Một chị ở Nam Hồng, Nam Đàn được mời về. Nhưng được biết cái vinh dự lớn quá, sợ mình không tự chủ được nên chị nhận giúp tôi luyện giọng”, bà Vinh kể tiếp.

Đến ngày diễn, lúc đó đã 4h chiều, bà Vinh đang bận rộn với một bài thơ lục bát khá dài. Tâm trạng bà lúc này rất khó tả: “Tôi hồi hộp lắm, học và tập đến quên ăn, quên ngủ, nhưng vẩn chưa dám tin ở mình”. 6h30 tối xe đưa đoàn văn công đến hội trường công an vũ trang tỉnh để chuẩn bị hóa, phục trang.

Đúng 7h tối, có tiếng còi ôtô. “Bác đến”, một thành viên trong đoàn kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ. Phút chốc cụ Hồ đã đến ngay bên cạnh cả đoàn văn công, nhẹ nhàng như một ông tiên có phép. Thì ra Người đã vào từ cửa sau. Cả đoàn văn công đứng sững như tượng. Rất thoải mái Hồ Chí Minh giơ tay chào, thăm hỏi sức khỏe từng người và dặn hóa trang cho đẹp, diễn cho tốt… Hành động của Người làm những lo lắng, hồi hộp của cả đoàn lắng xuống.

Cụ Hồ chụp ảnh với đoàn văn công Nghệ An tại Phủ Chủ tịch năm 1962. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh: Tường Vi

Trong toàn bộ buổi diễn có thể nói tiết mục dân ca được xem là then chốt, được xếp vào giữa chương trình để có thời gian chuẩn bị.

“Bước ra sân khấu, tôi cố lấy lại bình tĩnh, tự chủ hơn, tôi nhìn Bác, lại nhìn khán giả, tự nhiên cảm thấy một luồng động viên to lớn. Tôi bắt đầu hát, dường như tôi đã “mê” đi trong sự nhập vai, đồng thời cần phải “tỉnh” trong ý thức trách nhiệm nghệ thuật. Cái phần “tỉnh” của tôi đang đưa mắt nhận ra Người đang nhìn tôi chăm chú, còn phần “mê” đưa tôi sống cùng tâm tình của cô gái đưa tiễn người yêu”, người nữ văn công năm xưa nói và bắt đầu hát nhè nhẹ lời ca năm nào: “Ra về răng được mà về, bức thư chưa gửi lời thề chưa trao…”.

Tiết mục hát ví phường vải của cô làm Hồ Chí Minh xúc động. Người rút khăn tay chấm nước mắt khi nghe tiếng hát khơi gợi thời xa xưa của mình, sau đó nói với ông Nguyễn Sĩ Quế, Thường vụ tỉnh ủy Nghệ An bấy giờ: “Nên khen cháu gái hát dân ca, vì ngày xưa người ta chỉ hát ví ở sân nhà, ngoài đồng, trên sông. Nay cháu đã mạnh dạn đưa lên sân khấu mà lại hát có tình có ý, nghe hay, có sáng tạo”.

“Sau này Ty văn hóa Nghệ An đã gửi thư khen ngợi tôi có cố gắng hát dân ca phục vụ Người về thăm quê hương”, Bà Vinh với giọng tự hào kể lại.

Hôm ấy, sau khi buổi diễn kết thúc, cả đoàn văn công sung sướng ra sân khấu chào Hồ Chủ tịch. Người nhanh nhẹn bước lên sát sân khấu, giơ cao một chiếc lẵng mây, tươi cười: “Các cháu diễn tốt Bác thưởng kẹo, có thích ăn kẹo không?” cả đoàn đồng thanh: “Thưa Bác có ạ”. Người nhìn khắp lượt xem chưa phát kẹo cho ai. Nhà thơ Xuân Tiến, cán bộ Ty văn hóa đưa hai tay ra thưa: “Cháu xin Bác”. Đầy vẻ hóm hỉnh, vị cha già dân tộc thu lại lẵng kẹo và nói: “Chú có phải diễn viên đâu mà cho chú”. Mọi người bật cười vui vẻ.

Người nữ văn công năm xưa Nguyễn Thị Lệ Vinh với những bức ảnh chụp với Bác Hồ. Ảnh: Tường Vi

Chưa đầy một năm sau, mùa hè 1962, đoàn văn công Nghệ An ra Hà Nội tập huấn để dự hội toàn miền Bắc. Tại đây bà Vinh lại có cơ hội gặp được Hồ Chí Minh lần nữa. Lúc ấy toàn miền Bắc đang có phong trào tiết kiệm gạo ủng hộ miền Nam, mỗi bữa chỉ có 2 lạng gạo, thêm phần luyện tập căng thẳng, thời tiết thì nắng nóng. Vậy mà khi biết đoàn được biểu diễn phục vụ Hồ Chủ tịch với vở chèo “Cô gái sông Lam” thì tất cả mọi người như được uống thuốc tiên vậy. Không ai kêu ca, không thiết nhọc nhằn, mệt mỏi gì nữa. Tất cả đều hăng say luyện tập trông chờ ngày gặp Người.

Khoảng 5 ngày sau, xe đoàn văn công Nghệ An đến Phủ Chủ tịch. Đây là lần đầu mọi người đến đây, mọi thứ đều hết sức mới lạ. Khi các văn công vào hóa trang, lại một lần nữa vị lãnh tụ làm mọi người bất ngờ. “Người đến sớm hơn thường lệ, vào thăm chúng tôi trước giờ diễn, vui vẻ hỏi quê quán từng người. Không khí căng thẳng ban đầu đã bị hóa giải bởi những lời hỏi han, những câu đùa thân mật của cụ”, bà Vinh kể.

Người nữ văn công nhớ: Với anh Nghĩa, quê ở Nghi Lộc, Người nhại lại bằng tiếng địa phương: “Nghi Lộc à? Con méo! Con méo!” (con mèo). Đến anh Thái Quang Ngoạn, trưởng đoàn quê ở Thừa Thiên – Huế, Người giả bộ lắc đầu: “Rứa là không phải Nghệ An bầy choa”. Mọi người cười rộ lên. Bà Vinh nói: “Cụ quay sang hỏi tôi. Tôi trả lời: “ Cháu ở Vinh ạ”. Người nhìn tôi gật đầu, nhớ ra cô gái hát dân ca ngày nào. Lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ, Cụ âu yếm hỏi đùa: “Cháu này cũng đi biểu diễn à?”. Rồi Người dặn dò chúng tôi diễn cho hay, Cụ sẽ ngồi xem đến hết”.

Sau buổi diễn, Người thưởng một huy hiệu Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Trung Phong, Trưởng phòng văn nghệ Ty Văn hóa là tác giả kịch bản. Cả đoàn lặng đi vì xúc động. Người chụp chung với đoàn văn công một bức ảnh làm kỷ niệm.

Sau đó Hồ Chủ tịch dặn các cán bộ phụ trách mời ăn bánh uống nước. Các đồng chí phụ trách chân tình trò chuyện: “Các cậu là sướng nhất. Trước tới nay, nhiều đoàn vào phục vụ, nhưng vì tuổi cao ít khi Bác xem quá một tiếng, thế mà hôm nay Người xem hơn 2 tiếng đồng hồ”. Chỉ từng ấy thôi đã khiến bao trái tim trong đoàn thổn thức, nhiều dòng nước mắt sung sướng và biết ơn dâng trào.

“Người đã giúp cho chúng tôi nhận thức đúng hơn về giá trị quan trọng của dân ca nói riêng và giá trị lớn lao của văn nghệ nói chung”, bà Vinh đúc kết.

* Nghe Lời Bác dặn trước lúc đi xa

Tường Vi
vnexpress.net

Câu chuyện đối nhân sử thế tài tình của Bác Hồ trong một cuộc đón khách quốc tế

Chuyện kể về NgườiCách đây hơn 50 năm về trước, một buổi sáng tháng 5 năm 1960, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, diễn ra buổi lễ đón tiếp Tổng thống nước Cộng hoà Ghi Nê (*) là Xê – Cu Tu – Rê (Sekou Toure) theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Mít-tin trọng thể đã diễn ra từ 7 giờ sáng. Đồng bào Thủ đô, cán bộ công nhân viên chức, các giáo viên, học sinh, sinh viên các trường Đại học có mặt rất đông đúc và trên tay đều cầm cờ hoa vẫy chào Hồ Chủ tịch và Tổng thống Tu- Rê đi ra lễ đài.

Lớp chúng tôi đứng trong hàng ngũ sinh viên dự lễ phía trước lễ đài gần đó nên nhìn rất rõ Bác Hồ và Tổng Thống Xê Cu Tu- Rê.

Sau phần nghi thức ban đầu của buổi lễ rồi đến phần phát biểu của Tổng thống. Trong bài diễn văn thống thiết của Tổng thống, sau đó ông ta dừng lại, nhìn sang Bác Hồ và nói một giọng rất tôn kính:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ là vị lãnh tụ rất quý mến của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân dân Ghi- Nê chúng tôi”.

Tiếng pháo tay hoan hô vang dội cả quảng trường Ba Đình.

Ông nói tiếp:

“Đối với tôi, cái tên Hồ Chí Minh đã khắc sâu trong trái tim tôi, tôi rất yêu quý Người. Cho nên hôm nay khi tôi sang thăm Việt Nam thì được tin vợ tôi mới sinh được một đứa con trai rất khôi ngô tuấn tú, tôi liền điện về nói vợ tôi đặt tên cho nó là Hồ Chí Minh”.

Nói xong câu đó, ông Tổng thống nhìn sang Bác Hồ chúng ta và nói nhỏ gì đấy… chắc là ông ta xin phép Bác được đặt tên con ông như thế.

Khi nghe như vậy mọi người cứ xì xào râm ran lên mà không vỗ tay. Có người nói to: “Ông Tổng thống này trịch thượng thật, khinh người thật! dám cả gan đem tên vị lãnh tụ của chúng ta đặt cho con mình à!?”.

Nhiều người cũng nói như vậy và tỏ ra khó chịu, bực tức lắm. Nghe tiếng xì xào trong biển người dự lễ tại quảng trường Ba Đình hôm đó, Bác Hồ chúng ta đã hiểu ý của nhân dân Thủ đô không hài lòng về chuyện này và tiếp đó Bác Hồ liền đứng ra trước micrô nói ngay với tất cả đồng bào, cán bộ một cách nhẹ nhàng vui vẻ:

“Kính thưa đồng bào! Tổng thống Xê-Cu Tu-Rê rất quý mến Bác nên mới muốn đặt tên cho con trai yêu quý của mình là Hồ Chí Minh. Phong tục của nước họ là như vậy, chúng ta hãy thông cảm. Còn Bác thì không có vợ, không có con, đồng bào biết rồi đấy. Cho nên Bác có ý kiến đề nghị với đồng bào thế này nhé: Trong ngày hôm nay, nếu chị em phụ nữ nào ở nước Việt Nam ta mà sinh con thì ta đặt tên cho con là Xê- Cu Tu-Rê có được không ?”.

Bác tươi cười nói năng một cách hoà nhã, chân thành và hợp lý như vậy. Tiếng vỗ tay và hô vang: “Đồng ý, đồng ý !”.

Người thông dịch liền dịch ngay cho Tổng thống Tu- Rê biết điều đó và ông bày tỏ lời cám ơn nhân dân Việt Nam đã quý mến ông.

Thế là đồng bào ta không thắc mắc gì nữa mà lại thỏa mãn vô cùng cách giải thích ứng xử kịp thời của Bác Hồ.

Được chứng kiến sự kiện này, tôi cảm thấy Bác Hồ quá nhạy cảm, thông minh trong việc đối nhân xử thế tình huống tâm lý thật tài tình. Nhiều người bàn tán rằng: “Bác Hồ chúng ta đối đáp vấn đề tâm lý này thật hay quá! sâu sắc quá! Tổng thống Xê-cu Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi Nê chỉ sinh được một Hồ Chí Minh, còn nhân dân Việt Nam ngày hôm nay sẽ sản sinh ra được nhiều người con Tu- Rê. Như vậy không nói ra cũng đủ hiểu rằng chỉ một Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng bao nhiêu Tổng thống Tu- Rê…”.

Tôi cũng thầm nghĩ như vậy và vô cùng thích thú với một chuyện thực tế mà tôi đã mắt thấy, tai nghe như vậy. Có thể trong thâm tâm của Bác Hồ không bao giờ có tính so sánh đề cao mình như vậy đâu. Đó là một sự ngẫu nhiên đối nhân xử thế của Người một cách kịp thời cho thoả ý, thoả lòng mong muốn của đồng bào ta và của cả đôi bên. Đó cũng là xuất phát từ tấm lòng nhân ái của Bác “Trọng người như thể trọng ta”.

Từ thời tôi còn là học trò các trường phổ thông, tôi đã từng đọc sách báo và đã nghe nhiều chuyện về cách ứng xử rất thông minh tài tình của Hồ Chủ tịch, nhưng tôi vẫn chưa tin 100%. Tôi nghĩ rằng, chắc người ta đã thêu dệt thêm, tô điểm thêm câu chuyện cho hấp dẫn nhằm đề cao vị Chủ tịch của đất nước Việt Nam mà thôi. Đến khi tôi được trực tiếp chứng kiến sự kiện này vào giữa năm Canh Tý (1960), trong buổi lễ đón tiếp Tổng thổng Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi- Nê thì tôi mới cảm thấy thực sự Bác Hồ có cách đối nhân xử thế với khách Quốc tế thật nhạy cảm, thông minh tuyệt vời !…

——————–

Chú thích: * Nước Cộng hoà Ghi Nê (Guinea) nằm ở Tây Phi, trên bờ Đại Tây Dương.Diện tích: 245.857 Km2. – Dân số: 9.467.800 người. – Quốc khánh: 2/10/1958. Ghi-nê là nước dân tộc chủ nghĩa đầu tiên ở châu Phi có quan hệ ngoại giao với ta – 9/10/1958,

Trao đổi đoàn: Phía Ghi-nê: Cố Tổng thống Xê-cu Tu-rê (Sekou Toure) thăm Việt Nam năm 1960.

Phía Việt Nam: Phó Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ thăm Ghi-nê năm 1978, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thăm Ghi-nê tháng 3/1994. Hai bên đã ra thông cáo chung, ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế, Văn hoá, Khoa học kỹ thuật và Thương mại, hai bên thỏa thuận thành lập Uỷ ban về hợp tác giữa hai nước.

p5media.vn

Một năm hai lần đến thăm trại giam

Ngày 18 tháng 1 năm 1946, mới 5 tháng sau ngày 19 tháng 8, nhân dân ta giành được chính quyền ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu đi kiểm tra công tác “giác ngộ” những người lầm lỗi ở nhà giam Hỏa Lò và ở Nha Công an.

Chuyện kể về NgườiTháng 1 năm 1946 là một tháng trong những tháng “ngàn cân treo sợi tóc” của nước cộng hòa non trẻ Việt Nam. Và ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sáng sớm đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ H.Truman qua bài diễn văn ngày 28 tháng 10 năm 1945 của Tổng thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết trong thư lên án sự trở lại của quân đội Pháp và yêu cầu Tổng thống Mỹ “can thiệp ngay lập tức và có giải phóng để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó”.

Thư viết xong, đã thấy một cán bộ của Văn phòng Phủ Chủ tịch, trình Chủ tịch nước ký một loạt sắc lệnh, trong đó có Sắc lệnh giải tán tổ chức Quỹ cứu trợ mang tên Toàn quyền Đông Dương Brêviê và của Hội Bảo trợ Phụ nữ và Nhi đồng An Nam do chính quyền cũ tổ chức, để lại.

Sau đó, Hồ Chủ tịch tới nhà giam ở trên phố Hỏa Lò. Người đến đây với tư cách người ông, người cha, xót thương cho những con cháu lỗi lầm, nước đã độc lập tự do mà họ còn ngồi trong bốn bức tường nhà tù.

Bác đi một vòng xem nhà bếp, nhà ăn, phòng tắm, phòng giam. Ngôi bên họ, không sợ hôi hám, bẩn thỉu, Bác nghe những đứa con nhẹ dạ, không hiểu biết đầy đủ luật pháp đã phạm sai lầm phân trần. Thông cảm với sự hồi tâm, hối tiếc của những người bị giam giữ, Bác khuyên họ mau chóng sửa chữa để xứng đáng là công dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, để góp công, góp sức vào công cuộc kiến thiết nước nhà…

Nước mắt lưng tròng, những người đeo số tù ấy không ai vận động ai đều đứng lên hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Họ có biết đâu là Hồ Chủ tịch của họ cũng rưng rưng nước mắt. Bác nói: “Nên đổi chữ trại giam thành khu giác ngộ”. Giác ngộ là danh từ nhà Phật. Tự mình răn mình, lánh xa điều ác, chăm giữ điều thiện để trở về với con người chân chính, là giác ngộ. Bác không vui, dù rằng nếu có đổi ra “Khu giác ngộ” cũng là “trại giam” mà thôi… ý xót thương, tấm lòng bao dung của Bác muốn cho cán bộ trại không nên coi đấy là nơi đọa đầy họ và họ cũng chẳng nên phẫn chí, cùng đường ở nơi “đầy đọa” này…

Có lẽ hình ảnh những con người Việt Nam ấy, sau 80 năm nô lệ, chưa được độc lập tự do luôn trở về trong tâm trí Bác.

Mười tháng sau, mới 2 ngày sau khi từ Paris về Hà Nội, Bác lại đến thăm “Khu giác ngộ”, thăm số công an viên đang chuẩn bị đi làm nhiệm vụ.

Nói chuyện với trại viên “Khu giác ngộ”, Bác an ủi họ: “Anh chị em vì hám lợi mà làm sai nên phải vào đây chờ pháp luật xét xử”. Nhưng khi gặp cán bộ khu, Bác căn dặn: “Nên chăm sóc hơn đối với người bị giam. Phải xét ngay và xét kỹ cho họ khỏi bị oan uổng”.

Trong cơn lốc của cuộc cách mạng, trong buổi đầu lập nước, tránh sao khỏi những việc oan uổng trong dân… Bác biết và Bác nói hộ lời của dân “xin đừng giam lâu, xin đừng xét oan…”

Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Baclieu.gov.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Những câu truyện kể về Bác Hồ với bà con nông dân

Chuyện kể về NgườiĐể Bác tự đi

Được cấp trên cho biết Bác Hồ sẽ về thăm Hợp tác xã cấp cao Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, lãnh đạo Đảng, chính quyền và Ban chủ nhiệm Hợp tác xã đều lo toan chuẩn bị. Nào là bố trí làm tổng vệ sinh khu vực làm việc của Đảng ủy, ủy ban và trụ sở Hợp tác xã. Cuộc họp lãnh đạo nhất trí là phải thông báo cho dân biết tin này để cùng chuẩn bị đón Bác. Thế là Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã phân công cán bộ đến từng nhà dân ở gần trụ sở ủy ban và gần nơi đón Bác. Những nhà gần đó đều được xã cử thanh niên đến sửa soạn lại trong nhà sao cho ngăn nắp. Có 4 gia đình ở gần hội trường nhất thì cho người mượn thêm tủ, bàn ghế sang trọng ở những nhà khác xa hơn đưa đến đặt vào, để khi Bác đến sẽ thấy đời sống của dân ở đây khấm khá thật.

Thế là ngày hôm sau, Bác Hồ đã đến thăm Hợp tác xã Vĩnh Thành. Sau khi nói chuyện xong với cán bộ và nhân dân, Bác nói cho Bác đi thăm một số gia đình. Lãnh đạo xã mời Bác đi và dẫn Bác theo con đường có mấy nhà đã chuẩn bị trước. Ra khỏi hội trường đi được khoảng mươi mét đến ngã ba đường làng, ông Chủ tịch xã chỉ mời Bác đi đường này. Nhưng Bác xoa tay nói: “Để Bác tự đi để biết đúng thực tế, có lẽ ở đó các chú đã bố trí rồi”. Thế là Bác Hồ đi theo con đường khác. Bác đi vào nhà một gia đình bình thường có ngôi nhà tranh nhỏ bé. Trong nhà chỉ có một cái sập nhỏ đựng lúa làm bàn thờ và hai cái giường gỗ nhỏ cũ kỹ. Sau khi nói chuyện và hỏi thăm bà già đang ngồi bồng cháu trên chiếc võng, Bác lại đi thăm một số gia đình khác.

Trích theo sách: Tư tưởng lớn qua những câu chuyện nhỏ, Nxb Nghệ An, 2005

 Bác hướng dẫn làm kinh tế thời kháng chiến

 Thời gian rỗi, Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tăng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Trong thời gian này, Bác nảy ra ý quản lý kinh tế theo phương thức khoán sản phẩm. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục, Bác bày cho cách: Đếm xong quả nào cắm một que tre, khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tăng gia được và giao cho người quản lý.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ
, Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

 Biết mực nước lụt thường xuyên như chỉ huy nắm địch

 Vào mùa nước sông Hồng đang lên, Bác cho gọi đồng chí Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi lên hỏi: Chú cho Bác biết mực nước sông Hồng lên bao nhiêu?” “Thưa Bác tối qua mực nước là…” Bác ngắt lời: “Tối qua Bác biết rồi, Bác muốn biết lúc này là bao nhiêu?”. Đồng chí Thứ trưởng không trả lời được, Bác nghiêm giọng nói: “Thủy – hỏa – đạo – tặc, giặc lụt tai hại bao nhiêu chắc chú đã biết rõ, vậy sao chú nắm tình tình không sát, phải như Bộ Chỉ huy nắm địch ấy.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ
Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

 Đó là một sáng tháng 8 năm 1962, tất cả xã viên và cán bộ Mai Xá đang dồn hết sức mình ứng cứu lúa trên trận tuyến dài gần một cây số ở cánh đồng Sao. Hàng trăm chiếc gầu, hàng chục chiếc guồng nghiêng đồng đổ nước ra sông. Bác đến rất bất ngờ. Cả công trình chống úng của Mai Xá tưng bừng nhộn nhịp hẳn lên trong niềm vui được đón Bác. Mọi người chạy xô lại phía Bác. Bác bước tới dáng hồng hào khoẻ mạnh. Người mặc bộ quần áo gụ giản dị, đầu đội mũ cát, chân đi đôi dép cao su. Đến một chiếc guồng nước của hai cô xã viên, Bác bước lên và cùng đạp guồng với đồng chí Bí thư tỉnh uỷ. Sau đó Bác nói chuyện với bà con xã viên. Bác căn dặn tất cả mọi người phải đoàn kết chống úng đẩy mạnh sản xuất. Và Bác đọc một câu lẩy kiều:

“Trăm năm trong cõi người ta,

Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

Giọng nói của Bác ấm áp đã đi sâu vào trong tâm trí mọi người. Cuộc gặp gỡ diễn ra hơn một giờ đồng hồ. Sau đó Bác ra về. Xã viên Mai Xá nhìn theo Bác lòng đầy lưu luyến. Tất cả mọi người đều muốn được mãi mãi nhìn Bác, nghe những lời dạy dỗ của Bác như lời người cha hiền từ dạy bảo con cái. Và từ hôm đó mọi người cùng nêu cao quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác hăng hái chống úng đẩy mạnh sản xuất. Ngay vụ mùa đó cánh đồng Sao, cánh đồng hay ngập úng của xã Mai Xá mà Bác cùng guồng nước với mọi người đã đạt năng suất 3 tấn một héc ta.

Trích theo sách: 118 chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Lý luận chính trị, H2008

Bác là người lao động

 Vào khoảng cuối năm 1953, đầu năm 1954, tuy đã ở trong ATK (an toàn khu) nhưng đội bảo vệ của Bác vẫn đào hầm sâu trong núi để đề phòng giặc. Anh em không quen nên làm việc có phần lúng túng. Bác đến và làm động tác mẫu quai búa cho đồng chí phụ trách búa xem. Rồi Bác lấy một thanh tre bánh tẻ làm kẹp cây “choòng” cầm chống, ra lệnh cho người quai búa cứ quai cho đều tay. Sợ Bác mệt, anh em nói:

– Thưa Bác, chúng cháu hiểu rồi ạ.

Đến lúc anh em tranh cãi về tăng gia, Bác lại “tham gia”. Có anh phát biểu nên trồng cà, anh thì bảo nên trồng rau muống cạn. Bác hỏi:

– Các chú đều là nông dân phải không?

– Dạ, chúng cháu đều là nông dân.

Bác giải thích: Vì các chú mỗi người một quê khác nhau, thời tiết mỗi vùng một khác. Kinh nghiệm trồng trọt cũng khác nên tranh cãi là bình thường. Song phải chú ý tới người xưa đã dạy ta rằng: “Bao giờ đom đóm bay ra, cành xoan chân chó trồng cà mới nên…” Thế các chú thấy cây xoan nảy mầm tức là thò chân chó chưa”

– Dạ, chưa ạ

– Thế thì chưa trồng cà được đâu!

Trích theo sách: Chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Công an nhân dân, H.2009

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Không ai khôn hết được đâu

36
Ảnh Tư liệu

Ông Nguyễn Tiến Sự kể lại:

Trong thời gian ở cùng với gia đình tôi, một lần sau bữa cơm, Bác hỏi:

– Ông Chủ nhiệm Việt Minh của xã Tân Trào bao nhiêu tuổi rồi?

– Thưa Bác, tôi ba mươi tám. Tuy chưa già nhưng đã yếu.

Bác liền bảo:

– Chú còn khoẻ lắm. Nên đi học cho biết chữ, phải học nhiều. Học văn hoá, học kinh nghiệm công tác ở mọi người, mọi lứa tuổi để làm việc tốt hơn. Không ai khôn hết được đâu.

Rồi Bác kể chuyện.

Một hôm đi công tác, giữa đường gặp mưa to. Đường vừa dốc lại trơn nên phải thận trọng bước từng bước một. Bỗng gặp ba em bé cùng trú mưa ở cái lều bên đường. Nhìn tôi đi chậm, một em nói.

– Chà. Cụ già này trời mưa, đường trơn đi không có gậy mà không sợ ngã nhỉ.

Từ bữa ấy về sau hễ đi đường gặp mưa trơn, nhớ lời các cháu kháo nhau tôi đều tìm gậy để chống. Quả nhiên có chiếc gậy đi dễ hơn mà lại không sợ ngã.

Theo Những câu chuyện kể về Bác Hồ, tập 3
NXB Nghệ An năm 2000
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

“Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!”

50Ảnh Tư liệu

Sáng ngày 19-5-1953, nhân kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ, Ban phụ trách lớp chỉnh huấn cho cán bộ trung cao cấp tại Tân Trào quyết định tổ chức chiếu phim. Đồng chí liên lạc đi nhận phim ở xa, phải vượt qua đèo, suối mãi chiều mới về, gánh theo hai làn phim và cầm theo một bức thư có dòng chữ “phim mới nhận chưa có thuyết minh”.

Sau phần ngâm thơ một cán bộ ở lớp chỉnh huấn cầm micro nói:

– Thưa Bác, ngành điện ảnh vừa nhận được một bộ phim mới đã gủi đến ngay để chiếu phục vụ Bác vì vậy nên chưa có nội dung, chưa có bản thuyết minh. Xin phép được chiếu để Bác và mọi người cùng xem.

Chờ chiếu xong một cuốn, Bác quay lại bảo:

– Đưa micro cho Bác.

Bác cầm micro và giải thích cho mọi người hiểu nội dung phim. Sau đó cứ chiếu hết mỗi cuốn thì dừng lại ít phút để Bác thuyết minh cho. Đó là phim “Hoa bông” của Liên Xô.

Cuối buổi chiếu, chờ mọi người về hết Bác nói với người chiếu phim:

– Hôm nay Bác nghe được tiếng Nga lên thuyết minh giúp. từ nay nếu chưa rõ nội dung phim nói gì thì đừng chiếu… Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!

Bài học về buổi chiếu phim ấy qua lời căn dặn nhẹ nhàng mà sâu sắc của Bác cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với những người hoạt động điện ảnh.

Theo 108 chuyện vui đời thường của Bác Hồ
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Chuyện vui về những lần Bác đi thăm hữu nghị các nước Bạn

Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa Dân chủ Đức, giữa năm 1957Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa dân chủ Đức, giữa năm 1957

Cá không xương

Trong cuộc hội đàm giữa Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ ta và Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Cộng hòa Đức ngày 26/7/1957, phía Bạn đã thông báo với Bác Hồ thành quả mọi mặt trong mấy năm qua. Khi Bạn báo cáo năng suất cao của việc nuôi một loại cá chép lai giống, Bác hỏi:

– Các đồng chí có loại cá không có xương không?

Thủ tướng Ốt-tô Gờ-rô-tơ-von rất ngạc nhiên:

– Thưa không! Ở Việt Nam có loại cá không xương sao?

Bác Hồ nói nghiêm nghị:

– Vâng, có đấy!

Thủ tướng đề nghị:

– Thưa Chủ tịch, có thể xuất khẩu loại cá ấy cho chúng tôi được không?

Bác nghiêm trang trả lời:

– Chúng tôi sẵn sàng. Loại cá này ở Nghệ An có rất nhiều.

Thủ tướng nói tiếp:

– Xin các đồng chí chuyển cho chúng tôi nhé!

Các thành viên Đoàn Việt Nam đều hiểu Bác nói loại cá gì. Bác kể câu chuyện “con cá gỗ”. Mọi người cười thoải mái.

Tình yêu xuất phát từ đâu?

Bác Hồ đã đến thăm Viện Y học nổi tiếng của Cộng hòa Dân chủ Đức tại thành phố cổ Draxden. Nổi bật trong Viện là phòng trưng bày cơ thể “người thủy tinh”. Đó là một mô hình người to bằng người thật, làm bằng chất dẻo bọc nhựa trong suốt nhìn thấy tất cả các bộ phận của con người như: Xương, gân, mạch máu, tim, phổi, lục phủ ngũ tạng… Sau khi Giáo sư Viện trưởng giới thiệu xong về người thủy tinh, đã cảm ơn Bác Hồ và hỏi:

– Thưa Chủ tịch, Người có câu hỏi gì không ạ!

Bác hỏi:

– Giáo sư cho biết, tình yêu xuất phát từ đâu?

Giáo sư và mọi người đều ngạc nhiên trước câu hỏi của Bác. Sau vài phút suy nghĩ, Giáo sư giải thích khá lâu về hệ thống tình cảm xuất phát từ trái tim.

Bác cười, chỉ vào bộ lòng của “người thủy tinh” và nói:

– Ở Việt Nam, tình yêu lại xuất phát từ “toàn bộ lục phủ, ngũ tạng”.

Bác nói bằng tiếng Pháp, mọi người cười thoải mái.

Bác Hồ giới thiệu

Ngày 29-7-1957, Bác Hồ đã tới Mô-rít-sơ-buốc thăm các cán bộ, sinh viên và học sinh Việt Nam đang học ở Cộng hòa Dân chủ Đức. Đó là một ngày rất đáng ghi nhớ của chúng tôi (những công nhân Việt Nam ở nước Bạn) và của các Bạn Đức.

Ngay từ phút đầu, Bác bước đến trước micrô và tươi cười nói chuyện với các cháu. Trước hết, Bác giới thiệu những người cùng đi, từ cụ Ốt-tô Búc-vít-sơ, một nhà cách mạng Đức lão thành, bạn thân thiết của Bác đến các vị trong Đoàn đại biểu Đảng và Nhà Nước ta. Khi giới thiệu viên Thiếu tướng và Đại tá người Đức, Bác nói:

– Hai chú mặc quân phục rất đẹp kia là sĩ quan cấp cao của quân đội nhân dân Đức đấy. Các chú ấy có nhiệm vụ bảo vệ Bác và bảo vệ các cháu nữa!

Chúng tôi vỗ tay sung sướng, đến lượt chú Hum-men-ten-béc, Bác giới thiệu:

– Còn chú có khổ người to lớn kia thì làm lễ tân. Các cháu có hiểu lễ tân là gì không? Ví dụ, chú ấy có quyền nhắc Bác phải tuân theo giờ ăn, giờ ngủ.

– Nghe Bác nói, chúng tôi cảm phục chú ấy lắm, vì chú ấy có quyền to quá, đối với cả Bác Hồ của chúng tôi!

Bác Hồ với các cháu nhỏ thị trấn Bác-tơ

Chị Kê-dê-la Kiếc Bao, giáo viên Trường Thể dục thể thao thanh niên Rô-tốc (Đức), vốn là một thiếu nhi được đón Bác Hồ ở sân bay Rô-tốc khi Người đến thăm thành phố này ngày 27/7/1957. Nhớ lại những giây phút đẹp đẽ ấy chị kể: “Thay mặt các đội viên thị trấn Bác-tơ, tôi kính chào vị Chủ tịch nước, dâng hoa và sung sướng quàng lên vai Người chiếc khăn đội viên màu xanh của tôi. Bác Hồ âu yếm hôn tôi, hôn các đội viên bạn tôi và lần lượt bắt tay những người ra đón”.

Từ phút ấy cho đến khi Bác cùng Đoàn đại biểu lên xe về nhà khách chúng tôi vẫn được đi bên cạnh Bác Hồ, được Người trìu mến hỏi han. Chúng tôi thưa với Bác về tên tuổi, lớp học, cha mẹ… Tôi thấy Bác rất vui. Bác đột nhiên hỏi chúng tôi:

– Các cháu có biết ai là người giàu nhất nước Cộng hòa Dân chủ Đức không?

Chúng tôi suy nghĩ nhưng không thể nào tìm ra câu trả lời để thưa với Bác. Bác cười: “Để Bác nói nhé. Mãi đến gần đây, Bác cũng không biết đâu. Hóa ra chính Bác là Người giàu nhất nước Cộng hòa dân chủ Đức đấy, các cháu ạ! Các cháu xem, hầu như cửa hàng nào cũng có chữ Ho, tên Bác đấy thôi!” (HO chữ viết tắt “Handels organisati-on” Chỉ các cửa hàng quốc doanh ở Cộng hòa Dân chủ Đức trước đây).

Không riêng chúng tôi mà tất cả các bác, các cô, các chú có mặt hôm đó đều cười vui vẻ.

Ở Việt Nam gia đình cũng có máy tự động

HCM noi chuyenj voi nhan dan LXBác Hồ nói chuyện với người dân Liên Xô

Một lần, tại Liên Xô, Bác đã được mời đến thăm Viện Tự động hóa. Sau khi xem các phòng nghiên cứu với nhiều máy móc tinh vi, ông Giáo sư Viện trưởng tự hào báo cáo một thành tích mới thí nghiệm xong về máy điều khiển từ xa. Chiếc máy đó được đặt trong một phòng riêng. Cách phòng này chừng 10 mét, ở ngoài trời có chiếc máy xúc, cần gầu đang gục xuống. Giáo sư Viện trưởng tiến đến bàn điều khiển, ấn nút, Cần gầu ngóc lên, quay đi quay lại, gục lên gục xuống. Thao tác xong, Giáo sư Viện trưởng tỏ vẻ rất tự hào. Bác Hồ hỏi ông:

– Các đồng chí đã trang bị máy này cho các nông trường chưa?

– Thưa Chủ tịch, đấy mới chỉ là một kết quả thí nghiệm. Dự kiến trong vài năm tới có thể sản xuất vài nghìn chiếc, cung cấp cho các ngành công nghiệp nặng.

Bác nói nghiêm trang:

– Ở Việt Nam nhà nào cũng có!

Nghe Bác nói, người phiên dịch là một người Nga, chưa dám dịch vì sợ nghe chưa đúng, hỏi lại:

– Thưa Bác, có phải Bác nói nhà nào cũng có không ạ?

– Đúng.

Nghe dịch xong, mọi người cứ ngơ ngác. Giáo sư Viện trưởng rất ngạc nhiên:

– Thưa Chủ tịch, ở Việt Nam đã có máy tự động nhiều đến thế kia ạ?

– Vâng. Nhà nào cũng có, nhưng… phụ nữ điều khiển nam giới.

Người phiên dịch không nhịn được cười. Nghe anh dịch xong, mọi người cười ồ.

Trên đường về người phiên dịch nói với một cán bộ Việt Nam:

– Tôi thật bái phục tài hài hước của Bác Hồ.

Dùng từ ngữ chính xác

Năm 1959, Bác có chuyến công tác đặc biệt ở Liên Xô. Khi đến Thủ đô Mát-xcơ-va, Bác đến thăm Đại sứ quán mới được xây dựng lại. Đồng chí Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh giới thiệu với Bác khung cảnh ngôi nhà, tiếp đó đi vào cửa chính:

– Thưa Bác, bên phải là nơi khách gửi quần áo…

Bác nói rất tự nhiên:

– Các vị khách ngoại giao ở đây cũng gửi cả quần à?

Mọi người cười vui vẻ.

Trong cuộc gặp mặt chung toàn bộ cán bộ và nhân viên sứ quán, Bác hỏi:

– Ở đây các cháu học những gì?

Đồng chí phụ trách học tập đứng dậy:

– Thưa Bác, bọn cháu mở lớp cho anh chị em học tiếng Liên Xô.

– Các chú giỏi thật, học mấy chục thứ tiếng của các dân tộc Liên Xô…

Bác Hồ làm vua hay sao?

Một lần sang thăm Liên Xô, ở trong Điện Kremlin, một phóng viên Liên Xô đến xin chụp ảnh Bác và đề nghị Bác ngồi ở ghế tựa bọc gấm vàng rất đẹp, hai chỗ tì hai tay giống như hai đầu rồng rất tinh xảo. Bác tươi cười nói:

– Tôi ngồi cái ghế thường thôi, không ngồi ghế này vì ảnh đưa về Việt Nam chắc sẽ có người hỏi: Bác Hồ “làm vua” hay sao mà lại ngồi ghế này?

Người phóng viên hiểu ngay ý Bác, nghe theo lời Bác, đổi ngay một ghế bình thường để Bác ngồi chụp ảnh.

Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy

Tháng 2 năm 1958, Bác Hồ sang thăm hữu nghị chính thức Ấn Độ. Trong chuyến đi này Người đã nói chuyện với nhân dân Thủ đô Niu Đê-li, trong cuộc mít tinh tại Thành Đỏ. Theo phong tục Ấn Độ, đại biểu các tầng lớp nhân dân Ấn Độ đều lần lượt choàng những dải hoa tươi lên cổ các vị khách quý để tỏ lòng kính trọng và hiếu khách. Nhiều vị khách nước ngoài trước phong tục này thường nhận hoa rồi đưa cho cán bộ lễ tân đứng cạnh hoặc đặt lên bàn, nhưng Bác Hồ đã nhận tất cả để cho từng người choàng những dải hoa lên cổ mình và không gỡ ra. Điều ngạc nhiên hơn là lúc Bác nhận tấm thảm len lớn do bà Thị  trưởng của Thủ đô Niu Đê-li thay mặt nhân dân Thủ đô trao tặng. Mọi người tưởng rằng như các vị khách khác, Bác chỉ nhận tượng trưng, nhưng Bác nói:

– “Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy!”. Bằng một động tác khá nhanh nhẹn, Bác vác tấm thảm đó lên vai, trước sự ngạc nhiên của hàng vạn người tham gia. Bác nói:

– Tôi vác cả tình cảm của nhân dân Ấn Độ trên vai!

Những tiếng hoan hô nổi lên như sấm dậy:

– Hồ Chí Minh, Zin-ba-đa! (Hồ Chí Minh muôn năm!)

– Việt Nam, Zin-ba-đa! (Việt Nam muôn năm!)

– Hin-đi – Việt Nam, Ba-hai ba-hai! (Ấn Độ Việt Nam là anh em!)

Tôi tặng ngài một cái hôn

bh di indonexia
Bác Hồ và Tổng thống Xu-các-nô với các cháu 
thiếu nhi In-đô-nê-xi-a, ngày 2/3/1959

             Năm 1959, Bác đi thăm In-đô-nê-xi-a. Ngày 2 tháng 3 năm 1959, Bác đến Băng Dung nơi diễn ra Hội nghị Á Phi lần thứ nhất. Nhân dân Băng Dung đón Bác rất đông. Sau khi ông Thị trưởng đọc diễn văn chào mừng, Bác đứng trước mic-cờ-rô, nói chậm dãi bằng tiếng In-đô-nê-xi-a:

– “Các bạn thân mến…”.

Vừa dứt lời, hàng nghìn dân nhân, đặc biệt là các cháu học sinh, thanh niên cầm cờ hai nước In-đô-nê-xi-a và Việt Nam nhảy lên hô vang:

–  “Hi-dup Pa-man Hồ” (Bác Hồ muôn năm!)

Mọi người nghe từng câu, từng lời Bác nói. Đến khi Bác nói:

– “Se-le-mat ting-gal!” (Chào tạm biệt!)

Mọi người đều phất cờ và hô lớn:

– In-đô-nê-xi-a – Việt Nam, Hi-dup Pa-man Hồ!

Khi Bác ra xe, mọi người ùa tới gần để nhìn Bác, nhìn bộ quần áo kaki giản dị, đôi dép cao su của Bác… với tấm lòng trìu mến, như muốn Bác hãy chậm bước. Bác tươi cười vẫy tay thân ái chào mọi người.

Khi đến Jo-ja-ka-ta, miền Trung Ja-va, Bác vừa xuống xe, đã có hàng trăm cháu thiếu niên, học sinh vừa đàn Ang-khung (một nhạc cụ dân tộc làm bằng ống trúc), vừa ca múa chào đón Bác. Bác đi vào giữa, nhảy múa cùng các cháu.

Không khi trang nghiêm, mà đầm ấm, vui tươi giữa chủ và khách.

Bác được mời đi xem Bo-ro-bu-dua, một công trình kiến trúc cổ kính bằng đá được đặt trong một tháp hình chuông cũng bằng đá, có những khe hở theo chiều cao, Người có thể đưa tay vào sờ tượng Phật. Theo tục lệ, ai đưa tay chạm vào Phật là gặp may mắn, hạnh phúc. Theo hướng dẫn viên đã có nhiều vị Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng Chính phủ nước ngoài đến chiêm ngưỡng đền và thử dịp may, nhưng cũng rất ít người sờ được tượng Phật. Bác Hồ sờ vào tượng Phật chẳng mấy khó khăn. Người hướng dẫn viên phấn chấn vỗ tay và hoan hô:

– “Pa-man Hồ!”.

Trong số các quan chức Jo-ja-ka-ta đón Bác có cả ông Hoàng Jo-ja-ka-ta. Tối hôm đó sau buổi chiêu đãi, Bác bảo báo ngay cho lễ tân của Bạn là sáng mai trước khi trở về Gia-các-ta, Bác đến thăm ông Hoàng.

Khi đoàn xe dừng trước cổng Phủ, Hoàng thân cùng các quan chức thành phố ra đón. Sân phủ đầy ắp sinh viên, học sinh tung cờ hai nước hô vang:

– “Bác Hồ muôn năm!”

Trong không khí tưng bừng ấy, Bác đã ôm hôn ông Hoàng Jo-ja-ka-ta và nói bằng tiếng Anh:

– Tôi là người cộng sản, ngài là một vị Hoàng thân. Tôi tặng ngài một cái hôn. Đó là tình hữu nghị, đó là chung sống hòa bình.

Ông Hoàng Jo-ja-ka-ta cảm động, ôm hôn Bác thắm thiết. Người sĩ quan In-đô-nê-xi-a bảo vệ Bác, dịch ra tiếng địa phương. Cả đám đông lại hô vang:

– Hin-đup Pa-man Hồ!

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn