Thư viện

Một lần giao lưu trực tuyến

Chiếc xe con đưa chúng tôi đến toà soạn Báo điện tử VOVNews. Hà Nội sau cơn mưa đầu mùa hè không khí mát dịu. Đường phố rực rỡ cờ, băng rôn, khẩu hiệu về chiến thắng Điện Biên Phủ và hình ảnh Bác đang cùng đoàn quân ra mặt trận. Theo cách nói của người nước ngoài: Việt Nam – Hồ Chí Minh – Điện Biên Phủ như là mối liên hệ kỳ diệu, một sự đồng nghĩa. Với chúng ta, Đảng và Bác Hồ là linh hồn của mọi thắng lợi. Vậy nên, hôm nay đi trong “âm vang Điện Biên 50 năm trang sử hào hùng”, lòng chúng tôi bồi hồi nhớ Bác. Chỉ còn ít hôm nữa là đến kỷ niệm Ngày sinh lần thứ 114 của Bác và Người cũng đã đi xa gần 35 năm rồi.

Xe từ từ dừng lại ở cổng Đài tiếng nói Việt Nam, số 45 Bà Triệu. Đã hẹn trước, chị Nguyễn Thị Hoa – Trưởng phòng nội dung, người đã đến làm việc với Bộ Tư lệnh về tổ chức buổi giao lưu này đón chúng tôi vào phòng họp của toà soạn.

Đồng chí Đinh Thế Lộc, Tổng Biên tập giới thiệu đôi nét về tờ báo: “Báo điện tử VOVNews là tờ báo điện tử chính thức của Đài tiếng nói Việt Nam, duy nhất có các chương trình phát thanh hàng ngày. Đây là một tờ báo điện tử có uy tín, mang tính định hướng rõ nét và luôn đem đến cho bạn đọc những thông tin nóng, tính thời sự cao mang tính trí tuệ, được bạn đọc đánh giá cao. Truy cập vào website của VOVNews (http://www.vov.org.vn) mỗi sáng để đọc, nghe… đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của nhiều độc giả trong và ngoài nước, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay.

Chúng tôi trao đổi thống nhất với nhau về nguyên tắc và nội dung chủ yếu của buổi giao lưu. Với mong muốn mang đến cho độc giả, thính giả trong và ngoài nước những hiểu biết bổ ích, chúng tôi sẽ nói về công trình Lăng Bác, về tình cảm biết ơn sâu nặng của nhân dân ta và lòng ngưỡng mộ của bè bạn quốc tế đối với Bác.

14 giờ, buổi giao lưu trực tuyến bắt đầu. Trên màn hình máy vi tính hiện rõ dòng chữ: “Chúng tôi xin giới thiệu, 14 giờ ngày hôm nay 15 – 5 – 2004, VOVNews thực hiện Chương trình giao lưu trực tuyến với Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi có Đại tá Trần Vũ Trang, Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. VOVNews mời quý vị và các bạn theo dõi, cùng gửi thư, gọi điện thoại đến Toà soạn để đặt các câu hỏi giao lưu”.

Tôi nhìn rất nhanh toàn bộ căn phòng để hình dung “công nghệ sản xuất” của một tờ báo điện tử. Một căn phòng rộng rãi, toạ lạc trên tầng 6 của toà nhà lớn. Từ đây có thể nhìn thấy Hà Nội san sát những ngôi nhà cao tầng, những đường cây xanh rợp mát. Trong phòng đặt nhiều thiết bị thu, phát hiện đại. Nhiều biên tập viên, hầu hết còn trẻ, đi lại trao đổi hoặc chăm chú làm việc bên màn hình vi tính. Cùng lúc các biên tập viên và chúng tôi phải theo dõi và trả lời lần lượt từng câu hỏi hiện trên 3 màn hình vi tính.

Ngay sau khi Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn thay mặt cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, những người trực tiếp được vinh dự làm việc tại Lăng Bác gửi lời chào tới độc giả là một câu hỏi “khó” của các độc giả: Vọng Hà, Thi, Lý Châu Hòa gửi từ nước Đức về:

– Xin cho biết, trong quá trình bảo vệ thi hài Bác thì khâu nào là khâu khó nhất?.

Chúng tôi “nhập đề” ngay:

– Nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn và giữ gìn lâu dài thi hài Bác là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, chưa có tiền lệ ở Việt Nam. Ngay cả trên thế giới chỉ có Liên Xô là nước duy nhất có công nghệ giữ được lâu dài thi hài để mọi người có thể thăm viếng. Đặc biệt là ở Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm thì công việc này lại càng khó khăn hơn gấp bội, nhất là khi điều kiện kĩ thuật của chúng ta còn lạc hậu. Được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước Liên Xô trước đây, mà trực tiếp là các nhà khoa học, cộng với sự nỗ lực vươn lên của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên được tham gia thực hiện nhiệm vụ này, nên những khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi ấy đã dần được khắc phục. Thi hài Bác năm nay đã bước sang năm thứ 35, vẫn được giữ gìn một cách tốt nhất. Những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Công trình Lăng ngày càng khang trang, sạch đẹp; hàng ngày đón hàng vạn lượt người vào Lăng viếng Bác.

Văn Mĩ Huệ 2@yahoo.com có một câu hỏi rất dài: “Giữ gìn thi hài Bác Hồ, đó là một công việc rất nặng nề nhưng cũng là một niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao. Trong thời gian chiến tranh, điều kiện vật chất rất thiếu thốn, đặc biệt là phương tiện kĩ thuật, nhưng các chú đã làm được một điều kì diệu là giữ gìn rất tốt thi hài của Bác Hồ. Cháu cũng có dịp được đi thăm khu Đá Chông, nơi đã thực hiện việc giữ gìn thi hài của Bác trong thời gian đầu tiên, cháu đã được xem chiếc xe chuyên dụng trong lần di chuyển đó và được biết là cuộc di chuyển thi hài của Bác giữa Sơn Tây và Hà Nội đã diễn ra rất khó khăn. Vậy cháu muốn biết rõ hơn về cuộc di chuyển đó được không ạ?”.

Anh Tấn đã kể lại 6 năm chiến tranh gian khổ, thiếu thốn vật chất kĩ thuật, đến mức chúng ta phải dùng những cột nước đá thay cho máy điều hòa để đảm bảo nhiệt độ trong xe di chuyển thi hài Bác. Để giữ bí mật trên đường hành quân, chỉ huy đơn vị đã phải cử những bộ phận đi trước chở vật liệu san lấp những hố ở trên đường do bom đạn của Mỹ gây ra, đảm bảo cho xe chở thi hài Bác không bị rung, xóc. Sau đó, để xóa đi dấu vết, các chiến sĩ lại phải bốc đất cát chở đi, trả lại hiện trạng lúc trước của con đường.

Cuộc trò chuyện nhiều ý nghĩa, rất lắng đọng tình cảm, nhưng có lúc khá căng thẳng, bởi giao lưu trực tuyến trên báo điện tử là một hình thức rất mới lạ đối với chúng tôi.

Lúc này, màn hình hiện lên câu hỏi của một độc giả tên là Hương, không ghi địa chỉ nơi gửi, độc giả muốn biết: “Thi hài Bác đặt trong Lăng cần bao nhiêu kinh phí để duy trì hàng năm”. Anh Tấn xoay người về phía tôi phân vân: “Chúng ta có nên trả lời hay không?”. Các biên tập viên gợi ý: nếu có những câu hỏi không tiện trả lời thì các đồng chí có thể từ chối.

Thực ra, việc này đã có nhiều người muốn biết, có thể là do họ muốn tìm hiểu về công trình, hoặc vì một mục đích khác. Trong quá trình công tác, tiếp xúc với tài liệu tham khảo phục vụ công tác tư tưởng tôi đã được đọc và nhận thấy một số người có những quan niệm, hiểu biết lệch lạc; có cả những luận điệu phản động mang dụng ý rất độc hại, chống lại việc chúng ta xây dựng Lăng Bác.

Tôi nhớ có lần vào khoảng năm 2002, một nhà báo Mỹ tên là W. xin gặp trưởng Ban quản lý Lăng để phỏng vấn. Trong khi phỏng vấn, đã mấy lần W. đều nhắc lại câu hỏi về tổ chức của đơn vị và chi phí cho việc bảo vệ giữ gìn Lăng. Trưởng ban Ban Quản lý Lăng đã nói với người phiên dịch: “Đồng chí hãy dịch cho ông ta được biết, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng là do ý nguyện thiết tha, lòng biết ơn vô hạn của dân tộc chúng tôi đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mình. Công trình đã được Đảng và nhân dân Liên Xô giúp đỡ chí nghĩa, chí tình, bằng nguồn viện trợ không hoàn lại và được đồng bào cả nước chúng tôi đóng góp. Nhiều vật liệu quý còn được đưa từ miền Nam lúc đó đang chiến đấu chống Mỹ xâm lược để xây dựng Lăng và hiện nay Lăng Bác vẫn tiếp tục nhận được sự đóng góp của các địa phương trong cả nước. Giá trị vật chất ư? Không thể tính toán được. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá”.

Sau ít giây, tôi đề nghị anh Tấn nên trả lời cho độc giả như hôm anh đã trả lời nhà báo Mỹ W. Câu trả lời của anh Tấn đã toát nên những nội dung rất chặt chẽ. Cuối cùng anh khẳng định: “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình lòng dân ý Đảng nên ngay từ khi xây dựng Lăng cũng như trong suốt quá trình bảo quản, tôn tạo sau này, Lăng Bác luôn luôn nhận được sự đóng góp, giúp đỡ của mọi miền đất nước và cả tổ chức quốc tế. Chúng tôi cần có những kinh phí để dành cho việc bảo quản, giữ gìn thi hài, đảm bảo điều kiện phục vụ nhân dân vào Lăng viếng Bác an toàn, văn minh và tôn tạo cảnh quan khu vực Lăng”.

Một câu hỏi khác của Nguyễn Thanh Hà, cũng không ghi địa chỉ:

– Hiện nay có bao nhiêu người tham gia làm việc tại Ban quản lý Lăng Hồ Chủ tịch?

Anh Tấn trả lời một cách đúng mức:

– Có thể nói, Lăng có nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Theo sự chỉ đạo của cấp trên, Ban Quản lý Lăng phải cố gắng tính toán sao cho có một tổ chức hợp lý nhất, để tiết kiệm được nhân lực cũng như các chi phí khác cho công trình.

Từ Seattle, Wasihington (Hoa Kỳ), Trần Anh Tuấn hỏi:

– Thưa Thiếu tướng, trong suốt những năm làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, ông đã gặp những sự cố gì? Sự cố nào là đáng nhớ nhất?

Tôi ngạc nhiên khi thấy anh Tấn vốn là một cán bộ kĩ thuật mà trình bày những điều về “sự cố” chính trị rất xác đáng. Anh nói:

– Trong suốt những năm làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, nếu nói ở góc độ kĩ thuật thì có rất nhiều sự cố, như hỏng hóc máy móc, thiết bị, mất nguồn điện…, nhưng một sự cố mang tính chính trị đã xảy ra vào cuối năm 1991. Lúc đó, tình hình chính trị ở Liên Xô có sự thay đổi, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô đối với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng với một tình cảm cách mạng của các nhà khoa học Liên Xô cũ và các nhà khoa học Nga hiện nay, cùng với sự cố gắng vượt bậc của các nhà khoa học Việt Nam, “sự cố” này đã nhanh chóng được khắc phục và không làm ảnh hưởng đến việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc giao lưu mỗi lúc một cuốn hút hơn. Tôi thật sự tự hào vì mình là một người trong đội ngũ cán bộ đã vinh dự được thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng tại Lăng Bác Hồ. Niềm hạnh phúc ấy trào dâng trong lòng khi thấy biết bao nhiêu con người ở khắp mọi miền đất nước, những đồng bào ở xa Tổ quốc đã hướng về Lăng Bác với một tấm lòng thành kính và biết ơn Người. Họ cũng rất quan tâm đến những người chiến sỹ cận vệ bên Lăng Bác. Các câu hỏi liên tiếp được đặt ra như: Điều kiện khí hậu của Việt Nam gây khó khăn gì cho việc giữ gìn thi hài Bác?; Mỗi năm chúng ta tiến hành mấy lần việc bảo quản giữ gìn thi hài Bác?; Việc này có khó khăn nhiều không?; Hàng năm có bao nhiêu người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh?; Cháu ở miền Nam, hè này cháu sẽ ra Hà Nội. Cháu muốn được vào Lăng viếng Bác Hồ. Vậy cháu xin hỏi, cháu phải đến vào ngày nào và làm những thủ tục gì để xin được vào viếng Bác?; Ngoài chuyên gia Liên Xô có thêm nước nào cùng giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Bác không? v.v…

Đặc biệt, câu hỏi của cháu Hồng Hạnh ở Thanh Xuân, Hà Nội: “Việt Nam nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô trong việc giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh. Vậy từ khi chuyển thi hài Bác vào Lăng, nước bạn Liên Xô có còn tiếp tục giúp ta trong công việc này nữa không? Trong số những chuyên gia tham gia giúp đỡ Việt Nam bảo vệ thi hài Bác, hiện nay có ai còn sống không? Các chú có định tổ chức gặp mặt những người này vào dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Bác hay vào dịp nào đó không ạ?”.

Anh Tấn đã xúc động trả lời:

– Trong số những chuyên gia tham gia giúp đỡ Việt Nam giữ gìn thi hài Bác từ những ngày đầu, hiện nay rất nhiều người còn sống, như Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp, năm nay đều đã trên 80 tuổi. Đối với những người có công giúp đỡ chúng ta, chúng ta luôn biết ơn, kính trọng. Các chuyên gia giúp chúng ta giữ gìn thi hài Bác đã được Đảng và Nhà nước ta phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động và tặng thưởng nhiều Huân chương Lao động, Huân chương Hữu nghị. Những ngày lễ lớn, chúng ta đều tổ chức những buổi gặp gỡ để tỏ lòng biết ơn và cảm ơn sự giúp đỡ của Bạn. Nhân dịp 30 năm giữ gìn thi hài Bác, được phép của Thủ tướng Chính phủ, Ban quản lý Lăng đã phối hợp với Đại sứ quán nước ta ở Liên bang Nga, mời các chuyên gia về y tế, chuyên gia kĩ thuật có công giúp ta xây dựng Lăng và giữ gìn thi hài Bác về họp mặt tại Mát-xcơ-va. Cuộc gặp ấy để lại ấn tượng hết sức tốt đẹp. Anh hùng vũ trụ Liên Xô Ghec-man Ti-tốp trong buổi gặp mặt đó có những lời phát biểu hết sức tốt đẹp về đất nước Việt Nam, con người Việt Nam.

Chúng tôi còn xúc động hơn nữa khi biết rằng có rất nhiều thanh niên mong muốn được trở thành người chiến sỹ đứng canh cho giấc ngủ của Người. Cháu Đoàn Thái Duyên ở Hà Nội hỏi: “Cháu cũng muốn làm một người lính bên Lăng Bác Hồ, vậy cháu phải làm thế nào để đạt nguyện vọng này?”.

Sự quan tâm, chia sẻ, niềm ao ước… vẫn mỗi lúc một nhiều gửi về toà soạn, khiến buổi giao lưu trực tuyến kéo dài hơn so với thời gian dự kiến. Trước tình hình đó, đồng chí Tổng biên tập toà soạn, người trực tiếp theo dõi và chỉ đạo chương trình giao lưu này đã đồng ý điều chỉnh thời gian.

Buổi giao lưu kết thúc, chúng tôi ra về trong niềm vui, niềm tự hào, xúc động đan xen. Qua buổi giao lưu trực tuyến, tôi cảm nhận thấy tình cảm thiết tha của đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đối với việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ, thấy công việc mình đang thực hiện là một nhiệm vụ đặc biệt cao quý. Các thế hệ cán bộ, chiến sỹ chúng tôi sẽ thay nhau đứng vào vị trí danh dự mà Tổ quốc trao cho, để mãi mãi giữ yên giấc ngủ ngàn thu của Người.

Đại tá Trần Vũ Trang
Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Những giây phút thiêng liêng bên Người

Ngày ngày, hàng ngàn, hàng vạn đồng bào ở khắp mọi miền đất nước và khách quốc tế về Lăng viếng Bác. Năm này qua năm khác, thế hệ này đến thế hệ khác, dòng người ấy cứ nối tiếp nhau dài vô tận như tấm lòng của người dân đất Việt đối với Bác kính yêu.

Trong cuộc đời mỗi người dân Việt Nam ai cũng khát khao mong ước được một lần về Lăng viếng Bác để bày tỏ lòng biết ơn vô hạn và thương nhớ Bác khôn nguôi.

Là một cán bộ có vinh dự tự hào được phục vụ tại Lăng Bác từ những ngày đầu, tôi vẫn còn in đậm những hình ảnh hết sức xúc động về tình cảm của các đoàn nguyên thủ quốc gia; các đoàn đại biểu trong và ngoài nước và các tầng lớp nhân dân khắp mọi miền của Tổ quốc đến với Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta. Đó là những kỷ niệm sâu sắc nhất trong quãng thời gian hơn 30 năm phục vụ tại Lăng Bác.

Có lẽ vì tôi là người miền Nam nên thường được phân công đón tiếp các đoàn miền Nam ra viếng Bác. Cảm động nhất là lần đón tiếp một đoàn bà mẹ Việt Nam Anh hùng từ miền Nam ra Lăng viếng Bác. Tôi và các đồng chí trong Ban Đón tiếp đón các mẹ ở phòng khách sang trọng nhất. Trong đoàn, nhiều mẹ đã ngoài 70, 80 tuổi, bước đi chậm chạp, khó khăn. Sự chịu đựng hy sinh, mất mát đã in hằn trên khuôn mặt khắc khổ của các mẹ, chỉ có đôi mắt là còn tinh tường. Chúng tôi đã đón tiếp phục vụ các mẹ một cách tận tình chu đáo nhất chỉ mong đền đáp một phần nào sự hy sinh mất mát lớn lao của các mẹ cho nền độc lập tự do của đất nước. Tôi rất thấu hiểu nỗi đau tột cùng của các mẹ, bởi vì tôi cũng có mẹ và 3 em là liệt sĩ. Tôi đã dành trọn buổi sáng để giới thiệu với các mẹ về công tác giữ gìn thi hài Bác, xây dựng Lăng và tình cảm của Bác Hồ đối với đồng bào miền Nam. Cảm động nhất là khi các mẹ xem phim tư liệu về những giờ phút cuối đời của Bác. Bước ra khỏi phòng chiếu phim, mẹ nào cũng nước mắt rưng rưng. Một mẹ vừa lấy vạt áo dài lau nước mắt, vừa nghẹn ngào nói với tôi: “Đêm qua mẹ không ngủ được cứ trông trời mau sáng để được đến Lăng viếng Bác. Nhìn thấy hình ảnh Bác mà thương nhớ Bác quá chừng!”.

Tôi biết các mẹ rất xúc động nên trước khi vào Lăng viếng Bác tôi đã động viên các mẹ: Vào viếng Bác, các mẹ phải nén xúc động đừng khóc để nhìn Bác cho kỹ hơn, về nhà còn kể lại cho con cháu nghe nhé”.

Trên đường vào Lăng tôi còn giới thiệu cho các mẹ về Lăng và những sản vật quý giá của đồng bào miền Nam gửi ra xây dựng Lăng Bác. Tôi nhìn thấy các mẹ tươi tỉnh nên đã yên tâm, nhưng ngờ đâu khi vào phòng Bác nghỉ, vừa nhìn thấy Bác, một vài mẹ sụt sùi khóc thế rồi cả đoàn khóc theo. Khi ra khỏi Lăng tôi hỏi các mẹ: “Các mẹ có nhìn thấy Bác rõ không?”.
Mẹ nào cũng nói nhìn Bác không rõ. Giây phút mong mỏi, đợi chờ cả một đời của các mẹ đã không thực hiện được. Chắc chắn các mẹ ra về sẽ không thể yên lòng.

Nghĩ vậy, tôi nói với anh em phục vụ: “Để các mẹ tĩnh tâm tôi sẽ dẫn các mẹ vào viếng Bác lần nữa vì các mẹ ở xa, tuổi cao sức yếu, lần đầu tiên cũng có thể là lần cuối cùng các mẹ ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác”.

Tôi lại động viên các mẹ một lần nữa: “Con sẽ dẫn các mẹ vào viếng Bác, đây là lần cuối cùng nên các mẹ không được khóc để nhìn thấy Bác cho rõ hơn”.

Sau một hồi lâu, các mẹ bình tĩnh và tự dặn nhau không được khóc. Tôi dẫn các mẹ đi vòng phía sau Lăng để nhập vào dòng người đi viếng. Lần này các mẹ đi chậm hơn nên có thể nhìn kỹ được phong cảnh bên ngoài và trong Lăng. Các mẹ bước vào phòng Bác nằm, với những bước đi chầm chậm, chăm chú nhìn Bác, miệng nói khẽ những lời cầu nguyện. Ra khỏi Lăng mẹ nào cũng vui vẻ, trong lòng tôi cũng trào lên niềm vui khó tả, vì đã giúp các mẹ thực hiện trọn vẹn niềm ao ước bấy lâu.

Khi ra về các mẹ cầm tay tôi bịn rịn mãi như không muốn rời. Có một mẹ bật khóc và nói với tôi trong nước mắt: “Được gặp Bác rồi, có chết mẹ cũng yên lòng” – Mình mẹ nói nhưng tôi hiểu rằng đó cũng là tâm trạng chung của các mẹ trong đoàn khiến tôi cũng không sao cầm được nước mắt.

*

*       *

Tháng 9 năm 1989, Đoàn cán bộ tử tù miền Nam ra thăm miền Bắc và vào Lăng viếng Bác. Đoàn có 36 anh chị em do anh Lê Quang Vịnh làm Trưởng đoàn. Ngày hôm ấy Lăng đóng cửa để chuẩn bị làm công tác tu bổ định kỳ hàng năm. Được cấp trên đồng ý, Đoàn vào thăm Bác buổi chiều. Đây cũng là cơ hội để các anh các chị có dịp đến gần Bác, ở lâu bên Bác và nhìn Bác rõ hơn. Đồng chí Tư lệnh Nguyễn Văn Tưởng và các cán bộ chủ trì của cơ quan Bộ Tư lệnh trực tiếp đón Đoàn.

Trong chiến tranh, các anh, các chị là những thanh niên đã tham gia các phong trào hoạt động cách mạng ở miền Nam, trải qua nhiều nhà tù của Mỹ, Ngụy, chịu biết bao nhiêu cực hình tra tấn dã man, chết đi, sống lại nhiều lần. Nhiều đồng chí đã bị địch kết án tử hình (chưa thi hành án) thì miền Nam giải phóng, Tổ quốc đón các anh về. Mặc dù bị địch tra tấn bằng các ngón đòn “hiện đại” nhưng các anh chị vẫn cắn răng chịu đựng, giữ vững khí tiết cách mạng sáng ngời. Các anh các chị là những con người gang thép trước quân thù.

Đồng chí Tư lệnh dẫn Đoàn đi thăm Lăng và khu vực xung quanh; không khí thật thân tình, cởi mở. Mười bốn năm sau ngày giải phóng miền Nam, các anh các chị mới có dịp về Lăng viếng Bác, trên khuôn mặt người nào cũng biểu lộ niềm sung sướng rạng ngời cho dù còn in đậm những nét khắc khổ đớn đau của một thời vào sinh ra tử. Được đón các anh các chị từ cõi chết trở về, đồng chí Tư lệnh và anh em chúng tôi đã dành cho Đoàn những tình cảm hết sức thân mật như những người thân trong gia đình, đáp ứng nguyện vọng thiết tha, cháy bỏng mà các anh chị đã ấp ủ bao nhiêu năm trời là được nhìn thấy Bác. Cũng như đồng bào miền Nam, các anh các chị có nhiều thiệt thòi, chưa được đón Bác vào thăm, nhưng trong trái tim các anh, các chị luôn có hình bóng Bác. Trong những lúc bị địch tra tấn dã man, cầm tù trong các chuồng cọp, các anh các chị luôn thầm nhắc đến Bác để giữ vững khí tiết người cách mạng, quyết đấu tranh thắng lợi để chờ ngày gặp Bác.

Ngày mong đợi đã đến. Hôm nay các anh các chị quây quần bên Bác. Nh­ư sợ Bác thức giấc nên các anh chị im lặng, rón rén đi quanh nơi Bác nằm rồi lần lượt đứng lên bục gỗ cao để nhìn Bác được rõ hơn. Các anh chị chăm chú nhìn kỹ từ chòm râu, mái tóc của Bác trong ánh mắt rơm rớm lệ. Ai cũng muốn ở bên Bác lâu hơn cho thỏa lòng mong ước bấy lâu và cũng là dịp hiếm có được đứng gần bên Bác.

*

*       *

Khi tiễn đoàn các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Đoàn cán bộ tử tù miền Nam ra về, tôi thấy lòng mình thảnh thơi vui mừng vì đã góp một phần nhỏ bé để các mẹ, các anh, các chị thỏa mãn nguyện vọng và ước mơ của đời mình. Song, có những đoàn đã để lại trong lòng tôi nỗi day dứt còn mãi đến bây giờ. Đó là vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác và khánh thành Bảo tàng Hồ Chí Minh đã có hàng vạn đồng bào trong nước và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác. Trong dòng người hôm đó có đoàn thương binh Hà Nội. Hầu hết các anh chị là thương binh hỏng mắt, trong đó có nhiều cặp vợ chồng mù cả hai mắt phải nhờ con và đồng đội dắt đi. Tôi và đồng chí Trương Điện Biên – Trưởng ban Đón tiếp đón đoàn và các đồng chí tiêu binh đã đưa xe lăn giúp các anh các chị vào Lăng viếng Bác. Nhưng vì đoàn đông, xe lăn không đủ nên một số anh chị phải đi bộ. Nhìn các anh chị dìu nhau bước chậm rãi vào Lăng lòng chúng tôi vô cùng xúc động. Đến gần Lăng các đồng chí tiêu binh đã nhẹ nhàng nâng các anh chị qua những bậc tam cấp, bậc cầu thang để vào phòng thăm Bác. Các anh các chị đã hiến dâng xương máu và đôi mắt quý giá nhất của đời mình cho độc lập tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân. Các anh các chị chưa được gặp Bác lần nào, ước ao mãi hôm nay mới được gặp. Đến nơi Bác nằm, đồng chí tiêu binh ra hiệu cho đoàn đứng lại rồi nói nhỏ: “Bác Hồ đang ở trước mặt các anh các chị đấy!”

Cả đoàn ngước nhìn lên, nhưng nào có ai thấy được Bác đâu. Mọi người đứng lặng im để cho những giọt nước mắt chạy dài trên má. Nhìn cảnh này, mọi người trong phòng ai cũng xót thương, sụt sùi khóc theo họ.

Khi đoàn ra về, anh em chúng tôi mãi day dứt với suy nghĩ: Mọi người vào Lăng viếng Bác để được nhìn thấy Bác. Còn các đồng chí thương binh mù cả hai mắt thì thấy Bác làm sao? Tuy không nhìn thấy Bác, nhưng Bác luôn luôn ở trong trái tim các anh các chị. Các anh, các chị đã đến với Bác bằng cả tấm lòng và trái tim!

*

*       *

Lăng Bác đã trở thành nơi hội tụ tấm lòng và niềm tin không chỉ của nhân dân Việt Nam mà còn của cả bạn bè quốc tế. Từ ngày mở cửa cho đến nay đã có hàng trăm đoàn nguyên thủ quốc gia và hàng triệu người khắp năm châu bốn biển đủ mọi màu da vào Lăng viếng Bác. Trong số những đoàn mà tôi được đón và hướng dẫn vào Lăng viếng Bác, có một đoàn để lại trong tôi ấn tượng vô cùng sâu sắc. Tôi còn nhớ như in vào tháng 12 năm 1995 đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Cu-ba do Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô dẫn đầu vào Lăng viếng Bác. Trời mùa đông, Quảng trường Ba Đình lộng gió nhưng chúng tôi những người vinh dự được đón đoàn trong Lăng cảm thấy ấm áp hẳn lên. Mỗi người dân Việt Nam đều rất hiểu về nhân dân Cu-ba anh hùng, về Chủ tịch Phi-đen nổi tiếng trên thế gới. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Cu-ba đã gắn bó với nhau trong đấu tranh cách mạng và xây dựng cuộc sống mới. Trong những năm gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân ta đã được Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô đến thăm và vào tận chiến trường. Đồng chí đã nói một câu nổi tiếng: “Vì Việt Nam, nhân dân Cu-ba sẵn sàng hiến cả máu của mình”.

Trong buổi đón tiếp hôm nay, mặc dù chúng tôi biết chính xác giờ Đoàn đến nhưng ai cũng mong chờ hồi hộp. Khi đoàn xe dừng lại, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô trong bộ quân phục và chiếc mũ lưỡi trai màu xanh ôliu bước ra khỏi xe. Tôi bước lại gần và đứng nghiêm chào, Chủ tịch chào đáp lại theo nghi thức nhà binh. Tôi vô cùng bất ngờ khi Chủ tịch bắt tay tôi, một cử chỉ thân tình hiếm thấy ở một nguyên thủ quốc gia. Sau đó, tôi hướng dẫn đoàn vào Lăng viếng Bác theo nghi lễ trọng thể dành cho các nguyên thủ. Chủ tịch bước đi nhanh nhẹn ung dung thư thái. Đến trước thềm Lăng, Đoàn dừng lại và Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô bước đến vòng hoa sửa lại băng viếng cho ngay ngắn, một việc làm thể hiện lòng tôn kính đối với Bác. Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô lặng lẽ bước vào phòng Bác nằm. Đến trước Bác, Chủ tịch giơ tay chào rồi bỏ mũ xuống đứng lặng im. Chưa có nguyên thủ quốc gia nào đứng lâu bên Bác đến thế. Dường như Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô không muốn rời Bác. Tôi chủ động mời Chủ tịch ra về. Nhìn nét mặt, tôi thấy đồng chí rất xúc động, không nhanh nhẹn như lúc vào Lăng, mà chậm rãi bước ra khỏi phòng viếng.

Trong giây phút thiêng liêng đó, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô dành hết tình cảm cho Bác và nhân dân Việt Nam.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên hiếm có là khi tôi viết những dòng hồi ức này vào đúng ngày sinh lần thứ 80 của Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô và Chủ tịch vừa phải trải qua một ca phẫu thuật lớn, làm chấn động tình cảm của nhân dân Cu-ba, Việt Nam và bạn bè trên thế giới.

Viết lại những kỷ niệm này, tôi xin tặng cho các đồng chí làm công tác đón tiếp cũng như toàn thể cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ ngày đêm bảo vệ giữ gìn an toàn tuyệt đối thi hài Bác để cho các thế hệ hôm nay và mai sau mãi mãi được đến thăm viếng Người; bày tỏ được nguyện vọng và tình cảm sâu xa nhất của đời mình đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Đại tá Phạm Tuấn
Nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về một chuyến đi công tác

Cuối tháng 5 năm 2003, Đoàn cán bộ của Ban Quản lý Lăng lên đường sang Liên bang Nga làm việc với Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va. Đoàn từ trong nước sang gồm 5 người: Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng; Đại tá Lại Văn Hoà – Viện trưởng Viện 69; Thượng tá Trần Văn Tuấn – Phó Chủ nhiệm Hậu Cần; Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Duy Khuê – Phó Vụ trưởng Vụ Văn xã, Văn phòng Chính phủ và tôi – Chánh Văn phòng. Khi đó, tại Mát-xcơ-va, có 3 cán bộ của đơn vị đang học tập là bác sĩ Lê Công Bằng, bác sĩ Nguyễn Thị Hồng Minh và Trưởng ban Đối ngoại Phạm Văn Quang. Như vậy, đoàn cán bộ của chúng ta gồm 8 người.

Chương trình làm việc với Bạn được xác định 3 nội dung chính là: Đánh giá kết quả hai bên hợp tác năm 2002 – 2003; bàn chương trình hợp tác năm 2004, trong đó trọng tâm là việc chuẩn bị kỷ niệm 35 năm giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 – 2004) và tổ chức nghiệm thu đề tài Hợp đồng số 9 và Hợp đồng số 10.

Cũng như các lần trước, khi đoàn của chúng ta vừa xuống máy bay, đại diện lãnh đạo của Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va và cán bộ của Phòng Chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã có mặt tại sân bay, đón tiếp đoàn rất trọng thị.

Buổi chiều của ngày đầu tiên đoàn đến Mát-xcơ-va, tại Nhà khách của Sứ quán Việt Nam, cán bộ và sinh viên của Bộ Tư lệnh gửi đi học từ nguồn tài trợ kinh phí của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam cũng có mặt đông đủ để chào đón đoàn. Trong căn phòng nhỏ của nhà khách, từ Tư lệnh đến từng người sinh viên ai nấy đều bồi hồi xúc động. Bằng giọng nói nhỏ nhẹ, tình cảm, Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn đã thông báo tình hình đơn vị cho cán bộ và sinh viên đang học tập tại Mát-xcơ-va. Tư lệnh căn dặn, động viên anh chị em tích cực học tập nắm vững kiến thức, hoàn thành khoá học xuất sắc để trở về đơn vị công tác. Nhìn một lượt anh chị em ngồi xung quanh, Tư lệnh nói: “Chưa bao giờ đơn vị ta có số cán bộ học tập tại Mát-xcơ-va đông như hiện nay, đây là vốn quý của đơn vị được Đảng, Nhà nước, Quân đội quan tâm, chúng ta phải biết giữ gìn, phát huy và trân trọng sự quan tâm đó”. Mọi người đều hứa sẽ quyết tâm thực hiện tốt lời căn dặn của Tư lệnh.

Sáng hôm sau, đúng giờ, hai chiếc xe của Trung tâm đã tới đón đoàn đi làm việc. Xe vừa dừng bánh, hai Chủ nhiệm khoa Hình thái và Sinh hoá của Bạn đã chờ sẵn và đón đoàn vào phòng khách. Viện sĩ V.A. Bư-cốp, Giám đốc Trung tâm; bốn phó giám đốc trung tâm cùng các chủ nhiệm khoa, thư ký hội đồng khoa học đã có mặt đông đủ chào đón đoàn. Những cái bắt tay, ôm hôn thắm thiết, như những người anh em lâu ngày mới gặp lại nhau đã tạo không khí đầm ấm, cởi mở, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Trước khi vào làm việc, Trưởng đoàn, Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn đã giới thiệu từng thành viên trong đoàn. Khi giới thiệu đến đồng chí Phạm Duy Khuê, Phó Vụ trưởng Vụ Văn xã, Văn phòng Chính phủ, cùng tham gia đoàn; Giám đốc Trung tâm V.A. Bư-cốp đã không giấu được sự vui mừng phấn khởi, đứng dậy bắt tay đồng chí Phạm Duy Khuê. Đây cũng là một điều hết sức đặc biệt của chuyến công tác, lần đầu tiên đoàn cán bộ lãnh đạo của Ban Quản lý Lăng sang làm việc với Bạn có một cán bộ của Văn phòng Chính phủ. Chính sự kiện này đã tạo cho Bạn niềm tin về sự hợp tác lâu dài giữa ta và Bạn trong giai đoạn mới.

Kết thúc ngày làm việc thứ nhất, mọi thành viên trong đoàn đều phấn khởi, vì tất cả chương trình, nội dung làm việc hai bên đưa ra đều có sự thống nhất cao. Ngoài ra, Bạn còn chủ động nêu ra một số vấn đề có tính nguyên tắc để ta nghiên cứu chuẩn bị cho chương trình hợp tác dài hạn trong những năm tới.

Khi xe đưa đoàn về đến nhà khách của Sứ quán, nghỉ ngơi chút ít, Tư lệnh đã hội ý, trao đổi với anh chị em trong đoàn những nội dung Bạn đưa ra trong buổi làm việc sáng nay. Tuy cùng dự làm việc với Bạn, nhưng khi nghe Tư lệnh tổng hợp lại những nội dung Bạn trao đổi và quyết tâm của Thường vụ, Bộ Tư lệnh mà Tư lệnh lĩnh hội trước khi lên đường sang Mát-xcơ-va, anh chị em trong đoàn mới hiểu một cách cụ thể, tường tận về nội dung của buổi làm việc với Bạn. Tư lệnh nói : “Chuyến công tác này của chúng ta, cố gắng thuyết phục Bạn đồng ý phối hợp với ta pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam”. Ngồi bên Tư lệnh, chúng tôi hiểu được suy nghĩ của ông. Bởi đây cũng là sự chỉ đạo của Thường vụ và Bộ tư lệnh trước khi đoàn sang Liên bang Nga và cũng là niềm ước mong của các thế hệ cán bộ trong đơn vị kể từ khi được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao cho nhiệm vụ chính trị đặc biệt là giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi cũng hiểu rằng: Dung dịch đặc biệt để giữ gìn thi hài cũng như máu của cơ thể con người, làm được việc này quả là một thành công lớn trên con đường vươn lên làm chủ nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Đang nhìn xa xăm ra cửa sổ, bỗng giọng Tư lệnh sôi nổi hẳn lên, ông nói: “Kết quả phân tích dung dịch giữa ta và Bạn trong khuôn khổ Hợp đồng số 10 sẽ là cơ sở khoa học cho việc ta yêu cầu Bạn cùng hợp tác pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam”. Nói xong, ông quay sang đồng chí Phạm Duy Khuê, cán bộ Văn phòng Chính phủ vừa như báo cáo, vừa như giải thích để cơ quan cấp trên hiểu thêm nhiệm vụ của đơn vị. Anh chị em trong đoàn chúng tôi, với tâm trạng vừa mừng, vừa lo mong sao ngày mai đến nhanh hơn để chúng ta sớm trao đổi với Bạn về ý định cùng pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam.

Sáng hôm sau, như thường lệ, anh chị em trong đoàn ăn sáng và chuẩn bị lên đường đi làm việc. Sau khi mọi người ăn sáng xong, Tư lệnh gọi anh Lại Văn Hoà và anh Phạm Văn Quang sang phòng để gặp riêng. Chừng khoảng 20 phút sau, Tư lệnh và hai anh đã trao đổi xong nội dung công việc. Trước mặt mọi người, Tư lệnh giao nhiệm vụ cho chị Nguyễn Thị Hồng Minh và anh Lê Công Bằng kiểm tra lại lần cuối kết quả phân tích dung dịch và so sánh với kết quả của Bạn xem có chỗ nào cần phải thống nhất trước khi nghiệm thu không? Tiếp đến, Tư lệnh nói với mọi người là đêm qua, ông suy nghĩ rất nhiều về nội dung làm việc ngày hôm nay với Bạn, sáng nay trao đổi với anh Hoà và anh Quang, hai anh cũng đều có tâm trạng như vậy. Quả thật, nếu ta đặt vấn đề không khéo thì chưa chắc Bạn đã đồng ý với đề nghị của ta; lúc đó sẽ rất khó khăn. Ngược lại, không cẩn thận Bạn đánh giá ta là vong ơn, bội nghĩa, Bạn đang khó khăn ta lại không mua dung dịch của Bạn…. Xuất phát từ những điều đó, Ông quyết định, hôm nay làm việc chưa đưa nội dung đề nghị với Bạn phối hợp cùng với ta pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam. Giao cho anh Hoà và anh Quang tiếp tục thăm dò Bạn xem ý kiến của Bạn về vấn đề pha chế dung dịch tại Việt Nam như thế nào? Ngồi cạnh tôi, đồng chí Phạm Duy Khuê thốt lên: “thật tuyệt vời, rất nhân văn”. Mọi người cười ồ lên và đứng dậy lên đường đi làm việc với Bạn.

Hai ngày làm việc tiếp theo trôi nhanh, nhiệm vụ Tư lệnh giao cho nhóm anh Hoà, anh Quang; chị Minh, anh Bằng đều đã có kết quả, mọi người lần lượt đến báo cáo công việc cụ thể với Tư lệnh.

Bước sang ngày thứ năm của đợt công tác, Tư lệnh chính thức đặt vấn đề với Bạn về sự phối hợp hai bên pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam và lần đầu tiên sẽ được tiến hành vào mùa xuân năm 2004. Khi nghe được yêu cầu chính thức của chúng ta, dường như lãnh đạo của Bạn cũng hơi bất ngờ, nên chưa ai trả lời ngay. Trong khi chờ Bạn có câu trả lời, Tư lệnh đã chủ động nói thêm: “Pha chế dung dịch tại Việt Nam nhưng chúng tôi vẫn ký hợp đồng với các đồng chí. Chỉ có khác là các đồng chí sẽ bàn giao dung dịch cho chúng tôi tại Việt Nam”.

Ý kiến của Tư lệnh đã trùng với suy nghĩ của Viện sĩ V.A. Bư-cốp, Giám đốc Trung tâm, nên chỉ chờ chúng ta nêu vấn đề này ra trúng ý chỉ đạo của ông, ông liền nói: “Về nguyên tắc, chúng tôi đồng ý sẽ phối hợp với các đồng chí pha chế dung dịch tại Việt Nam, nhưng cần phải chờ kết quả nghiệm thu Hợp đồng số 10 xem các số liệu của hai bên có thống nhất với nhau không”. Nét mặt Tư lệnh rạng rỡ hẳn lên, chúng ta không ngờ Bạn lại trả lời nhanh như vậy. Kết quả phân tích dung dịch, tuy chưa nghiệm thu nhưng qua đối chiếu giữa ta và Bạn hầu như không có sai số. Đó là điều kiện chắc chắn Bạn sẽ ký hợp đồng chính thức bàn giao tỉ lệ hoá chất pha chế dung dịch cho chúng ta. Buổi làm việc diễn ra nhanh chóng và đạt kết quả như mong muốn.

Ngày hôm sau, diễn ra buổi nghiệm thu đề tài Hợp đồng số 9 và số 10. Do công tác chuẩn bị chu đáo của ta và Bạn nên buổi nghiệm thu tiến hành đúng dự kiến và đạt kết quả tốt đẹp. Lãnh đạo Trung tâm đã đánh giá cao kết quả hợp tác nghiên cứu giữa chuyên gia Nga và các bác sĩ Việt Nam. Từ kết quả này, Bạn khẳng định có đủ điều kiện để bàn giao thành phần hoá chất và phối hợp cùng với ta pha chế dung dịch tại Việt Nam từ mùa xuân năm 2004.

Chia tay Bạn, trở về nhà khách, mọi thành viên trong Đoàn ai nấy đều phấn khởi. Thế là bắt đầu từ năm tới chúng ta sẽ có dung dịch được pha chế tại Việt Nam. Bao nỗi nhọc nhằn, vất vả của các đoàn đi công tác để mang dung dịch về nước theo đường hàng không sẽ không còn nữa. Đây là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của đội ngũ cán bộ, bác sĩ của chúng ta và cũng là thành công của sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ và Thủ trưởng Bộ Tư lệnh qua các thời kỳ. Mỗi lần nghĩ đến sự kiện này, trong tôi lại trở về với những mốc thời gian có tính chất quyết định đối với nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Đó là khi chúng ta quyết tâm đầu tư xây dựng T77 làm cơ sở nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; năm 1992, ta đã chủ động làm thuốc trong dịp tu bổ định kỳ khi Bạn chưa sang kịp; năm 1995, ta tiếp nhận bàn giao nhiệm vụ làm thuốc thường xuyên thi hài Bác và năm 2003, trước khi kỷ niệm 35 năm giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bạn chính thức bàn giao thành phần cơ bản của dung dịch đặc biệt cho chúng ta. Những ký ức theo dòng thời gian luôn hiện hữu trong tâm trí tôi. Đúng “quá khứ, hiện tại, tương lai là một dòng chảy liên tục”. Thành công của ngày hôm nay là kết quả của biết bao con người đã cống hiến vì sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh….

Thế rồi, thời khắc mong đợi đã đến, đúng 14 giờ, theo giờ Mát-xcơ-va ngày 4 tháng 6 năm 2003, ngày cuối cùng của đợt công tác, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va và Trưởng ban Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Biên bản bàn giao tỉ lệ hoá chất dung dịch và nhất trí phối hợp với cán bộ, bác sĩ của ta pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam vào quý I năm 2004. Vậy là chuyến công tác của Đoàn cán bộ lãnh đạo Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Liên bang Nga đã thành công tốt đẹp.

Thấm thoắt đã ba năm trôi qua, Viện 69 và các chuyên gia Nga đã ba lần pha chế thành công dung dịch đặc biệt tại Việt Nam. Kết quả đó càng khẳng định sự đúng đắn, sáng suốt của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và tình cảm hữu nghị, truyền thống trước sau như một của các chuyên gia Nga đối với Việt Nam.

Đại tá Đặng Nam Điền
Phó Chính uỷ, kiêm Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Nắm vững thời cơ, vững vàng đi lên trong khó khăn

Hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tại Tiệp Khắc, ngày 12 tháng 01 năm 1990, tôi về nước và mang theo cả suy tư sau khi tận mắt chứng kiến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại hàng loạt các nước: Ba Lan, Đức, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc và muộn hơn nữa là Ru-ma-ni. Tôi luôn hy vọng: Liên Xô – thành trì của cách mạng vô sản sẽ là điểm tựa vững chắc để dần dần khôi phục chủ nghĩa xã hội tại các nước Đông Âu. Nhưng điều hy vọng đó không còn. Năm 1991, nước Cộng hoà Liên bang Xô Viết sụp đổ – Một chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị tan rã ở ngay chính quê hương của Lê-nin, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự việc này đã ảnh hưởng rất sâu sắc tới quan hệ Việt – Nga, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là quan hệ giữa Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Viện Lăng Lê-nin trong việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ.

Ngay từ năm 1969, Bạn luôn cử ba chuyên gia y tế giỏi sang Việt Nam trực tiếp làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác. Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước, dù sơ tán đi bất cứ nơi đâu, Bạn luôn có mặt đồng cam cộng khổ với ta để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng này. Năm 1975, nhờ sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Nhiệm vụ y tế giữ gìn lâu dài thi hài Bác được thuận lợi hơn, đồng thời phát huy được ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng.

Nhưng từ đầu năm 1992 trách nhiệm của Bạn trong việc giữ gìn thi hài Bác có sự đổi thay. Nhóm chuyên gia y tế của Bạn thường trực ở Việt Nam giảm từ ba người xuống còn hai người. Tiếp theo, ngày 4 tháng 3 năm 1992, đồng chí P.I. Phô-men-cô, chuyên gia y tế xin về nước trước thời hạn, chỉ còn lại đồng chí Iu.N. Cô-nô-nư-khin. Đây là điều bất thường, vì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giúp ta giữ gìn thi hài Bác từ trước tới nay, Bạn có nguyên tắc làm việc tập thể, chưa bao giờ Bạn làm việc với ta chỉ có một người. Sau đó nhiều lần Bạn không tới trực tiếp kiểm tra trạng thái thi hài Bác khi kết thúc các buổi lễ viếng. Từ ngày 14 tháng 3 năm 1992, Bạn không tới trực tiếp mà chỉ trao đổi qua điện thoại rằng: “Bây giờ không làm việc với Việt Nam nữa, các anh phải tự làm lấy…”.

Trước tình hình đó, ta càng nhận thức sâu sắc hơn quan điểm độc lập, tự chủ, phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ hơn nữa để làm chủ công nghệ, lấp vào chỗ trống khi gián đoạn sự giúp đỡ của chuyên gia y tế Liên bang Nga. Tuy đây là ngành khoa học bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng ai cũng nhận thức được vai trò quan trọng của dung dịch giữ gìn lâu dài thi hài Bác mà các bạn Liên Xô vẫn giữ tại Lăng Bác coi như bí mật quốc gia của Bạn, mà ta phải tôn trọng. Vì vậy ta muốn thúc đẩy Bạn chuyển giao dung dịch đó cho ta tự quản lý. Bằng những phương pháp ngoại giao khéo léo với Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ kinh tế Đối ngoại của Cộng hoà Liên bang Nga, ngày 17 tháng 3 năm 1992, hai chuyên gia của Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Kinh tế Đối ngoại Liên bang Nga đã cùng với đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng trực tiếp kiểm tra dung dịch tại công trình Lăng Bác. Sau lần kiểm tra đó, đồng chí X.A. Cra-xơ-nốp, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Kinh tế Đối ngoại Cộng hoà Liên bang Nga đã có chỉ thị bàn giao dung dịch này cho Việt Nam.

Đứng trước cơ hội thuận lợi, ngày 19 tháng 3 năm 1992, tại đơn vị diễn ra cuộc họp quan trọng do Trung tướng Trần Hanh, Phó Tổng Tham mưu trưởng chủ trì. Thành phần tham dự có: Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng – Tư lệnh; các đồng chí trong Thường vụ Đảng uỷ: Đại tá Đỗ Văn Khoan – Bí thư Đảng ủy, Nguyễn Quang Tấn – Phó Bí thư Đảng uỷ, Dương Đức Thạc – Uỷ viên Thường vụ; Viện 69 có: Đại tá Đỗ Văn Dai – Viện trưởng, Thượng tá Nguyễn Văn Châu – Bí thư Đảng uỷ, Phó Viện trưởng, Thiếu tá Vũ Văn Bình – Phó Viện trưởng. Hội nghị bàn về việc tiếp quản dung dịch giữ gìn thi hài Bác từ các Bạn Nga. Trong cuộc họp đã có nhiều ý kiến trao đổi khác nhau. Đa số mọi người nhất trí và mong muốn được nhận bàn giao của Bạn. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng: Khi ta tiếp nhận số dung dịch này, các Bạn ở Viện Lăng Lê-nin có thể sẽ phật ý, như vậy sẽ ảnh hưởng tới việc giữ gìn toàn vẹn thi hài Bác. Dù ý kiến có khác nhau, nhưng mọi người đều cùng chung một quan điểm, mục tiêu là phải độc lập tự chủ trong việc giữ gìn thi hài Bác.

Trong quá trình thảo luận, tôi nhớ đồng chí Trần Hanh nói rất chân thành: “… Nếu như tôi là Tư lệnh, có trong tay hơn 500 lít dung dịch để giữ gìn thi hài Bác, thì vẫn thích hơn chứ”. Câu nói dân dã đó như lời thống nhất chung của hội nghị.

Vào 9 giờ sáng ngày 20 tháng 3 năm 1992, việc bàn giao dung dịch đã được diễn ra theo đúng chỉ thị của đồng chí X.A. Cra-xơ-nốp. Tại Hội nghị bàn giao, phía Cộng hoà Liên bang Nga gồm có: Đồng chí V.Đ. Ô-ni-xen-cô, quyền đại diện toàn quyền Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Kinh tế đối ngoại; đồng chí X.V. Chu-rơ-kin, Kỹ sư trưởng, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Kinh tế Đối ngoại và có sự chứng kiến của đồng chí Iu.N. Cô-nô-nư-khin, chuyên gia y tế thường trực tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phía Việt Nam có các đồng chí: Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Đại tá Đỗ Văn Dai – Viện trưởng Viện 69; Thượng tá Nguyễn Văn Châu – Bí thư Đảng uỷ, Phó Viện trưởng Viện 69 và Thiếu tá Vũ Văn Bình – Phó Viện trưởng Viện 69.

Việc bàn giao dung dịch cho phía Việt Nam là một sự kiện quan trọng trong quá trình giữ gìn thi hài Bác. Đây không phải là thay chủ thể quản lý dung dịch, mà thực chất là khẳng định rõ trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng nói chung và các chuyên gia y tế Việt Nam nói riêng; đồng thời tạo thêm cơ sở vật chất vững chắc để ta vươn lên làm chủ công nghệ này.

Ngay trong ngày 20 tháng 3 năm 1992, đồng chí Trưởng Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng đã gửi thư cảm ơn và thông báo cho đồng chí X.X. Đê-bốp, Viện trưởng Viện Lăng Lê-nin. Trong thư nêu rõ: “Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu của đồng chí đối với công tác giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm qua.

Nhân đây, tôi cũng xin thông báo để đồng chí biết, ngày 20 tháng 3 năm 1992, theo quyết định của đồng chí X.A. Cra-xơ-nốp, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, đồng chí V.Đ. Ô-ni-xen-cô, đại diện toàn quyền Tổng cục Kỹ thuật ở Việt Nam đã bàn giao toàn bộ dung dịch hiện có ở công trình cho các bác sĩ Việt Nam. Trong khi chờ chuyên gia của các đồng chí sang thay, các bác sĩ Việt Nam tự làm thuốc theo quy trình từ trước tới nay và sử dụng, bảo quản dung dịch theo chế độ quy định.

Trong tình hình hiện nay mặc dù có nhiều thay đổi, song chúng tôi mong muốn hợp tác chặt chẽ với các đồng chí hơn nữa trong việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở hai bên đều có lợi. Mối quan hệ hợp tác này có thể là qua Tổng cục Kỹ thuật hoặc trực tiếp với Viện Lăng Lê- nin về những vấn đề hai bên cùng quan tâm.

Trước mắt, đề nghị đồng chí cử gấp đồng chí V.L. Kô-zen-sep và I.V Mát-vây-chúc sang Việt Nam và chuẩn bị cử 2 chuyên gia sang giúp công tác tu bổ định kỳ năm, thời gian là 45 ngày, kể từ ngày 3 tháng 9 năm 1992 và chuẩn bị các vật tư, hoá chất cần thiết cho công tác này. Riêng đối với đồng chí, chúng tôi mời đồng chí sang Việt Nam không chỉ giúp chúng tôi làm cố vấn mà là khách quý. Về thời gian, tuỳ đồng chí sắp xếp sao cho tiện, nhưng tốt nhất là cuối tháng 9 năm 1992″.

Ngay sau khi nhận bàn giao dung dịch, ngày 23 tháng 3 năm 1992, Ban Quản lý Lăng đã có báo cáo số 38/BQLL gửi Thủ tướng nêu rõ: Ta nhận số dung dịch của Liên Xô viện trợ không hoàn lại theo kế hoạch 1986 – 1990 mà Bạn vẫn coi là tài sản của Bạn… Tuy nhận bàn giao, nhưng ta vẫn tiếp tục hợp tác với Viện Lăng Lê-nin, trước khi nhận bàn giao đã bàn kỹ trong nội bộ và báo cáo đồng chí Trần Hanh và đồng chí Nguyễn Nam Khánh.

Theo đề nghị của đồng chí Tư lệnh, ngày 30 tháng 3 năm 1992, hai chuyên gia y tế là V.L. Kô-zen-sep và I.V. Mát-vây-chúc sang Việt Nam giúp ta nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác thường xuyên. Nhưng tới ngày 03 tháng 4 năm 1992, đồng chí Tổ trưởng V.L. Kô-zen-sep đề nghị ta lại tiếp tục xi dung dịch như trước đây. Đồng chí Đỗ Văn Dai đã giải thích với Bạn về tính pháp lý của việc bàn giao dung dịch giữa Bộ Kinh tế Đối ngoại của Liên bang Nga và Ban Quản lý Lăng. Các Bạn đã thông cảm và tiếp tục giúp ta làm nhiệm vụ.

Những tưởng khó khăn về chuyên gia đã qua, nhưng sự việc đã diễn ra không như chúng ta mong đợi. Nhiệm vụ làm thuốc lớn tháng 9 năm 1992, nhóm chuyên gia chủ chốt do Viện phó Iu.A. Rô-ma-cốp dẫn đầu không sang kịp, cũng không mang được dung dịch từ Mát-xcơ-va sang Việt Nam để phục vụ nhiệm vụ tu bổ định kỳ. Trước tình hình đó đồng chí V.L. Kô-zen-sep đề nghị với ta sẽ hoãn làm thuốc lớn để chờ đồng chí Iu.A. Rô-ma-cốp sang. Đồng chí Đỗ Văn Dai, Viện trưởng Viện 69 đã hội ý Thủ trưởng Viện để báo cáo Bộ Tư lệnh quyết tâm làm thuốc lớn thi hài Bác theo đúng kế hoạch đã phê duyệt. Ý kiến đó đã được Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đồng ý. Và thực tế đã chứng minh quyết tâm đó là hoàn toàn đúng đắn, đồng thời cũng khẳng định bước trưởng thành mới của cán bộ y tế Việt Nam.

Sau đó, hai đợt tiếp theo chuyên gia y tế Liên bang Nga cũng không sang được theo kế hoạch vào các thời điểm từ ngày 14 tháng 4 tới ngày 26 tháng 5 năm 1993 và từ ngày 23 tháng 11 năm 1993 tới ngày 22 tháng 4 năm 1994.

Sau những lần gián đoạn đó, chuyên gia thường xuyên không sang được để trực tiếp giúp chúng ta, các nhóm chuyên gia mới sang, sau khi kiểm tra đều có nhận xét chung: “Trạng thái thi hài Bác rất ổn định, công tác y tế được các chuyên gia Việt Nam thực hiện xuất sắc”. Có thể nói các Bạn Nga cũng rất ngạc nhiên về sự trưởng thành nhanh chóng của các chuyên gia y tế Việt Nam.

Như vậy, việc Bạn chuyển giao dung dịch cho chúng ta tự quản lý là một cơ hội lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta mạnh dạn, vững vàng đi lên trong những lúc khó khăn, thử thách.

Để có sự thành công trên, trước hết phải nói tới sự chỉ đạo sáng suốt của lãnh đạo các cấp. Ngay từ năm 1969 khi các Bạn Liên Xô đồng ý giúp chúng ta giữ gìn lâu dài thi hài Bác tại Hà Nội, các đồng chí lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước ta đã căn dặn các đồng chí cán bộ thực hiện nhiệm vụ này rằng: Hiện nay các Bạn đã đồng ý giúp chúng ta, nhưng Bạn giúp ta ngày nào hay ngày ấy, phải nhớ rằng Bác Hồ là của chúng ta, cho nên ta phải tự nghiên cứu để làm chủ nhiệm vụ này. Lời căn dặn mộc mạc, giản dị, nhưng đó là chiến lược chỉ đạo rất sáng suốt và đúng đắn xuyên suốt qua mọi thời kỳ.

Sự chỉ đạo và nắm bắt thời cơ của Bộ Tư lệnh luôn nhất quán và chính xác. Điều đó đã tạo được niềm tin vững chắc cho các cán bộ y tế của Viện 69 vững vàng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mình, dù ban đầu chỉ là một tổ quân y 3 người. Cán bộ khoa học Viện 69 đã mạnh dạn nghiên cứu với một niềm say mê cháy bỏng dù không có tài liệu, thiếu thốn mọi phương tiện, trang bị kỹ thuật, đời sống hàng ngày còn rất nhiều khó khăn. Đặc biệt họ phải làm việc “trong thầm lặng”, điều mà các thế hệ trước đây của Bộ Tư lệnh vẫn thường nói về công tác y tế đặc biệt này. Ngoài ra, cùng với sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các cơ quan, các đơn vị trong Bộ Tư lệnh, tạo thành sức mạnh tổng hợp, hỗ trợ lẫn nhau vượt qua mọi khó khăn thử thách, còn có sự phối hợp hiệu quả với các cơ sở khoa học và các nhà khoa học trong các thời kỳ công tác khác nhau. Những đơn vị tiêu biểu như Viện Quân y 108, Học viện Quân y, Viện Kiểm nghiệm Cục Quân y… Trong đó có các cá nhân, những người đóng góp lớn cho sự nghiệp giữ gìn thi hài Bác như: Phó tiến sĩ Đặng Hanh Khôi, Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm – Cục Quân y; Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Hưng Phúc – Phó giám đốc Học viện Quân y; đồng chí Lê Đình Lý – Chính ủy Viện Quân y 108…

Chúng ta thử hình dung nếu mình không chủ động sáng tạo ngay từ năm 1969, cứ ỷ lại vào sự giúp đỡ của Bạn thì từ năm 1991 chúng ta sẽ xoay xở ra sao khi chuyên gia gián đoạn, vận chuyển dung dịch thì khó khăn. Liệu thi hài Bác có được giữ gìn tuyệt đối an toàn như ngày hôm nay? Tôi nghĩ rằng chiến công này đã góp phần đáng kể tạo dựng nên truyền thống của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới là: Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hợp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo.

Đại tá,TS. Vũ Văn Bình
Phó Tư lệnh – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Một quyết nghị của ý chí độc lập tự chủ

Tháng 12 năm 1980, sau khi kết thúc lớp học bổ túc văn hoá của Bộ Quốc phòng, tôi được điều về Đoàn 969 – đơn vị Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất cảm động và suy nghĩ: đây là một vinh dự quá lớn và cũng là một trách nhiệm hết sức nặng nề mà chính tôi cũng chưa bao giờ dám nghĩ đến.

Về đơn vị, tôi nhận nhiệm vụ Trưởng ban Tuyên huấn – Phòng Chính trị, được sống, làm việc và công tác trong một tập thể đoàn kết gắn bó, được các anh lớn tuổi, đi trước, có bề dày kinh nghiệm giúp đỡ, được các cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên hết lòng ủng hộ, nên tôi đều hoàn thành các nhiệm vụ, lần lượt được bổ nhiệm các cương vị: Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Tư lệnh Chính trị. Được Đảng bộ tín nhiệm bầu vào Đảng ủy, Thường vụ, được phân công đảm nhiệm Phó bí thư, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969.

Ở cương vị Bí thư Đảng ủy hơn ba nhiệm kỳ, tôi đã tham mưu, đề xuất nhiều nội dung Nghị quyết quan trọng cho Thường vụ, Đảng ủy Đoàn 969. Nhưng để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc nhất là Nghị quyết 150 của Thường vụ về lãnh đạo nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là một Nghị quyết có ý nghĩa định hướng lớn, bám sát thực tế, thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí tự lực tự cường trong sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh của Đảng bộ và đơn vị.

Tính đến năm 1986, sau gần 20 năm làm việc với Bạn, đội ngũ cán bộ y tế và kỹ thuật của ta đã từng bước trưởng thành, có khả năng làm thành thạo kỹ thuật thường xuyên, bằng các phương pháp thông thường đã theo dõi được diễn biến trên thi hài; vận hành được các trang thiết bị kỹ thuật mà ta có và kinh nghiệm đảm bảo môi trường tinh khiết; có thể xử lý được những trường hợp phức tạp do hoàn cảnh chiến tranh hoặc bão lụt, bất trắc xảy ra.

Tuy vậy, còn nhiều vấn đề gặp khó khăn trở ngại. Chúng ta đã làm việc với Bạn gần 20 năm, nhưng Bạn giữ bí mật tuyệt đối về hoá chất, về kỹ thuật bảo quản, kết quả những lần xét nghiệm Bạn không hề thông báo cho ta biết.

Hơn nữa, trong công tác nghiên cứu khoa học, chúng ta thiếu thiết bị, hoá chất, thiếu cán bộ chuyên sâu và đồng bộ, thiếu luận cứ khoa học để có thể giải thích được các hiện tượng và khả năng loại trừ các nhân tố gây ảnh hưởng đến thi hài.

Thời điểm đó, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 07, rồi đến Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ của đơn vị có sự thay đổi. Đồng chí Nguyễn Hồng Quang – Phó Tư lệnh Chính trị – từng là cán bộ tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trải qua nhiều cương vị và có bề dày kinh nghiệm xây dựng đơn vị nghỉ hưu. Một thời gian ngắn sau đó, đồng chí Lương Soạn là cán bộ tiền khởi nghĩa, dày dạn trong hai cuộc chiến tranh, từng tham gia xây dựng Lăng Bác từ những ngày đầu đã từ trần. Đối với công việc, anh luôn là một cán bộ tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm cao. Đối với đồng đội, anh luôn gần gũi chân thành. Đối với gia đình, anh là một người chồng, người cha hết mực thương yêu vợ con. Cuộc sống thời bao cấp gặp rất nhiều khó khăn chật vật, nhưng anh không bao giờ lợi dụng chức quyền để thu vén cá nhân. Anh ra đi để lại trong Đảng bộ và đơn vị một khoảng trống, để lại trong cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ niềm tiếc thương vô hạn.

Ngay sau đó, Thường vụ và Bộ Tư lệnh được kiện toàn. Đồng chí Nguyễn Văn Tưởng giữ chức Tư lệnh – Phó Bí thư Đảng ủy; tôi giữ chức Phó Tư lệnh Chính trị – Bí thư Đảng ủy; đồng chí Dương Đức Thạc giữ chức Chủ nhiệm Chính trị – Uỷ viên Thường vụ. Thường vụ đã bàn ngay chuyên đề về nhiệm vụ y tế. Trong đó, tập trung tham mưu, đề xuất, báo cáo Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết chuyên đề về nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác, làm cơ sở, làm chỗ dựa vững chắc cho đơn vị. Đồng chí Tư lệnh trực tiếp chuẩn bị văn bản để báo cáo với Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ này.

Tại cuộc họp Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, tôi và đồng chí Tưởng được mời dự, trực tiếp nghe những ý kiến phát biểu sâu sắc của các đồng chí Lê Đức Anh, Phó bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Nguyễn Quyết – Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; đồng chí Đoàn Khuê – Tổng Tham mưu trưởng. Các đồng chí tiếp tục khẳng định sự nghiệp giữ gìn thi hài Bác là nhiệm vụ trọng đại, mang ý nghĩa quốc gia và quốc tế, thể hiện tình cảm, niềm tin của đồng bào, chiến sĩ cả nước và cả của bạn bè quốc tế đối với Bác Hồ, với dân tộc Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng đặt niềm tin và tiếp tục giao trọng trách lớn cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 25 tháng 02 năm 1988, Nghị quyết số 50 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức ban hành. Đảng ủy Đoàn 969 đã tổ chức ngay Hội nghị bất thường vào ngày 17 tháng 3 năm 1988 để quán triệt và thể hiện quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt.

Từ chủ trương, định hướng của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, đặt ra cho Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 phải nhanh chóng chuẩn bị chu đáo, kỹ càng, xây dựng nghị quyết chặt chẽ, có tính khả thi cao để lãnh đạo nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác.

Ngày 15 tháng 11 năm 1988, Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 tổ chức hội nghị. Thường vụ đã mời các đồng chí Nguyễn Văn Tham, Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng; Nguyễn Quang Tấn, Chủ nhiệm Kỹ thuật và một số cán bộ chủ trì của Viện 69 đến dự để nghe đồng chí Nguyễn Gia Quyền, Phó tư lệnh báo cáo chuyên đề về nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác.

Đây là Hội nghị bàn về những vấn đề trọng đại, mang tính quốc gia, quốc tế; những vấn đề thể hiện sự thiêng liêng của dân tộc trong sự nghiệp giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác, giữ gìn sự đoàn kết đặc biệt giữa ta và chuyên gia Liên Xô, mong muốn tiếp tục tranh thủ được sự giúp đỡ cao nhất của Bạn, nên tất cả các đồng chí tham dự hội nghị đều phát biểu một cách sôi nổi, thận trọng và nghiêm túc.

Đồng chí Nguyễn Quang Tấn khẳng định: “Vấn đề khoa học giữ gìn thi hài là một nền khoa học có tính chất độc quyền của Liên Xô, dù Bạn không phổ biến cho ta, nhưng sau gần 20 năm trực tiếp làm việc với Bạn, ta phải tự tổng kết lại, cái gì ta đã hiểu được, đã làm được, cái gì chưa hiểu được, chưa làm được… từ đó mà bàn để định hướng cho các năm tiếp sau”.

Đồng chí Nguyễn Văn Châu tâm đắc: “Nếu Bạn bàn giao, ta có khả năng làm được và phải dứt khoát phấn đấu thực hiện, không để kéo dài đến các thế hệ kế tiếp nữa. Muốn vậy phải tập trung làm tốt công tác nghiên cứu khoa học với tư cách là một Viện nghiên cứu. Phải làm tốt đào tạo cán bộ đầu ngành, cán bộ chuyên sâu, phải báo cáo với trên xin đảm bảo trang thiết bị đồng bộ”.

Băn khoăn của các nhà khoa học cũng là nỗi trăn trở của Thường vụ. Tôi và đồng chí Tư lệnh tiếp tục nhiều lần trao đổi, bàn bạc, tích cực chuẩn bị kỹ mọi yếu tố, đánh giá đúng tình hình công tác y tế, nghiên cứu khoa học, mạnh dạn đề xuất những chủ trương, biện pháp phù hợp.

Ngày 9 tháng 3 năm 1989, Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 họp phiên cuối, sau khi phân tích kỹ về thực trạng, hội nghị đã nhất trí đánh giá: So với yêu cầu nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh thì kết quả đạt được chỉ là bước đầu, nhưng là một thành tựu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn sâu sắc. Bên cạnh sự lãnh đạo, chỉ đạo của trên, sự giúp đỡ của Bạn, ta đã chủ động xây dựng được những cơ sở ban đầu của Viện nghiên cứu bảo quản thi hài ở một nước nhiệt đới nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố y, sinh, hoá, lý …các kỹ thuật ướp và bảo quản thi hài trong điều kiện riêng biệt ở Việt Nam. Ta đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ thành thạo các thao tác kỹ thuật …. Có khả năng vận hành các thiết bị mà ta có.

Trên cơ sở đánh giá đó, Thường vụ đã xác định chủ trương, giải pháp: Công tác y tế giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh là công tác trọng tâm của toàn Bộ Tư lệnh. Viện 69 là đơn vị chuyên trách có trách nhiệm trực tiếp đảm nhiệm công tác và cùng với Bạn làm thuốc thi hài, đảm nhiệm công tác nghiên cứu khoa học đồng thời có chức năng làm tham mưu giúp Đảng uỷ mà trực tiếp là Thường vụ và Tư lệnh lãnh đạo, chỉ đạo công tác y tế giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

….. Cần phải tiếp tục tranh thủ sự giúp đỡ toàn diện của Liên Xô, phối hợp với chuyên gia thực hiện nhiệm vụ bảo quản thi hài…. phải tích cực nghiên cứu học hỏi hiểu biết đầy đủ nội dung quy trình kỹ thuật, điều kiện vật chất tiến tới có khả năng tự bảo quản thi hài khi có tình huống gián đoạn do chiến tranh hoặc lũ lụt xảy ra….

Sau 3 năm chuẩn bị công phu, thực sự dân chủ, phát huy trí tuệ của toàn Đảng bộ, mà trung tâm là Thường vụ, tập thể Đảng uỷ Viện 69 và đội ngũ cán bộ chủ trì làm công tác y tế, khoa học kỹ thuật, được Nghị quyết 50 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương định hướng soi đường, nên Nghị quyết 150 có sức sống, định hướng cho Đảng bộ và đơn vị phát huy ý chí độc lập, tự cường vươn lên làm chủ vững chắc sự nghiệp giữ gìn thi hài Hồ Chủ tịch.

Ngày 16 tháng 3 năm 1989, Nghị quyết số 150 của Thường vụ về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh được ban hành, phổ biến, quán triệt đến cán bộ chủ trì các cấp, được toàn Đảng bộ và đơn vị triển khai thực hiện với những nội dung công việc cụ thể.

Chủ trương về đầu tư, xây dựng nâng cấp Viện 69 để hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt đã được Bộ Tư lệnh triển khai tại Quyết định số 324/QĐ/BVL, ngày 17 tháng 5 năm 1990. Biểu biên chế mới của Viện 69 xác định gồm Thủ trưởng và các bộ phận phù hợp với nhiệm vụ: Quản lý toàn bộ công tác y tế bảo quản lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; xây dựng chiến lược nghiên cứu lâu dài, xác định kế hoạch nghiên cứu từng giai đoạn; quản lý công tác nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu các đề tài khoa học với quy mô từ cơ sở tới cấp Nhà nước theo hướng đã định.

Đồng thời Viện còn quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học, có kinh nghiệm và đầu tư trang thiết bị hiện đại. Viện 69 đã tích cực đào tạo cán bộ, nghiên cứu hoàn thành nhiều đề tài khoa học. Hàng chục cán bộ, nhân viên được cử sang Nga học tập, nhiều cán bộ đã phấn đấu trở thành tiến sĩ, thạc sĩ, chuyên khoa cấp 2. Chính lực lượng này đã trực tiếp quyết định vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác.

Nhìn lại những năm qua – một thời gian rất ngắn ngủi trong sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng có nhiều biến động phức tạp, càng thấy ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đơn vị. Được sự lãnh đạo và chỉ đạo của trên, Đảng bộ và đơn vị đã có những chủ trương định hướng đúng và có quyết tâm cao để vượt qua những khó khăn thử thách của giai đoạn chuyển tiếp, mở ra một bước ngoặt mới trên con đường độc lập tự chủ, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo, làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác để các thế hệ hôm nay và mai sau mãi mãi được đến thăm viếng Người.

Đại tá Đỗ Văn Khoan
Nguyên Bí thư Đảng uỷ, Phó Tư lệnh Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa ta và Bạn

Bước vào thập kỷ 90, tình hình quốc tế và trong nước có những thay đổi lớn. Những tin tức về sự khủng hoảng, rồi sụp đổ nhanh chóng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự bế tắc của công cuộc “cải tổ” ở Liên Xô, cùng với những khó khăn thử thách chồng chất về nhiều mặt ở trong nước, nhất là về kinh tế đã tác động sâu sắc tới tâm tư tình cảm nhân dân trong nước và tình hình tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1990 – năm cuối cùng của những Hiệp định viện trợ không hoàn lại của Nhà nước Liên Xô giành cho Việt Nam, trong đó có công trình Lăng 1985 – 1990 đã hết hiệu lực. Sau nhiều lần trì hoãn, mãi tới tháng 4 năm 1991, Chính phủ Liên Xô mới cử một đoàn cán bộ sang Việt Nam đàm phán với Chính phủ ta về những hiệp định của 5 năm tiếp theo (năm 1991 đến năm 1995). Theo sự chỉ đạo của Nhà nước Liên Xô: Kể từ năm 1991, do khó khăn về nhiều mặt, Liên Xô sẽ không dành cho Việt Nam khoản viện trợ không hoàn lại, thay vào đó, phía Việt Nam sẽ phải thanh toán hoàn trả cho Nhà nước Liên Xô theo cơ chế thương mại. Công trình Lăng cũng nằm trong cơ chế chung đó. Vào thời điểm này, đây là một khó khăn rất lớn cho Nhà nước Việt Nam. Tại công trình Lăng, ngoài một số vật tư có số lượng rất nhỏ, giá trị không lớn, chúng ta có thể khai thác trong nước, còn hầu hết đều phải nhập ngoại, phần lớn từ Liên Xô. Hàng năm Bạn yêu cầu ta lập đơn hàng mua và thanh toán qua cơ quan kinh tế đối ngoại. Riêng vật tư y tế đặc biệt, lương hàng tháng thanh toán cho chuyên gia y tế thường trực, cũng như chuyên gia sang làm việc tại Lăng theo định kỳ, Bạn giành quyền lập kế hoạch, ta phải thực hiện; hàng năm Bạn yêu cầu ta phải thanh toán trước vào quý II.

Ngoài những khó khăn trên đây, những tin tức không vui tiếp tục lại bay về từ Mát-xcơ-va: Viện Nghiên cứu cấu trúc sinh học – cơ sở nghiên cứu khoa học trực tiếp giữ gìn thi hài Lê-nin cũng là cơ quan giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Bác – do cải tổ, cơ sở nghiên cứu khoa học này đã được đưa về trực thuộc Viện Nghiên cứu sản xuất thảo dược, thuộc Bộ Nông nghiệp Liên Xô và phải tự hạch toán. Một số cán bộ có chuyên môn sâu của Viện do quá khó khăn về kinh tế đã phải rời khỏi Viện đi làm nơi khác. Một số phần tử cực đoan đã lên tiếng đòi đưa thi hài Lê-nin ra khỏi Lăng, đưa về an táng cùng thân mẫu tại Lê-nin-grat. Tình hình chính trị ở Liên Xô không ổn định, chia rẽ sâu sắc.

Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt tới nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương đã ra Nghị quyết chuyên đề lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới. Ngày 10 tháng 7 năm 1991, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư, đồng chí Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh đã chủ trì Hội nghị đặc biệt tại Lăng. Thành phần Hội nghị gồm đại diện lãnh đạo các Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Uỷ ban Khoa học Nhà nước (Bộ Khoa học công nghệ). Những cán bộ khoa học đầu ngành của các ngành có liên quan tới nhiệm vụ của Lăng, những nhà khoa học đã từng được chọn là cộng tác viên của Lăng từ nhiều năm được mời dự. Hội nghị đã nghe báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, những kết quả nghiên cứu của đơn vị trong những năm qua, một số kiến nghị với lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ý kiến phát biểu của các nhà khoa học, của lãnh đạo các Bộ, ngành đã được đồng chí Phó thủ tướng Nguyễn Khánh kết luận: Chính phủ vẫn giao việc bảo quản thi hài Bác cho Bộ Quốc phòng nhưng cách giữ gìn phải dựa vào các nhà khoa học. Cần huy động lực lượng nghiên cứu, xây dựng đội ngũ khoa học kỹ thuật chuyên sâu, cần phải tìm hiểu thêm để có thể xử lý chắc chắn. Trong phương hướng tới, Viện 69 của Bộ Tư lệnh Lăng đầu tư nghiên cứu sâu hơn những nghiên cứu thử nghiệm. Bộ Y tế có trách nhiệm chỉ đạo y học và Uỷ ban khoa học Nhà nước có trách nhiệm quản lý khoa học, đầu tư nghiên cứu và triển khai làm ngay trong đầu năm 1992. Cần có Hội đồng khoa học để giám định và chỉ đạo.

Toàn bộ nội dung Hội nghị được bảo mật rất chặt chẽ. Sau Hội nghị, một không khí lo lắng bao trùm thể hiện tình cảm, ý chí trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ trong lãnh đạo, chỉ huy và toàn thể cán bộ, đảng viên trong đơn vị, nhất là các cán bộ khoa học trực tiếp làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác. Một câu hỏi đặt ra là: Liệu đơn vị có thể hoàn thành nhiệm vụ nếu không còn sự giúp đỡ của Liên Xô ? Những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, những cán bộ, đảng viên gắn bó nhiều năm với công việc, ai cũng có thể hiểu được: Thiết bị, vật tư kỹ thuật, đảm bảo môi trường giữ gìn thi hài và phục vụ nhân dân vào Lăng viếng Bác, tuy đã xuống cấp phải thay thế, chúng ta có thể tìm kiếm sửa chữa, đảm bảo được các thông số theo yêu cầu. Nhưng còn công nghệ, vật tư hoá chất đặc biệt chỉ có nguồn cung cấp duy nhất từ Liên Xô, rồi đây sẽ giải quyết như thế nào, đang còn là một bài toán chưa có lời giải.

Ngày 19 tháng 8 năm 1991, Liên Xô sụp đổ. Đất nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết vô cùng quen thuộc và thân thiết với nhiều thế hệ người dân Việt Nam đã được thay thế bằng một tên mới: Cộng hoà Liên bang Nga. Nhiệm vụ của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn cực kỳ khó khăn, đầy gian nan thử thách. Nhưng rồi, những chuyện Liên Xô, chuyện Nga cũng phải quên dần, đơn vị phải tập trung dành cho công việc tu bổ định kỳ – nhiệm vụ trọng tâm số một của cả năm đang đến gần. Thật may mắn, trước sự kiện ngày 19 tháng 8 năm 1991, Bạn đã kịp gửi cho ta đủ số lượng vật tư, hoá chất đặc biệt. Giáo sư I.A.Rô-ma-cốp, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va cũng sang đúng thời gian triển khai làm thuốc lớn thi hài Bác. Có điều dịp tu bổ định kỳ năm ấy, số lượng chuyên gia giảm hẳn vì ta không thuê chuyên gia kỹ thuật Nga sang bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị kỹ thuật đặc biệt. Năm đầu tiên, cán bộ và công nhân kỹ thuật của đơn vị đã hạ quyết tâm tự đảm nhiệm công việc này. Kế hoạch tu bổ định kỳ năm 1991, năm không có sự giúp đỡ của chuyên gia kỹ thuật đã thành công tốt đẹp. Ngày 3 tháng 11, Lăng Bác vẫn như thường lệ, tiếp tục mở cửa đón đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác.

Một năm đầy biến động, những thử thách đầu tiên đã vượt qua. Tháng 3 năm 1992, được tin ông đại diện Trưởng cơ quan Thương mại Tổng cục Kỹ thuật Nga tại Việt Nam sẽ về nước. Trong thời gian làm việc tại Việt Nam, ông luôn dành sự quan tâm tình cảm đặc biệt cho công trình Lăng. Ông về nước là một thiệt thòi lớn cho đơn vị. Do đó, tranh thủ trước khi ông bàn giao công việc cho người kế nhiệm, ta đã đề nghị Bạn bàn giao toàn bộ số lượng dung dịch đang có cho đơn vị quản lý. Lượng dung dịch này tuy vẫn để ở Lăng song chuyên gia của Bạn vẫn quản lý hết sức chặt chẽ. Thực chất số dung dịch này là của Việt Nam vì Bạn đã giúp cho ta, ta phải quản lý. Nhưng vì Bạn giữ bí mật về công nghệ pha chế, nên Bạn không để ta cất giữ, Bạn vẫn tự quản lý theo một chế độ mật rất nghiêm ngặt. Nhờ có mối quan hệ tốt và với những lý lẽ chân tình, thuyết phục, đưa ra đúng thời điểm, ông đã báo cáo về Mát-xcơ-va và đã được sự đồng thuận để ông ký bàn giao. Đồng chí Trung tướng Trần Hanh – Phó Tổng Tham mưu trưởng được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi chỉ đạo công việc của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, sau khi dự lễ ký biên bản bàn giao giữa Bạn và đơn vị đã phát biểu: “Số lượng dung dịch Bạn bàn giao cho ta tuy không lớn, giá trị sử dụng của nó không nhiều, nhưng giá trị về nghiên cứu khoa học là rất lớn. Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng phải nhận thức rõ vấn đề này để tập trung nghiên cứu phát triển, nhất là trong thời điểm hiện nay”.

Thực hiện những điều khoản đã được thoả thuận của Hiệp định 1991 – 1995, đầu tháng 4 năm 1992, Ban Quản lý Lăng đã làm việc với “ROOSSVOOROUZHENIE”- Đại diện cơ quan Thương vụ sứ quán Liên bang Nga tại Hà Nội, về kế hoạch đặt hàng năm 1993, đồng thời đôn đốc thực hiện kế hoạch đặt hàng năm 1992. Ngay sau buổi làm việc, ta đã chuyển toàn bộ số tiền mua dung dịch, hoá chất vật tư đặc biệt và tiền lương trả cho chuyên gia y tế thường trực ở Lăng, cũng như các khoản chi cho Đoàn chuyên gia sẽ sang làm thuốc lớn cho thi hài Bác theo định kỳ vào cuối quý III, đầu quý IV. Như vậy, phần trách nhiệm của phía Việt Nam, ta đã thực hiện rất đầy đủ. Còn về phía Nga, theo chuyên gia thường trực ở Lăng thông báo lại, ngay từ đầu quý II, gia đình của chuyên gia đã không nhận được lương. Đồng chí Phó viện trưởng Iu.A. Rô-ma-cốp tổ trưởng cùng nhóm chuyên gia y tế sang tu bổ định kỳ năm theo kế hoạch cuối tháng 8 phải có mặt tại Việt Nam cùng với dung dịch và vật tư đặc biệt ta đã đặt hàng từ năm trước, vẫn không có tin tức gì. Đại diện cơ quan Thương vụ Nga tại Hà Nội cũng không giải thích được gì hơn ngoài hai từ “chờ đợi”. Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã cho kiểm tra toàn bộ vật tư hoá chất đặc biệt có đủ tiêu chuẩn sử dụng hiện có mà ta đang quản lý. Rất mừng là sau khi kiểm tra, lượng vật tư hoá chất đặc biệt đủ tiêu chuẩn sử dụng, đảm bảo đủ số lượng cần thiết cho làm thuốc lớn thi hài Bác. Cuộc họp Thường vụ Đảng ủy thảo luận và ra nghị quyết lãnh đạo đơn vị triển khai tu bổ định kỳ năm đã được triệu tập. Sau Hội nghị Thường vụ Đảng ủy, khi làm việc với hai đồng chí chuyên gia y tế thường trực đang có mặt tại đơn vị, hai đồng chí tỏ ý lo lắng và đề nghị ta lùi thời gian tu bổ chờ Đoàn chuyên gia do đồng chí Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp, Phó Giám đốc Trung tâm từ Mát-xcơ-va sang mới tiến hành. Ta đã trả lời và động viên Bạn: Tất cả các yếu tố đảm bảo cho tu bổ định kỳ đã sẵn sàng, kế hoạch thời gian tu bổ đã được cấp trên chuẩn y, duy nhất chỉ thiếu vắng Đoàn của Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp và thời gian nào Đoàn sang cũng chưa rõ, vì vậy chúng ta vẫn phải tiến hành theo kế hoạch. Đây cũng là dịp để hai đồng chí chuyên gia thường trực cùng cán bộ, bác sĩ Việt Nam thể hiện khả năng, trình độ chuyên môn của mình. Theo đúng kế hoạch đã định, ngày 3 tháng 9 năm 1992 Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu đóng cửa thời gian hai tháng để làm công tác tu bổ định kỳ.

Nhờ có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, được sự giúp đỡ nhiều mặt của các Bộ, ngành; kế thừa những thành quả nghiên cứu, kinh nghiệm được tích luỹ từ nhiều năm, phát huy ý chí tự lực tự cường, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị, nhiệm vụ tu bổ định kỳ năm ấy – Bộ đội Lăng đã hoàn thành xuất sắc. Thi hài Bác được chăm sóc đúng quy trình, máy móc thiết bị được bảo quản, bảo dưỡng chu đáo… Ngày 3 tháng 11, Lăng Bác lại tiếp tục mở cửa như thường lệ để đón đồng bào và khách nước ngoài vào Lăng viếng Bác.

Hai kỳ tu bổ lớn năm 1991 và năm 1992, thời kỳ không còn sự giúp đỡ về kỹ thuật cũng đã qua đi tốt đẹp. Thắng lợi bước đầu đó đã giải toả phần nào tâm trạng lo lắng và động viên, khuyến khích cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên Bộ đội Bảo vệ Lăng phấn đấu vươn lên. Nhưng còn biết bao khó khăn vẫn đang chờ phía trước. Sang đầu năm 1993 rồi mà dung dịch – hoá chất, yếu tố quyết định cho việc chăm sóc, giữ gìn lâu dài thi hài Bác vẫn chưa nhận được. Để chuẩn bị cho lần làm thuốc lớn tiếp theo, một ý tưởng táo bạo được đưa ra: Ban Quản lý Lăng nên tìm cách xây dựng mối quan hệ trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va, thay cho mối quan hệ thông qua con đường Nhà nước Nga như hiện nay. Nếu xây dựng được mối quan hệ trực tiếp, đơn vị sẽ có nhiều lợi thế để tranh thủ được sự giúp đỡ nhiều mặt của các nhà khoa học Nga – người thầy dạy, người bạn chí cốt đã nhiều năm giúp đỡ, gắn bó với ta. Nhưng việc xây dựng mối quan hệ trực tiếp, Nhà nước Nga có thể đồng ý không? Vì từ trước tới nay công nghệ giữ gìn thi hài lâu dài là bí mật Nhà nước, nên họ quản lý hết sức chặt chẽ. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Ban Quản lý Lăng đã làm việc với đồng chí Vũ Khoan, lúc ấy là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao để nắm bắt thêm tình hình Nga và xin ý kiến tư vấn trong xử lý mối quan hệ giữa ta và Nga lúc bấy giờ. Ngày 25 tháng 11 năm 1992, được phép của Thủ tướng Chính phủ, một đoàn cán bộ gồm bốn đồng chí: Thượng tá Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh; đồng chí Trung tá Vũ Văn Bình, Phó Viện trưởng Viện 69; đồng chí Đại uý Phạm Quốc Khánh, Đội trưởng Đội Thiết bị đặc biệt và đồng chí Thiếu tá Phạm Văn Quang, Trưởng ban Đối ngoại lên đường sang Mát-xcơ-va. Chuyến đi nhằm thực hiện một số nhiệm vụ:

– Thứ nhất, tìm mọi cách đưa dung dịch ta đặt hàng và đã thanh toán tiền cho phía Nga về nước, kịp chuẩn bị cho kỳ bảo dưỡng năm 1993. Thông qua mối quan hệ với các đồng chí chuyên gia đã từng sang làm việc tại Việt Nam, tìm mua bổ sung một số vật tư đặc chủng, đặc biệt là bóng đèn dùng cho hệ chiếu sáng quan tài kính, vì số lượng dự trữ trong kho của ta còn ít, mà lượng tiêu hao ở thời điểm ấy là quá lớn.

– Thứ hai, tìm hiểu nắm bắt thêm tình hình Nga để quyết định xây dựng mối quan hệ hợp tác theo hướng: Duy trì sự hợp tác thông qua con đường Nhà nước hoặc hợp tác trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va.

Chuyến đi diễn ra thuận lợi, vì trước đó đồng chí Phó Thủ tướng thường trực Phan Văn Khải đã điện cho Bộ Ngoại giao yêu cầu Bộ tạo mọi điều kiện giúp đỡ đoàn, nên khi đoàn vừa xuống sân bay đã được cán bộ của Đại sứ quán ta tại Mát-xcơ-va đón tiếp và đưa đoàn về nhà khách của Đại sứ quán ăn nghỉ. Về phía Trung tâm Nghiên cứu y sinh do được ta thông báo, đã cử đồng chí Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp ra đón. Ngay sớm ngày hôm sau, đồng chí Đại sứ Hồ Huấn Nghiêm đã có buổi làm việc với đoàn, thông báo một số tình hình ở Nga lúc bấy giờ. Đoàn cũng báo cáo với đồng chí Đại sứ về nhiệm vụ của đoàn trong chuyến đi và những khó khăn của nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác sau khi Liên Xô sụp đổ. Là người đã công tác ở Nga nhiều năm và làm việc ở Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (Bộ Kế hoạch đầu tư hiện nay), trên cương vị là Phó chủ nhiệm, đồng chí Hồ Huấn Nghiêm đã thông tin cho Đoàn nhiều điều bổ ích. Đồng chí còn cử đồng chí Nguyễn Văn Lâm, cán bộ của Sứ quán là đầu mối trực tiếp theo dõi giúp đỡ những công việc của Lăng sẽ đi cùng đoàn trong suốt thời gian đoàn làm việc với lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va. Trong đoàn, trừ đồng chí Trưởng ban Đối ngoại Phạm Văn Quang là người sang công tác ở Liên Xô trước đây đã tới cơ quan này, còn lại ba đồng chí đều là những người đầu tiên đặt chân tới những ngôi nhà mà một thời là khu vực “huyền bí”.

Sáng hôm sau đoàn chúng tôi đến Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va làm việc. Đồng chí Phó giáo sư, Tiến sĩ X.V. Tô-ma-xê-vích – Thư ký Hội đồng Khoa học của Trung tâm đã chờ sẵn để đón đoàn. Phó giáo sư, Tiến sĩ X.V. Tô-ma-xê-vích là một trong những chuyên gia từng sang Việt Nam tham gia giữ gìn thi hài Bác Hồ từ thời gian chiến tranh chống Mỹ. Sau ngày đưa Bác về Lăng đồng chí cũng đã nhiều lần sang làm việc. Mặc dù tất cả các đồng chí trong Đoàn đều quen biết, nhưng lần này gặp lại, mọi người cảm nhận thấy có một cái gì đó buồn buồn, pha chút e ngại, phải chăng vì một lý do duy nhất: “Liên Xô không còn nữa?”.

Đồng chí Phó giáo sư đưa Đoàn vào ngay phòng làm việc của Giáo sư, Viện sĩ Viện Hàn lâm y học Liên Xô X.X. Đê-bốp, Giám đốc Trung tâm. Tại đây đã tập trung đông đủ Phó giám đốc, Chủ nhiệm Khoa và các nhà khoa học đầu ngành, giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt của Trung tâm. Ai cũng vui mừng vì đã lâu mới có dịp gặp lại. Sau vài phút chào hỏi thân mật giữa hai bên, buổi làm việc bắt đầu. Mở đầu buổi làm việc, đồng chí Trưởng ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh thông báo cho Bạn về tình hình hoạt động của Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian có nhiều biến cố chính trị xảy ra trên thế giới. Những khó khăn của Lăng do phía Nga không thực hiện những điều khoản trong Hiệp định 1991-1995, nhất là Nga đã không gửi cho Lăng lượng hóa chất đặc biệt. Đồng thời một lần nữa khẳng định quyết tâm của Đảng và nhân dân Việt Nam là giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và luôn ghi nhớ công lao to lớn của các nhà khoa học Nga, trực tiếp là các nhà khoa học của Trung tâm đã tham gia giúp đỡ Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hơn 20 năm qua. Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của các nhà khoa học của Trung tâm, thông qua một bản hiệp định ký kết trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng với Trung tâm. Đồng chí dành nhiều thời gian phân tích nói rõ về bản hiệp định và hiệu quả sẽ mang lại cho hai bên. Sau nhiều giờ hai bên trao đổi, phía Bạn đều nhất trí cho rằng Trung tâm nên hợp tác trực tiếp với Ban Quản lý Lăng, có đồng chí còn cho rằng: Trung tâm hợp tác trực tiếp với Lăng không những chỉ giúp Việt Nam giữ được lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn góp phần giữ được hệ tư tưởng của Lê-nin; đồng thời Trung tâm có điều kiện thoát khỏi khó khăn hiện nay. Nhưng điều mà các nhà khoa học Nga đều băn khoăn rằng: Luật pháp Nga có cho phép họ làm như vậy không? Đồng chí Viện sĩ, Giám đốc Trung tâm sau những giây phút ngồi im lặng, trầm tư, liên tục đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, một loại thuốc lá Nga rất nặng, từ từ đứng lên nói: “Những ý kiến của đồng chí Trưởng ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa nói, những ý kiến của các nhà khoa học thảo luận, tôi đã rất chú ý lắng nghe, tôi không có ý kiến gì phản đối, bởi ai cũng thấy được nếu chúng ta ký hợp tác trực tiếp với Việt Nam thì cả hai bên sẽ cùng có lợi. Nhưng các đồng chí thông cảm cho tôi, năm nay tôi đã ngoài 70 tuổi, tôi không muốn trước khi từ biệt thế giới này, lại phải đứng trước vành móng ngựa…”. Cả phòng làm việc lặng đi…. và ngày làm việc đầu tiên đã tạm thời khép lại trong không khí nặng nề, căng thẳng.

Ngày làm việc tiếp theo, Đoàn tới cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Hiệp định 1991-1995 mà Nhà nước Liên Xô đã ký kết với Việt Nam. Họ chối bỏ trách nhiệm và không giải thích lý do tại sao họ không gửi hóa chất đặc biệt và mua vé máy bay cũng như trả tiền thuê chuyên gia sang công tác tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả các khoản chi phí này ta đã gửi thanh toán cho họ từ rất sớm. Đề cập tới những yêu cầu mới của ta, họ đưa ra lượng tiền ta phải hoàn trả rất lớn. Một không khí thiếu thiện chí bao trùm trong toàn bộ buổi làm việc, đó là kết luận của đoàn khi ra về. Bữa ăn tối của đoàn hôm ấy như thường lệ vẫn là mì tôm trộn với ruốc thịt lợn mang từ Việt Nam sang. Biết anh em trong đoàn làm việc căng thẳng, hai anh Vũ Văn Bình và Phạm Văn Quang đã xếp hàng mua bia và thêm ít củ hành tây thái nhỏ, chần lên ăn gọi là có chút bồi dưỡng thay rau, ai cũng khen ngon. Song không khí căng thẳng của buổi làm việc hôm ấy vẫn cứ ám ảnh và đều lo cho kết quả chuyến đi đầu tiên của đoàn tới Cộng hòa Liên bang Nga.

Những ngày tiếp theo, Bạn tổ chức cho đoàn tham quan toàn bộ cơ sở nghiên cứu, tiếp cận với những hồ sơ, tài liệu của Bạn đã nghiên cứu để giúp ta giữ gìn thi hài Bác Hồ. Anh em trong đoàn hình dung được phần nào khối lượng công việc đồ sộ với trình độ cao đã làm giúp chúng ta của các nhà khoa học ở Trung tâm. Đồng thời, Bạn cũng chỉ ra cho ta: Trong thời gian tới sẽ có biết bao việc phải làm. Tư tưởng chỉ đạo “Hợp tác trực tiếp với Bạn” là bước đi đúng đắn lại trở về trong đầu óc mỗi người trong đoàn.

Theo kế hoạch, ngày làm việc cuối cùng của đoàn tại Trung tâm đã đến. Đồng chí Trưởng ban Quản lý Lăng một lần nữa lại nêu lên vấn đề về cơ chế hợp tác giữa Lăng và Trung tâm, nhưng cũng như các lần thảo luận trước đây, đồng chí Viện sĩ Giám đốc vẫn nêu lý do để từ chối. Cuộc thương thảo đang vào ngõ cụt thì đồng chí Viện sĩ V.A. Bư-cốp, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sản xuất thảo dược, là Thủ trưởng trực tiếp của Trung tâm nghiên cứu y sinh tới. Đồng chí Viện sĩ Giám đốc X.X. Đê-bốp giới thiệu Đoàn với Viện sĩ và báo cáo những kết quả làm việc, những vướng mắc hội nghị đang gặp phải. Đồng chí Viện sĩ, Giám đốc V.A. Bư-cốp sau khi nghe, nắm được nguyện vọng của ta đã trả lời rằng: “Luật pháp Nga hiện đã cho phép. Các đồng chí nên thương thảo ký một hiệp định quan hệ trực tiếp với Việt Nam”. Sau lời phát biểu của đồng chí Giám đốc, mọi người ai nấy đều vui mừng phấn khởi, vì đó cũng là nguyện vọng chân thành của cả hai Đoàn. Giáo sư, Viện sĩ V.A. Bư-cốp đã từng giữ chức Bộ trưởng Công nghiệp Dược trong Chính phủ Liên Xô. Khi Liên Xô cải tổ, ông về làm Giám đốc Viện Nghiên cứu sản xuất thảo dược. Là một con người hiểu biết rộng, năng động và quyết đoán, ông đã giúp cho Đoàn cán bộ của Ban Quản lý Lăng và Trung tâm khai thông được bế tắc. Những năm sau này, khi Giáo sư, Viện sĩ X.X. Đê-bốp qua đời, ông đã kiêm nhiệm chức Giám đốc Trung tâm. Sự chỉ đạo tài ba của ông trong hợp tác nghiên cứu khoa học giữa đơn vị với các nhà khoa học của Trung tâm đã đem lại những hiệu quả to lớn.

Theo ý kiến của Giáo sư, Viện sĩ V.A. Bư-cốp, ngày hôm sau Trung tâm đã soạn xong một bản thỏa thuận hợp tác trực tiếp giữa hai bên đến năm 1995, các bản hợp đồng và những bản bổ sung để hai bên thảo luận.

14 giờ ngày 28 tháng 12 năm 1992 tại phòng làm việc của Trung tâm, lễ ký kết Bản thỏa thuận hợp tác trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va đã được tiến hành. Sự kiện này đã mở đầu cho một thời kỳ mới – Thời kỳ vượt qua khó khăn thử thách để tiếp tục phát huy cao độ ý chí tự lực tự cường, từng bước tiến tới làm chủ khoa học công nghệ phục vụ cho nhiệm vụ trọng đại, thiêng liêng của dân tộc: Giữ gìn lâu dài và tốt nhất thi hài Bác Hồ kính yêu.

Hiệp định Liên Xô giúp đỡ Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1991- 1995 nay đã lùi xa, nhường chỗ cho một thỏa thuận hợp tác trực tiếp giữa Trung tâm nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va và Ban Quản lý Lăng đến nay đã tròn 14 năm, nhưng những ngày sóng gió đầy khó khăn thử thách của những năm đầu của thập kỷ cuối cùng thế kỷ XX vẫn in đậm trong tôi- Người được giao nhiệm vụ giữ chức Trưởng Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh- mãi mãi không bao giờ quên.

Tôi viết bài viết này đúng vào dịp kỷ niệm 14 năm hợp tác trực tiếp giữa ta và Bạn. Nhân dịp này tôi xin phép được dành những tình cảm đặc biệt, lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sư, Viện sĩ X.X. Đê-bốp, người đã cùng tôi ký Bản thoả thuận có tính chất mở đầu cho một thời kỳ mới. Rất tiếc là nguyện vọng của ông muốn trở lại Việt Nam một lần nữa đã không thực hiện được vì lý do sức khoẻ và sau đó mấy năm ông đã qua đời. Các Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp, Giáo sư I.N. Mi-khai-lốp, L.Đ. Giê-rép-xốp, những người tích cực ủng hộ cho một thỏa thuận về quan hệ trực tiếp cũng đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhân dân Việt Nam nói chung và trực tiếp là Bộ đội Bảo vệ Lăng luôn biết ơn các đồng chí. Những thành quả của những tháng năm sau này gặt hái được mãi mãi gắn với tên tuổi của các đồng chí.

Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn
Nguyên Trưởng Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh – Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Nhớ về ban “quản lý xây dựng công trình cơ bản”

Những ngày đầu mới thành lập, cơ sở làm việc và nơi ăn ở tập thể của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gặp rất nhiều khó khăn vất vả. Khối cơ quan Bộ Tư lệnh làm việc trong một không gian với diện tích hẹp tại khu vực số 1 – phố Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. Chiều chiều, sau giờ thể thao từ Tư lệnh đến người chiến sĩ khối cơ quan đều “hoà mình” trong một nhà tắm chung. Một phần cơ quan và khối các đơn vị ở tại khu vực phía sau Lăng. Doanh trại bộ đội là khu lán trại tạm của công trường xây dựng công trình Lăng bàn giao lại. Vào những trưa hè nóng bức, các mái tôn thi nhau toả nhiệt nóng hầm hập như thử thách, tôi luyện thêm sức trẻ của những người chiến sĩ. Nhưng niềm vinh dự, tự hào được sống và làm việc tại Lăng Bác đã động viên, khích lệ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ nhanh chóng ổn định mọi mặt để tập trung hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt.

Sau 8 năm tu sửa, xây dựng nhà cửa, nơi làm việc đã có sự đổi thay khang trang hơn nhiều so với trước. Đến cuối năm 1983, đơn vị nhận được Chỉ thị số 300/CT ngày 18 tháng 11 năm 1983 do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười ký yêu cầu giải phóng mặt bằng để xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Nội dung Chỉ thị nêu rõ: “Đối với các nhà ở tập thể, nhà làm việc, nhà kho của Ban phụ trách quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình và khu Đa Minh (cần cải tạo để làm thêm chức năng khu tập kết) thì Bộ Xây dựng có trách nhiệm làm thủ tục xin Nhà nước vốn đầu tư, thiết kế và xây dựng phù hợp với tiến độ xây dựng Bảo tàng; Ban phụ trách Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình có trách nhiệm đề xuất yêu cầu sử dụng, xin cấp đất, di chuyển theo tiến độ”, đồng thời giao cho Bộ Xây dựng tổ chức xây dựng khu Hậu cần – kỹ thuật gồm: 1 nhà kho, 1 nhà xưởng, 1 nhà gara xe đặc chủng, 3 nhà gara xe tải, xe con và 1 nhà quản lý điều hành 4 tầng tại khu Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa với diện tích 1,3 hécta để đền bù cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng.

Việc giải phóng mặt bằng để xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh đòi hỏi rất khẩn trương để kịp khánh thành đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người (19- 5- 1990). Trong khi đó, việc giải phóng mặt bằng ở khu vực Hào Nam vẫn dậm chân tại chỗ. Hợp tác xã nông nghiệp Hào Nam chưa nhất trí bàn giao mặt bằng vì vị trí này là ao rau muống và hồ thả cá, đây là nguồn sống chính của bà con xã viên. Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã yêu cầu nếu giao đất thì đơn vị phải nhận và giải quyết công ăn việc làm cho ít nhất 50 con em xã viên. Chính vì khó khăn đó mà từ năm 1984 đến 1987, Bộ Xây dựng mà trực tiếp là Ban Quản lý công trình xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh không thể xây dựng khu hậu cần- kỹ thuật để bàn giao cho đơn vị theo đúng kế hoạch được.

Nhiệm vụ ổn định nơi ăn ở của bộ đội lúc này đặt ra hết sức cấp thiết. Thường vụ, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này. Trước tiên là phải thành lập một bộ phận chuyên trách để tham mưu, giúp việc. Vậy là tháng 12 năm 1986 Bộ Tư lệnh đã quyết định thành lập lâm thời Ban Quản lý công trình xây dựng cơ bản. Thành viên trong Ban mới đầu chỉ có 3 đồng chí: Trung tá, Kỹ sư xây dựng Trần Quốc Dân, Đoàn trưởng Đoàn 295 – Trưởng ban; Thượng uý, Kỹ sư xây dựng Bùi Việt Dũng, Trưởng ban Doanh trại Phòng Hậu Cần – Phó trưởng ban và Thượng uý, Kỹ sư xây dựng Hoàng Cao Thắng – Trợ lý Kỹ thuật.

Trong những buổi đầu, Ban Quản lý công trình xây dựng cơ bản luôn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, trực tiếp là đồng chí Nguyễn Văn Tưởng, Phó Tư lệnh- Tham mưu trưởng. Nhiệm vụ đầu tiên của Ban là tiếp nhận, quản lý xây dựng khu Hậu cần – kỹ thuật tại Hào Nam.

Nhận thấy rõ “vạn sự khởi đầu nan”, anh em trong Ban đã khẩn trương tiếp nhận, nghiên cứu Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Hồ sơ quy hoạch thiết kế kỹ thuật khu hậu cần – kỹ thuật Hào Nam từ Ban Quản lý công trình xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Mỗi người một việc, toả xuống nắm tình hình, đồng thời tuyên truyền vận động xã viên, thuyết phục Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ đơn vị. Công sức của anh em đã được đền đáp. Hợp tác xã Hào Nam đồng ý để đơn vị thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng theo quy định của Nhà nước. Điều mà từ 4 năm trước đây Ban quản lý công trình xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh không thực hiện được.

Liên tục trong thời gian này, toàn công trình xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh tiến hành rất khẩn trương, sôi nổi, đặt ra nhiệm vụ giải phóng mặt bằng khu vực sau Lăng Bác của đơn vị ngày một đến gần. Bài toán tiếp theo là đảm bảo nơi ở cho các đơn vị Đoàn 195, Đoàn 295, Đoàn 275 – lực lượng chủ yếu của Bộ Tư lệnh và nhu cầu nhà ở để ổn định hậu phương gia đình cho hàng trăm cán bộ, công nhân viên.

Sau khi Thiếu tướng Lương Soạn qua đời (tháng 6 năm 1987), đồng chí Nguyễn Văn Tưởng được giao quyền Tư lệnh. Là người chủ trì đơn vị, đồng chí tiếp tục chỉ đạo và giao nhiệm vụ: “Ban quản lý công trình xây dựng cơ bản phải tham mưu, giúp Bộ Tư lệnh liên hệ, xin đất ở khu vực Hà Nội với tổng diện tích đất khoảng 2 hécta, có thể ở vài ba vị trí khác nhau, nhưng gần đơn vị để quản lý, chỉ huy và điều hành công việc được thuận lợi”.

Nhiệm vụ “tìm đất” thật là khó khăn. Nhưng anh em trong Ban đều nhận thức được đây là chủ trương lớn của Đảng ủy, của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, là yêu cầu để xây dựng đơn vị chính quy và là cơ sở để thực hiện công tác chính sách hậu phương quân đội.

Ban đầu chúng tôi tìm đến Hợp tác xã Hoa rau Ngọc Hà vì ở đó Bộ Tư lệnh đang có một khu tập thể gia đình ở Đại Yên nhưng không tìm được ví trí đất đáp ứng yêu cầu. Chúng tôi lại đến Hợp tác xã Thành Công (nơi đã giải quyết cho đơn vị đất năm 1983 để làm nhà ở gia đình K8) nhưng chỉ còn những mảnh đất nhỏ, lẻ không đáng kể.

Hành trình tiếp tục đưa chúng tôi về phía Tây thành phố. Ở khu vực Cống Vị còn nhiều hồ ao rộng, nhưng không biết thuộc địa phận phường nào quản lý? Sau nhiều ngày tìm hiểu, chúng tôi đã nắm được những thông tin cần thiết. Chủ sở hữu những ao hồ đó là của Hợp tác xã Hoa rau Cống Vị. Trong đầu anh em lại vẳng vẳng câu hỏi: “của hợp tác xã”, “lại liên quan đến cơm áo gạo tiền của bà con xã viên”? Chúng tôi tìm đến với Ban chủ nhiệm hợp tác xã. Qua liên hệ ban đầu, chúng tôi đã thấy ở khu vực này có đủ diện tích đáp ứng với yêu cầu của đơn vị.

Kế hoạch thứ tự các công việc liên hệ xin đất được đặt ra. Bước đầu chúng tôi báo cáo và được đồng chí Tư lệnh hết sức khen ngợi. Đồng chí chỉ đạo mời Ban chủ nhiệm Hợp tác xã Hoa rau Cống Vị về Lăng viếng Bác và thăm đơn vị để Thủ trưởng Bộ Tư lệnh trao đổi trực tiếp. Buổi gặp gỡ tuy ngắn ngủi nhưng thắm tình quân dân cá – nước. Ban Chủ nhiệm hợp tác xã đã nhất trí cao về phương án đền bù, bàn giao mặt bằng, mà không đi kèm với yêu cầu phải giải quyết công ăn việc làm cho con em xã viên như ở Hào Nam trước đây. Bước đầu thành công, cần phải khẩn trương chuẩn bị hồ sơ, luận chứng kinh tế kỹ thuật để báo cáo đề nghị thành phố Hà Nội xin thủ tục cấp đất và báo cáo Hội đồng Bộ trưởng xin kinh phí đầu tư xây dựng.

Một buổi trưa mùa hè năm 1987, chúng tôi mời đồng chí Nguyễn Quyết Chí, chuyên viên Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (hiện nay là Vụ trưởng Văn phòng Chính Phủ) đi khảo sát khu vực. Chiếc xe com-măng-ca đưa chúng tôi từ đường Kim Mã rẽ phải xuống một khu đất mới cấp cho Đại sứ quán Liên Xô để xây dựng Trung tâm nghiên cứu hợp tác văn hoá khoa học kỹ thuật vừa được san lấp xong (hiện nay chính là khu vực Đại sứ quán Nhật Bản và bãi đỗ xe Ngọc Khánh) xe bị batinê dừng tại chỗ. Rảo bước chân trên nền cát nóng bỏng, tôi báo cáo với anh Chí về hai vị trí đất mà đơn vị sẽ xin. Nhìn thấy hai hồ nước mênh mông, anh Chí nói vui: “Bộ Tư lệnh Lăng xin để thả cá à ?”. Cả đoàn cùng cười, biết như vậy là anh đã nhất trí ủng hộ.

Hơn một năm bám sát Phòng Quản lý quy hoạch – Uỷ ban xây dựng cơ bản Hà Nội và được sự ủng hộ của Kiến trúc sư Trương Tùng, lúc đó là Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, kiêm Phó trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi đã hoàn tất thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng, lập luận chứng kinh tế kỹ thuật được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt và được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định cấp hai khu đất ở X1 và X2 Cống Vị, với diện tích hơn 13 ngàn mét vuông cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau 4 năm khẩn trương thi công, từ năm 1988 đến 1991 khu hậu cần – kỹ thuật Hào Nam đã xây dựng xong. Các khu nhà kho, nhà xưởng, nhà gara xe, trạm xăng dầu, trạm biến thế điện và nhà quản lý điều hành khang trang bề thế, kịp thời phục vụ các hoạt động của đơn vị. Còn khu vực X1, X2 Cống Vị đến năm 1992 cũng đã xây dựng xong. Những ngôi nhà chiêu đãi sở, trạm xá, nhà ở gia đình; nhà khách; nhà ăn, nhà ở tập thể với tổng diện tích xây dựng hàng chục ngàn mét vuông, kịp thời phục vụ việc giải phóng mặt bằng cho Đoàn 195, Đoàn 295 mà không ảnh hưởng tới kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị. Đồng thời đón tiếp 54 gia đình cán bộ, công nhân viên về ở khu tập thể.

Với chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng uỷ Đoàn 969, Bộ Tư lệnh và Ban Quản lý Lăng, được sự quan tâm chỉ đạo của Hội đồng Bộ trưởng, sự giúp đỡ của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, chỉ trong 6 năm (từ năm 1987 đến năm 1992) chúng ta đã có các cơ sở kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị đặc biệt, có địa điểm ổn định làm cơ sở để xây dựng doanh trại, nơi ăn ở của bộ đội ngày càng khang trang và góp phần giải quyết chính sách, ổn định hậu phương cho cán bộ, công nhân viên của đơn vị.

Tháng 12 năm 1992 Ban Quản lý công trình xây dựng cơ bản đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các cán bộ, nhân viên trong Ban tiếp tục được phân công về các cơ quan, đơn vị nhận nhiệm vụ mới. Năm tháng đã qua, nhưng mỗi lần nghĩ lại hành trình đi tìm đất giữa thủ đô Hà Nội của Ban là hình ảnh cố Tư lệnh Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng lại hiện về rất rõ trong tâm trí tôi.

Đại tá Bùi Việt Dũng
Trưởng ban Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình

bqllang.gov.vn

Người dẫn đầu cuộc hành quân rèn luyện

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975- 30/4/1985), Đoàn thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức phong trào “Hành quân thần tốc, quyết thắng” nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và rèn luyện thể lực cho cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ: “giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Cuộc hành quân được tổ chức vào một buổi tối, đầu hè trời nóng nực, oi ả. Toàn bộ đoàn viên thanh niên tập trung tại sân Đoàn 275, được tổ chức thành hai cánh quân: Đoàn viên thanh niên Đoàn cơ sở 275 là cánh quân thứ nhất; cánh quân thứ hai là lực lượng đoàn viên thanh niên của các cơ quan, đơn vị còn lại. Thời gian xuất phát là 20 giờ, yêu cầu hành quân đúng đường quy định, bảo đảm nhanh, an toàn tuyệt đối về người và vũ khí trang bị.

Lệnh hành quân chuẩn bị được tuyên bố. Thật bất ngờ, Trực ban nội vụ của Đoàn thông báo: Thiếu tướng Lương Soạn- Tư lệnh và Thủ trưởng các cơ quan Bộ Tư lệnh cùng tham gia cuộc hành quân. Mọi người rất ngạc nhiên. Đồng chí Lương Soạn là một cán bộ lãnh đạo cao cấp đứng đầu Bộ Tư lệnh, với bao bộn bề công việc quan trọng, tuổi tác so với chúng tôi cao hơn rất nhiều, vào bậc cha chú. Nhưng nhìn kìa, Tư lệnh và các cán bộ cơ quan ai cũng vai mang nặng trĩu chiếc ba lô. Có lẽ các Thủ trưởng cũng đã biết được yêu cầu của cuộc hành quân là ngoài vũ khí trang bị, thì chiếc ba lô phải đủ trọng lượng tối thiểu là 30kg.

Trước hàng quân, Tư lệnh Lương Soạn dõng dạc tuyên bố: “Tư lệnh sẽ dẫn đầu cánh quân thứ nhất. Đồng chí Hoàng An, Phó Tham mưu trưởng về quân sự dẫn đầu cánh quân thứ hai. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hành quân theo đội hình để động viên, giúp đỡ đoàn viên thanh niên”.

Đây là cuộc hành quân đầu tiên của chúng tôi- Những cán bộ, chiến sĩ là đoàn viên, thanh niên còn rất trẻ cùng với một vị tướng dầy dạn kinh nghiệm, vì vậy ai cũng thấy vinh dự, bồi hồi, háo hức, nhiệt tình hăng hái muốn thể hiện sức trẻ của mình, vượt lên đi thật nhanh. Nhưng sự háo hức đó không được lâu, chỉ chừng 15 phút sau là bắt đầu biểu hiện của sự uể oải, tốc độ chậm dần, không thể so sánh được với sức vóc cao lớn, vạm vỡ của một vị tướng đã ngoài 60 tuổi, vẫn bền bỉ dẻo dai, phong độ và dầy dạn kinh nghiệm của hơn 40 năm hoạt động cách mạng, xông pha trận mạc. Với phẩm chất phong cách sôi nổi, nhiệt tình, chất phác, rất tình cảm và dễ gần, vừa hành quân, Tư lệnh vừa kể lại cho chúng tôi nghe về truyền thống cách mạng của quê hương Quảng Nam, về hoàn cảnh gia đình và quá trình giác ngộ, tham gia hoạt động cách mạng của mình.

Như được thể, chúng tôi thi nhau đưa ra những câu hỏi: “Thủ trưởng quê ở vùng nào của Quảng Nam ạ?”; “Quê của Thủ trưởng có vất vả nghèo khó không?”; “Truyền thống anh hùng bất khuất trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của quê hương đất Quảng như thế nào ạ?”.

Với chất giọng miền Trung đầm ấm, sôi nổi, đồng chí Lương Soạn kể: Quê của mình ở xã Tam Hải, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, là một xã ven biển miền Trung có phong cảnh rất đẹp, người dân quê mình sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, đánh bắt gần bờ vì không có phương tiện đi xa, nên cuộc sống vô cùng lam lũ, khó khăn vất vả. Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên mình chỉ được học hết lớp ba, rồi phải đi ở, làm thuê cho địa chủ để giảm bớt khó khăn cho cha mẹ, mặc dù rất chăm chỉ lao động, xong mình vẫn bị chủ nhà ngược đãi. Không chịu đựng được mình đã bỏ về nhà và không cần nhận lại tiền công (là một cái áo vỏ sui tính công của cả năm đi ở cho gia đình địa chủ).

Khi về nhà, tuy còn nhỏ nhưng mình rất tích cực tham gia phụ giúp gia đình những việc phù hợp, mà vẫn không hay biết cha mẹ và các anh, chị đang tham gia hoạt động cách mạng và nuôi giấu cán bộ cách mạng trong nhà. Bản thân chỉ cảm nhận và luôn thắc mắc là: “Tại sao hàng ngày cả nhà mình vẫn luôn ăn một món khoai luộc, trong khi đó cha mẹ vẫn nấu cơm và đem vào trong buồng kín cho ai đó?”. Tò mò trước việc chưa rõ, cùng cảm nhận những việc làm của cha mẹ và các anh, chị trong nhà, trực giác chủ quan về sự bất công của thực dân Pháp, sự bóc lột thậm tệ của tầng lớp địa chủ cường hào, nên mình đã có một hành động khá “liều”. Hôm đó, mình đã bất ngờ chạy thẳng vào trong buồng và tận mắt nhìn thấy các đồng chí cán bộ đang in ấn tài liệu, truyền đơn cách mạng, mọi thắc mắc được giải toả, mình chính thức biết được những việc làm của cha, mẹ, các anh, chị trong gia đình đang hoạt động và nuôi giấu cán bộ cách mạng.

Cũng từ đó, nhận thấy sự giác ngộ của mình, tổ chức đã thử thách và giao cho mình một số công việc như: canh gác, phục vụ, làm liên lạc cho tổ chức. Sau thời gian giao việc, thử thách thấy đáp ứng được yêu cầu, đến năm 1942 tổ chức đã chính thức công nhận và giao nhiệm vụ cho làm bảo vệ, làm liên lạc cho các đồng chí cán bộ và cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Nam hoạt động bí mật, tham gia thu gom vật liệu, in ấn, chuyển tài liệu mật cho tổ chức cách mạng của tỉnh tại địa phương.

Sau này, chúng tôi được biết quê hương đồng chí Lương Soạn là một vùng quê ven biển nghèo khó nhưng giàu truyền thống văn hoá, yêu nước, cách mạng. Các cụ thân sinh ra đồng chí Lương Soạn cũng thuộc tầng lớp nông dân nghèo, nhưng đã sớm giác ngộ cách mạng, là cơ sở nuôi dấu cán bộ cách mạng của Đảng và cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Nam, có đồng chí trưởng thành, là cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước như đồng chí Võ Chí Công – Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bản thân đồng chí Lương Soạn được giáo dục, nuôi dưỡng và ảnh hưởng trực tiếp từ truyền thống cách mạng của địa phương, gia đình, khí tiết cách mạng của các đồng chí cán bộ lão thành, cùng nỗ lực chủ quan của bản thân nên đã sớm giác ngộ, nhiệt tình tham gia cách mạng.

Khí thế sôi nổi của cuộc hành quân cũng như tình cảm của đồng chí Lương Soạn đã làm cho chúng tôi mạnh dạn thoải mái hơn. Một chiến sĩ trẻ măng, mồ hôi ướt đầm bước nhanh về phía Tư lệnh hỏi nhỏ: “Thưa Tư lệnh, Tư lệnh hãy kể cho chúng tôi nghe một kỷ niệm về những năm tháng tuổi trẻ hoạt động được không ạ?”.

Sau một lát suy nghĩ, Tư lệnh tiếp tục câu chuyện: “Tháng 10 năm 1943 vừa tròn 20 tuổi, mình đã chính thức thoát ly gia đình tham gia hoạt động trong Đội du kích Vũ Hùng. Không quản ngại gian khổ, hy sinh, bản thân luôn hăng hái rèn luyện phấn đấu trở thành Đội phó, chỉ huy Đội tham gia nhiều trận đánh. Tháng 8 năm 1945, mình trực tiếp chỉ huy Đội tham gia cướp chính quyền tại huyện Quế Sơn – tỉnh Quảng Nam. Sau này Đội du kích Vũ Hùng đã trở thành huyền thoại lịch sử truyền thống trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành chính quyền năm 1945 của tỉnh Quảng Nam. Đến tháng 9 năm 1945, mình tình nguyện nhập ngũ phục vụ Quân đội nhân dân Việt Nam, tháng 7 năm 1946, mình vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Mình đã được trực tiếp tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường với nhiều cương vị khác nhau.

Kỷ niệm thì nhiều, nhưng chuyện gian nan, khó khăn vất vả đáng nhớ nhất là chuyện bị thương của mình. Trong khi chiến đấu ở chiến trường Kon Tum, tại một trận đánh Đồn Mang Đen, một cứ điểm phòng ngự kiên cố của quân Pháp, bộ đội ta đã tổ chức xung phong nhiều đợt nhưng chưa tiến vào được bên trong để tiêu diệt hoàn toàn quân địch, quân số lại bị thương vong bất lợi cho ta, nên chỉ huy phải quyết định rút ra ngoài, tổ chức trinh sát, nghiên cứu kỹ xây dựng nhiều phương án, tập luyện, giáo dục tư tưởng và chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, hạ quyết tâm chiến đấu và chiến thắng cho đợt tập kích tấn công địch. Lần này, mình được giao trực tiếp chỉ huy một hướng, theo đúng như hợp đồng chiến đấu, khẩu lệnh phát ra đơn vị đồng loạt nổ súng, trận chiến đấu nhanh chóng giành thắng lợi. Trong khi đang chỉ huy bộ đội tiếp tục truy kích tàn quân địch và củng cố, thu dọn trận địa thì một ổ hoả lực phía sau của địch chưa bị tiêu diệt bỗng nhiên bắn ra xối xả, làm mình bị trọng thương. Một vết thương xuyên qua bụng, một vết thương ở tay. Câu chuyện bị thương của mình có những tình tiết rất ly kỳ, chỉ những người trong cuộc, đã từng trực tiếp trải qua chiến đấu mới thấu hiểu hoàn cảnh, sự ác liệt của chiến tranh và tin sự việc đó là thật, còn chưa biết mà chỉ mới nghe kể lại như các cậu thì cứ như chuyện cười của lính.

Vết thương ở bụng của mình rất nặng, ruột lòi ra ngoài, mất nhiều máu, trong khi bông băng có hạn nên quân y đã phải lấy một cái bát ăn cơm úp vào vết thương, rồi dùng một cái khăn quàng nối cùng với băng cuốn chặt bụng cầm máu và giao cho hai chiến sĩ cứu thương đưa mình về quân y tuyến sau điều trị. Khi chuyển đi phải băng qua rừng rậm. Đang đi tổ cứu thương nghe thấy tiếng ào ào của một đàn voi rừng đang tiến về hướng chúng mình. Tình huống thật bất ngờ, nếu đi tiếp thì không được, mà quay lại cũng không kịp. Chỉ cần gây ra tiếng động nhỏ làm cho đàn voi chú ý thì sẽ rất nguy hiểm cho cả Tổ. Trên cương vị chỉ huy, ít nhiều cũng có kinh nghiệm, lại đang bị thương nặng nên mình đã ra lệnh cho hai chiến sĩ để mình lại và chạy tránh voi. Mình nằm lại, nín thở, chờ đợi, nếu có bị đàn voi tấn công thì một mình mình chết. Nhưng thật là may, đột nhiên đàn voi chẳng hiểu vì sao lại chuyển sang hướng khác. Đến khi khu rừng trở lại yên tĩnh, hai chiến sĩ cứu thương quay lại tìm, gặp nhau chúng mình rất cảm động, ôm chầm lấy nhau mà khóc, mừng cho sự may mắn sống sót của mình, rồi tiếp tục cuộc hành trình đưa mình về trạm quân y điều trị kịp thời.

Sau này trong một lần (vào khoảng năm 1983-1984) trên đường từ nhà (làng Trích Sài- Bưởi) đi làm qua đường Hoàng Hoa Thám mình đã tình cờ nhận ra một trong hai người chiến sĩ năm xưa cáng mình đi cấp cứu, đó chính là ông già Giáng chuyên chở bia cho các cơ quan Trung ương ở Hà Nội, mà mọi người trong cơ quan vẫn thường quen gọi là “Ông già bia”. Hai người gặp và nhận ra nhau thật bất ngờ nhưng vô cùng cảm động, chúng mình lại ôm chầm lấy nhau rưng rưng nước mắt như ngày nào cách đây đã 30 năm trong rừng già Tây Nguyên. Từ đó về sau chúng mình vẫn thường xuyên qua lại thăm hỏi nhau và ôn lại những kỷ niệm xưa. Ông già Giáng còn tặng lại mình chiếc khăn ngày trước đã dùng băng bó vết thương cho mình mà ông vẫn giữ được làm kỷ niệm”.

Câu chuyện về quá trình tham gia hoạt động cách mạng và những kỷ niệm sâu sắc của đồng chí Thiếu tướng Lương Soạn là bài học bổ ích cho quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi chúng tôi, mà ngay khi đó đã làm cho chúng tôi quên đi cái nóng nực và mọi sự mệt nhọc. Quãng đường hành quân như ngắn lại, câu chuyện chưa hết thì chúng tôi đã về tới Đoàn 275 an toàn, đầy đủ về người, vũ khí trước giờ quy định 10 phút và sớm hơn cánh quân thứ hai của đơn vị. Chúng tôi ai nấy đều phấn khởi, vui vẻ trở về đơn vị nghỉ ngơi và chuẩn bị cho công việc mới trong trạng thái khâm phục, kính trọng người lãnh đạo, chỉ huy đứng đầu một đơn vị nhưng rất đức độ, dễ gần và hăng say, nhiệt tình với công việc, với phong trào quần chúng, nhất là thế hệ trẻ mà Tư lệnh luôn yêu quý và tin cậy.

Đại tá Cao Đình Kiếm
Phó Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong những năm 1981-1989

Mùa đông năm 1980, từ rừng núi Cao Mê Lai ở biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan, tôi nhận được quyết định của Bộ Quốc phòng điều động về Đoàn 969 công tác. Khoác ba lô về Cục Chính trị Quân khu 7, gặp đồng chí Đại tá Tám Hòa – Chủ nhiệm Chính trị Quân khu, tôi hỏi: “Thưa đồng chí Cục trưởng, Đoàn 969 là đơn vị nào?”.

Đồng chí Tám Hòa tươi cười nói: “Đồng chí Viện rất vinh dự được trên điều động về Đoàn 969 là đơn vị Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Nghe Chủ nhiệm Chính trị nói vậy, tôi muốn reo lên vì vui sướng. Thế là, sau những tháng năm tham gia cuộc hành quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, với 14 năm ở chiến trường miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, nay tôi được về làm người lính cận vệ Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, có vui sướng nào hơn. Đây là một phần thưởng vô giá đối với tôi.

Bồi hồi nhớ lại, khi công tác ở địa phương, là đại biểu Quốc hội khoá II, tôi có vinh dự được 11 lần gặp Bác Hồ. Ấn tượng nhất là 2 lần được chụp ảnh với Bác và 1 lần được Bác hỏi chuyện. Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tôi được Ban Bí thư Trung ương Đảng gửi giấy mời về dự. Buổi sáng hôm khai mạc Đại hội, giờ giải lao thấy Bác nói chuyện với mọi người ngoài hành lang, tôi cố len vào trong để được đứng gần Bác, được nghe Bác nói chuyện và được nhìn thấy Bác rõ hơn. Sau khi nói chuyện với đồng chí Nguyễn Lam – Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Bác nói: “Chú Lam chọn cho bác một cháu trai, một cháu gái trẻ tuổi nhất là công nhân, nông dân đến chụp ảnh với Bác”. Thật không ngờ, tôi lúc ấy mới 25 tuổi và chị Len là công nhân Nhà máy Xi măng Hải Phòng được chọn chụp ảnh chung với Bác.

Về công tác tại Đoàn 969, tôi được giao nhiệm vụ làm Trưởng ban Tổ chức. Với kinh nghiệm tích luỹ trong những năm làm công tác đảng, công tác chính trị, tôi hiểu rằng công tác tổ chức xây dựng Đảng, trực tiếp là xây dựng tổ chức cơ sở Đảng giữ một vị trí vai trò đặt biệt quan trọng.
Vào những năm 1980 – 1981, tổ chức của đơn vị tiếp tục được hoàn chỉnh. Bộ Quốc phòng xét thấy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong cơ cấu tổ chức của Binh đoàn 32 không hợp lý, nên đã quyết định đơn vị trở thành một đầu mối trực thuộc Bộ. Cơ cấu tổ chức của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng gồm: Các cơ quan, đơn vị và các ban trực thuộc. Nhưng lúc này ở Đảng bộ Đoàn 969 vẫn tổ chức thành 2 cấp: Cấp Đảng bộ Đoàn 969 (tức là cấp Bộ Tư lệnh) và cấp liên chi bộ các cơ quan, liên chi bộ các đơn vị. Hệ thống tổ chức Đảng như vậy không phát huy được sức mạnh lãnh đạo, chỉ huy, quyền chủ động và trách nhiệm ở cấp phòng, đoàn, ban trực thuộc.

Căn cứ vào Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IV) và tình hình cụ thể của Đảng bộ, đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt, tổ chức mang tính đặc thù, tôi cùng anh em trong Ban Tổ chức tham mưu cho Phòng Chính trị báo cáo với Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh và xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của Cục Tổ chức – Tổng cục Chính trị về kế hoạch củng cố hệ thống tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ.

Được cấp trên đồng ý, Thường vụ Đảng ủy đề ra kế hoạch cụ thể cho từng bước đi, từ làm điểm đến mở rộng. Từng ban, đội thành lập chi bộ; từng phòng và Viện 69 thành lập đảng bộ cơ sở, mỗi đảng bộ có từ 4 đến 6 chi bộ và tổ chức bầu đảng ủy (gồm 5 uỷ viên, có bí thư và phó bí thư). Chi bộ Ban Cán bộ sinh hoạt trong Đảng bộ Phòng Chính trị; Chi bộ Ban Đối ngoại sinh hoạt trong Đảng bộ Văn phòng; Chi bộ Ban Tài chính sinh hoạt trong Đảng bộ Phòng Hậu cần. Từng Đoàn thành lập đảng bộ cơ sở, mỗi đảng bộ có từ 5 đến 6 chi bộ và tổ chức bầu đảng ủy (từ 5 đến 7 ủy viên, có bí thư và phó bí thư). Riêng Đội K84 (nay là Đoàn 285) thành lập chi bộ cơ sở trực thuộc Đảng ủy Đoàn 969.

Song song với củng cố, kiện toàn về mặt tổ chức là cụ thể hoá tiêu chí xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh sát với yêu cầu thực tiễn của Đảng bộ, đó là: Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện quản lý đảng viên và xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy, cán bộ các cấp là khâu then chốt. Các cấp ủy đảng cùng cơ quan Chính trị thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên hiểu sâu, nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Các chi bộ phải quản lý chặt chẽ từng đảng viên cả về chính trị tư tưởng, hành động, tác phong lối sống. Đặc biệt là quản lý những đảng viên là cán bộ chủ trì các cấp cả về nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ huy, đồng thời quan tâm quản lý chặt chẽ những đảng viên vi phạm kỷ luật, năng lực hạn chế.

Tập trung lãnh đạo đơn vị, cơ quan hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị thường xuyên, là thước đo đánh giá năng lực, kết quả lãnh đạo của từng đảng bộ, từng chi bộ. Căn cứ vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ, từng đảng ủy, chi bộ phải xác định rõ mục tiêu, biện pháp lãnh đạo cho từng tháng, quý, năm, từng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm. Đồng thời chỉ đạo, giải quyết dứt điểm những tồn tại, khuyết điểm của đơn vị, cơ quan mình.

Duy trì nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt, cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng ủy, chi bộ. Trong sinh hoạt phải thể hiện tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính giáo dục. Định kỳ 6 tháng, hàng năm tiến hành sơ kết, tổng kết công tác lãnh đạo và tổ chức lấy ý kiến đóng góp phê bình của quần chúng đối với tổ chức đảng và đảng viên.

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện theo 4 tiêu chuẩn: Lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ; tích cực, tự giác học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, chuyên môn nghiệp vụ khoa học kỹ thuật và làm tốt công tác vận động quần chúng.

Công tác phát triển đảng lúc này được coi trọng, nhất là khối các đơn vị tỷ lệ lãnh đạo thấp (khoảng 10%). Các Đảng bộ cơ sở đã lập kế hoạch phát triển đảng cho từng năm, từng quý, từng chi bộ. Nguồn kết nạp Đảng dựa vào tổ chức Đoàn thanh niên, lựa chọn những đoàn viên ưu tú trong quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, các tiểu đội trưởng, các tổ trưởng sản xuất, các chiến sỹ thi đua, thợ máy ưu tú. Mỗi năm Phòng Chính trị mở một lớp đối tượng để bồi dưỡng cho quần chúng hiểu sâu về Đảng, xác định rõ động cơ phấn đấu vào Đảng.

Chăm lo công tác lãnh đạo quần chúng, trước hết là xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn thanh niên, giáo dục lý tưởng, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ là có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước, đối với đơn vị.

Việc củng cố kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở đảng và cải tiến nội dung phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chi bộ ở Đảng bộ Đoàn 969 những năm 1981- 1989 thực sự phù hợp với đặc thù của đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt. Được các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy toàn Đảng bộ đánh giá là hợp lý, nâng cao được sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo, quyền hạn nhiệm vụ của các cấp ủy đảng, nâng cao được số lượng, chất lượng đảng viên, phát huy được vai trò quần chúng trong việc tham gia xây dựng Đảng, góp phần hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dương Văn Viện
Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Xứng đáng là “người cán bộ của cán bộ”

Sau ít ngày tôi được về đơn vị nhận nhiệm vụ (tháng 10 năm 1981), Ban Cán bộ tổ chức sinh hoạt, hôm ấy có đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy, Đại tá Tư lệnh Lương Soạn đến dự. Trước khi vào nội dung chính của cuộc họp, đồng chí Trưởng ban Nguyễn Đình Minh đọc Quyết định của Bộ Quốc phòng điều tôi về giữ chức Trưởng ban Cán bộ thay cho đồng chí. Sau đó, đồng chí giới thiệu đồng chí Lương Soạn phát biểu giao nhiệm vụ cho tôi và động viên anh em trong Ban.

Với chất giọng trầm ấm và mộc mạc của người con quê hương Quảng Nam, đồng chí Tư lệnh nhấn mạnh: “Ban Cán bộ phải thật sự là nơi tin cậy để anh em cán bộ trong đơn vị yên tâm gửi gắm cả tình cảm và niềm tin của họ vào đó. Mỗi đồng chí trong Ban Cán bộ phải thật sự xứng đáng là những cán bộ của cán bộ”.

Sau khi đồng chí Trưởng ban Nguyễn Đình Minh nghỉ hưu, Ban Cán bộ còn lại ba người: anh Nguyễn Bắc Son, anh Doãn Đức Xuân và tôi. Trên cương vị công tác mới, tôi vừa đi nghiên cứu tình hình ở cơ sở, vừa học tập, vừa công tác, vừa nhận bàn giao công việc. Tôi cùng anh em cán bộ trong Ban tiếp tục nghiên cứu, viết bổ sung để hoàn chỉnh bản báo cáo quy hoạch và kế hoạch công tác cán bộ của đơn vị chuẩn bị thông qua Thường vụ để kịp gửi báo cáo về Cục Cán bộ theo đúng thời gian quy định.

Nội dung và khối lượng công việc nhiều, thời gian hoàn thành lại gấp, mới về giữ chức Trưởng ban Cán bộ, tôi không tránh khỏi những băn khoăn lo lắng bởi lẽ “Vạn sự khởi đầu nan”. Tôi chỉ lo rằng với một khối lượng công việc lớn và quan trọng như thế liệu anh em trong Ban có hoàn thành đúng với thời gian kế hoạch đặt ra hay không? Chất lượng công việc có đạt được theo yêu cầu hay không? Bao nhiêu những suy tư trăn trở lo lắng về công việc ngày đêm cứ vương vấn, bề bộn trong tôi.

Tất cả những lo lắng ấy dường như lại càng tăng lên khi thời gian báo cáo với Thường vụ đã đến. Đó là vào một ngày hạ tuần của tháng 1 năm 1982. Sáng hôm ấy tôi dậy sớm hơn mọi ngày để chuẩn bị thật tốt cho những công việc còn lại. Tôi tranh thủ đọc thật kĩ bản báo cáo của mình để đề phòng có sự “trục trặc” khi báo cáo.

Hội nghị Ban Thường vụ có các đồng chí Nguyễn Hồng Quang – Bí thư Đảng ủy, Lương Soạn – Phó Bí thư Đảng ủy, Nguyễn Văn Tưởng – Ủy viên Thường vụ.

Bản báo cáo mà tôi trình bày gồm: Quy hoạch cán bộ và kế hoạch công tác cán bộ năm 1982. Mặc dù đã được các đồng chí trong Ban chuẩn bị rất kĩ, nhưng không hiểu sao, khi báo cáo trước Thường vụ tôi vẫn cảm thấy hồi hộp. Nhưng được các đồng chí trong Thường vụ động viên, khích lệ, tôi đã trình bày một cách nhuần nhuyễn báo cáo của Ban Cán bộ. Tôi thực sự vui mừng sau khi nghe cả ba đồng chí trong Thường vụ phát biểu đều thể hiện sự nhất trí với nội dung báo cáo.

Các đồng chí cho rằng đây là một bản báo cáo có chất lượng tốt, vừa cơ bản, vừa có trọng tâm trọng điểm. Báo cáo đã quán triệt được những nội dung cơ bản trong Nghị quyết của cấp trên vào tình hình thực tiễn công tác cán bộ của đơn vị.

Sau phần thảo luận đánh giá chung, Thường vụ dành nhiều thời gian tập trung thảo luận nhằm làm rõ hơn, toàn diện hơn về tiêu chuẩn, về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, trình độ năng lực nhận thức, năng lực tham mưu tổ chức thực hiện, về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, về kiến thức và độ tuổi. Thường vụ xác định phải đặc biệt coi trọng cả phẩm chất và năng lực, trong đó phải lấy tiêu chuẩn phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng làm gốc.

Sau một hồi trầm tư suy nghĩ, đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Lương Soạn phát biểu nhấn mạnh cụm từ xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đồng chí cho rằng: Muốn xây dựng được đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”, nhiệm vụ trọng tâm và trước hết là phải tập trung vào xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì lãnh đạo chỉ huy từ cấp Bộ Tư lệnh đến cấp cơ sở phải thực sự vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Tôi tâm đắc với những ý kiến sâu sắc ấy của đồng chí Lương Soạn, tôi thấm thía và hiểu rằng mọi việc từ việc nhỏ đến việc lớn, cấp trên bao giờ cũng phải làm gương cho cấp dưới, cấp trưởng phải làm gương trước cấp phó, cán bộ đảng viên phải làm gương trước quần chúng, sĩ quan phải làm gương trước hạ sĩ quan và chiến sỹ. Sự gương mẫu của cấp trên bao giờ cũng là mệnh lệnh “không lời” để cấp dưới học tập và noi theo. Tôi luôn nhận thấy Tư lệnh là một người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy kiên định vững vàng, một lòng một dạ với công việc. Luôn luôn toàn tâm toàn lực với nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, có sức chiến đấu cao, lúc nào cũng tâm huyết với nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” theo lời Bác Hồ đã dạy. Đối với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác, bao giờ đồng chí cũng kiên định, trung thành son sắt. Luôn xác định cho bản thân và giáo dục cho cán bộ chiến sĩ trong đơn vị nhận rõ đó là nhiệm vụ trọng tâm số một, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là tính nguyên tắc bất di bất dịch trong mọi hoạt động của đơn vị nói chung và bản thân đồng chí nói riêng.

Phần đánh giá và thảo luận về quy hoạch cán bộ, Thường vụ cho rằng, lâu nay ta vẫn quy hoạch và sắp xếp cán bộ theo công thức cấp phó lên thay cấp trưởng. Làm như vậy có thuận lợi là khi lên thay đồng chí cán bộ đó không mất thời gian để tìm hiểu nhiệm vụ và nắm tình hình đơn vị. Hơn nữa cũng không xáo trộn nhiều về tư tưởng. Tuy nhiên, cách làm này cũng dễ nảy sinh tư tưởng “Sống lâu lên lão làng”, tư tưởng “chờ đợi”, thậm chí trong quá trình quy hoạch, sắp xếp còn xuất hiện tư tưởng thiên về “chính sách” nên cá biệt có cán bộ mới được bổ nhiệm lên cương vị cao hơn nhưng chất lượng và năng lực làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu, tín nhiệm của quần chúng không cao.

Để khắc phục được tình trạng nêu trên, Thường vụ yêu cầu cấp ủy các cấp và cơ quan chức năng quản lý cán bộ cần nghiên cứu một cách đồng bộ và toàn diện hơn để triển khai quy hoạch cán bộ theo các phương pháp như:

– Phương pháp tuần tự cùng tuyến và tuần tự không cùng tuyến.
– Phương pháp vượt cấp cùng tuyến và vượt cấp không cùng tuyến.
– Phương pháp ngang cấp cùng tuyến.

Đồng chí Nguyễn Hồng Quang – Bí thư Đảng ủy, phát biểu nhấn mạnh: Phải tránh tình trạng khi quy hoạch chỉ chuẩn bị một người để đưa vào nguồn thay thế cho cả hai hoặc ba chức danh. Không nên cho cán bộ là “con dao pha” muốn sử dụng chỗ nào cũng được và cũng không nên chuẩn bị một người làm nguồn thay thế cho một chức danh. Làm như vậy dễ dẫn tới sự hụt hẫng trong đội ngũ cán bộ.

Trong phần phát biểu của mình, đồng chí Nguyễn Văn Tưởng – Ủy viên Thường vụ nêu ý kiến: Cần chú trọng đến khâu bố trí, sắp xếp cán bộ sao cho đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, đúng vị trí, đúng sở trường, đúng chức danh, ngành nghề. Tiếp thu ý kiến của Thường vụ, những người làm công tác cán bộ chúng tôi có thêm những kinh nghiệm và những tư duy mới sâu sắc hơn trong công việc của mình. Thực tiễn cũng đã chứng minh rằng thông thường người cán bộ nào cũng phải trải qua các thời kỳ, lúc cán bộ có khả năng làm việc tốt nhất, tổ chức cần nắm chắc và đánh giá chính xác cán bộ để kịp thời giao nhiệm vụ cho họ. Những cán bộ năng lực đã hạn chế, uy tín và tín nhiệm trước tập thể giảm sút, tổ chức cũng phải đánh giá đúng cán bộ và không nên sắp xếp người cán bộ đó đảm nhiệm những công việc trọng trách của đơn vị nữa. Làm được như vậy sẽ bảo đảm được tính khách quan khoa học, tính bình đẳng, trung thực trong công tác cán bộ.

Hôm nay, khi ngồi viết lại những kỷ niệm sâu sắc ấy, tôi như được sống lại quãng thời gian với những kỷ niệm đẹp nhất trong suốt 25 năm qua (tháng 10 năm 1981 đến tháng 5 năm 2006). Những tình cảm tốt đẹp, những lời huấn thị, những quan điểm tư tưởng, những nội dung thảo luận, kết luận của Thường vụ về công tác quy hoạch và kế hoạch công tác cán bộ của đơn vị ngày ấy đến nay vẫn còn lắng đọng mãi trong tôi với biết bao những kỷ niệm sâu sắc nhất và đẹp nhất không thể nào quên.

Đại tá Dương Đức Thạc
Nguyên Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Đêm cuối thu

Trong đời quân ngũ, ai cũng có rất nhiều những kỷ niệm buồn vui, những bước ngoặt trong cuộc đời và những dấu ấn không bao giờ phai mờ trong ký ức. Đối với tôi khi được nhận Quyết định của Bộ Quốc phòng điều về công tác tại Đoàn 969 (Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh) và lần đầu tiên được tham gia trực ban tác chiến tại công trình Lăng của Người là một kỷ niệm khó quên.

Năm 1981, sau 13 năm tham gia chiến đấu ở các chiến trường Tây Nguyên, Nam Lào, Tây Nam bộ, 2 lần làm nghĩa vụ quốc tế tại Cam-pu-chia (năm 1970 và 1979). Tôi nhận quyết định về công tác tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 15 tháng 7 năm 1981, tôi đến nhận nhiệm vụ. Vào cổng Bộ Tư lệnh, người đầu tiên tôi gặp là anh Bùi Sự, anh hướng dẫn tôi đến các cơ quan mà tôi cần gặp. Thái độ vui vẻ, ân cần của các đồng chí cán bộ, nhân viên trong Đoàn đã để lại trong tôi những ấn tượng, tình cảm rất tốt đẹp. Sau hơn 2 tháng đảm nhiệm nhiệm vụ là Trợ lý Ban Tổ chức thuộc Phòng Chính trị, tôi đã được nghe giới thiệu về nhiệm vụ chính trị đặc biệt, về truyền thống Bộ đội Bảo vệ Lăng, được tập huấn nghiệp vụ trực ban tác chiến và đi thăm công trình Lăng.

Khi xem chương trình công tác tuần của Bộ Tư lệnh, tôi thấy hồi hộp thật sự, y như tâm trạng của những ngày chuẩn bị tòng quân lên đường nhập ngũ hoặc chuẩn bị tham gia một trận đánh mới. Ngày 10 tháng 11 năm 1981, tôi trực ban cùng với anh Đỗ Hữu Ngập. Phải chuẩn bị thật kỹ cho buổi trực ban đầu tiên, tôi tự nhủ như vậy, vì kinh nghiệm những năm ở chiến trường đã dạy: Trận đánh nào được chuẩn bị kỹ thì sẽ nắm chắc phần thắng và hạn chế tối đa thương vong.

Ngay từ chiều, sau khi nhận trực xong, anh Ngập dành thời gian hướng dẫn thêm cho tôi các công việc cụ thể của người trực ban phó, phân công công việc, rồi anh động viên:

– Ca trực đầu tiên ý nghĩa lắm ! Anh em mình sẽ cố gắng hoàn thành tốt để ca trực đầu tiên sẽ in đậm mãi trong suy nghĩ của chúng ta sau này.

Hôm ấy là lần đầu tiên tôi mặc bộ lễ phục nghiệp vụ thật trang nghiêm, nhìn vào gương sao thấy mình đẹp và thật chững chạc. Đêm buông xuống, căn phòng trực im ắng càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng.

Anh Ngập đang đi kiểm tra các vị trí trực. Còn tôi, theo thói quen cuối một ngày làm việc, tôi dành ít phút để hình dung lại toàn bộ công việc trong ngày: Việc gì làm đã xong, việc chưa làm hoặc làm chưa tốt ?; ngày mai mình sẽ làm việc gì trước, việc gì sau ?. Có lẽ, đây là đêm đầu tiên ở chiến trường ra, được làm nhiệm vụ trực ban trong công trình nên trong tôi trào dâng cảm xúc thao thức, bồn chồn

…. Những kỷ niệm năm tháng cứ lần lượt hiện về trong ký ức tôi:

…. Ngày đầu nhập ngũ. Đúng rồi, hôm đó là ngày 24 tháng 2 năm 1968, mình cùng thanh niên trong thôn, trong xã tòng quân lên đường nhập ngũ. Không khí buổi tiễn quân lên đường thật là náo nức: nào cờ, khẩu hiệu, thanh niên trai gái chỗ thì cười nói râm ran, chỗ thì bịn rịn chia tay với những cử chỉ lúng túng, nghẹn ngào khó nói. Còn tôi cũng có kỷ niệm riêng thật đẹp, không thể quên được…

Ngày 24 tháng 4, sau hai tháng huấn luyện, đơn vị được lệnh hành quân vào Nam chiến đấu, lúc đó do yêu cầu của chiến trường, khoá huấn luyện của chúng tôi chỉ đúng 2 tháng và không nghỉ phép. Từ Nho Quan, Ninh Bình theo đường mòn Hồ Chí Minh, chúng tôi hành quân bộ ròng rã gần 3 tháng trời, vượt cả ngàn cây số vào chiến trường Tây Nguyên. Dọc đường hành quân vất vả, gian khổ và ác liệt, đêm ngủ mơ thấy tiếng chuông nhà thờ, nghe tiếng gà báo sáng, tiếng chim hót… gợi lên nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương đến da diết. Nhớ kỷ niệm trước ngày nhập ngũ, tôi được chọn tham gia đội dân quân trực chiến bảo vệ quê hương chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Lúc đó tuy có ác liệt nhưng làm sao so được với nỗi khó khăn vất vả thiếu thốn và thương vong nhiều như ở chiến trường…

Đang trong miên man suy nghĩ, nhớ đến nhiệm vụ trực, tôi đứng dậy, quân phục chỉnh tề đi kiểm tra các vị trí trực. Đến buồng máy nào cũng vậy, anh em công nhân vận hành đều chăm chú theo dõi, ghi chép các thông số nhiệt ẩm. Có những gian máy chạy ầm ầm, át cả tiếng người. Nhiều anh em cứ nhìn tôi, có đồng chí lần đầu gặp. Tôi dừng lại ở buồng trực B32 và hỏi một người thợ:

– Công việc thường ngày như vậy anh em cảm thấy thế nào, có căng thẳng không?

Anh công nhân trực tự tin trả lời:

– Chúng em trực đã quen rồi, những hôm nghỉ ca, không được nghe tiếng máy, chúng em cảm thấy nhớ như thiếu cái gì ấy. Tôi mỉm cười với anh công nhân. Niềm vui và lòng tự tin của anh như hoà đồng cùng cảm xúc trong tôi. Thật là thú vị.

Thấm thoắt đã 12 năm, hồi Bác Hồ mất, tôi và anh em C2, K4, Trung đoàn 24 đang giữ chốt ở một điểm cao thuộc tỉnh Gia Lai, Tây Nguyên. Khi nghe bản tin đặc biệt trên Đài tiếng nói Việt Nam thông báo Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, chúng tôi bàng hoàng đau xót. Đơn vị làm lễ truy điệu Bác tại chiến hào trong cơn mưa tầm tã. Nước mắt, nước mưa ướt đẫm những gương mặt đen xạm, dầm mưa dãi nắng đang trong những ngày chiến đấu ác liệt. Trong khi đó, bọn địch vừa dã man, vừa xảo quyệt. Một mặt chúng dùng máy bay VO10 thông báo tin Bác mất, rải truyền đơn kêu gọi bộ đội ta chiêu hồi đầu hàng. Mặt khác chúng dùng máy bay B52 rải bom dữ dội. Tiếng máy bay, tiếng bom ngày đêm gầm thét. Tôi cùng đồng đội luôn giữ vững tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm, kiên cường giữ chốt, kiên quyết đánh bại mọi âm mưu của địch. Sau đó ít ngày, đơn vị tổ chức phản công, rồi tổ chức đánh phục kích xe tăng địch bên con suối Gia Nhiên gần làng Huỳnh, thu được thắng lợi giòn giã. Trong trận chiến đấu ngày 11 tháng 9 năm 1969, tôi được kết nạp Đảng ngay tại trận địa. Thật là một điều thiêng liêng, rất vinh dự đến với tôi trong đời quân ngũ. Năm đó tôi mới hơn một tuổi quân, tròn 19 tuổi đời.

Rời công trình, trước mắt tôi là một khoảng không bao la của Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đang tiết thu, về đêm, trời thanh cao, gió nhẹ mát rượi. Không gian đăm đắm trong hương thơm ngào ngạt của hoa ngâu, hoa nhài. Nhìn 2 chiến sỹ tiêu binh trang nghiêm đứng gác cửa Lăng tôi thấy sao mà oai nghiêm, thiêng liêng thế. Sau khi kiểm tra một vòng quanh Lăng, thấy anh em gác đúng vị trí, đúng tác phong, tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao tôi yên tâm về phòng trực, định cố chợp mắt một chút, nhưng đêm ấy tôi thao thức đến sáng.

Hình ảnh những người thợ, những chiến sĩ tiêu binh danh dự, gác vũ trang sao giống mình ngày ở chiến trường đến vậy. Kỷ luật canh gác, trực chiến ở chốt, ở điểm tựa trong chiến đấu thật là nghiêm khắc, chỉ một chút sao nhãng, chủ quan nhiều khi phải trả bằng máu. Còn ở đây, công trình Lăng Bác này anh em cũng vậy, tác phong trang nghiêm, tự giác, ngày cũng như đêm, liên tục bám máy, bám mục tiêu, không để sơ hở, xảy ra sai sót…

Công việc chuẩn bị cho buổi lễ viếng Bác bắt đầu. Sau khi trực chỉ huy Bộ Tư lệnh, trực các đơn vị, trực kỹ thuật kiểm tra xong, tôi nán lại ngắm Bác kỹ hơn. Bác nằm đó chòm râu, mái tóc, nét mặt thanh thản, da dẻ hồng hào như vừa mới chợp mắt. Trong tôi cứ hình dung lúc còn sống Bác ngủ như thế nào nhỉ ? Khi đất nước còn chiến tranh ác liệt, nỗi đau của hàng triệu đồng bào miền Nam cộng lại thành nỗi đau của Bác thì làm sao Bác có thể ngủ ngon lành. Bên tai tôi văng vẳng câu thơ “Cả cuộc đời Bác có ngủ ngon đâu. Nay Bác ngủ, chúng con canh giấc Bác”.

Đúng 8 giờ, buổi lễ viếng Bác bắt đầu, nhìn dòng người vào Lăng viếng Bác trang nghiêm, lặng lẽ, tôi càng thấy xúc động, tự hào. Mỗi người đến viếng Bác được thấy hình ảnh lãnh tụ thiên tài của dân tộc, thêm tin tưởng theo con đường mà Người đã lựa chọn. Tôi tự nhủ: Để mọi người đến viếng Bác trong khung cảnh trong sáng, thanh bình- chắc hẳn ai cũng có sự cảm nhận về những công việc thầm lặng của những người ngày đêm canh giữ yên giấc ngủ của Người. Đâu chỉ có những chiến sỹ tiêu binh đứng trước cửa Lăng, hay những chiến sỹ trong bộ lễ phục gọn gàng canh gác, hướng dẫn khách vào viếng Bác, mà đằng sau đó là cả một đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế, kỹ thuật đang ngày đêm tận tụy chăm sóc thi hài Bác, vận hành các thiết bị được an toàn.

Vậy là buổi trực đầu tiên, cũng như trận đầu ra quân, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Không reo mừng thắng lợi như ở chiến trường, nhưng lòng tôi rạo rực niềm vui. Kíp trực đầu tiên đó đã là nguồn động viên, cổ vũ tôi tự tin, vững bước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người lính cận vệ bên Lăng Bác suốt 25 năm qua.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lâm
Chính uỷ – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Những thông số nóng … lạnh

Hệ thống thông gió – điều hòa không khí của công trình Lăng là một hệ thống lớn và hoàn chỉnh. Công việc khảo sát từ giai đoạn tiền thiết kế được thực hiện rất công phu, có tham khảo nhiều công trình cùng loại tương tự ở trong và ngoài nước. Trang bị đồng bộ, công tác duy tu bảo dưỡng thường xuyên và tu bổ định kỳ được thực hiện theo kế hoạch chặt chẽ. Kết quả khai thác, vận hành liên tục nhiều năm đã chứng tỏ hiệu lực và độ tin cậy của hệ thống công nghệ này. Tuy vậy, do tác động của khí hậu nhiệt đới và do đặc điểm hoạt động của công trình, có lúc hệ thống kỹ thuật của công trình đã gặp phải những nhiễu động từ môi trường, vượt khỏi dự liệu và cần phải hoàn thiện bổ sung.

Đơn vị khai thác vận hành cùng với các chuyên gia Liên Xô đã xử lý thành công một số vấn đề kỹ thuật phát sinh, khá phức tạp, ngay từ những năm đầu.

Tiếp nhận vận hành, chúng tôi quan tâm ngay đến việc khắc phục mọi sự cố kỹ thuật to, nhỏ xảy ra của hệ thống công nghệ, phân công nhau theo dõi, nắm bắt nhanh các dạng trục trặc, hỏng hóc, không kể giờ nào, hễ được tin có “pan” bất kỳ vừa xảy ra, chúng tôi đều đến bám sát, xác định ngay nguyên nhân (từ tiếng gõ lạ phát ra ở các ổ trục, chiếc cua-roa căng, chùng không đều; các tín hiệu chập chờn, có điều chỉnh mà thông số vẫn “lì” ra). Sau đó chúng tôi đem so các thông số đọc trực tiếp và băng tự ghi của thiết bị đo từ xa, tìm những chỗ vênh, không khớp… Có lần, đã nửa đêm còn nổ ra cuộc tranh luận ở gian máy chính vì nghi vấn có 1 động cơ “xéc vô” kéo van bị hỏng. Không ngại cái thang cao 4 mét lênh khênh, anh em thay nhau leo lên kiểm tra. Quả thật động cơ và van vẫn hoạt động tốt, nhưng bị một vấu tiếp điểm bị kẹt lò xo… nên đèn tín hiệu trên bảng hiển thị báo van không hoạt động.

Báo động nhầm đã không ít lần xảy ra, nhưng không ai tỏ ra ngần ngại khi lại phải làm cái việc tương tự cho những trường hợp khác.

Thực sự, chúng tôi đặc biệt để ý dõi theo những bộc lộ bất thường, đáng lo nhất là khi chúng đồng thời xảy ra cùng thời điểm. Càng phải chú ý hơn là theo dõi khả năng dự trữ đưa ra xử lí, hóa giải các sự cố đó.

Không phải đợi lâu, một trục trặc kỹ thuật dạng phức tạp đã xảy ra, sớm hơn chúng tôi nghĩ: Đọng sương trong công trình và quá tải của thiết bị chủ lực.

Chuyện xảy ra vào thứ tư, ngày 17 tháng 9 năm 1975, lúc 9 giờ 20 phút, đang trong lễ viếng thì xảy ra hiện tượng không khí nóng, ẩm ngoài trời theo sức ép đã đẩy cửa gió, vượt qua hai cánh cửa lớn (mở chính hướng đông) giữa công trình, với khối lượng lớn (có thể gấp vài ba lần công suất của hệ thống thông gió cơ khí đặt sẵn trong Lăng). Hàng trăm mét vuông tường, trần, sàn ốp đá cùng mang nhiệt độ mát, lạnh. Khi không khí nóng ẩm bên ngoài tràn vào thì một hiện tượng tự nhiên về vật lý kiến trúc đã xảy ra: các bề mặt bên trong công trình có không khí điều hoà, nhiệt độ thấp hơn môi trường bên ngoài nhanh chóng bị đọng sương, đẫm nước, rồi tụ lại, chảy thành dòng… Có gió trời thổi mạnh, dung ẩm bên ngoài lại cao. Suốt khu vực tiền sảnh và ở chân hai cầu thang lối vào, lối ra đều bị nước đọng thành vũng. Không khí ngưng, đọng đem mùi mốc nồng vào và làm cả không gian ẩm ướt. Từng bậc lên, xuống, trước chỉ có dính ít bụi đất do giày dép bước qua, lúc này đã tạo thành lớp bùn mỏng. Cả tấm thảm len lớn màu đỏ sáng và đẹp thế, nay sũng nước, màu xỉn lại.

Phải tạm ngắt dòng người viếng ngay trước cửa Lăng. Hàng chục đồng chí Đội Kiến trúc, vệ sinh được huy động ngay, với giẻ lau, bàn đẩy, bắc ghế, bắc thang, giải quyết cấp tốc. 15 phút sau, lễ viếng mới được tiếp tục. Nhưng chỉ độ một giờ sau, lại phải làm lại lần khác.

Hôm đó, nắng không gắt nhưng trời rất oi bức (độ ẩm tương đối đến 85%). Gió đông khá mạnh thổi thẳng vào công trình. Tôi đã theo dõi suốt buổi sáng hiện trạng này. Là những người đã từng làm công tác thiết kế và giảng dạy về vi khí hậu công trình ở Binh chủng Công binh và Học viện Kỹ thuật Quân sự, chúng tôi không phải tìm lâu về nguyên nhân, nhưng cũng bị “sốc” trước mức độ gây xáo trộn quá nhanh của sự cố này.

Suốt tuần sau, chúng tôi mở lại các hồ sơ thiết kế và dùng máy đo những đại lượng liên quan để làm rõ các hiện tượng chính, phụ (chúng đồng thời xảy ra như thế nào). Rồi tập trung vào hướng để giải quyết hiện tượng bất thường trên, cần phải làm gì?

Câu trả lời tìm ra từ nghiên cứu hồ sơ thiết kế là: không có mục tiêu “chống đọng sương” đặt vào nhiệm vụ vận hành của 4 hệ điều hòa trung tâm! Việc chống các nhiễu động lớn từ môi trường khí quyển ngoài vào công trình không được “đặt thành vấn đề” từ thiết kế gốc! Thế là đã rõ ràng.

Điểm mấu chốt lúc này là phải giải quyết vấn đề “chống đọng sương” như thế nào?

Về lý thuyết – có thể nghiên cứu các yếu tố:

Lăng Bác là một công trình có yêu cầu riêng. Vào thời gian tổ chức lễ viếng, cửa chính của Lăng phải mở hoàn toàn (không thể đóng kín như các công trình bình thường);

Vậy cần và có thể tạo ra một màn chắn bằng không khí, với ý tưởng: “có cửa mà như không có cửa”. Màn chắn “mềm” đó, các máy cơ khí của ta sẽ tạo ra không mấy khó khăn, nhưng công suất của nó tính ra khá lớn. Và kiến trúc phía ngoài cửa Lăng sẽ bị biến dạng đi rất nhiều! Ai làm nổi việc này?

Toàn những chuyện quá lớn vào thời điểm năm 1975 – 1976! Vài phương án lý thuyết phác họa đều ít tính khả thi. Vậy là chưa chọn được cách nào ?

Chúng tôi cho rằng, về chống đọng sương hiện chưa có biện pháp khả thi; nhưng về quá tải, vẫn phải chủ động nâng cao công suất lạnh cho các máy điều hòa. Vì công suất lạnh là năng lượng cơ động để phục vụ thường xuyên và cũng có thể chống nhiễu được. Nắm bắt được tình hình trên, Tổ chuyên gia thường trực tại Lăng đã báo cáo về Mát-xcơ-va. Nhóm chuyên gia thiết kế hàng đầu đã bay sang Hà Nội sớm hơn dự định 2 tháng để cùng chúng ta giải quyết vấn đề lớn này. Ngay trên sân bay Nội Bài, ông Ra-vin (người Nga) nói vui: “Những thông số lạnh đã làm “nóng” người chúng ta lên”.

Cả chục ngày liên tiếp, ta và Bạn tất tả mở, đóng máy để đo đạc, tính toán… và bàn bạc nhiều, rồi kết luận được về tham số nước kỹ thuật: Phải hạ thấp nhiệt độ nước ra của máy lạnh xuống 30C nữa. Có như vậy mới đạt công suất như nhà máy tuyên bố được. Kết luận quan trọng này làm chúng tôi e ngại; vì nhiệt độ nước gần mức đóng băng! Chỉ sơ xểnh một chút thì tắc, vỡ ống trao đổi nhiệt xảy ra ngay. Nên phải thêm vào thiết bị khống chế, đảm bảo an toàn bổ sung.

Hạ thấp được nhiệt độ nước kỹ thuật hiển nhiên cho phép tăng công suất máy điều hòa lên rất đáng kể.

Chúng ta còn thu hoạch thêm, rất bổ ích về tay nghề – là kỹ năng điều chỉnh có kết hợp giữa số lượng và chất lượng; tăng áp và giảm áp cục bộ cho những khu vực công tác có nhu cầu chống nhiễu ngắn hạn; là cắt sớm dao động (và giảm biên độ thăng giáng) của chúng… anh em thợ vận hành ở các phòng B32 và F2 có thêm cẩm nang vận hành, thêm kỹ năng thao tác, thêm một số bài tập thực hành sinh động. Có đồng chí đã thi nâng bậc được trước thời hạn.

Vào một ngày, ông Ra-vin có trong tay tập tài liệu do tôi tập hợp từ Đài khí tượng Láng về. Nội dung thu gọn là các thống kê “tần suất gió hướng đông, đông nam vào mùa nóng ở Hà Nội và vận tốc gió trung bình trong các tháng”.

Tập tài liệu mỏng nhưng ông Ra-vin đọc khá lâu, trầm ngâm, ông nói: “Xác suất có gió theo hướng đông và đông nam là nhiều đấy, ta có tăng được công suất lạnh cho máy điều hòa, nhưng cũng mới chỉ đủ sức chống được những ca gây đọng sương cường độ thấp thôi. Còn phụ thuộc nhiều vấn đề khác… trong đó có tài nghệ điều chỉnh của người vận hành nữa!.

Mỉm cười, ông đọc lời một khúc hát đồng dao Nga:

Có con chim nhỏ trong tay,

Vẫn hơn đợi chú ngỗng bay trên trời – Đúng không ?

Chúng tôi cùng cười vui. Ông Ra-vin là một chuyên gia lớn, có nhiều bằng đại học, đã thiết kế nhiều công trình, ông đã nhận ra cái giới hạn và cái tương đối đã đạt được khá khách quan.

Chúng tôi (Bạn và ta) không quên những đêm thức trắng cùng nhau dựng mô hình lắp thiết bị và theo dõi vận hành. Những trái tim cùng nhịp đập trăn trở khi gặp tình tiết hóc búa và cùng dâng trào hứng khởi khi thu về kết quả (thông số hiện ra trên các biểu đồ rất khách quan vì hoàn toàn tự động). Giây phút đó, những con số hình như cũng có sức sống, gây nỗi ám ảnh khó quên.

Từ năm 1990, các chuyên gia kỹ thuật của Bạn thôi không còn làm việc tại Lăng. Bằng nỗ lực vươn lên, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân vận hành đã hoàn toàn làm chủ kỹ thuật công trình Lăng.

Thông số nhiệt ẩm, thông số nóng… lạnh, nỗi vất vả và niềm vui sáng tạo, nơi quy tụ những cố gắng của anh em công nhân và kỹ sư nhiều lớp nối tiếp, cũng là của các nhà lãnh đạo, quản lý và của tình bạn bè hữu nghị một thời chưa xa.

Đại tá Lương Lâm
Nguyên Đoàn trưởng Đoàn 195 – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn