Thư viện

Bối cảnh lịch sử tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh

Vừa tròn một thế kỷ, kể từ khi Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc và sau này là Hồ Chí Minh rời bến cảng Nhà Rồng, Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011). Đối với Nguyễn Tất Thành, đây không phải là quyết định giản đơn, tình cờ, mà là kết quả tổng hợp của một quá trình phân tích, lý giải khoa học những nhân tố thuận- nghịch của bối cảnh trong nước và thế giới tác động đến cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, để lựa chọn đúng hướng đi và xác định con đường cứu nước thành công.

1. Đối với tiến trình giải phóng dân tộc, đây là sự kiện mang nội dung cách mạng và ý nghĩa lịch sử lớn lao. Bởi lẽ, sự kiện lịch sử này vừa là mốc kết thúc một quá trình tổng hợp những yếu tố chủ quan và khách quan của bối cảnh lịch sử, vừa là bước khởi đầu hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh hồi đầu thế kỷ XX. Vì vậy, ý nghĩa và tầm vóc lớn lao của nó mãi mãi được ghi nhận và phát huy trong suốt hành trình cứu nước của Người trước đây và trên con đường đổi mới đất nước hiện nay.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của
Đảng Xã hội Pháp ở Tua, tháng 12/1920 (ảnh tư liệu)

Trước hết, cần hiểu rõ khái niệm “tác động của bối cảnh lịch sử” là gì? Theo chúng tôi: Một là, Không phải toàn bộ bối cảnh lịch sử (trong nước và thế giới) đều tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh. Do đó, bài viết này sẽ không nghiên cứu toàn bộ bối cảnh cuộc hành trình, mà chỉ đi sâu nghiên cứu những sự kiện lịch sử được Người biết đến và gây tác động đến quá trình hình thành con đường cứu nước của Người. Hai là, bối cảnh không phải là bức tranh bất động mà nó thường xuyên thay đổi và gây ảnh hưởng đến xu thế phát triển, hoạt động của mỗi tổ chức, con người. Vì vậy, bối cảnh lịch sử tác động đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh bao gồm những sự kiện lịch sử mà Người nhận thức, mà trước hết phải kể đến những sự kiện mang ý nghĩa thời đại, gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam…

Điểm khởi đầu hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh là sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1911. Tiếp đó là quá trình vừa lao động, vừa học tập lý luận và hoạt động thực tiễn để tìm ra con đường giải phóng dân tộc thành công. Đó là những năm tháng bôn ba đầy khó khăn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở nhiều quốc gia, châu lục. Vì vậy, nghiên cứu tác động của bối cảnh lịch sử đến hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những nhân tố hình thành quyết tâm và hướng đi mà còn nghiên cứu làm rõ hàng loạt yếu tố mới Người “bắt gặp”- nhận thức trong quá trình hình thành đường lối cứu nước của mình.

Vì vậy, ở đây không cần thiết phải thống kê đầy đủ tình hình trong nước và thế giới, cũng không phải mô tả kỹ lưỡng những sự kiện lịch sử đã diễn ra vì đó là bối cảnh chung mà bất kỳ con người đương thời nào đều sống trong đó, dù họ có nhận thức được “bối cảnh” ấy hay không.

Vậy bối cảnh lịch sử tác động đến sự hình thành quyết tâm và hướng xuất dương tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là gì ?

2. Cuối thế kỷ XIX, sự kiện lịch sử tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam; làm thay đổi kết cấu giai cấp, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống mọi người dân (trong đó có họ hàng, gia đình và bản thân Hồ Chí Minh) là thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau thời kỳ “bình định”, thực dân Pháp thi hành chính sách “khai thác thuộc địa” – thực chất là tăng cường bóc lột, vơ vét thuộc địa. Vì vậy, đời sống nhân dân lao động đã khó khăn, càng thêm khốn đốn. Hậu quả là Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.

Sang đầu thế kỷ XX, đời sống các tầng lớp nhân dân càng bị bần cùng hoá. Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ thuộc địa ngày một gay gắt, trở thành mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu. Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ càng gay gắt. Đây là trở lực lớn, kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt Nam.

Vì vậy, chỉ có giải quyết thành công những mâu thuẫn trên đây – đồng nghĩa với việc tìm ra con đường cứu nước, giành lại độc lập dân tộc thì xã hội Việt Nam mới tiếp tục phát triển. Đó là đòi hỏi khách quan, cấp bách của cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX.

Để giải quyết mâu thuẫn trên, nhiều phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi với mục tiêu “Phen này quyết chống cả Triều lẫn Tây”. Đó là phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục… do các sỹ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo hay khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân đảng dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài…rồi khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám kéo dài hơn 30 năm… Đó là trang sử đấu tranh vẻ vang của dân tộc trên con đường đấu tranh giành độc lập. Mặc dù diễn ra sôi nổi, rộng khắp các vùng miền, nhưng tất cả các cuộc đấu tranh cuối cùng đều thất bại. Bối cảnh lịch sử này, sau này, Hồ Chí Minh viết trong bài Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay: “Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy. Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu. Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam”[1]

Thực tế thất bại của lớp cha ông đã chỉ ra rằng: sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra là lãnh đạo toàn dân chống Pháp, giành lại độc lập dân tộc. Cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, tức là thiếu hệ thống lý luận cách mạng tiên tiến của giai cấp công nhân có khả năng dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam thành công. Câu hỏi của “bài toán thế kỷ” đặt ra cho dân tộc ta: Ai là người lãnh đạo thành công nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam ? đến lúc này vẫn chưa có lời giải.

Bối cảnh trên đây, sau này được Hồ Chí Minh nói rõ khi trả lời nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ”[2]!?

Xuất thân từ gia đình trí thức phong kiến có truyền thống yêu nước, trọng nghĩa, Hồ Chí Minh sớm mang trong mình lòng yêu nước, thương dân. Tuổi học đường của Người gắn bó với những năm tháng quan trường ngắn ngủi đầy trắc trở của người cha Nguyễn Sinh Huy. Người đã theo cha đến cả ba miền đất nước, biết được cuộc sống khó khăn của người dân mất nước dù họ ở xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ “bảo hộ” hay Nam Kỳ “thuộc địa”. Người có thời gian sống ở Huế. Đó là điều kiện để Người tìm hiểu, làm quen với cuộc sống quan chức, Hoàng triều. Tuy nhiên, thực tế ấy đã làm cho Người thấy rõ hơn cuộc sống phụ thuộc, thấp hèn của giới quan chức, tay sai. Từ những trải nghiệm đầu đời của mình và cuộc sống lận đận, trắc trở của người cha, Hồ Chí Minh càng thấu hiểu ý nghĩa thực tế của câu chuyện cha mình thường bình giải “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ”. Cho nên, đầu năm 1910, sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị bãi chức thì ông vào Nam Kỳ hành nghề bốc thuốc trị bệnh cứu người, còn Hồ Chí Minh thì thấy rõ hơn sự thối nát của chế độ quan trường. Điều này càng thôi thúc Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên đã viết: “Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc”[3].

Tuy nhiên, đi đâu và làm gì để tìm ra con đường cứu nước thành công luôn là công việc hết sức khó khăn. Bởi lẽ, bọn thực dân rất bưng bít tư tưởng mới, ngăn trở sách báo tiến bộ với âm mưu giam hãm dân ta trong vòng nô lệ. Người đã nói với nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế…Trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người ta như con vẹt.Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài[4]…

Trong quá trình xác định con đường cứu một dân tộc, lòng căm thù giặc và quyết tâm chưa đủ, mà còn phải lý giải được nguyên nhân thất bại của các bậc tiền bối, hiểu được điều kiện chủ quan và khách quan của bối cảnh lịch sử, trên cơ sở đó mà vạch ra hướng đi của con đường cũng như những yếu tố đảm bảo thắng lợi.

Trước thất bại liên tiếp về con đường cứu nước của các bậc tiền bối, Người nhận xét:

“Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương…Điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.

Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì còn trực tiếp đấu tranh chống Pháp. Nhưng theo người ta kể thì Cụ còn mang nặng cốt cách phong kiến”[5].

Từ những trải nghiệm cuộc sống và với quyết tâm lớn, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra mâu thuẫn giữa chế độ đàn áp bóc lột dã man của bọn thực dân ở Việt Nam với cái lý tưởng cao đẹp của nước Pháp – quốc gia đã đề xướng ra lý tưởng cao đẹp và hấp dẫn mọi con người ” Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, muốn biết cái gì bí mật ẩn náu ở “nước Mẹ” xa xôi ! Người cho rằng “Muốn đánh hổ thì phải vào hang hổ!”. Và chính những nhận thức về bối cảnh đất nước và những tìm hiểu của Hồ Chí Minh về nước Pháp đã thôi thúc Người sang Pháp và các nước khác… Đây không phải là hành động ngẫu nhiên, tự phát mà là sự lựa chọn, trăn trở; một quyết tâm lớn, nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam.

Quyết định sang phương Tây của Hồ Chí Minh là sự phủ nhận sự tồn tại nhà nước thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam. Đó là đòn tiến công đầu tiên của Hồ Chí Minh đối với nhà nước đương thời, mở cửa ra thế giới để đón nhận những nhân tố mới của thời đại, tiếp thu lý luận tiên tiến, tích hợp tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành con đường cứu nước Việt Nam thông qua Hành trình cứu nước của một con người – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Ngày 3 tháng 6 năm 1911, Người xuống tàu buôn Pháp Amiran Latusơ Tơrêvin( Amiral Latouche Treville) thuộc Hãng Năm sao đang cập cảng Nhà Rồng gặp thuyền trưởng Maixen (Maisen) và được nhận vào làm phụ bếp trên tàu. Ngày 5 tháng 6 năm 1911 tàu Amiran Latusơ Tơrêvin rời bến cảng Nhà Rồng mang theo người thanh niên Việt Nam 21 tuổi với khát vọng cháy bỏng là tìm ra con đường cứu nước Việt Nam khỏi ách thống trị thực dân phong kiến.

3. Khi rời Tổ Quốc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có quyết tâm cao, nhưng sự hiểu biết về thế giới còn hạn chế. Sự ra đi ấy khẳng định một quyết tâm lớn, nhưng biết bao câu hỏi còn bỏ ngỏ. Vốn hiểu biết của Người chưa có thể nhận thức được đặc điểm, xu thế của thời đại. Từng bước một, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập lý luận và hoạt động xã hội, Hồ Chí Minh dần dần nhìn ra bối cảnh của hành trình tìm đường cứu nước. Từ hoạt động trong nhiều tổ chức chính trị, xã hội, những trải nghiệm cuộc sống trong nhiều quốc gia thập niên 10, 20 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh sớm nhìn ra những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam như con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, tư tưởng Lênin và đường lối giải phóng thuộc địa của Quốc tế Cộng sản (QTCS). Nhiều bài viết, bài nói, báo cáo của Hồ Chí Minh gửi QTCS đã thể hiện quá trình nhận thức của Người về thời cuộc và sự tổng hợp, vận dụng sáng tạo những nhân tố tích cực của bối cảnh lịch sử để hình thành con đường cứu nước của mình.

Điều cần lưu ý ở đây là Hồ Chí Minh rời Tổ quốc hoà nhập vào thế giới trong thời điểm chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Hệ thống thuộc địa đã hình thành trên phạm vi thế giới. Trong Tham luận trình bày tại Đại hội lần thứ V của QTCS (1924), Hồ Chí Minh chỉ rõ: Năm 1876: 1/4 tỷ người dân thuộc địa thì năm 1914: 1/2 tỷ dân thuộc địa. Đến đầu những năm 20, diện tích các nước thuộc địa gấp 5 diện tích các nước chính quốc, còn dân số chính quốc chưa bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa. Số dân thuộc địa Anh đông gấp hơn 8,5 số dân nước Anh còn đất đai rộng gấp 252 lần của nước Anh[6]… Cuộc đấu tranh giải phóng của các thuộc địa và phụ thuộc tuy đã được đẩy mạnh ở các nước châu Âu như: Airơlen, Ba Lan nhưng chưa có nước nào giành được độc lập. Còn ở châu Á, tuy đã trỗi dậy một “Châu Á thức tỉnh” nhưng các quốc gia lớn như: Ấn Độ, Trung Quốc, Inđônêxia vẫn đang là thuộc địa của bọn đế quốc. Trên phạm vi toàn thế giới, chưa có một thuộc địa nào được giải phóng. Con đường giải phóng dân tộc chưa có một hình mẫu, tấm gương soi chung!

Vì vậy, hành trình cứu nước của Hồ Chí Minh lúc này cũng mới chỉ là quyết tâm và định hướng. Người bắt đầu bằng nghề phụ bếp rồi sau đó là công nhân trên tàu buôn Pháp. Nhờ đó, Người có dịp qua nhiều quốc gia như: Xinhgapo, Côlômbô, Aicập, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Mỹ. Đầu năm 1913, Người từ Mỹ về Lơ Havơrơ sau đó sang Anh. Tại đây, Người làm nghề đốt lò, quét tuyết, phục vụ khách sạn. Bất kỳ hoàn cảnh nào, Người thường xuyên chú ý tìm hiểu đời sống và gần gũi với người lao động. Người rất xúc động trước điều kiện sống cực khổ và bị đàn áp của người da đen[7]. Sau những tháng năm trải nghiệm cuộc sống người dân thuộc địa làm thuê, Người dần dần nhận ra một điều: Ở đâu cũng có người nghèo và sự giàu nghèo không phụ thuộc vào màu da, chủng tộc. Người lao động ở đâu cũng khổ cực và biết thương yêu nhau.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp, vừa tiếp tục lao động kiếm sống, vừa tích cực tham gia hoạt động chính trị xã hội. Người liên hệ chặt chẽ với công nhân Pháp, những đại biểu thuộc địa và những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Đây là thời kỳ hoạt động sôi nổi và có hiệu quả trong hành trình tìm thấy con đường cứu nước Việt Nam. Đầu năm 1919, Người vào Đảng Xã hội Pháp: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái” [8]. Giữa năm 1919, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi “Bản yêu sách tám điểm “của nhân dân An Nam tới Hội nghị các nước đế quốc họp tại Vécxây (Versailles). Mặc dù Yêu sách chỉ nêu những yêu cầu tối thiểu trong khuôn khổ cải cách, nhưng các tác giả của bản Yêu sách ấy đã không nhận được một lời phúc đáp. Từ thực tế ấy, Người kết luận: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”[9]. Thực tế trên đây đã giúp Hồ Chí Minh hiểu thêm bối cảnh khách quan mà hành trình cứu nước không thể bỏ qua. Hành trình đi tìm con đường cứu nước của Hồ Chí Minh vẫn đang tiếp tục.

Sự kiện cực kỳ quan trọng làm chuyển biến cơ bản nhận thức con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Người là được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité) tháng 7-1920. Luận cương đã mang lại cho Người ánh sáng về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa. Khẳng định ý nghĩa to lớn của Luận cương trong hành trình tìm ra con đường cứu nước, sau này Người viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”[10]. Cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh càng trung thành với con đường độc lập dân tộc bao nhiêu, thì càng trung thành bấy nhiêu với những lý luận Lênin viết trong Sơ thảo Luận cương và đường lối của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Điều này thể hiện rất rõ khi Người trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô: “Từ ngày Luận cương của Lênin đã hoàn toàn soi sáng cho tôi, tôi không còn chỉ dự các cuộc họp của Đảng một cách thụ động nữa. Tôi lao vào cuộc chiến đấu, hăng hái bàn cãi, tiến công mạnh mẽ những kẻ chống lại Lênin và Quốc tế thứ ba”[11].

Sự kiện được đọc bản Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin cùng với những hoạt động sát cánh với công nhân, trí thức Pháp và các đại biểu thuộc địa cùng đồng bào mình trên đất Pháp trước đó đã tạo tiền đề quan trọng để tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua tháng 12 năm 1920, Hồ Chí Minh tích cực thảo luận và sớm quyết định bỏ phiếu ủng hộ Đảng mình gia nhập Quốc tế thứ ba. Người đã tham gia dự thảo Nghị quyết về chủ nghĩa Cộng sản và các thuộc địa và Lời kêu gọi những người bản xứ ở các thuộc địa tại Đại hội lần thứ nhất (1921) và lần thứ hai (1922) Đảng Cộng sản Pháp. Người đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên có nhiều đóng góp tích cực cho vấn đề giải phóng thuộc địa.

Với những sự kiện trên đây, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản chân chính. Và đây còn là mốc quan trọng đánh dấu việc Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước. Người đã hoàn thành sứ mạng Người tìm thấy con đường cứu nước Việt Nam .

Tiếp theo là những hoạt động của Hồ Chí Minh với sứ mạng Người dẫn đường cứu nước đến thắng lợi.

Tìm thấy đường lối, con đường cứu nước đã khó, tiến hành tuyên truyền vận động quần chúng và tổ chức thắng lợi đường lối ấy trên thực tế còn khó hơn nhiều. Vì trong suốt tiến trình thực tế hoá đường lối ấy, người lãnh đạo có quyết tâm chưa đủ mà còn phải đánh giá đúng tình hình, lựa chọn đúng thời điểm, địa bàn”đối nội” và phải tìm được những cộng sự có thực tế và kinh nghiệm vận động tổ chức quần chúng. Tháng 6-1923, trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp Người phác họa công việc của mình – Người dẫn đường cứu nước khi trở về Tổ quốc là: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng là trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”[12]. Tuy nhiên con đường ấy còn nhiều gian truân. Người đã trải qua nhiều công việc, hoạt động ở nhiều quốc gia như: Nghiên cứu lý luận tại Đại học Phương Đông, dự nhiều Hội nghị quốc tế tại Liên Xô, làm cán bộ Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và nhiều năm làm phiên dịch trong Phái bộ Bôrôđin tại Trung Quốc (1924-1927). Cũng trong thời gian này, tại Quảng Châu, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – Tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giữa năm 1927 Người trở lại Liên Xô, thực hiện nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao ở Pháp, Bỉ, Đức, Thuỵ Sĩ, Italia rồi về Xiêm, Thái Lan, Trung Quốc.

Đầu năm 1930 tại Hồng Kông (Trung Quốc), Người đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng tại đây, từ giữa năm 1931 đến năm 1933, Người bị thực dân Anh bắt giam. Đầu năm 1934 sau khi thoát tù, Người trở lại Liên Xô học Trường Quốc tế Lênin và làm nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (thuộc Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản). Thành công nổi bật trong hoạt động cách mạng của Người là nhận thức và giải quyết thoả đáng mối quan hệ dân tộc và giai cấp – vấn đề quan trọng và nhạy cảm mà ngay Quốc tế Cộng sản cũng có lúc mắc sai lầm. Người rất chú ý đặc điểm và truyền thống dân tộc, nhưng không vì thế mà xa rời lập trường giai cấp. Điều này được thể hiện qua luận điểm: “Vậy là màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”[13]. Những luận điểm sáng tạo về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng thuộc địa còn được thể hiện rõ trong nhiều bài báo , đặc biệt trong tham luận của Người được trình bày tại Đại hội V của QTCS năm 1924. Trong bối cảnh QTCS chịu ảnh hưởng sâu sắc của trào lưu “tả” khuynh, biệt phái từ sau khi Lênin qua đời (1924), đặc biệt sau Đại hội VI của QTCS (1928), Người vẫn kiên trì học tập lý luận và thường xuyên lập kế hoạch về nước thực thi con đường cứu nước để bắt liên lạc với Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở trong nước.

Nét đặc sắc nhất cuộc hành trình cứu nước 30 năm là không bao giờ Người xa rời mục đích về nước cứu đồng bào. Khi ở Liên Xô dự Đại hội lần thứ VI Quốc tế Thanh niên, Người nói với nhà văn I. Êrenbua: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở và Tổ quốc”[14]. Khi đang hoạt động trong Bát lộ quân Trung Quốc, Người vẫn bí mật liên lạc với Ban lãnh đạo Đảng trong nước chuẩn bị xây dựng căn cứ địa vùng biên giới Việt Trung. Cuối tháng 6 năm 1940, ngay sau khi Pháp đầu hàng phát xít Đức, Người chỉ thị gấp cho đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp không đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Diên An nữa mà cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh đi Quế Lâm, Nam Ninh (Quảng Tây) hướng về Cao Bằng đón thời cơ mới. Đầu năm 1941, sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh kết thúc Hành trình cứu nước, về vùng rừng núi Cao Bằng – địa đầu Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo dân tộc thực hành đường lối cứu nước mới, mở ra giai đoạn mới trong công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam.

4. Ra đi tìm đường cứu một quốc gia là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nhưng tìm thấy con đường ấy và điều quan trọng tiếp theo là bổ sung, hoàn thiện nó cho phù hợp với điều kiện cụ thể rồi đưa về áp dụng trong nước là việc khó gấp bội phần. Sau nhiều lần thất bại của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên kết hợp thành công sức mạnh trong nước và quốc tế – dân tộc và thời đại, yếu tố khách quan và chủ quan để tìm ra lời giải cho “Bài toán thế kỷ” đã đặt ra trước dân tộc từ đầu thế kỷ XX. Người đã khảo sát thực tế, nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm của nhiều thế hệ đã tìm thấy con đường cứu Việt Nam khỏi ách thống trị thực dân phong kiến. Tuy nhiên cần thấy rõ, đây không phải đơn giản là việc lựa chọn một mô hình con đường có sẵn để vận dụng vào Việt Nam. Mặc dù Luận cương của Lênin cũng như những quan điểm của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp có vị trí quan trọng trong “con đường cứu nước” mà Hồ Chí Minh tìm đến; song chỉ ngần ấy thôi, chưa phải là con đường cứu nước Hồ Chí Minh, bởi lẽ đó chỉ là những nguyên tắc lý luận, định hướng mang tính phổ biến. Con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo những nguyên tắc, quan điểm ấy vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam không chỉ được tạo ra bởi tác động mạnh mẽ của bối cảnh lịch sử mà còn bởi những đóng góp đầy sáng tạo của Hồ Chí Minh. Thắng lợi công cuộc giải phóng ở Việt Nam đã mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi thế giới. Đó tác động trở lại của cách mạng Việt Nam với thế giới, dấu ấn của Hồ Chí Minh với thời đại. Do đó, thế giới đã tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá kiệt xuất Việt Nam.

Nguồn Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam

[1]. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1996,T1,tr.314
[2].Dẫn theo báo Nhân Dân, ngày 18 tháng 5 năm 1965
[3] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.CTQG-Nxb.TN,H.1994,tr.12
[4] . Hồ Chí Minh Toàn tập,Nxb. CTQG, H.1995,t.1,tr.477
[5] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…, Sđd,tr.12
[6] Xem: Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb.CTQG,H.1995,t1,tr.273-289
[7]. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 40-50
[8] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…Sđd, tr.41-42
[9] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện…Sđd,tr.31
[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t. 10 tr.127
[11] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t12,tr.471
[12] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd,t.1 tr.192
[13] Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd,t.1,tr.266
[14] Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, xuất bản lần thứ 2,Nxb.CTQG, H.2006,t.2,tr.63

baoninhthuan.com.vn

Nguyễn Tất Thành với cuộc trường chinh tìm đường cứu nước – Một trăm năm nhìn lại

Báo tin tức – Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2011), báo Tin Tức giới thiệu bài viết “Nguyễn Tất Thành với cuộc trường chinh tìm đường cứu nước – Một trăm năm nhìn lại” của Giáo sư Song Thành, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

Việt Nam, vào đầu thế kỷ XX, đã có một lớp thanh niên ưu tú rời nước ra đi, không phải vì mưu sinh mà vì khát vọng giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do và phẩm giá cho đồng bào. Họ nô nức Đông du theo lời kêu gọi đầy nhiệt huyết của Phan Bội Châu. Duy có một người thanh niên mảnh khảnh dám một mình tìm đường sang phương Tây. Đó là Nguyễn Tất Thành. Thành tựu chung cuộc đã làm cho việc ra đi đó trở thành một sự kiện lịch sử trọng đại, mở ra bước phát triển mới cho Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam. Chỉ có thể đánh giá hết ý nghĩa, giá trị và bài học của sự kiện này khi đặt nó vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc của phong trào cứu nước hồi đầu thế kỷ trước.

I. BỐI CẢNH XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

1. Sau thất bại của các cuộc khởi nghĩa vũ trang cuối thế kỷ XIX, tư tưởng của các sĩ phu yêu nước đã có sự chuyển biến. Họ cố thoát ra khỏi ý thức hệ phong kiến, đi tìm một con đường mới trong ý thức hệ tư sản Âu-Mỹ qua các tân thư được truyền vào từ Trung Hoa. Song những cố gắng ấy cũng đều lần lượt bị thất bại. Cuộc vận động chống sưu thuế bị đàn áp, Trần Quý Cáp bị xử tử, Phan Châu Trinh bị đày đi Côn Đảo. Vụ Hà Thành đầu độc thất bại, các nghĩa sĩ bị chặt đầu; Trường Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa; căn cứ nghĩa quân Yên Thế bị bao vây, đánh phá; phong trào Đông du bị tan rã, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông bị trục xuất khỏi nước Nhật,… Những nỗ lực cuối cùng của các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ hầu như đều đã thất bại.

Phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc đứng trước một cuộc khủng hoảng, bế tắc cả về lý luận, đường lối và phương thức đấu tranh. Làm thế nào để đánh đuổi được chủ nghĩa thực dân xâm lược, giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào? Câu hỏi đó ngày đêm nung nấu, day dứt tâm can lớp thanh niên yêu nước thế hệ Nguyễn Tất Thành lúc bấy giờ.

Sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước; được kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất của quê hương và gia đình, khi còn là một thiếu niên 15 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã sớm biết đau nỗi đau mất nước, xót xa trước nỗi thống khổ của đồng bào, đã sớm có chí đuổi giặc, cứu nước, giải phóng dân tộc.

Nhưng bằng con đường nào? Liên minh với ai, dựa vào ai để chiến đấu? Cuộc tranh luận không phải về mục tiêu mà về con đường: Dựa vào Pháp để cải cách như Phan Châu Trinh hay dựa vào Nhật để cứu nước như Phan Bội Châu? Mặc dù uy tín của hai chí sĩ họ Phan đều rất lớn, nhưng anh không đứng về phe nào. Trước khi đi đến quyết định, theo tinh thần “cách vật, trí tri”, anh cần tìm hiểu đến tận cùng thực chất của thời cuộc. Sau này, trong một lần trò chuyện với nhà báo Mỹ Anna Louise Strong, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau: Ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp? Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”[1]. Điều đó cho thấy, Nguyễn Tất Thành đã sớm có ý thức khám phá thời đại để tìm ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.

2. Bước sang thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, mỗi thuộc địa là một mắt khâu của hệ thống đế quốc, do đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không thể chỉ là hành động riêng rẽ của một quốc gia này chống lại sự xâm lược và thống trị của một quốc gia khác như trước kia, mà đã trở thành một bộ phận của cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Trong điều kiện lịch sử mới, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi, phải trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, như Lênin đã nói. Đây chính là đặc điểm mới của thời đại mà các sĩ phu trong nước thời đó chưa có điều kiện để nhận ra.

Với nhạy cảm chính trị của một trí tuệ hiếm có, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có được dự cảm nhất định về sự chuyển biến của thời đại. Kẻ xâm lược mới đến từ phương Tây, mang theo sức mạnh của văn minh phương Tây. Muốn thắng được họ, phải đi tìm một con đường khác. Đó là con đường nào? Ở tuổi 20, người thanh niên ấy chưa thể trả lời ngay được, nhưng sự lựa chọn đầu tiên đã tỏ ra vô cùng sáng suốt: Ngược với làn sóng Đông du, anh một mình đi sang phương Tây, nơi sớm nổ ra các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nơi các trào lưu tư tưởng tự do dân chủ và khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ. Phải ra đi xem xét họ làm ăn thế nào để trở về giúp đồng bào. Khát vọng đó của anh đã nảy nở từ rất sớm và lớn dần lên theo năm tháng.

Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành ra bến Nhà Rồng liên hệ xin việc. Ngày 3/6/1911, anh được giới thiệu và nhận vào làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin. Ngày 5/6/1911, với tên mới Văn Ba, anh theo tàu rời nước ra đi. Không khoác áo thân sĩ, ra đi trong tư cách một người lao động, khởi nghiệp với đôi bàn tay trắng, với một ý chí mãnh liệt, một nghị lực phi thường, một mình tiến hành cuộc trường chinh 30 năm đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

II. QUÁ TRÌNH TÌM TÒI VÀ HÌNH THÀNH CƠ BẢN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM

1. Tiến hành cuộc khảo sát rộng lớn thế giới tư bản

Nguyễn Tất Thành nhận làm bồi tàu, thủy thủ để có điều kiện được đi. Từ cảng Nhà Rồng, anh đã đi qua Xinhgapo, Côlômbô, vượt Hồng hải, qua Suez đến cảng Saïd, Marseille, Le Havre. Từ Pháp, anh trở lại Sài Gòn, rồi đi vòng quanh châu Phi, qua các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Angiêri, Tuynidi, trở lại các cửa biển Đông Phi, vòng qua Cônggô, Dahomey, Ghinê, Xênêgan, vượt Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, vòng xuống Nam Mỹ, tới Áchentina,… Sau đó, trở lại Anh, về Pháp, qua Đức, tới Liên Xô, về Trung Quốc, sang Thái Lan…, tất cả hơn 30 nước.

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là một trong số rất ít các nhà cách mạng đương thời có điều kiện đi nhiều, có một vốn hiểu biết khá tường tận về chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Bản thân là người dân thuộc điạ, ra nước ngoài hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của vô sản ở chính quốc, có gần 10 năm bôn ba, khảo sát các thuộc địa của đế quốc Anh, Pháp, Đức – từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ la tinh, nên có hiểu biết về bản chất chung và màu sắc riêng của mỗi nước đế quốc cũng như trình độ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội khác nhau giữa các nước thuộc địa. Nhờ vốn hiểu biết thực tế đó, cùng với một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, đã giúp Người không rơi vào các khuynh hướng cơ hội nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận một cách giáo điều những công thức lý luận không phù hợp với thực tế các nước thuộc địa, nhất là ở phương Đông.

2. Bắt đầu tham gia hoạt động chính trị, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lênin

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp vào lúc cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vừa bùng nổ thắng lợi, mở ra một hướng phát triển mới trong lịch sử loài người. Nhân Hội nghị Hòa bình Versailles, cùng với Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, dưới tên ký Nguyễn Ái Quốc, anh thử nghiệm sử dụng pháp lý tư sản và hình thức đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, đưa ra bản Yêu sách tám điểm, đòi quyền bình đẳng về pháp lý và các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Bản Yêu sách không được các đế quốc thắng trận để mắt tới, anh rút ra kết luận: Chương trình 14 điểm của Tổng thống Mỹ W. Wilson chỉ là một trò bịp lớn, “muốn giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình” [2].

Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng duy nhất ở Pháp tỏ ý quan tâm đến số phận các dân tộc thuộc địa. Tuy nhiên, anh đã thất vọng, vì họ nói rất hay, “thông qua những nghị quyết rất kêu, để sau đại hội đưa vào viện bảo tàng” [3].

Giữa lúc đó, ai đã chìa bàn tay thân ái đối với anh, với các dân tộc thuộc địa? – Chính phái tả của cách mạng Pháp, Quốc tế 3, Lênin và Cách mạng Nga! “Họ đã không vừa lòng với việc đọc những bài diễn văn rỗng tuếch và viết ra những nghị quyết “nhân đạo”… “Mặc dù đang vấp phải những khó khăn trong nước và ngoài nước, nước Nga cách mạng không hề một chút do dự trong việc giúp đỡ các dân tộc mà nó đã thức tỉnh bằng cuộc cách mạng anh dũng và thắng lợi” [4].

Chính nhờ thắng lợi của cách mạng Nga, rồi đọc Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ánh sáng cho con đường giải phóng dân tộc mình trong sự nghiệp giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức. Đêm kết thúc Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp (30/12/1920), Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế 3, đánh dấu bước ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời mở ra bước chuyển cho bao thế hệ người Việt Nam: Từ người yêu nước thành người cộng sản.

3.Vừa hoạt động thực tiễn, vừa nghiên cứu lý luận, góp phần bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác

– Nguyễn Ái Quốc khởi đầu hoạt động đấu tranh cách mạng của mình bằng việc tố cáo những tội ác man rợ của bọn thực dân ở thuộc địa, nhằm làm cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới biết được sự thật về cái gọi là “chính sách khai hóa” của bọn thực dân, gây men căm giận, phẫn nộ, từ đó kêu gọi “nô lệ thức tỉnh”: “Mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc” [5]. Sử dụng hình ảnh “chủ nghĩa tư bản là con đỉa 2 vòi”, nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả 2 cái vòi của nó đi, Nguyễn Ái Quốc nêu lên sự cần thiết phải thực hiện sự liên minh chiến đấu giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, hai cuộc cách mạng đó phải phối hợp nhịp nhàng với nhau như hai cánh của một con chim.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng đó, sự ủng hộ của quốc tế là rất quan trọng, song nhân tố quyết định vẫn là sự nỗ lực của bản thân nhân dân các dân tộc thuộc địa. Người viết: “Vận dụng công thức của C. Mác, tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em, chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em” [6].

Những bài báo đó của Nguyễn Ái Quốc đã đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành lý luận về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản.

– Sau khi đến Liên Xô, tham gia một khóa học lý luận ngắn hạn, rồi được mời tham dự nhiều đại hội và hội nghị quốc tế lớn, Nguyễn Ái Quốc có cơ hội vừa lắng nghe, học tập, vừa vận dụng vốn lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của mình, tham gia vào cuộc tranh luận, đưa ra những ý kiến sắc sảo, những luận điểm riêng, góp phần bổ sung và phát triển lý luận của Lênin về cách mạng ở thuộc địa.

Thời kỳ sau khi Lênin qua đời, về mặt lý luận, phong trào cộng sản quốc tế có xu hướng bị “xơ cứng hóa”, còn tỏ ra chịu ảnh hưởng nhiều của thuyết “dĩ Âu vi trung”(Européo-centrisme=lấy châu Âu làm trung tâm), thường chỉ nhấn mạnh vai trò quyết định của cách mạng vô sản ở chính quốc mà coi nhẹ hoặc đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở địa vị phụ thuộc.

Sớm nhận ra tình hình này, tại các diễn đàn quốc tế đó, bằng những lời lẽ tâm huyết và lập luận thuyết phục, Nguyễn Ái Quốc đã “thức tỉnh” các đồng chí cộng sản châu Âu về tầm quan trọng của cách mạng thuộc địa, rằng “vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa…” , rằng “nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc,… Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, lại khinh thường thuộc địa… trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí?” [7].

Từ luận điểm đó, Nguyễn Ái Quốc làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa. Người yêu cầu giai cấp vô sản ở chính quốc và đảng tiên phong của nó “không phải chỉ tỏ tình đoàn kết với những anh em cùng giai cấp ở đấy bằng lời nói, mà còn phải giác ngộ họ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và về phương pháp tổ chức” [8]; “cần nêu một tấm gương về những điều họ có thể và phải làm cho những anh em của họ đang bị áp bức” [9], chỉ có sự hợp tác đó mới có thể đảm bảo cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng.

Trước khi rời Mátxcơva đi về phương Đông, Nguyễn Ái Quốc thấy cần thiết phải chính thức phát biểu quan điểm của mình (báo cáo bằng văn bản) với BCH quốc tế cộng sản. Người nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi nước. Người đặt vấn đề: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? – Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” [10]. Đây không phải Nguyễn Ái Quốc phản biện Mác mà chỉ thể hiện sự phản ứng với khuynh hướng “lấy châu Âu làm trung tâm” vào lúc đó, vẫn coi châu Âu là mẫu mực, là điển hình cho sự phát triển của nhân loại, cho rằng khi nào cách mạng vô sản ở châu Âu thắng lợi thì các dân tộc thuộc địa đương nhiên sẽ được giải phóng,… (trong khi Nguyễn Ái Quốc, do đánh giá cao chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc của nhân dân thuộc địa, lại cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và bằng thắng lợi của mình mà góp phần “giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”) [11].

Xuất phát từ tư duy biện chứng và yêu cầu phải vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội các nước phương Đông và Việt Nam, trong báo cáo gửi quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đề xuất 3 luận điểm lớn:

+ “Cuộc đấu tranh giai cấp ở đó (tức Việt Nam) không diễn ra giống như ở phương Tây”, do ở đó sự phân hóa giai cấp chưa triệt để và sâu sắc; sự đối lập về tài sản và mức sống giữa các giai cấp chưa thật lớn, do đó, “sự xung đột về quyền lợi giữa họ được giảm thiểu”; hơn nữa các dân tộc Viễn Đông không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ, nên cuộc đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây (tức phương Tây).

+ “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” – hơn nữa còn là động lực vĩ đại và duy nhất của họ, vì ở các thuộc địa đang đấu tranh giành độc lập thì mâu thuẫn dân tộc và đế quốc là mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu nhất, mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc vẫn tồn tại, nhưng được giảm thiểu, vì dù là tư sản hay địa chủ (hạng vừa và nhỏ) cũng đều là người nô lệ mất nước.

+ Từ đó, Người mạnh dạn kiến nghị: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ các Xô viết phải đảm nhiệm” [12].

Những quan điểm trên đã thể hiện một năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc về lý luận, dựa trên quan điểm thực tiễn, quan điểm biện chứng vốn là linh hồn của chủ nghĩa Mác. Tiếc rằng 3 luận điểm đó được đưa ra vào thời điểm sau khi Lênin đã mất, quan điểm “giai cấp chống giai cấp” đang thắng thế, “chủ nghĩa dân tộc” bị coi là rơi vào phạm trù tư tưởng tư sản, nên không được quốc tế cộng sản chấp nhận. Tuy vậy, các quan điểm đó vẫn được Nguyễn Ái Quốc kiên trì vận dụng để chỉ đạo cách mạng Việt Nam, vì nó đúng với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam.

4. Từ Đường Kách mệnh đến Chính cương, Sách lược vắn tắt đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam

– Tác phẩm Đường Kách mệnh là sự phát triển các quan điểm lý luận đã được Nguyễn Ái Quốc sơ bộ nêu lên trước đó, nay được trình bày tương đối có hệ thống về con đường cách mạng Việt Nam.

+ Đường Kách mệnh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng Nga, tức là phải đặt nó trong quỹ đạo cách mạng vô sản.

+ Đường Kách mệnh xác định rõ con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua 2 giai đoạn: Dân tộc cách mệnh và thế giới cách mệnh, hai giai đoạn này có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng mỗi giai đoạn có mục tiêu và phương pháp vận động cách mạng khác nhau. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, chủ trương đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, trên nền tảng “công nông là người chủ cách mệnh”, “là gốc cách mệnh”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ,… ba hạng ấy chỉ là bầu bạn của công nông thôi”.

+ Đường Kách mệnh sớm chỉ ra tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết quốc tế, vấn đề phương pháp cách mạng như phương pháp tuyên truyền, giảng giải về lý luận, về chủ nghĩa, về giác ngộ và cách tổ chức – vận động quần chúng ra đấu tranh,…

+ Đường kách mệnh nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng, “Đảng có vững, cách mệnh mới thành công. Đảng muốn vững, phải có chủ nghĩa làm cốt… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

+ Đường Kách mệnh chỉ rõ sức mạnh của đảng cách mạng là ở lý luận, ở tổ chức, đồng thời còn ở phẩm chất chính trị và đạo đức của mỗi đảng viên. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đặt lên hàng đầu vấn đề đạo đức cách mạng, nhắc nhở phải “ít lòng tham muốn về vật chất, phải xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc,…” vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ, hận thù, chỉ điểm, phản bội, làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

Những nội dung trên cho thấy Đường Kách mệnh đã đặt cơ sở cho sự hình thành đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam theo đường lối cách mạng vô sản; nó đánh dấu sự chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đã diễn ra từ cuối thế kỷ XIX cho đến những năm 20 của thế kỷ XX.

– Chính cương, Sách lược vắn tắt và các văn kiện của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc thảo ra, đã đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng của Người về con đường cách mạng Việt Nam.

+ Về tiến trình của cách mạng Việt Nam, Chính cương nêu rõ “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, nghĩa là tiến trình đó gồm 2 giai đoạn cách mạng như Lênin đã nói; vì thổ địa cách mạng cũng chỉ là một trong 2 nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn tư sản dân quyền cách mạng. Còn để “đi tới xã hội cộng sản”, đó là nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng sau (giai đoạn thế giới cách mạng, tức cách mạng vô sản).

Xuất phát từ thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: đế quốc và phong kiến là 2 đối tượng phải đánh đổ trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng không coi 2 nhiệm vụ đó phải thực hiện ngang nhau, song song, đồng thời, mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, cần tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính, còn nhiệm vụ chống phong kiến, đem lại ruộng đất cho dân cày sẽ thực hiện từng bước, nhưng phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc. Đó là chỗ khác với quan điểm của Staline và quốc tế cộng sản.

+ Về đường lối tập hợp quần chúng: Sách lược vắn tắt đề ra chủ trương mềm dẻo, nhằm tập hợp rộng rãi các tầng lớp dân chúng, lôi kéo họ đi về phe vô sản giai cấp, còn đối với bọn phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng Lập hiến,…) thì phải đánh đổ.

Sách lược vắn tắt của Đảng cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, cùng với Chính cương vắn tắt trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, nguồn gốc tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là sự thấm nhuần và vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Lênin được Người đề ra trong Sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Tuy nhiên, ở thời kỳ sau Lênin, nhất là sau Đại hội VI quốc tế cộng sản (1928), khi mà cuộc tổng khủng hoảng của CNTB đang đến gần, quốc tế cộng sản cho rằng thời kỳ bùng nổ và thắng lợi của cách mạng vô sản châu Âu đã tới, càng nhấn mạnh hơn khẩu hiệu “giai cấp chống giai cấp”, coi cách mạng giải phóng của các dân tộc phương Đông chỉ nằm ở vòng ngoài, hỗ trợ cho thắng lợi của cách mạng vô sản; lúc này mặt trận Quốc-Cộng hợp tác ở Trung Quốc cũng đã thất bại và tan vỡ,… nên Chính cương, Sách lược của Nguyễn Ái Quốc bị phê là “sặc mùi hợp tác giai cấp”. Chỉ sau những thất bại liên tiếp của cách mạng vô sản ở châu Âu cuối những năm 20 đầu 30, trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và sự bùng nổ chiến tranh thế giới mới, Đại hội VII cách mạng vô sản (7/1935) mới thay đổi đường lối, mới trở lại với tư tưởng của Lênin về chính sách mặt trận, khi đó tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam mới được thừa nhận và triển khai trong thực tế.

III. TRỞ VỀ TỔ QUỐC LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THẮNG LỢI MỞ RA MỘT KỶ NGHUYÊN MỚI CHO LỊCH SỬ DẬN TỘC

Đến với cánh tả của cách mạng Pháp rồi với Lênin và Cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Người nóng lòng trở về Tổ quốc, “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”. Sau nhiều năm dày công chuẩn bị về chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng, đào tạo và huấn luyện cán bộ cho cách mạng Việt Nam, để chủ động đón thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, ngày 28/1/1941, Người đã vượt qua biên giới Việt – Trung, đặt chân lên mảnh đất địa đầu của Tổ quốc thân yêu sau mấy chục năm xa cách.

Ba mươi năm trước, khi Người bước chân ra đi, con đường cứu nước, giải phóng dân tộc vẫn còn mù mịt, chưa thấy đường ra. Ba mươi năm sau, Người trở về với Chính cương, Sách lược sáng trong lòng. Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), cùng với Trung ương Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp. Hội nghị nhận định: Cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền… (mà) là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian, đề thêm khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công,… Làm như vậy, như Hội nghị phân tích, không phải là bỏ mất nhiệm vụ điền địa, mà nhằm ngay nhiệm vụ bức thiết trước mắt là giải phóng dân tộc, vì “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [13].

Thi hành chính sách “dân tộc tự quyết”, Hội nghị cũng rút khẩu hiệu thành lập liên bang Đông Dương. Về vấn đề chính quyền, Hội nghị chỉ rõ: “Sau khi đánh đuổi được Pháp – Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới… Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp của chung cả toàn thể dân tộc… ai là người dân sống trên giải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền” [14] .

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã lôi cuốn hàng chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ, vẫn hăng hái tiến bước cùng giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ đã vươn lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới.

Công lao đó thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Người đã xông pha trên con đường vạn dặm để tìm ra cái “cẩm nang thần kỳ”, đưa sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc đến thắng lợi vẻ vang, lập nên nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở châu Á. Bài học khảo sát tận cùng thời đại với một tư duy dộc lập, tự chủ, sáng tạo nhằm tìm ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh từ 100 năm trước đây vẫn đang là tấm gương sáng mà chúng ta phải thấm nhuần, quán triệt, để tìm ra con đường phát triển phù hợp cho Việt Nam ở thời đại toàn cầu hóa hiện nay.

——————————-

[1] Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo Nhân Dân số ra ngày 18/5/1965.
[2] Hồ Chí Minh TT, 1995, t.1, tr.281
[3] Hồ Chí Minh TT, t.1, tr.281
[4] Hồ Chí Minh TT, t.1, tr.298
[5] Hồ Chí Minh TT, t.2, tr. 340
[6] Hồ Chí Minh TT, t.2, tr.128
[7] Hồ Chí Minh TT, t. 1.tr. 273-275
[8] Hồ Chí Minh TT, t.2, tr. 114
[9] Hồ Chí Minh, sđd, t. 1,tr.302
[10] Hồ Chí Minh, sđd, t.1,tr. 466
[11] Hồ Chí Minh TT, t.1, tr. 36
[12] Xem Hồ Chí Minh TT, t.1, tr. 466 – 467
[13] Văn kiện Đảng TT, t. 7 1940 -1945, tr.113.
[14] Văn kiện Đảng TT, t.7 tr.114

baotintuc.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước

(VOV) – Đây là chủ đề của hội thảo khoa học được tổ chức sáng 31/5 tại TP HCM.

Hội thảo 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911– 5/6/2011) do Thành ủy TP HCM phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ VH-TT&DL tổ chức.

Tham dự có Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng- Thủ tướng Chính phủ, Đinh Thế Huynh- Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Lê Thanh Hải- Bí thư Thành ủy TP HCM, Trần Đại Quang- Thứ trưởng Bộ Công an cùng các đồng chí lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu đến từ các viện, trung tâm, hội khoa học trong cả nước.

Cách đây tròn 1 thế kỷ, ngày 5/6/1911 từ bến cảng Sài Gòn, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước nhiệt thành, tình thương dân vô hạn và với nghị lực phi thường đã ra đi tìm đường cứu nước.

Sau 3 thập kỷ bôn ba qua bốn châu lục, gần 30 nước trên thế giới để lao động, học tập, tham gia hoạt động các tổ chức, phong trào cách mạng của thế giới, Nguyễn Tất Thành–Nguyễn Ái Quốc đã trở về nước trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên Chủ nghĩa Xã hội và giành thắng lợi này đến thắng lợi khác…

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tham luận tại hội thảo

Phát biểu khai mạc cuộc hội thảo, ông Đinh Thế Huynh cho biết, trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu về cuộc hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do ý nghĩa lịch sử sâu sắc, lớn lao của cuộc hành trình đó đối với cách mạng, với dân tộc Việt Nam, chúng ta còn phải tiếp túc nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn.

Ông Đinh Thế Huynh nhấn mạnh, hội thảo hôm nay không chỉ góp phần khẳng định sâu sắc hơn ý nghĩa, giá trị lịch sử lớn lao cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn góp phần tìm ra các bài học lớn cho hiện tại và tương lai của dân tộc…

Với chủ đề “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại Hội thảo một lần nữa khẳng định: Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội, trong suốt hơn 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử.

Đó là thắng lợi của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện rõ nhất là những thành tựu của đất nước sau 25 năm đổi mới, nhất là Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Trong bài tham luận của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi sâu phân tích một số nội dung cốt lõi trong Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội của đất nước (2011-2020) được soi rọi bởi tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa ra một hệ thống các quan điểm, mục tiêu và các giải pháp lớn, gắn kết với nhau hình thành một chỉnh thể phát triển, nhằm tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để làm được điều này, theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược…

Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và các đồng chí lãnh đạo trao đổi bên lề hội thảo

Bài tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội thảo cũng đề cập đến nội dung tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững; Phát huy nhân tố con người, coi con người là động lực, là mục tiêu của sự phát triển theo tư tưởng lấy dân làm gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Nâng cao chất lượng thể chế, giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường theo những chỉ dẫn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trước mắt là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tập trung mọi nỗ lực để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sản xuất, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011.

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh– Hành trình tìm đường cứu nước” đã nhận được 135 tham luận thể hiện tình cảm thiêng liêng, lòng kính trọng, yêu thương đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh– lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và Đảng ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân Văn hóa Thế giới.

Mỗi tham luận là sự dày công nghiên cứu, suy nghĩ và tìm tòi tư liệu, nội dung khoa học phong phú của các tác giả liên quan đến các chủ đề như: Tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội theo con đường Bác Hồ đã chọn; Hồ Chí Minh với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; Vững bước trên con đường Người đã chọn xây dựng Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh; Xây dựng Quân đội nhân dân, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa hiện nay; Chủ tịch Hồ Chí Minh- hành trình tìm đường cứu nước và 6 điều Người dậy lực lượng công an…

Các tham luận đã góp phần nâng cao nhận thức và khẳng định rõ hơn ý nghĩa lịch sử và thời đại về những di sản quý báu, tư tưởng cách mạng vô cùng sáng suốt, toàn diện và sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi trường tồn cùng dân tộc Việt Nam./.

Thành Chung

vov.vn

Người đánh xe ngựa đưa Nguyễn Tất Thành về trường Dục Thanh

Báo tin tức – Một sự kiện bất ngờ và xúc động không chỉ riêng cho gia đình ông Võ Huy Quang, mà cho những nhà nghiên cứu, cho tất cả chúng ta vốn yêu kính và rất quan tâm đến ai phát hiện thêm tư liệu mới về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

Chân dung ông Võ Văn Trang (1890 -21/9/1969).

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 -5/6/2011), được phép của gia đình ông Võ Huy Quang, chúng tôi xin công bố một đoạn ghi chép viết tay của cụ Võ Quang Miệng (Võ Văn Trang) là ông nội của Võ Huy Quang viết ngày 19 tháng 8 năm 1910 tại Bình Thuận, có liên quan đến việc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, trước khi đến dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết), góp phần nối thêm cuộc hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Cụ Võ Văn Trang, sinh năm 1890 tại làng Thuận Điền, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận (nay là Hàm Thuận Bắc) tỉnh Bình Thuận, là hội viên công ty nước mắm Liên Thành tại thị xã Phan Thiết được thành lập từ năm 1906, theo gợi ý của chí sĩ Phan Châu Trinh, do các ông Nguyễn Quý Anh, Nguyễn Trọng Lội (con trai nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông) cùng các sáng lập viên khác như Hồ Tá Bang, Nguyễn Huệ Chi, Trần Lệ Chất,v.v… ít năm sau đó Liên Thành chuyển cơ sở sản xuất vào Sài Gòn.

Nhà nghiên cứu Võ Huy Quang – tử tù Côn Đảo – trong quá trình sưu tầm tư liệu để dựng lại bộ gia phả họ Võ của mình, cơ duyên xui khiến (hay ông nội mách bảo) ông tò mò tìm xem hai bìa (bìa hai lớp) của quyển “Võ gia khảo ký”, 1906 do ông nội ghi chép để lại. Vô cùng bất ngờ và sung sướng, ông Quang phát hiện một mảnh giấy vàng úa và chính là chữ của ông nội mình viết, có ghi ngày tháng năm và ký tên. Nước mắt ông trào ra. Ngưng một lát lấy lại bình tĩnh, lòng nghĩ thầm chắc là có điều gì tâm huyết hệ trọng lắm ông nội mới cất giấu kỹ như vậy? Mảnh giấy nhỏ chỉ chứa 74 chữ và số nhưng quý giá vô cùng (có bản kèm theo), nguyên văn như sau :

“Sáng ngày 19 tháng 8 năm 1910, tôi được chú Nguyễn Trọng Lội, chú Nguyễn Huệ Chi và chú Hồ Tá Bang trong Hội đồng quản trị của Thương quán Liên Thành, những người sáng lập ra Hội giáo dục Thanh niên thể dục thể thao gọi là Dục Thanh, cơ sở kinh tế Hội quán Liên Thành… Đưa xe ngựa đến chùa Phước An ở xứ Duồng, Gành Son gặp cụ Nghè Mô và sư thầy Tạ thủ Bửu Hữu Hiền để đưa một thầy giáo về dạy học ở trường Dục Thanh Phan Thiết.
Bình Thuận, ngày 19 tháng 8 năm 1910
Võ Văn Trang (ký tên)”

Bản viết tay này đã được Viện Khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát PCTP (Bộ Công an) giám định và kết luận “là do cùng một người viết ra” tại Công văn số: 04-CV/C54-P5 “v/v trả lời kết quả giám định”, ngày 22 tháng 3 năm 2011 do Thiếu tướng PGS.TS Ngô Tiến Quý, Viện trưởng ký tên và đóng dấu.

Ngày 19/5/2011, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận đã tổ chức trọng thể lễ trao nhận hiện vật “Bức thư” có nội dung liên quan đến sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ) dừng chân dạy học tại trường Dục Thanh – Phan Thiết – do ông Võ Huy Quang trao tặng.

Ông Võ Văn Trang còn là người cất giữ 9 (chín) đồng bạc Đông Dương do chính tay thầy giáo Nguyễn Tất Thành gửi trả bớt lại cho Liên Thành lúc chia tay .

Số là một ngày vào tháng 3 năm 1911 thầy giáo Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn. Trước khi thầy Thành ra đi, ông Nguyễn Quý Anh, phụ trách phân cuộc Liên Thành thương quán ở Sài Gòn, chỉ đạo ông Phạm Phú Hữu (cháu nội quan đại thần triều đình Huế Phạm Phú Thứ) chi 27 (hai mươi bảy) đồng bạc Đông Dương để trao cho Nguyễn Tất Thành làm lộ phí. Nhận tiền, Nguyễn Tất Thành do dự một hồi rồi chỉ nhận 18 (mười tám) đồng còn 9 đồng gửi lại. Thấy vậy ông Võ Văn Trang với lòng xúc động và kính trọng đã nhận giữ và gửi trả lại bằng 9 đồng bạc giấy cho ông Phạm Phú Hữu nộp vào quỹ Liên Thành thương quán.

Được biết, sau khi nghe hung tin Bác Hồ qua đời (3/9/1969), cụ Võ Văn Trang cùng tuổi và rất thương yêu quý trọng Bác Hồ đã vô cùng đau buồn, bỏ cả ăn uống, rồi nhịn ăn đến chết lúc 2 giờ sáng ngày 21//9/1969 trong căn hầm tránh pháo trong ấp chiến lược Tân Phú Xuân, huyện Hàm Thuận (Bình Thuận).

Nguyễn Thanh Bền (Ghi theo tư liệu của gia đình ông Võ Huy Quang)

baotintuc.vn

Lời Bác thắp sáng ước mơ



Trong hai ngày 4 và 5-6 tại TPHCM, Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác năm 2011 đã diễn ra với nhiều hoạt động thiết thực. Mỗi bạn trẻ trong số hơn 300 thanh niên tiên tiến dự đại hội là một tấm gương gắn với cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”.

Người hùng bình dị

Anh Lê Văn Điệp, Phó Bí thư Chi đoàn thôn Hà Lời, xã Sơn Trạch, tỉnh Quảng Bình, được người dân địa phương đặt cho cái tên rất trìu mến “Anh hùng sông Son”. Tháng 10-2010, toàn bộ xã chìm trong nước lũ. Lấy một chiếc thuyền thường dùng để đưa du khách tham quan động Phong Nha, anh Điệp lao vào dòng nước lũ, đưa bà con trong thôn đến nơi an toàn. Được cả nước biết đến nhờ thành tích cứu hơn 150 người trong trận lũ tại thôn Hà Lời, thế nhưng cuộc sống của người hùng Lê Văn Điệp vẫn còn những khoảng lặng. Con gái đầu lòng của anh vừa mới mất vì bạo bệnh, ngôi nhà bị lũ cuốn trôi vẫn chưa được xây dựng lại.

Nhìn vóc dáng thư sinh của thiếu úy Nguyễn Chí Ninh (Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tây Trang, tỉnh Điện Biên), ít ai nghĩ rằng người y sĩ này lại là khắc tinh của tội phạm ma túy. Trong một chuyên án, thiếu úy Ninh bị đối tượng nhiễm HIV đâm khiến phải điều trị phơi nhiễm hơn 3 tháng. Nhiều lần đứng ở lằn ranh giữa cái sống và cái chết, anh không hề băn khoăn.

Anh kể: “Tôi luôn tâm niệm hai điều Bác dạy. Một là tận tụy với nhân dân, hai là cương quyết với kẻ địch. Tháng 4-2010, khi đánh chuyên án ma túy cùng với 4 đồng đội ở gần khu vực cửa khẩu quốc tế Tây Trang. Lúc ấy hơn 3 giờ sáng và sương mù dày đặc. Sau một lúc giằng co, chống trả quyết liệt, biết không thể thoát được, đối tượng đã liều lĩnh lao xuống vực (sâu hơn 30m) để tẩu thoát. Không kịp nghĩ ngợi, tôi lập tức lao theo giữ chặt đối tượng”.

Lan tỏa

Theo anh Trần Văn Toàn (Đồn Biên phòng Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng), thấm nhuần bài học gần dân của Bác, cán bộ chiến sĩ biên phòng luôn chủ động gần gũi nhân dân. Nhờ đó, người dân đã cung cấp rất nhiều thông tin, giúp các anh phá nhiều vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, tiêu thụ tiền giả…

Anh Toàn chia sẻ: “Cuộc đời vĩ đại của Bác có vô số những bài học mà chúng ta không dễ dàng gì thấm nhuần hết được. Thế nên, trước hết cần phải suy ngẫm những gì gắn liền với chuyên môn, công tác của mình để học tập và làm theo. Tư tưởng, đạo đức của Bác như ngọn lửa soi đường cho thế hệ trẻ”.

Phát biểu tại Đại hội Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM, cho rằng, những thanh niên tiên tiến được tuyên dương lần này đã khắc họa hình ảnh thế hệ thanh niên thời kỳ mới, luôn trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, dám dấn thân, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi gian khó, đảm nhận những việc mới, việc khó với ý chí quyết tâm đưa đất nước vươn lên.

Thanh An

sggp.org.vn

Một thế kỷ bến Nhà Rồng

Tròn 100 năm, người con ưu tú của dân tộc Nguyễn Tất Thành bước chân xuống tàu Admiral Latouche Tréville tại Bến Nhà Rồng bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước. Sự kiện đó để lại dấu ấn thiêng liêng cho Cảng Nhà Rồng trở thành  một biểu tượng của miền Nam thành đồng Tổ quốc. Với  niềm vinh dự này mà lực lượng Biên phòng hiện đang làm nhiệm vụ tại cụm Cảng Sài Gòn đã nhiều năm qua luôn có những thành tích bất ngờ và vượt trội.

Cảnh quan quanh Bến Nhà Rồng nhìn từ sông Sài Gòn.

Chúng tôi theo chiếc bo bo của Bộ đội Biên phòng cụm cảng Khánh Hội – Nhà Rồng hành trình tuần tra thường nhật qua mặt sông trung tâm thành phố. Thiếu tá Phan Thanh Bình, người lái bo bo đưa đường gắn bó với chốt kiểm soát số 2 đã 4 năm qua, hàng ngày đều phải thường trực ở chốt gác đặc biệt này. Anh nói: Chúng tôi ở đây vẫn coi Nhà Rồng như một điểm đỏ gợi nhớ đến Hồ Chủ tịch và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Công việc hàng ngày của các anh là tuần tra an ninh, kiểm soát hàng hải và hơn hết là bảo vệ di tích “điểm đỏ” này.

Nhà Rồng của 100 năm trước nguyên là tòa nhà bán vé cho hành khách của Hãng tàu biển của Pháp Messageries Maritimes. Ngày nay, Bến Nhà Rồng được đánh số 1, khởi đầu đường Nguyễn Tất Thành – con đường xương sống để phát triển kinh tế xã hội cho quận 4, TP Hồ Chí Minh. Trong tổng thể 12.000 m2 khuôn viên di tích bây giờ được dùng làm Bảo tàng Hồ Chí Minh, lưu giữ những hình ảnh nơi ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ. Không xa tòa nhà đặc biệt này, bến phà Thủ Thiêm nối quận 1 và quận 2 của thành phố vẫn đang hoạt động trước khi hầm Thủ Thiêm được đưa vào sử dụng trong năm 2011. Ngã ba sông Sài Gòn – Bến Nghé nay mai sẽ hình thành con đường ngầm qua sông hiện đại, nối dài thành phố bằng đại lộ Đông Tây. Từ Bến Nhà Rồng dọc theo sông Sài Gòn, đề án quy hoạch gồm cảng tàu du lịch gắn với khu di tích Bảo tàng Hồ Chí Minh sẽ trở thành một quần thể cảnh quan phức hợp dịch vụ du lịch và cảng biển.

Trong vòng bán kính 1km quanh bến Nhà Rồng đang diễn ra một cuộc thay đổi lịch sử trong quy hoạch hạ tầng đô thị đối với TP Hồ Chí Minh. Một tòa nhà hiện đại 68 tầng cao nhất Đông Nam Á đã hoàn thiện với hình dáng một búp sen vươn lên trên bờ sông Sài Gòn. Gần kề ngã ba sông Sài Gòn là cây cầu Phú Mỹ hiện đại vươn qua hai khu vực đô thị lớn là Thủ Thiêm và Phú Mỹ Hưng.

Tuần tra trên sông.

Năm 2010, đã có 103 chuyến tàu cập cảng Nhà Rồng – Khánh Hội với gần 27 ngàn thuyền viên và hơn 50 ngàn lượt khách du lịch. Càng gần dịp đón Tết Nguyên đán Tân Mão, khách du lịch đi tàu biển đến TP Hồ Chí Minh càng đông. Trong đó có một địa điểm mà họ không thể bỏ qua trong lịch trình tham quan đó là di tích Nhà Rồng. Chốt gác số 2 những ngày này luôn phải thường trực đủ quân số, chỉ nghỉ ca, chứ không được nghỉ ngày lễ. Những hôm có bắn pháo bông tại khu vực Bến Nhà Rồng, các anh phải căng thẳng tuần tra hàng giờ trên mặt sông, nhất là vào giờ cao điểm như Giao thừa, sáng mùng 1 – khi các tàu vào cảng “xông đất”. Ngoài việc giám sát các tàu ra vào cảng, 5 cán bộ, chiến sĩ phải thường trực đảm bảo thông thoáng mặt sông liền kề với trung tâm đô thị. Năm 2010, Biên phòng Cửa khẩu Cảng Sài Gòn đạt danh hiệu đơn vị Quyết thắng và đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc cải cách thủ tục khai báo hành chính qua cảng.

Thượng tá Đào Quốc Huy, Chính trị viên của Biên phòng Cửa khẩu Cảng Sài Gòn phấn khởi nói: “Chưa có đơn vị kiểm soát hành chính nào tại cụm cảng Sài Gòn có được sự đổi mới toàn diện thủ tục hành chính như biên phòng cho tới thời điểm này. Điều mấu chốt của sự quyết tâm đổi mới không nằm ở máy móc hiện đại hay là biên chế thông thoáng mà lại nằm ở lòng người có muốn hay không”. Khẳng định như thế bởi đây là đơn vị tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính từ cách đây 5 năm. Vào thời điểm này, khi các đơn vị khác còn đang mắc míu trong lộ trình đổi mới thì Biên phòng Cảng Sài Gòn đã nhanh chóng đưa chương trình ứng dụng công nghệ thông tin để tiếp nhận thông tin khai báo thủ tục biên phòng qua mạng cho tất cả các tàu thuyền Việt Nam và nước ngoài xuất, nhập, quá cảnh ra vào cửa khẩu cảng của TPHCM. Ngày trước, mỗi tàu cập cảng, biên phòng phải có một chốt gác 4 ca 16 người nay giản tiện chỉ còn 4 người. Người nào đeo thẻ điện tử có mã vạch thì chỉ kiểm tra một lần thay vì chồng chéo nhiều lần kiểm tra, nhiều ngành kiểm tra như trước đây. Đây cũng là tiền đề cơ bản ra đời nghị định mới về quản lý hoạt động hàng hải tại các cảng biển và khu vực hàng hải Việt Nam.

Dự án cảng Sài Gòn tại khu đô thị cảng Hiệp Phước có tổng diện tích khoảng 100 ha với năng lực xếp dỡ khoảng 18 triệu tấn hàng hóa mỗi năm đã được khởi động. Cùng với việc nạo vét sông Soài Rạp, cảng hàng hóa Nhà Rồng – Khánh Hội sẽ được di dời về đây. Việc chuyển cảng hàng hóa khỏi nội ô thành phố là tất yếu cho một đô thị du lịch dịch vụ hiện đại. Đoạn bờ sông từ cầu Sài Gòn đến cầu Tân Thuận (quận 1, 4, Bình Thạnh), dài khoảng 4km sẽ là khu công viên văn hóa dịch vụ cảng biển phức hợp lớn nhất khu vực. Sông Sài Gòn trong tương lai sẽ như một cảnh quan thiên nhiên làm đẹp cho thành phố với bến Nhà Rồng – biểu tượng vĩnh cửu của miền Nam ở ngã ba Bến Nghé.

Đăng Bảy – Thúy Hằng

bienphong.com.vn

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Hành trình mở trang sử mới

QĐND Oline- Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bước chân xuống con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) với mục đích tìm ra con đường cứu nước. Hành trình cách mạng của người thanh niên ấy (sau này là lãnh tụ Hồ Chí Minh) đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, báo QĐND Online gửi đến bạn đọc tư liệu tổng hợp về một phần hành trình của Người..

Bối cảnh lịch sử Việt Nam

Những năm cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Trước sự áp bức, đè nén của thực dân Pháp, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung Kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế…Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để dập tắt các phong trào yêu nước đó và sau khi dập tắt phong trào Cần Vương, thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thực địa để làm giàu cho chính quốc.

Sở dĩ các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại có nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Sự vùng lên nhằm khôi phục nền độc lập của một số nhà yêu nước chưa đủ mạnh để đương đầu với chế độ thực dân đã tích luỹ đủ mưu mô chính trị và tiềm lực kinh tế, quân sự. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Bến Nhà Rồng hiện nay trong lung linh ánh điện-Ảnh Internet

Trong bối cảnh đó, xuất hiện một con người- người mà sau này trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam. Đó là cậu bé Nguyễn Sinh Cung- Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ở một địa phương có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như vốn kiến thức Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng tỏ rõ tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đồi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

Mô hình lớp học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nơi Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học trước lúc ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh Intrenet)

Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những mỹ từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1780, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản-mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới-mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Ở Trung Quốc, lúc ấy đất nước rộng lớn này bị các nước tư bản phương Tây xâu xé và cũng đang tìm lối ra nhưng đến giữa năm 1911, nhìn chung vẫn chưa có lối thoát mà phải đợi đến tháng 10-1911, dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên, Trung Quốc mới tìm thấy hướng đi thông qua cuộc cách mạng Tân Hợi.

Ở Ấn Độ, đất nước bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng đi cho dân tộc mình và Đảng Quốc Đại đã bước lên vũ đài chính trị.

Ở In-đô-nê-xi-a (bị thực dân Hà Lan đô hộ), nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.Từ 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác.

Đất nước Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp….

Như vậy, bối cảnh trong khu vực, thế giới có những thay đổi, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những bước chuẩn bị tiền đề cho sự đi lên của mình. Và ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng ( Sài Gòn cũ), trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville), Nguyễn Tất Thành trong vai người phụ bếp đã bắt đầu con đường sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc Việt Nam.

Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc

Tìm ra con đường chân lý

QĐND Online – Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tresville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Tàu “Đô đốc Latouche Tresville” nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Véc-xây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác-Lê-nin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin đăng trên báo L’Humanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Trong bối cảnh bấy giờ có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Chủ nghĩa Mác- Lê-nin, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam soi sáng đường cách mạng.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí dự Quốc tế Cộng sản V

Sau hơn 40 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng lả bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Lịch sử đã khẳng định và chứng minh rằng: Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển của dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Quá trình mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết ra đi tìm con đường chân lý đến khi Người trở thành Lãnh tụ Hồ Chí Minh là quá trình đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoặt của cách mạng

Truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lê-nin và sáng lập Đảng

QĐND Online- Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào nước ta, hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khởi thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt-Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, xác định con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội….Những công việc cách mạng vĩ đại đó cho thấy tầm nhìn xa, trông rộng của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ thực trạng của đất nước, Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay đảng cộng sản mà thành lập một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít để qua đó dần dần đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào quần chúng lao động, đó là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong các tác phẩm, các bài báo, bài giảng của mình, Người đã kết hợp việc phổ biến lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin với việc giới thiệu những phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, vạch cho nhân dân ta con đường đi đến độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đường Cách mệnh là một trong những tác phẩm có giá trị to lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở Việt Nam những năm 20. Người tổ chức chuyển tài liệu, sách vở, báo chí về nước, gấp rút đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; tổ chức tuyên truyền, cổ động tư tưởng cứu nước trong nhân dân; mở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu để trang bị cho các học viên những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, về những nguyên tắc hoạt động bí mật và kỹ năng thực hành các công việc vận động quần chúng; chọn những học viên ưu tú kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cử về nước gây dựng phong trào… Việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thúc đẩy sự phát triển những tổ chức cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Phong trào “vô sản hóa” đã góp phần đẩy nhanh quá trình giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê-nin của giai cấp công nhân. Phong trào đấu tranh của nhân dân lao động được lãnh đạo, liên kết với nhau thành một làn sóng mạnh mẽ. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Nguyễn Ái Quốc có công truyền bá, đã thật sự chiếm lĩnh được lòng tin của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua năm 1920. Ảnh TL

Năm 1930, việc hợp nhất thành công các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn (qua Chánh cương, Sách lược), có hệ thống tổ chức thống nhất, chặt chẽ, rộng khắp cả nước, là một bước ngoặt quyết định của lịch sử cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc – người tìm ra con đường cứu nước, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam; người tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; người rèn luyện, cán bộ, đảng viên theo chuẩn mực của đảng Mác – Lê-nin chân chính, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân.

Những quyết sách chiến lược trọng đại

Bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy tình hình thế giới có chuyển biến lớn, Người gấp rút trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Tám (5-1941). Đây là Hội nghị hoàn chỉnh thêm một bước sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được vạch ra từ Hội nghị Trung ương Sáu (11-1939). Tại Hội nghị này, Nguyễn Ái Quốc đã xác định nhiệm vụ dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Người khẳng định: Lúc này nếu quyền lợi của dân tộc không đòi lại được thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Người chỉ đạo thành lập một mặt trận rộng rãi và có tên thích hợp hơn Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để tập hợp lực lượng chống đế quốc. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời với Chương trình cứu nước do chính Hồ Chí Minh dự thảo. Người chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, tích cực chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền. Đón bắt kịp thời thời cơ, Người và Đảng ta đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc Dân ngày 16 và 17-8-1945 thống nhất ý chí toàn dân, quyết định Tổng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nắm vững vị trí quan trọng của chính quyền cách mạng, với Tuyên ngôn độc lập, Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, với việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự ra đời Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Nhà nước cách mạng- Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Suốt chặng đường sau đó, bằng tầm nhìn văn hóa sâu rộng, kinh nghiệm chính trị phong phú và sáng tạo, Người đã lãnh đạo, tổ chức và xây dựng Nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, luôn phấn đấu vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên phong tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Bác căn dặn “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Ảnh TL

Với phương châm kháng chiến “toàn dân, toàn diện”, “trường kỳ và tự lực cánh sinh”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Người đã hiệu triệu được lòng yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong thời điểm đất nước “ngàn cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài năm 1946; trong Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1-1959) về đường lối cách mạng miền Nam; trong chỉ đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền Nam-Bắc và cả tinh thần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”… là những nhân tố quan trọng, quyết định làm nên thắng lợi và thể hiện tinh thần nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong xu thế thời đại, phát huy được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của dân tộc. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giương cao, đưa Việt Nam thành lương tâm và khí phách của thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội của học thuyết Mác – Lên-nin vào điều kiện Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội-con đường phát triển của dân tộc mà Người đã lựa chọn, đang từng bước được hiện thực hóa sinh động trên đất nước Việt Nam.

Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và cách mạng vô sản thế giới

Xông pha, nhiệt huyết trong thực tế

QĐND Online- Hồ Chí Minh-nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế. Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hòa mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người-với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm 1925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lê-nin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủy viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam.

Sức lan tỏa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ La-tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Bổ sung sức sống của lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lê-nin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Các Mác, Ăng-ghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lê-nin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân-giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân-cùng với công nhân là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hóa, nhân văn.

Trách nhiệm kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “Xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

Hơn bao giờ hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam… Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Ngọc Thụy (biên tập)

qdnd.vn

Những bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1923


Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Trên báo mạng của Đài RFI tiếng Việt, tác giả Thụy Khuê đăng bài viết 4 kỳ với một cái tít khá giật gân: “Ai viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1923?”. Tên bài khiến tôi phải đọc. Bởi lẽ ai cũng biết, thời gian đầu, Nguyễn Ái Quốc được coi là bút danh tập thể của ba người: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành sau khi thảo bản Yêu sách gửi tới Hội nghị Versailles. Nếu làm rõ được những bài viết sau đó, khoảng từ giữa năm 1919 sang đầu năm 1920, bài nào là của Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường; bài nào là của Nguyễn Tất Thành thì cũng là một đóng góp trong việc nghiên cứu, bởi cần phải “trả lại những gì của César cho César”. Đó chính là cách ứng xử sòng phẳng đối với các vấn đề của lịch sử nói chung; cũng là một thái độ cần có trong nghiên cứu khoa học.

Nhưng để làm được việc đó thật không đơn giản chút nào. Những bài viết ấy xuất hiện cách đây đã hơn 80 năm, trong khi các tác giả của nó đã đi vào lịch sử từ rất lâu và những người đương thời-như những chứng nhân lịch sử-cũng chẳng còn ai. Để có thể làm rõ một cách thuyết phục, đòi hỏi phải rất công phu; phải đi sâu khảo sát thư tịch, sưu tầm, tra cứu bản thảo, bút tích của các tác giả từ những nguồn lưu trữ khác nhau trong và ngoài nước, so sánh đối chiếu nội dung, sự kiện được đề cập đến trong bài viết với cuộc đời hoạt động và văn phong của các tác giả,… để xem vào thời điểm đó, ai có thể viết, được công bố lần đầu tiên ở đâu, trên báo nào… Tóm lại, phải có minh chứng, lập luận, lý giải thuyết phục, chứ không thể cứ một mực tùy tiện, nói liều!

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 18 đảng Xã hội Pháp (12/1920). Ảnh tư liệu.

Đọc xong bài viết của Thụy Khuê, tôi hoàn toàn thất vọng, bởi tác giả của nó hình như không có ý định xuất hiện như một nhà khảo cứu với phương pháp làm việc khoa học, mà chỉ muốn làm một nhà báo tuyên truyền cho động cơ chính trị của nhà đài! Âu cũng là chuyện thường tình như là “nợ áo cơm, phải trả hình hài” vậy thôi! Người đọc nhận thấy ngay các chủ kiến và lập luận của Thụy Khuê đưa ra hoàn toàn không phải là kết quả của một quá trình tìm tòi nghiêm túc, dựa trên các chứng cứ xác thực, được chứng minh cụ thể, có nguồn xuất xứ tin cậy, mà chỉ toàn xuất phát từ những thiên kiến chủ quan, những lập luận hời hợt, để rồi đưa ra những kết luận hồ đồ với cách thức diễn đạt không thể chấp nhận trong nghiên cứu khoa học:Có lẽ là, có thể là, rất có thể là, phải chăng là… (của Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh,…) được tác giả lặp đi lặp lại hàng chục lần! Những lỗi thô thiển về logic và lập luận như vậy có lẽ chỉ những học sinh trung học đang tập viết văn chính luận mới thường mắc phải!

Tuy nhiên, người đọc vẫn hiểu được cái đích của bài viết mà Thụy Khuê muốn đi tới: Tất cả các bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc từ 1919 đến 1923, thậm chí đến năm 1927. Thụy Khuê cho rằng: Tất cả những bài được đăng trên Inprekor-cơ quan thông tin của Quốc tế cộng sản; rồi cuốn Đông DươngBản án chế độ thực dân Pháp cũng được quy cho là của Nguyễn Thế Truyền hoặc Nguyễn An Ninh mà không cần bất cứ một sự chứng minh nào! Thật không thể tưởng tượng nổi có một người cầm bút, định làm nghiên cứu mà lại liều lĩnh đến như vậy!

Cơ sở xuất phát cho mọi thiên kiến cực đoan của Thụy Khuê bắt đầu từ chỗ tác giả cho rằng: Giữa năm 1919 Nguyễn Tất Thành mới từ Anh trở lại Pa-ri. Lúc đó Nguyễn Tất Thành mới đang học tiếng Pháp nên chưa thể viết những bài báo có nội dung chính trị phức tạp được!

Kể ra, đối với một bài viết tùy tiện như thế, thực không đáng phải tốn nhiều giấy mực về nó. Nhưng với nhiều bạn đọc, nhất là các bạn trẻ, không có điều kiện trực tiếp với thư tịch gốc, đọc Thụy Khuê sẽ dễ bị ngộ nhận, nên tôi thấy cần thiết phải viết bài trao đổi này với Thụy Khuê và với các bạn đọc có quan tâm đến vấn đề được đặt ra.

Vậy, Nguyễn Tất Thành trở lại Pa-ri năm nào? Trình độ tiếng Pháp của anh ra sao?

Đúng là vấn đề thời gian Nguyễn Tất Thành trở lại Pa-ri chính xác vào ngày, tháng, năm nào vẫn đang còn có ý kiến khác nhau. Trong hai công trình nghiên cứu của mình về Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc, Tiến sĩ sử học Thu Trang đều cho rằng: “Nguyễn Ái Quốc đã đến Pa-ri vào đúng lúc Hội người Việt Nam yêu nước ra đời. Nghĩa là vào cuối năm 1916 đầu năm 1917, chắc hẳn không phải là trường hợp ngẫu nhiên”. Một số người khác, trong đó có nhà sử học Pháp Daniel Hémery, lại cho là vào năm 1919 chứ không phải năm 1917”. Cả hai phía đều dựa vào những báo cáo khác nhau của mật thám. Tuy nhiên, có nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng cần phân biệt thời điểm Nguyễn Tất Thành bí mật trở lại Pa-ri với thời điểm mật thám phát hiện ra anh từ sau vụ việc anh thay mặt nhóm người Việt Nam yêu nước đến trao bản Yêu sách 8 điểmgửi Hội nghị hòa bình Versailles. Nghĩa là mật thám Pháp chỉ phát hiện ra anh từ sau ngày 18-6-1919. Đó chính là thời điểm mà Tổ chức giúp đỡ người lao động nhập cư của Đảng Xã hội đã lo xong cho Nguyễn Tất Thành những giấy tờ hợp pháp, để từ đó anh có thể xuất hiện công khai. Như vậy, Nguyễn Tất Thành đã phải có mặt ở Pa-ri trước thời điểm nói trên từ lâu rồi.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết của một đảng viên Xã hội kỳ cựu, nguyên là công nhân xưởng in Báo L’Humanité, có chân trong ban đón tiếp người lao động nhập cư của Đảng Xã hội sau chiến tranh; ông kể: “Lần đầu tiên tôi gặp anh Nguyễn là vào tháng 7-1918, khi anh mới từ Luân Đôn sang được mấy tháng. Lúc đó, anh đang phải sống ẩn dật trong một căn phòng nhỏ ở phố Charonne, có khi hàng tuần không dám ra ngoài, để tránh mọi sự khám xét. Tôi đã thu xếp cho anh một chỗ ở mới tại quận 13, nhà đồng chí Moktar, người Tunisie. Để đảm bảo an toàn, khi Moktar đi vắng, anh không được đốt lửa, thắp đèn, mùa đông năm ấy rất rét. Anh phải chịu đựng như thế cho đến khi Đảng thu xếp xong cho anh các giấy tờ hợp pháp: Giấy quân dịch, thẻ lao động…”.

Chứng cứ rành rành là vậy mà Thụy Khuê vẫn khẳng định thời điểm Nguyễn Tất Thành đến Pa-ri là tháng 6-1919 vì nó phù hợp với chủ kiến của mình: Mãi giữa năm 1919 Nguyễn Tất Thành mới đến Pa-ri, tiếng Pháp chưa thạo, làm sao viết được những bài báo chính trị phức tạp!

Vấn đề cần làm rõ là vào thời điểm đó, khả năng tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành đã đạt tới trình độ nào? Theo tiểu sử, chúng ta biết khi ở trong nước, anh Thành đã theo học tại Trường Quốc học Huế và hoàn thành chương trình lớp cao đẳng (cours supérieur). Trong lời khai với sở mật thám Huế ngày 19-3-1920, ông Nguyễn Tất Đạt cũng nói rõ: “Il obtint son certificat d’e’studes primaires en 1908 et fut admís au Quôc Hoc”. Khi ra nước ngoài, Nguyễn Tất Thành làm việc trên tàu viễn dương cho các hãng Chargeurs Réunis, rồi hãng Messageries Maritimes (Năm Sao). Đây đều là các hãng vận tải biển của Pháp, chỉ chuyên nói tiếng Pháp. Tại Marseille, ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành viết đơn bằng tiếng Pháp, gửi Tổng thống Cộng hòa Pháp, xin vào học Trường Thuộc địa, cuối thư có nói rõ: Biết tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Hán. Tiếp theo, tại Sài Gòn ngày 31-10-1911 và tại Niu Y-oóc ngày 15-12-1912, Nguyễn Tất Thành đã gửi hai bức thư cho Khâm sứ Trung Kỳ, một bức nhờ chuyển cho cha một ngân phiếu 15$, một bức cho biết đã gửi cho cha là Nguyễn Sinh Huy 3 ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một thư trả lời. Thư anh Thành viết tỏ ý muốn được biết địa chỉ và tình hình cha mình hiện nay sống ra sao. Những bức thư này đều được anh Thành viết bằng tiếng Pháp với cách diễn đạt gãy gọn, trong sáng và chuẩn xác về chính tả-ngữ pháp. Điều này chứng tỏ người viết đã có một trình độ vững vàng về tiếng Pháp. Thời gian đầu sang Anh, trong một lá thư gửi Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành viết: “Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp”. Điều đó cho thấy việc học nói và viết tiếng Pháp của anh Thành là một quá trình liên tục. Vì vậy, khi trở lại Pa-ri, anh đã có thể nói và viết tiếng Pháp thông thạo, đó là điều dễ hiểu.

Các mật vụ người Việt được “giao” nhiệm vụ theo dõi anh đều có báo cáo giống nhau. Ví như mật báo của Đốc phủ Bảy (mật danh là Edouard) viết: “Anh ta nói được tiếng Anh và tiếng Pháp thông thạo, biết ít tiếng Đức và tiếng Trung Quốc”. Một nhà báo Mỹ đã phỏng vấn anh và đăng bài đó trên tờ Yi Che Pao, xuất bản ở Thiên Tân, số ra ngày 2-9-1919, xác nhận “Nguyễn Ái Quốc nói tiếng Pháp rất giỏi” (parle admirablement le francais).

Không lâu, sau khi xuất hiện công khai, Nguyễn Ái Quốc đã hăng hái đăng đàn diễn thuyết bằng tiếng Pháp với thính giả Pháp, xin đơn cử:

– Ngày 14-1-1920, tại số 3 đường Chateau – Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết về đề tài “Sự tiến triển trong xã hội các dân tộc châu Á và những yêu cầu của nước Nam” (Theo BáoL’Humanité các số ra ngày 13 và 14-1-1920 và báo cáo của mật thám Jean).

– Ngày 11-2-1920, Nguyễn Ái Quốc thuyết trình đề tài “Chủ nghĩa cộng sản ở châu Á và vấn đề ruộng công điền ở Trung Quốc và Việt Nam”, tại Hội nghị những người thanh niên CS Quận 2 (Theo báo cáo của mật thám Jean).

– Tại cuộc mít tinh kỷ niệm 1-5-1920, Nguyễn Ái Quốc đã lên diễn đàn nói về “Chương trình hoạt động của Nhóm Xã hội đòi ngừng gửi người thuộc địa sang Pháp” (Báo cáo của mật thám Jean).

– Ngày 25-12-1920, Nguyễn Ái Quốc, đại biểu duy nhất là người bản xứ, được mời tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, khai mạc tại thành phố Tours. Ngay buổi chiều hôm sau, anh được Chủ tịch phiên họp-Emile Goude-mời lên phát biểu. Bài phát biểu ứng khẩu, được biên bản tốc ký ghi lại cho thấy ở anh một tư duy và ngôn ngữ Pháp sắc sảo, súc tích, sáng sủa, mạch lạc, tập trung vào mục tiêu tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, kêu gọi sự ủng hộ thiết thực sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa. Bài phát biểu đã được đại hội nhiều lần vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.

Ngay sau phát biểu của anh, Chủ tịch phiên họp E.Goude nhận xét: “Bằng một thứ tiếng Pháp tuyệt vời (En un excellent francais), ông đã tố cáo những tội ác, những hành động đàn áp và chuyên chế mà hai mươi triệu người An Nam là nạn nhân, họ bị đầu độc bằng rượu và thuốc phiện, bị bóc lột và truy nã bởi một thứ công lý tư sản đè nặng lên họ. Tất cả những đảng viên xã hội nhất trí phản kháng, chống lại những bất công và tội ác của thứ công lý tư sản ở Đông Dương” (Vỗ tay).

Đưa ra một vài dẫn chứng để hiểu được trình độ tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc vào quãng 1919-1920 khi ông bước vào hoạt động chính trị ngay tại thủ đô Pa-ri. Tất nhiên, từ văn nói đến văn viết còn phải qua một chặng đường học tập và rèn luyện nữa. Nguyễn Ái Quốc hiểu rằng, hoạt động chính trị công khai giữa Pa-ri phải sử dụng được vũ khí tuyên truyền sắc bén là sách báo. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức học viết, trước hết là học với người thầy trực tiếp ở ngay cùng nhà là Phan Văn Trường, sau đó là miệt mài ở các thư viện. Nhờ khiêm tốn và dày công học hỏi, nên Nguyễn Ái Quốc đã tiến bộ rất nhanh trong viết báo. Dấu ấn phong cách Phan Văn Trường trong những bài viết đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là rất rõ; hoặc do Phan Văn Trường hướng dẫn hoặc được Phan trực tiếp sửa chữa, nên sự khó phân biệt cũng là dễ hiểu (chính Hồ Chí Minh sau này đã công khai nói rõ điều đó). Vì vậy, ngày nay mới cần đến sự thẩm định của các nhà nghiên cứu.

Thụy Khuê xuất phát từ cái nhìn miệt thị, cho rằng Nguyễn Tất Thành tuy cũng xuất thân con quan, nhưng khi xuất dương đã phải sống một cuộc sống nghèo khổ, cực nhọc, không được học hành, không có bằng cấp như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, nên không đủ kiến thức và Pháp văn để viết. Vai trò của Nguyễn Tất Thành trong tờ Báo Le Paria chỉ là “giữ sổ sách, tập viết mấy dòng tin tức, in và phát truyền đơn” thế thôi! Những câu viết khinh thị với đầu óc nặng bằng cấp này chứng tỏ Thụy Khuê tuy sống ở Pháp đã lâu nhưng lại không có được cái nhìn tiên tiến của giới trí thức Pháp. Người Pháp thứ thiệt rất coi nhẹ bằng cấp mà coi trọng thực tài, đề cao tư duy độc lập, khả năng phản biện và cá tính sáng tạo. Hãy nghe một trí thức Pháp, ông Daniel Hémery, đánh giá về Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sau này: “Hồ Chí Minh không hoàn thành trọn vẹn một chương trình giáo dục nào, ông cũng không tiếp nhận đầy đủ một nền tri thức hiện đại cũng như nền nho học cổ truyền mà đứng giữa hai nền văn hóa đó. Ông là một người tự học đầy tài năng, là hình mẫu của giới trí thức không bằng cấp, sẽ giữ vai trò quyết định trong phong trào cách mạng”.

Bút danh Nguyễn Ái Quốc trở thành tên riêng của Nguyễn Tất Thành như thế nào và từ bao giờ?

Bút danh Nguyễn Ái Quốc xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 6-1919 trong bản Thỉnh nguyện thư gửi hòa hội Versailles, đồng thời cũng được gửi đến Tổng thống Hợp chủng quốc và các đoàn đại biểu nhiều nước tham dự hội nghị. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sáng kiến đưa Thỉnh nguyện thư là của Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành và do Phan Văn Trường chấp bút, dưới ký bút danh chung là Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên, địa chỉ ghi bên dưới Thỉnh nguyện thư không phải là 6 Villa des Gobelins, mà là 56 phố Monsieur le Prince, nơi cư trú lúc đó của Nguyễn Tất Thành. Ngày 14-11-1919, Bộ Thuộc địa Pháp có thư mời Nguyễn Ái Quốc đến gặp để kiểm tra lý lịch và đã gửi thư về địa chỉ 56 phố Monsieur le Prince. Tuy nhiên, khi đó Nguyễn Tất Thành đã chuyển đến số 6 Villa des Gobelins, nhà của Phan Văn Trường. Nhận được thư mời, Nguyễn Tất Thành ung dung đến trụ sở Bộ Thuộc địa kiến diện Bộ trưởng A.Sarraut – người đã có hai nhiệm kỳ làm Toàn quyền Đông Dương – và sau đó với P.Pasquier (người sau này cũng trở thành Toàn quyền Đông Dương). Qua những cuộc gặp gỡ và đối thoại thẳng thắn này, cùng với kết quả xác minh của những mật thám người Việt bủa vây quanh anh, người mang tên Nguyễn Ái Quốc hiện diện bằng xương bằng thịt đã được khẳng định chính là Nguyễn Tất Thành.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Nguồn: Internet).

Tất nhiên, bút danh Nguyễn Ái Quốc có thể vẫn được Phan Văn Trường tiếp tục sử dụng thêm trong khoảng thời gian từ cuối 1919 đến đầu năm 1920. Bởi lẽ, ở thời gian đó, bản Yêu sách vừa mới được công bố trên L’Humanité, nên các thế lực thực dân đang có phản ứng mạnh về nội dung bản Yêu sách. Do vậy, bút danh Nguyễn Ái Quốc đang nổi như cồn. Nếu các tác phẩm được ký với bút danh đó sẽ thu hút sự chú ý của người đọc hơn. Mặt khác, xét về nội dung các bài báo xuất hiện cuối năm 1919 như: Ở Đông Dương, Vấn đề dân bản xứ (L’Humanité, ngày 2-8-1919); Đông Dương và Triều Tiên (Le Populaire ngày 4-9-1919); Thư gửi ông Outrey (Le Populaire, ngày 14-10-1919)… nói chung đều xoay quanh nội dung bản Yêu sách, cùng một mạch văn, nên có thể vẫn do Phan Văn Trường viết. Điều này cũng đã từng được Tiến sĩ sử học Thu Trang nêu lên qua phân tích sự khác nhau trong lối hành văn, cách lý luận giữa Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc. Thu Trang cho rằng:“Phan Văn Trường vốn là luật sư, “có một túi luật lệ”, nên thỉnh thoảng ông đưa sự hiểu biết chuyên môn của mình ra để đấu khẩu với những tên thực dân (như bài Thư gửi ông Outrey); còn Nguyễn Ái Quốc, trong những bài báo về sau, “không mấy khi Nguyễn dùng luật lệ để bắt bẻ thực dân, mà phần nhiều hay dùng những chứng cớ hiển nhiên, dễ hiểu, thực tế đập vào mắt độc giả. Nội dung giản dị, dễ đọc, không đi vào chuyên môn; khi cần dẫn chứng thì mới trích đoạn chỗ này, chỗ khác, hoặc trích vài con số để chứng minh sự thật”.

Thu Trang nghi vấn các bài này có thể là của Phan Văn Trường, chứ không hề nghĩ đến Nguyễn An Ninh hay Nguyễn Thế Truyền như Thụy Khuê đã gán một cách vô căn cứ cho hai người này, bởi đơn giản là vì vào năm 1919-1920 Nguyễn Thế Truyền vẫn chưa có mặt tại Pa-ri. Theo Đặng Hữu Thụ, từ 1916 đến 1920, ông Truyền đang học đại học ở Toulouse, miền Nam nước Pháp. Năm 1920, ông Truyền tốt nghiệp kỹ sư hóa học và cử nhân khoa học ban Lý Hóa, sau đó về nước cưới vợ và ở lại trong nước hơn một năm. Ngày 23-8-1921, ông lại được học bổng của Thống sứ Bắc Kỳ, tiếp tục đi du học lần thứ ba và theo học tại Đại học Sorbonne. Cuối năm 1922, ông Truyền đậu cử nhân triết học và bắt đầu kết giao thân thiết với Nguyễn Ái Quốc, tham gia viết báo Le Paria. Có một thời gian ngắn ông Truyền tá túc ở số 6 Villa des Gobelins, sau đó thuê nhà ở tại số 6 đường Saint-Louis-en-I’Ile Paris. Như vậy, những bài báo đầu tiên của Nguyễn Thế Truyền sẽ chỉ bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 1922 trên tờ Le Paria.

Còn Nguyễn An Ninh, sinh năm 1900, 18 tuổi ông mới sang Pa-ri, tiếp tục học luật tại Sorbonne. Hai năm sau (1920) Nguyễn An Ninh đỗ cử nhân luật với tấm bằng xuất sắc, nhưng chưa thấy nói đến những hoạt động chính trị của ông vào thời gian này. Như vậy, khó có thể nói võ đoán như Thụy Khuê rằng Thư gửi ông Outrey là do Nguyễn An Ninh viết, với một lập luận “kỳ khôi”:“Outrey và Nguyễn An Ninh cùng ở Nam Kỳ nên biết rõ hành tung của nhau. Outrey biết rõ gốc gác và hành động của Nguyễn An Ninh,… khi đọc văn, y đoán chắc là của Nguyễn An Ninh, nên trong lời buộc tội của hạ viện, Outrey đã mô tả Nguyễn Ái Quốc như Nguyễn An Ninh” (sic)! Thụy Khuê cần biết rằng Outrey là ủy viên Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ và là đại biểu của Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ trong Hạ viện Pháp, rồi làm Thống đốc Nam Kỳ, đang dòm ngó chức Toàn quyền Đông Dương; còn Nguyễn An Ninh khi ở trong nước mới chỉ là một học sinh cao đẳng pháp chính thuộc Đại học ĐD, chưa đến 18 tuổi, hãy còn vô danh, nghĩa là chưa viết lách và chưa có hoạt động chống đối tiếng tăm gì. Vậy tại sao một quan chức thực dân cao cấp như Outrey lại có thể biết rõ gốc gác và hành tung của Nguyễn An Ninh, khi đọc văn y nhận ra ngay để có thể khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Nguyễn An Ninh? (những lập luận kiểu “tự do sáng tác” như thế không hiếm trong bài viết của Thụy Khuê, có dẫn ra nữa cũng chỉ làm mất thêm thì giờ của độc giả).

Vậy bút danh Nguyễn Ái Quốc trở thành tên riêng của Nguyễn Tất Thành từ bao giờ? Cần nói ngay rằng “nhóm Ngũ Long” là do người đời sau đặt ra để tôn vinh năm nhà hoạt động yêu nước nổi tiếng có mặt tại Pa-ri trong những năm 20 của thế kỷ trước (ví dụ như người ta vẫn đặt: “Nam Đàn tứ hổ”, “Thăng Long tứ kiệt”,….) chứ không phải là một “nhóm” có ý nghĩa về tổ chức, hình thành và hoạt động bên nhau cùng một lúc. Mỗi người có một vai trò và nổi lên ở một giai đoạn nhưng không phải khi nào họ cũng nhất trí với nhau về xu hướng, quan điểm và phương pháp hành động. Nguyễn Ái Quốc từ khi gia nhập Đảng Xã hội rồi trở thành người cộng sản thì xu hướng ngày càng cấp tiến, hoạt động ngày càng mạnh mẽ. Phan Văn Trường là một trí thức có quốc tịch Pháp nên chủ yếu muốn dựa vào pháp luật và báo chí công khai để đấu tranh. Phan Châu Trinh thì chủ trương cải cách ôn hòa, mềm mỏng, không muốn làm mất lòng người Pháp. Vì vậy, họ thường tranh luận, có khi to tiếng với nhau, từ đêm này qua đêm khác, khiến hàng xóm phải than phiền. Tranh luận mãi mà không thuyết phục được nhau cũng mệt mỏi, cuối cùng đành mỗi người tạm đi một nơi: Cụ Phan dọn về ở 21 Pernety rồi cuối năm đó xuống Marseille làm việc hơn một năm; Nguyễn Ái Quốc dọn về số 9 Ngõ Compoint, còn Phan Văn Trường đi Mayence, ngôi nhà ở Gobelin bỏ trống. Tuy vậy, về mặt tình cảm, họ vẫn kính trọng nhau và duy trì quan hệ với nhau hết sức tốt đẹp.

Thực tế đó cho thấy: Nguyễn Ái Quốc đã đi theo một con đường riêng, xu hướng thiên tả của anh được bộc lộ rõ ràng và mạnh mẽ trong hoạt động cũng như trong các bài viết. Theo đó, từ khi gia nhập Đảng Xã hội Pháp năm 1919, rồi sau đến Đại hội Tours (tháng 12-1920), trở thành người cộng sản, bút danh Nguyễn Ái Quốc được ký dưới những bài báo có xu hướng xã hội chủ nghĩa, thường hay nhắc đến Quốc tế Cộng sản, đã trở thành bút danh riêng của Nguyễn Tất Thành. Đó là điều dễ thấy, không ai có thể xuyên tạc được.

Về tác phẩm Đông DươngBản án chế độ thực dân Pháp: Trong bài viết của mình, Thụy Khuê có nói đến cuốn La France en Indochine của Nguyễn An Ninh được viết và xuất bản tại Pháp tháng 4-1925, nhưng thừa nhận nay không còn dấu tích (nghĩa là Thụy Khuê cũng chưa từng nhìn thấy, chưa nói là từng đọc), chỉ còn bài viết La France ent L’Indochine của ông đăng trên Europe, số 31, ra ngày 15-7-1925 cho ta biết tư tưởng đấu tranh của Nguyễn An Ninh. Thế mà Thụy Khuê đã vội phỏng đoán một cách hồ đồ rằng: “Cuốn sách mang tên Đông Dương (1923-1924) được dịch và đưa vào Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, phải chăng đây chính là tác phẩm La France en Indochine mà Nguyễn An Ninh đã cho in năm 1925?” (sic!).

Để tránh những kết luận liều lĩnh như trên, tôi khuyên Thụy Khuê nên đến Trung tâm Lưu trữ tư liệu lịch sử Nga, vào Phòng Quốc tế cộng sản, mở cặp tư liệu về Nguyễn Ái Quốc, đọc Hồ sơ số 7, sẽ thấy bản thảo bút tích, đánh máy tiếng Pháp, cuốn sách nhỏ nhan đề Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc được lưu tại đó. Trang bìa in nền hoa văn, có chữ viết tay của thủ thư bằng tiếng Nga, dịch ra như sau: “ĐÔNG DƯƠNG”

Dự thảo cuốn sách nhỏ của đồng chí Quốc (1923-1924): Dự thảo có 18 bài, gồm 82 trang đánh máy bằng tiếng Pháp, với các đề mục như sau: 1. Sa gesographie, Les classes. L’histoire. 2. Sa vie esconomique. 3. Les méfaits du militarisme. 4. Les atrocités de la civilisation. 5. Mentalité coloniale. 6. Les administrateurs. 7. Parasitisme et pétaudière. 8. Le consortium des bandits. 9. Concessions et concessionnaires. 10. Les travauxpublics. 11. Corvées ou travaux forces. 12. L’obscurantisme. 13. La presse. 14. Les impots. 15. La résistance. 16. L’Eglise. 17. La Justice. 18. L’Annam vu par les francais.

Đọc qua, người đọc có thể thấy ngay tên một số đề mục có sự trùng hợp với tên một số chương của Bản án chế độ thực dân Pháp. Tuy nhiên, có điều nội dung cuốn Đông Dương chỉ giới hạn tố cáo tội ác chế độ thực dân trong phạm vi xứ Đông Dương, còn Bản án chế độ thực dân Pháp đã được tác giả bổ sung và phát triển, mở rộng sự tố cáo ra các thuộc địa Á-Phi khác thành một tác phẩm đầy đặn hơn. Ông D.Hesmery đã cho rằng “Đông Dương” chính là tiền thân của tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”.

Trước khi đề cập đến tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp tưởng cũng nên nói qua về những bài viết trên Báo Le Paria. Vẫn quen lối nói bất cần khảo chứng, Thụy Khuê cứ tùy tiện nói bừa: “Những bài xuất hiện trên Báo Le PariaL’Humanité, phần lớn là của Nguyễn Thế Truyền; những bài trên Le Libertaire, phần lớn là của Nguyễn An Ninh; những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga, từ 1923 đến 1927, trên Le Paria và trên Inprékorr, báo Nga ấn bản Pháp ngữ, cũng của Nguyễn Thế Truyền” (sic)! “Nói có sách, mách có chứng”, yêu cầu đó đối với người Việt Nam, ngay cả trẻ nhỏ, ai cũng đều biết cả. Nhưng vì quá hăng hái “lập công” nên Thụy Khuê đã liều lĩnh nói bừa. Tuy nhiên, đáng tiếc là những lập luận đó của Thụy Khuê cũng chẳng đánh lừa được ai! Cần nhắc lại rằng Báo Le Paria do Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập, trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và viết chính. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc ngày 1-4-1922 đã có giới thiệu về số 2: Đón đọc bài Động vật học được viết rất hay của Nguyễn Ái Quốc, photographe – (chữ thợ ảnh được chú thích đàng hoàng như một chức danh, đó là bài viết của một thợ ảnh chứ không phải của moogj avocat hay licencié nào).

Bác Hồ, người thầy vĩ đại của báo chí Cách mạng Việt Nam. Ảnh tư liệu

Còn Nguyễn Thế Truyền, như đã nói ở trên, mãi cuối năm 1922 mới kết thân với Nguyễn Ái Quốc và tham gia cộng tác với Le Paria. Trong khi, bút danh Nguyễn Ái Quốc từ lâu đã trở thành tên riêng của Nguyễn Tất Thành. Trong 38 số báo Le Paria, có tới 37 bài của Nguyễn Ái Quốc, không kể bài dịch, với văn phong giản dị, thiết thực nhưng không kém phần trào lộng tinh tế, châm biếm sắc sảo, dồi dào tình cảm cách mạng và có tính chiến đấu cao, không thể trộn lẫn được. Chính nội dung những bài viết này, sau đã được Nguyễn Ái Quốc sử dụng lại, đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Có điều lạ là Thụy Khuê đều vơ tất cả các bài trênLe Paria và trên các báo khác về cho Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh mà lại gạt Phan Văn Trường ra? Nên nhớ, mãi đến 6-12-1923, ông Phan Văn Trường mới lên tàu về nước. Dưới một bút danh mới là PHAN, ông đã viết nhiều bài cho Le Paria. Theo GS Nguyễn Phan Quang, trong cuốn Luật sư Phan Văn Trường, các bài đó được đăng trên Le Paria các số: 11, 12, 13, 14, 16, 18-19, 21,… vào các năm 1922-1923.

Đối với tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, lúc đầu, Thụy Khuê khẳng định rằng đó là của Nguyễn Thế Truyền. Tuy nhiên, sau có lẽ thấy nói thế không thuyết phục được ai, nên Thụy Khuê đổi giọng: “có thể được coi là một sáng tác tập thể, mà Nguyễn Thế Truyền làm chủ biên và viết lời giới thiệu”. Thụy Khuê dẫn thêm một câu của Trần Dân Tiên: “Ông Nguyễn chỉ viết một cuốn sách duy nhất là tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”, để rồi lu loa lên rằng: Viết như thế “chứng tỏ ông chưa đọc “Bản án chế độ thực dân Pháp” vì “chẳng có cuốn sách nào của người Pháp lại viết về tội ác của một thành phần dân tộc mình như thế và lưu trong thư viện để ông chép lại” (sic)! Ô hay! Thật kỳ lạ cho tư duy của một nhà phê bình! Chẳng lẽ ở Pháp, Thụy Khuê chỉ quen biết với toàn những tên thực dân mà quên rằng, nước Pháp còn là quê hương của lý tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái; của những người xã hội và cộng sản; của những trí thức chân chính theo đuổi lý tưởng nhân đạo vào chính nghĩa, như J.Jaurès, A.France, M.Cachin, Vigné D,Octon…. và rất nhiều người khác nữa. Họ viết sách, viết báo lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân, bênh vực các dân tộc thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc trích dẫn những nhận định, đánh giá mà họ đã viết, đã nói như là một cách dùng “gậy ông đập lưng ông” thì có gì là lạ? Đây là dụng ý của Nguyễn Ái Quốc, được mật thám Jean ghi lại và đưa vào mật báo ngày 19-1-1920: “Tôi không muốn tự mình viết lấy, vì như thế không có giá trị trung thực. Tôi sẽ dùng những đoạn văn trong sổ sách đã viết về thực dân Pháp. Tôi sẽ cố gắng làm cho đậm nét những đoạn ấy”.

Có thể thấy, chính Thụy Khuê chưa đọc, hơn nữa có thể còn chưa được nhìn thấy tác phẩmBản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Bởi nếu được nhìn qua thôi, tôi tin chắc Thụy Khuê không dám liều lĩnh nói sách này là của Nguyễn Thế Truyền hoặc do ông Truyền làm chủ biên. Đơn giản là vì ngay trước trang bìa bên trong, sách đã in trang trọng ảnh chân dung tác giả của tác phẩm là Nguyễn Ái Quốc, một điều cũng hiếm thấy ở phương Tây lúc bấy giờ. Chính Nguyễn Thế Truyền trong lời giới thiệu cũng viết: Chúng tôi sẽ lần lượt đưa ra những bản án của các dân tộc là thuộc địa của Pháp trong một loạt các tập sách nhỏ mà mở đầu bằng bản án của một người An Nam: Nguyễn Ái Quốc.

Đề cập đến vấn đề tác giả của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, ông Đặng Hữu Thụ, vốn người Hành Thiện, tác giả cuốn sách khá đầy đặn về “thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền”, cho biết: “Trước khi đi Mạc Tư Khoa, ông Nguyễn Ái Quốc có viết cuốn sách lên án chế độ thực dân Pháp bằng Pháp ngữ. Ông có giao bản thảo sách cho ông Nguyễn Thế Truyền nhờ sửa chữa lại bản thảo, đề tựa và cho in tại Pháp. Sách được in năm 1926 tại, có bài tựa của ông Nguyễn Thế Truyền” (tr.120). Ông Truyền nhờ ông Bửu Nghi, du học ở Pháp là bạn thân của ông Truyền sửa dùm các lỗi chính tả, văn phạm, lời văn; sau ông Truyền xem lại, sửa chữa lần nữa, gọt dũa lại câu văn, viết lại nhiều câu ý tưởng còn thiếu mạch lạc, trước khi trao cho nhà in (tr.123-124). Ông Thụ kết luận: “Vậy tác giả cuốn sách trên là ông Nguyễn Ái Quốc” (tr.125).

Thụy Khuê chắc đã đọc kỹ cuốn sách này vì đôi lần trích ý kiến Đặng Hữu Thụ trong bài của mình. Tuy nhiên, đến đoạn nhận định mà tôi vừa nêu trên của ông Thụ thì Thụy Khuê lại lờ đi không nhắc đến chỉ vì nó không có lợi cho dụng tâm đang muốn thực thi. Cách trích dẫn của Thụy Khuê là như vậy, nhiều khi cố tình cắt xén cốt sao đạt được ý đồ của mình. Bản Việt Namyêu cầu ca được Nguyễn Ái Quốc chuyển thành văn vần để cho những người ít chữ dễ thuộc, dễ nhớ, nhưng không thể đưa in vì ở Pháp lúc đó không có chữ in quốc ngữ có dấu. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc phải viết tay, làm bản chụp rồi in ra. Việt Nam yêu cầu ca được Nguyễn Ái Quốc viết theo thể thơ lục bát. Bản phô tô trong sách của Thu Trang cho thấy Nguyễn Ái Quốc viết liền 2 câu 6/8 cùng 1 dòng. Nhưng vì dụng ý của mình, khi trích dẫn, Thụy Khuê chỉ chép lại trong bài viết của mình toàn các câu 6, bỏ các câu 8, làm cho nó trở nên ngô nghê, chẳng còn vần điệu gì. Làm như thế, Thụy Khuê cốt để hạ một câu: Nguyễn Tất Thành do sớm bỏ học, nên tiếng Pháp sơ sài, quốc ngữ cũng kém!

Vở kịch Le Dragon en bambou (chứ không phải de bambou như Thụy Khuê viết) cũng được Thụy Khuê gán cho là của Nguyễn An Ninh mà không đưa ra được chứng lý nào. Chúng ta được biết, Nguyễn Ái Quốc không chỉ viết báo chính luận mà còn sử dụng các loại hình nghệ thuật khác như: Truyện, ký, kịch, tranh biếm họa để phục vụ cho tuyên truyền chống chủ nghĩa thực dân. Tháng 5-1922, Chính phủ Pháp mở Hội chợ triển lãm thuộc địa tại thành phố Marseille để khoe công lao khai hóa thuộc địa và có mời vua bù nhìn Khải Định sang dự. Dụng ý của Chính phủ Pháp lúc bấy giờ là với sự có mặt của Khải Định minh chứng cho “công lao” khai hóa thuộc địa của chủ nghĩa thực dân tại triển lãm lần này. Sự kiện này làm cho những người Việt Nam yêu nước có mặt ở Pháp cảm thấy bị sỉ nhục. Một chiến dịch phản đối bùng lên, phê phán mạnh mẽ tên vua bù nhìn ươn hèn, ăn chơi trác táng. Phan Châu Trinh viết: Thất điều thư, còn Nguyễn Ái Quốc thì viết nhiều bài báo và truyện ngắn châm biếm Khải Định, trong đó có vở kịch ba hồiCon rồng tre (trước đó, ông đã diễn thuyết về đề tài sân khấu Việt Nam tại CLB Faubourg buổi sinh hoạt tháng 4-1922). Vở kịch được nhóm Faubourg đem công diễn và được khán giả nhiệt liệt hoan nghênh. Điều này được chính Léo Pold é s, một trí thức phái tả, là chủ nhiệm CLB Faubourg thời bấy giờ thừa nhận rất rõ trong một bài viết đăng trên Tuần báo Le Paria số 53, ra ngày 11, 12-6-1946, sau khi được gặp lại Nguyễn Ái Quốc đang thăm chính thức nước Pháp thời gian đó. Bài viết có đoạn: “Tôi đã đọc tập bản thảo. Thật là hay, thật là đẹp, lời văn vừa chải chuốt vừa gọn gàng với những cái châm biếm dí dỏm kiểu Aristophane… Thật không ngờ rằng 25 năm sau, người thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint, tác giả “Con rồng tre”, lại trở nên một vị Quốc trưởng với cái tên mới Hồ Chí Minh, Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!”.

Đỉnh điểm của sự xuyên tạc được gói lại trong phần kết luận của bài viết cuối cùng của Thụy Khuê. Trong bài viết này, Thụy Khuê đưa ra danh sách những bài báo ký bút danh Nguyễn Ái Quốc từ 1919 đến 1923 và tất cả đều được gán cho Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và nhiều nhất là cho Nguyễn Thế Truyền, không có bài nào là của Nguyễn Ái Quốc! Làm một cuộc phủ định sạch trơn như vậy, Thụy Khuê muốn nhằm mục đích gì? Thụy Khuê đã vu cáo một cách thâm độc: “Hồ Chí Minh không ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của mình” vì “chính những bài báo đó đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh”, “đã xác định tư tưởng Hồ Chí Minh”! “Vì thế, không thể để cho lớp trẻ học mãi những điều mạo nhận”! (sic).

Tuy nhiên, như bạn đọc đã thấy, âm mưu “lật đổ thần tượng” của Thụy Khuê đã thất bại thảm hại. Ở thời đại thông tin phát triển rộng rãi như hiện nay, mọi nguồn lưu trữ đã được minh bạch hóa. Đến những tài liệu được coi là tối mật của Mỹ mà cũng đã được WikiLeaks tung lên mạng. Trình độ nhận thức của đa số người đọc ngày nay cũng đã khác xưa. Thủ đoạn vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc, tung hỏa mù,… của thời chiến tranh lạnh mà Thụy Khuê quen dùng đã trở nên cũ kỹ, rất gây phản cảm cho người đọc. Viết văn, viết báo – dù là tiểu trí thức – thường bao giờ cũng phải lấy sự thật làm đầu, theo đuổi chân lý, chính nghĩa. Nếu dùng lối ngụy tạo một cách trơ trẽn, để lộ một nhân cách tầm thường thì chẳng đánh lừa được ai.

Mấy bài báo ở thời kỳ đầu khi Nguyễn Ái Quốc mới bước lên vũ đài chính trị chỉ là số rất nhỏ trong hàng vạn bài báo và tác phẩm do Hồ Chí Minh viết sau này, nó chẳng có vai trò như Thụy Khuê suy diễn, nếu như có sự lầm lẫn một đôi bài báo đó thì chính là lỗi ở các nhà sưu tầm, cả Pháp lẫn Việt, chứ không liên quan gì đến Hồ Chí Minh.

Cuộc đời vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với báo chí. Ảnh tư liệu/internet.

Huyền thoại Hồ Chí Minh đâu có thể hình thành từ vài bài báo? Huyền thoại Hồ Chí Minh chính là sản phẩm của một đời đấu tranh vào sinh ra tử, phải vượt qua bao thử thách hiểm nguy, phải đối phó với bao kẻ thù hung bạo, trong một bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp, để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ độc lập, tự do. Đó cũng là sản phẩm của cuộc đời một chính khách trong sạch và liêm khiết có một không hai như Hồ Chí Minh. Đóng góp vào sự hình thành huyền thoại đó còn phải nói đến vai trò của các bạn bè Pháp và ngay cả mật thám Pháp như P.Arnoux,…

Tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một hệ thống quan điểm về con đường cách mạng Việt Nam từ độc lập dân tộc đi tới xây dựng thành công một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Tư tưởng đó là kết quả của quá trình học tập, thâu hóa tinh hoa tư tưởng nhân loại, của các vĩ nhân như: Khổng tử, Jésus, Marx, Tôn Dật Tiên,… để từ đó thăng hoa lên thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Trả lời câu hỏi của một phóng viên: Ông là ai, theo chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Hồ Chí Minh từng nói: “Tôi vẫn là tôi ngày trước – một người yêu nước”. “Tôi hiến dâng cả đời tôi cho Tổ quốc tôi”. Tên gọi Nguyễn Ái Quốc đã kết tụ đầy đủ lý tưởng, bản chất, mục tiêu chiến đấu, phẩm chất đạo đức của cuộc đời Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không “vơ vào” cho mình một chút gì cả! Sinh thời, Người thẳng thắn từ chối mọi danh hiệu mà người đời khen tặng. Có một nhà văn nước ngoài gọi Người là nhà thơ. Người khoát tay: Nhà thơ gì tôi, chẳng qua là trong tù, đi ngang được ba bước, đi dọc được sáu bước, không biết làm gì thì làm thơ, thế thôi. Tôi chỉ là người có chút duyên nợ với báo chí, gọi tôi là nhà cách mạng chuyên nghiệp là đúng nhất. Cũng cần nhắc lại: Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo Việt Nam duy nhất không có huân chương. Người không tán thành dựng tượng đồng, bia đá, bảo tàng… cho mình khi nhân dân còn thiếu bệnh viện, trường học.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức chân chính, vì chính kiến riêng mà phải chịu một cuộc sống đau khổ hơn ba mươi năm. Cuối đời, năm 1989, ông được học trò và người thân mời trở lại thăm nước Pháp vào đúng lúc Đông Âu đang xảy ra biến cố. Phóng viên Báo Le Monde đã phỏng vấn ông. Theo tâm lý thường tình, người ta nghĩ ông sẽ thực hiện “un coup pied de l’âne” (cú đá của con lừa thừa cơ người khác đang gặp khó khăn). Nhưng với nhân cách của một trí thức chân chính không cho phép ông hành xử như vậy.

– PV: Ngài thấy chủ nghĩa cộng sản bây giờ thế nào?

– GS Nguyễn Mạnh Tường (NMT): Trước hết các ông đừng lẫn lộn chủ nghĩa cộng sản, mà nhiều trí thức Pháp đã coi là hy vọng cuối cùng của loài người, với những người đã thực hiện nó.

– PV: Vậy ngài thấy các lãnh tụ cộng sản thế nào?

– GS NMT: Cũng như vậy, các ông chớ xếp chung các lãnh tụ cộng sản vào một gói. Làm sao có thể đặt ngang hàng Xêauxetxcu với Hồ Chí Minh? Các ông đều biết Cụ Hồ đến khi chết vẫn chỉ có hai bộ quần áo ka ki đã sờn và một đôi dép lốp cao su vẹt gót.

– PV: Liệu Việt Nam có như Đông Âu không?

– GS NMT: Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có những sai lầm, nhưng không ai quên công lớn của Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập, thống nhất, giải phóng dân tộc.

Tôi muốn dẫn một người nữa, GS Hoàng Xuân Hãn, một học giả đáng kính, được coi như là lương tâm của trí thức Việt kiều ở hải ngoại. Một phóng viên của Diễn đàn (Paris), trong một lần trao đổi với GS về sự đánh giá của ông đối với công lao của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nói: “Bây giờ lòng người còn phân tán, hận thù còn quá nhiều, nên sự đánh giá còn lệch lạc. Nhưng với con mắt của người nghiên cứu lịch sử dân tộc, bác tin rằng vài chục năm nữa, có lẽ sớm hơn, người ta sẽ nhìn nhận công lao của Cụ Hồ”. Rồi ông nói cụ thể hơn: “Cũng những anh thanh niên ấy mà bác đã quan sát, vì đã dạy học họ trong mấy năm, nhưng không tập hợp nhau được, hay tập hợp được cũng chẳng làm nên việc gì, thế mà hôm trước hôm sau, họ thay đổi hẳn”. Theo lời phóng viên được đối thoại thì ý này của GS Hoàng Xuân Hãn trùng hợp với nhận xét của viên tướng chỉ huy quân đội Nhật ở Đông Dương thời đó. Viên tướng này nhận xét: Trên đường từ Hà Nội vào Sài Gòn ngay sau ngày 19-8-1945, ông ta cũng nhận thấy “những đôi mắt, những ánh mắt” trên khuôn mặt người Việt Nam chỉ “hôm trước, hôm sau” đã “hoàn toàn khác hẳn” (do GS Vĩnh Sinh thuật lại). Sau khi ôn lại những cố gắng liên tiếp của các thế hệ cha ông từ cuối thế kỷ XIX, tìm đường giải phóng đất nước mà không thành, GS Hãn kết luận: “Vì chưa bao giờ trong lịch sử của mình, dân ta phải đương đầu với một quốc gia xâm lược mà thế lực, trình độ phát triển, hơn hẳn ta đến như vậy”. Vậy mà Cụ Hồ đã thành công. Có lẽ, đó cũng là nhận thức chung của những trí thức Việt kiều có lương tri ở hải ngoại hiện nay.

Hàng chục năm nay, đã có không ít kẻ xấu xa bị thất bại ê chề trong âm mưu “lật đổ thần tượng”. Họ phải biết rằng: Hồ Chí Minh, cũng như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,… là những thần tượng muôn đời của dân tộc. Do vậy, một vài đứa con lạc bầy, dù có hò hét điên cuồng đến đâu, cũng không thể nào đánh đổ được. Mong rằng, Thụy Khuê sẽ không ăn phải đũa của những kẻ “bội tín”, sẽ tiếp bước lớp trí thức tinh hoa ở hải ngoại, có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp đoàn kết, hòa hợp dân tộc và phát triển đất nước.

NGÔ TRẦN ĐỨC

qdnd.vn

Hành trình 40 ngày trên biển của Bác qua ảnh vệ tinh

(GDVN) – 100 năm kể từ ngày chàng trai trẻ Nguyễn Văn Ba lên tàu Amiral Latouche Tréville rời Bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Nhân sự kiện này, GDVN vẽ lại hành trình 40 ngày lên đênh trên biển của Người qua những hình ảnh vệ tinh.

a

Thương cảng Sài Gòn năm 1911 khá tấp nập, chỉ dài 600m. Có nhiều tuyến đường lớn chạy qua thương cảng này, đó là các đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng),
Catinat (nay là đường Đồng Khởi), Charner (nay là đường Nguyễn Huệ), Krantz và Duperré (nay là đường Hàm Nghi). (Trong ảnh là Bến cảng Nhà Rồng với mô hình 3D của Google Earth ngày nay)

a

Thương cảng Sài Gòn khi ấy có 5 cầu tàu: 3 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Đồng Khởi dành cho các hãng chuyên chở đường sông, 1 cầu tàu lớn ở đầu đường Nguyễn Huệ dành cho các tàu viễn dương và 1 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Hàm Nghi dành cho hãng tàu người Hoa. Brébion đã mô tả Thương cảng Sài Gòn hồi 1911: “Trên bến Francis Garnier (nay là bến Bạch Đằng), phía bờ sông có nhiều loại cầu tàu chiếm chỗ. Một trong số cầu tàu lớn nhất là nơi cập bến các tàu
lớn thuộc hãng Chargeurs Resunis (hãng Năm Sao).
Trong ảnh là hình ảnh tư liệu về Bến cảng Nhà Rồng xưa.

a

Trưa 2/6/1911, chiếc tàu Amiral Latouche Tréville của hãng Năm Sao từ Hải Phòng cập cảng Sài Gòn. Bác xuống tàu và gặp viên thuyền trưởng Lui E-du-a Mai-sen. Ngày 3/6/1911, Bác chính thức xuống tàu làm phụ bếp với mức lương 50 phơ-răng Pháp. Đây là một trong những tàu lớn hồi đó vừa chở hàng, vừa chở khách. Tàu Latouche dài 124,1m, rộng 15,2m, chạy máy hơi nước, 2.800 mã lực với tốc độ 13 hải lý/giờ, trọng tải 5.572 tấn và có đủ nhiên liệu để chạy một mạch 12.000 hải lý.

a

Trưa 5/6/1911, con tàu Amiral Latouche Tréville đã rời bến sông Sài Gòn với 72 thủy thủ trên tàu. Trong ảnh, điểm chấm đỏ là cảng Nhà Rồng, mũi tên đỏ chỉ hướng tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển từ Sài Gòn tới Singapore trong 3 ngày (trong ảnh chấm đỏ chỉ đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville. Đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville bằng chấm đỏ chỉ mang tính tương đối)

a

Ngày 8/6/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Keppel của Singapore. Trong ảnh là cảng Keppel ngày nay được chụp bằng Google Earth.

a

Toàn cảnh về đêm trên cảng Keppel của Singapore ngày nay.

a

Từ cảng Keppel, Singapore, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình của mình trên Ấn Độ Dương để tới Quốc đảo Sri Lanka.

a

Ngày 14/6/1911 tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Colombo, Sri Lanka sau 6 ngày lênh đênh trên biển. Trong ảnh là cảng Colombo, Sri Lanka được chụp bằng Google Earth.

A

Toàn cảnh cảng Colombo Sri Lanka ngày nay

a

Vượt qua phần còn lại của Ấn Độ Dương, tàu Amiral Latouche Tréville đi vào vùng biển đỏ, qua tiếp kênh đào Suez tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Said phía Bắc Ai Cập.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville đã cập cảng Said, Ai Cập ngày 30/06/1911. Trong ảnh là cảng Said chụp bằng Google Earth

a

Một phần cảng Said, Ai Cập ngày nay

Said, Ai Cập

Từ cảng Said, Ai Cập, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình vượt qua Địa Trung Hải để tới cảng Mác Xây (Marseille) Pháp ngày 06/07/1911.

a

Bến Đa – Răng trong cảng Mác Xây. Ngày 06/07/1911, Bác đã lần đầu tiên tới nước Pháp. Cũng chính nơi đây lần đầu tiên trông đời Bác thấy có những người Pháp gọi anh bằng “ông”. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Mác Xây, Pháp chụp bằng Google Earth.

a

Một ngày ở lại Mác-xây, đi thăm phố xá, Bác nhận xét: Thì ra, người Pháp ở bên Pháp không ác như thực dân Pháp ờ Việt Nam. Thì ra, bên Pháp cũng có người nghèo như bên ta. Trong ảnh là một phần cảng Mác Xây, Pháp ngày nay.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville không dừng lại ở Mác Xây, nó phải tiếp tục hành trình về phía Bắc của nước Pháp. Đó là cảng Le Havre

a

Ngày 15/07/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Le Havre, cảng chính ở phía Bắc nước Pháp kết thúc 40 ngày lên đênh trên biển. Do công việc dưới tàu cực khổ, 14 thủy thủ, nhân viên đã bỏ nghề lên các bến dọc đường. Khi tàu đến Le Havre, tổng số người làm trên tàu chỉ còn có 58 người, trong đó có Bác.

a

Bác đã thắng sóng gió và điều kiện làm việc cực nhọc dưới tàu biển để khởi đầu cho cuộc dấn thân trường chinh tìm đường cứu nước. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Le Havre, Pháp ngày nay.

Nam Chấn (Hình ảnh chụp từ Google Earth)

giaoduc.net.vn

Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc

Tìm đường đi cho dân tộc

(VOV) – Đây là sự khởi đầu đúng đắn để từ đó Người đã dẫn dắt ngọn cờ cách mạng của dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc với lòng yêu nước nồng nàn, lên đường bôn ba 5 châu, 4 biển, tìm con đường giải phóng dân tộc.

Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi

Với ý chí, nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu cho hành trình tìm đường giải phóng dân tộc với chân làm thuê trên tàu Đô đốc L’Amiral Latouche Tréville, rời Tổ quốc vào tháng 6/1911, ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác đã làm thế nào để có được độc lập, tự do, rồi “trở về giúp đồng bào mình”. 30 năm sau, Người trở về, tạo nên sự thay đổi của vận mệnh và tương lai cả dân tộc.

Theo ông Bùi Kim Hồng – Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, quyết định ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi hoàn toàn đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Người trực tiếp sang miền đất của chính kẻ thù đang cai trị dân tộc mình để hiểu được bản chất của vấn đề, bản chất của xâm lược, và khẳng định được rằng, ở bất cứ nước nào, người dân nô lệ cũng đều phải sống cuộc đời lầm than. Muốn giải phóng được dân nô lệ phải giải phóng đất nước, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đấy không chỉ là con đường đối với dân tộc Việt Nam, mà là con đường đi của tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Sau năm 1911, trong vòng 10 năm tiếp theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới. Với ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn, Người đã sống cuộc đời của người lao động, hòa mình vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức bóc lột ở thuộc địa.

Qua những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm thực tế đó, chủ nghĩa yêu nước ở Người có những chuyển biến mới. Sự đồng cảm với đồng bào mình đã được nâng lên thành sự đồng cảm với nhân dân lao động, với các dân tộc cùng cảnh ngộ bị áp bức như dân tộc mình. Quá trình thâm nhập vào những xã hội văn minh rộng lớn đã giúp Người nhận thức rõ hơn, khái quát hơn diện mạo của kẻ thù: không chỉ đối với thực dân Pháp mà cả chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc nói chung.

Với tinh thần ham hiểu biết và học hỏi, với tư duy độc lập sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành chí hướng lớn lao và quyết tâm tìm con đường đi cho riêng mình. Người trân trọng và khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của những chí sĩ yêu nước trước đó, nhưng không đi theo con đường của các bậc tiền bối đã đi, mà có suy nghĩ, cách thức khác. Trong 30 năm xa Tổ quốc, Người mất gần 10 năm để tìm lời giải cho bài toán khó: làm thế nào để giải phóng Tổ quốc và nhân dân thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, để nước nhà được độc lập, dân được tự do, hạnh phúc.

PGS, TS Bùi Đình Phong (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) phân tích: “Trong 10 năm ấy, Bác đã phải nghiên cứu, khảo nghiệm, chắt lọc đối chiếu từ cách mạng tư sản pháp 1779, cách mạng tư sản Mỹ 1776… Cuối cùng khi đọc Luận cương của Lênin, Người mới tìm thấy được lời giải thực sự cần thiết. Như vậy, Bác Hồ đến với chân lý cách mạng của thời đại không chỉ  để giải quyết nhu cầu giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam mà còn đáp ứng cả xu thế của thời đại. Tức là phong trào giải phóng dân tộc phải đi vào quỹ đạo của phong trào cách mạng vô sản”.

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Nguyễn Tất Thành nhận làm bồi tàu, thủy thủ để có điều kiện được tiến hành cuộc khảo sát rộng lớn thế giới tư bản, nhưng tâm hồn Người luôn hướng về Tổ quốc, luôn đau đáu về mục tiêu cao cả: giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Từ cảng Nhà Rồng, Người đã đi qua Singapore, Colombo, vượt Hồng hải, qua Suez đến cảng Saïd, Marseille, Le Havre. Từ Pháp, Người trở lại Sài Gòn, rồi đi vòng quanh châu Phi, qua các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Algeria, Tunisia, trở lại các cửa biển Đông Phi, vòng qua Congo, Dahomey, Guinée, Sénégal, vượt Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, vòng xuống Nam Mỹ, tới Argentina… Sau đó, trở lại Anh, về Pháp, qua Đức, tới Liên Xô, về Trung Quốc, sang Thái Lan…

Suốt thời thanh niên, Nguyễn Tất Thành vừa lao động kiếm sống, vừa tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội ở các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục.

Đặc biệt, từ năm 1921 – 1923, giữa mùa đông giá lạnh ở Paris, căn phòng không điện, không nước trong ngôi nhà số 9, ngõ Compoint đã nuôi dưỡng một con người có trái tim luôn khát khao cháy bỏng để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Căn phòng này còn là nơi tụ họp rất nhiều người Việt Nam yêu nước đang sinh sống tại Paris để tìm ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam.

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là một trong số rất ít các nhà cách mạng đương thời có điều kiện đi nhiều, có một vốn hiểu biết khá tường tận về chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Bản thân là người dân thuộc điạ, ra nước ngoài hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của vô sản ở chính quốc, có gần 10 năm bôn ba, khảo sát các thuộc địa của đế quốc Anh, Pháp, Đức – từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ La tinh, nên Người có hiểu biết về bản chất chung và màu sắc riêng của mỗi nước đế quốc cũng như trình độ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội khác nhau giữa các nước thuộc địa. Nhờ vốn hiểu biết thực tế đó, cùng với một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, đã giúp Người không rơi vào các khuynh hướng cơ hội nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận một cách giáo điều những công thức lý luận không phù hợp với thực tế các nước thuộc địa, nhất là ở phương Đông.

Cảm phục trước cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Australia, Allan Asbolt đã viết: “Một trong những nét nổi bật về cuộc đời Hồ Chí Minh là Người đã sống nhiều năm ở nước ngoài – ở châu Âu, Anh, Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc, nhưng Người không có tham vọng cá nhân, phù phiếm; không cố công để trở thành một nhân vật xuất chúng, theo ngôn ngữ của các nhà xã hội tư bản. Người dành thời gian chủ yếu cho việc nghiên cứu và học hỏi, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thực tế có phần dựa vào kinh nghiệm hàng ngày của bản thân trong giai cấp công nhân. Người luôn luôn có suy nghĩ làm thế nào để giải phóng nhân dân nước mình khỏi ách đô hộ và bóc lột thực dân. Người cũng nhận thức sâu sắc rằng cần phải kết hợp sức mạnh chiến đấu của ý thức dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy với những mục tiêu đồng cảm về cơ bản là hòa bình và nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Trong gần 3 thập kỷ, Người đã sống và làm việc ở nước ngoài nhưng về ý thức, Người không hề xa Tổ quốc”./.

Tìm lời giải cho “Bài toán thế kỷ” của dân tộc

(VOV) – Nhà sử học Italia, Perugia: “Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta. Không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác”.

Trong cuộc viễn du 30 năm, qua 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy cẩm nang thần kỳ của Lênin, tạo ra bước ngoặt cơ bản trong tư tưởng cách mạng, giúp Người đưa ra một kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản.

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn – Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, điều này ngày càng chứng minh tư duy độc lập, sáng tạo của Bác Hồ. Người đã đi suốt từ châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, nghiên cứu các nước phát triển nhất của hệ thống Tư bản chủ nghĩa lúc bây giờ. Đồng thời bằng trải nghiệm qua thực tiễn quê hương mình, Người đã nghiên cứu cuộc sống của người dân ở những thuộc địa khốn khổ ở Châu Phi. Từ đó Người cân nhắc tìm con đường và khi tiếp cận luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa, Bác Hồ đã nhận ra con đường cứu nước cứu dân tộc. Toàn bộ việc đi tìm đường cứu nước của Người là có chủ ý, đã có những điều kiện nền tảng về tư tưởng và Bác đã chọn con đường rất mới, sang châu Âu để tìm con đường cứu nước, để hướng tới những tư tưởng hiện đại nhất thời đại lúc bấy giờ.

Theo PGS, TS Lê Văn Yên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia), Nguyễn Tất Thành chọn cho mình hướng đi mới, đó là tìm đến các nước phương Tây, nơi có trào lưu Tự do, Bình đẳng, Bác ái để tìm cách làm mới, phương pháp mới, rồi trở về nước giúp Tổ quốc, giúp đồng bào. Trong lúc đất nước còn khủng hoảng, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc vượt trùng dương đi tìm chân lý cách mạng. Có thể nói, đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bị đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước với thời đại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ từ trong bản chất giai cấp, trên tinh thần đấu tranh vì lợi ích nhân loại.

PGS,TS Nguyễn Trọng Phúc (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí minh) nhấn mạnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tư tưởng, học thuyết đã có sẵn và luôn luôn mở rộng tầm nhìn, khai thác tư tưởng mới của nhân loại. Đây là sự gặp gỡ giữa tư tưởng của một con người có tầm trí tuệ với các vấn đề khách quan của thời đại đặt ra. Sự gặp gỡ giữa một trí tuệ lớn, một nhân cách lớn, một khát vọng lớn của một con người với những vấn đề nóng bỏng của thời đại đã hun đúc nên tư tưởng và đường hướng phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua năm 1920

Ra đi tìm đường cứu một quốc gia là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nhưng tìm thấy con đường ấy là việc khó gấp bội phần. PGS, TS Lê Văn Tích (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định: Sau nhiều thất bại của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh là người đầu tiên tìm ra lời giải cho “Bài toán thế kỷ” đặt ra trước dân tộc.

Từ việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo ông Nguyễn Huy Hoan – nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng ta rút ra được rất nhiều bài học. Bài học đầu tiên, đó là có lòng yêu nước sâu sắc nhưng phải biến lòng yêu nước đó thành hành động cụ thể. Hành động cụ thể của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc từ khi ra đi tìm đường cứu nước là sự toàn tâm, toàn ý tập trung vào việc tìm cho dân tộc con đường giải phóng đúng đắn.

Bài học thứ hai là phải có trí tuệ sáng suốt, phải biết lựa chọn con đường đúng đắn. Ở giai đoạn Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, các quan điểm của thế giới về con đường giải phóng dân tộc rất nhiều, cũng như lúc bấy giờ chưa có một mô hình nào cụ thể về con đường giải phóng dân tộc. Nhưng sự thiên tài của Bác Hồ là đã chọn được mô hình rất đúng đắn để giải phóng dân tộc và chúng ta hoàn toàn có thể tự hào là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách thực dân là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới và chúng ta cũng lập ra chính quyền của dân đầu tiên trên thế giới từ một nước thuộc địa.

Bài học thứ ba chính là tấm gương học tập, nghiên cứu của Người. Người học suốt ngày, học cho đến 11 giờ đêm. Đi đâu cũng học và gặp ai cũng học.

Bài học thứ tư là sự sáng tạo của Người khi tìm lời giải cho bài toán khó của đất nước. Nhờ sáng tạo ấy Bác Hồ của chúng ta đã tìm được con đường giải phóng có hiệu quả. Luận cương Lênin chỉ nêu những vấn đề cơ bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo, mà hai luận điểm sáng tạo nhất của Bác là: Muốn giải phóng dân tộc phải dựa vào sức của nhân dân mình là chính; Và, cách mạng giải phóng dân tộc phải tiến hành trước chính quốc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã diễn ra theo đúng tư tưởng chiến lược đó của Bác./.

Những bài học lớn

(VOV) – Vận dụng sáng tạo, phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta giành được nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước ngày nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở ra con đường mới và dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đi theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với trái tim đầy nhiệt huyết, bộ óc sáng suốt, Người luôn luôn vươn tới những giá trị của Chân, Thiện, Mỹ. Sự nghiệp của Hồ Chí Minh, con đường Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt mọi người dân Việt Nam yêu nước dựa vào nền văn hóa mà ở đó biểu đạt những giá trị toàn cầu, những khát vọng của con người, của các dân tộc khác nhau, có bản sắc, cốt cách, đặc tính khác nhau nhưng thống nhất, hài hòa trong những giá trị chung nhất, tốt đẹp nhất mà con người toàn nhân loại và các dân tộc trên thế giới khát khao vươn tới.

Theo PGS-NGND Lê Mậu Hãn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta một bài học lớn: mọi quyết định đều phải dựa vào thực tiễn của thời đại và sức mạnh của dân tộc.

PGS-TS Vũ Quang Hiển (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, bài học lớn mà chúng ta luôn luôn khắc ghi đó là phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình chỉ đạo sự nghiệp đổi mới để xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nói đến độc lập dân tộc, độc lập tự do  không thể tách rời với thống nhất đất nước. Vì một đất nước độc lập đồng thời phải là một đất nước thống nhất quốc gia một cách toàn diện.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vấn đề độc lập dân tộc càng được coi trọng. Sự hội nhập của các quốc gia đều là trên nền tảng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Cũng theo PGS-TS Vũ Quang Hiển, bản sắc văn hóa đó thể hiện qua ngôn ngữ, tiếng nói, phong cách ứng xử, mà phong cách đó biểu hiện ở mọi người Việt Nam, từ những người có chức có quyền cho đến những người bình thường, một anh lái xe taxi, một người đạp xích lô, một chị bán hàng ở một kiốt ở Bờ Hồ, hay một chị lao công quét rác… Trong con mắt bạn bè quốc tế, người ta thấy ở họ một con người hiền lành trong đời thường, chăm chỉ trong lao động sản xuất và dũng cảm, quyết liệt trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Nhìn vào họ, người ta thấy được hình ảnh tiêu biểu của con người Việt Nam.

Giới trẻ Việt Nam rất năng động, và trong điều kiện hiện tại, sự năng động và thông minh của giới trẻ có điều kiện phát huy. Giới trẻ một mặt hướng tới cái mới, năng động tìm kiếm cái mới, nhưng phải luôn luôn giữ gìn các giá trị đã đi vào bản chất của con người Việt Nam, tiếp tục nắm vững và phát huy ngọn cờ độc lập dân tộc.

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chúng ta nhớ bài học quí giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đó là: “có cái gì tốt của Đông phương và Tây phương thì ta phải học lấy để làm giàu cho văn hóa Việt Nam”. Ngày nay, chúng ta càng phải nâng cao chủ nghĩa yêu nước, không chấp nhận nghèo nàn lạc hậu, làm cho con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Chúng ta phải luôn luôn nung nấu mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đó cũng là những bài học được GS-TS Tạ Ngọc Tấn (Giám đốc Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) nhấn mạnh: “Từ sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước sẽ là những bài học rất lớn cho chính bản thân cách mạng nước ta, đó là trong điều kiện thực tiễn thế nào chúng ta tìm ra những giải pháp, những con đường giải quyết những vấn đề trong đất nước. Bài học cho thế hệ trẻ là tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường và thái độ trách nhiệm với đất nước…”.

Theo GS,TS Mạch Quang Thắng (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), để đất nước phát triển ngày càng vững chắc trên con đường hội nhập quốc tế, chúng ta luôn luôn phải học Bác vừa kiên định, vừa sáng tạo. “Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta thông điệp cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam là con đường đi tới Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa cộng sản. Thông điệp đó là thông điệp quan trọng nhất hiện nay và tôi cho rằng phải kiên định con đường đó. Nhưng phải vừa kiên định vừa sáng tạo”.

PGS, TS Nguyễn Bá Linh (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) nêu hai bài học để phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: Thứ nhất, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình chỉ đạo sự nghiệp đổi mới để đạt mục tiêu mà Đảng đã đề ra: Xây dựng nước ta thành một nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thứ hai, luôn luôn kết hợp lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đã nói là phải làm, không đánh trống bỏ dùi để làm gương cho toàn dân tộc theo phương châm: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau như Bác thường răn dạy.

Tròn một thế kỷ đã trôi qua nhưng sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại. Đây là dịp để mỗi chúng ta học tập và noi gương Bác Hồ, kiên định con đường mà Bác đã lựa chọn.

Một nhà báo nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì Người đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những ước mơ của mình. Chúng ta thật hạnh phúc khi được học theo Bác, để biết khởi đầu đúng và đi tới đích./.

Mai Hồng

vov.vn

Vững bước theo con đường thắng lợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(ĐCSVN)Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam hơn 80 năm. Ngày 3-2-1930 mãi mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ mốc son ấy, cả dân tộc đoàn kết, bền lòng phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng lập nên những kỳ tích vang dội trong hơn 80 năm qua đã khẳng định: kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, Điều lệ Đảng được Đại hội XI thông qua đã ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc“. Thực tế hơn 80 năm qua đã chứng minh điều đó là hoàn toàn đúng. Đảng ra đời trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, được nhân dân chở che, nuôi dưỡng, đùm bọc nên hòa quyện với khối đại đoàn kết dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là Đảng cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không có lợi ích gì khác. Vì vậy mà Đảng ta được dân tin, dân phục, dân yêu. Ngày nay, nhiệm vụ của Đảng ta là lãnh đạo quần chúng đánh thắng tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu)

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử. Các phong trào yêu nước trong thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua chiều dài mấy ngàn năm lịch sử. Các phong trào yêu nước đó đều dũng cảm, hy sinh quên mình, nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên đã lần lượt thất bại và tan rã. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Nhà yêu nước Phan Bội Châu đã khái quát về tình hình đất nước ta trong những năm tháng đầu thế kỷ XX là: “Trời khuya, đất ngủ, khói đục, mây mù” để phản ánh sự bế tắc đó. Đúng vào thời điểm ấy, một xu hướng cách mạng mới xuất hiện do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo. Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (mà sau này là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã ra nước ngoài tìm con đường cứu nước. Sau những năm bôn ba, Nguyễn Ái Quốc đã xác định con đường cứu nước muốn thành công phải kết hợp phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân Quốc tế. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp tháng 2-1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lê nin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ năm 1921 đến 1930 Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Việt Nam, cổ vũ các phong trào yêu nước, phong trào công nhân để hình thành các tổ chức cách mạng theo xu hướng mới. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, một tổ chức cách mạng gồm phần lớn trí thức tiểu tư sản sớm tiếp thu Chủ nghĩa Mác – Lênin. Năm 1929, những tổ chức cộng sản đầu tiên ra đời.

Ngày 3-2-1930, thay mặt Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị tại Hồng Kông để họp thống nhất ba tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình vắn tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Sự kiện này đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng và mở ra bước ngoặt mới về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam đã minh chứng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng với niềm tin của dân tộc và sự giao phó của lịch sử. Từ ngày 3-2-1930, tại Việt Nam đã có Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo cách mạng nước ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vang dội trong thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, lập nên Nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á; là thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; là thắng lợi của cuộc kháng chiến hơn 20 năm chống Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; là thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước trong 25 năm qua vượt lên mọi khó khăn, bao vây cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, đứng vững và kiên định tiếp tục đi lên trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ (năm 1989 – 1991), vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế ở khu vực (năm 1997 – 1998) và cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế thế giới diễn ra phức tạp gần đây (năm 2008 – 2009) v.v… Đảng lãnh đạo thực hiện thắng lợi mục tiêu là đưa nước ta sớm ra khỏi nhóm nước kém phát triển, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…

Thứ tư, từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm lớn là (*):

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu, hun đúc nên những truyền thống vẻ vang của Đảng. Đó là truyền thống trung thành vô hạn với lợi ích của giai cấp, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là truyền thống đoàn kết thống nhất, giữ vững tổ chức kỷ luật, trên cơ sở tình thương yêu đồng chí và thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; là truyền thống đoàn kết quốc tế, thủy chung, trong sáng dựa trên những nguyên tắc và mục tiêu cao cả. Đây là cơ sở vững chắc để Đảng ta hình thành và thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, nhất quán qua các thời kỳ cách mạng, phát huy đến đỉnh cao kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa cách mạng Việt Nam liên tục phát triển.

Thứ sáu, toàn bộ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn 80 năm qua đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng là nhân tố cách mạng hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và đó cũng là trường học vĩ đại mà Đảng ta đã tôi luyện và trưởng thành. Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào quá trình đổi mới ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước vượt qua bao khó khăn thử thách, tiếp tục đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, thế và lực của đất nước được nâng lên, đời sống của nhân dân được cải thiện. Nhưng cùng với khẳng định điều đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định phải tiếp tục thường xuyên tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách có hiệu quả nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu lý tưởng cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động, củng cố tổ chức chặt chẽ, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực cao; có phương thức lãnh đạo khoa học, vừa giữ vững, tăng cường được vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy, nâng cao được hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, nâng cao tính năng động, sáng tạo, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Đây là nhân tố quyết định nhất cho việc thực hiện thắng lợi nghị quyết các Đại hội của Đảng, vì sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, từ ngày 3-2-2007, Bộ Chính trị phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã bước đầu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong Đảng, trong xã hội về ý thức rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Người; nâng cao đạo đức cách mạng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội khác, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng và được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta tin tưởng rằng, mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh được Đại hội XI của Đảng đề ra sẽ tiếp tục giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội theo con đường thắng lợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh./. 


* Trích Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2011.Trang 65-66

TS. Bùi Thế Đức (Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương)

dangcongsan.vn

Một cuộc hành trình, một cuộc cách mạng và một thời đại

(ĐCSVN)  Thử nhìn lại 100 năm trước…Ở thời điểm suy tàn của chế độ phong kiến và sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, cả dân tộc chìm trong thương đau, tăm tối. Nhiều cuộc cách mạng nổ ra rồi chìm tắt. Hàng loạt nhà yêu nước, chí sĩ cách mạng bị chém giết, bắt bớ, tù đầy. Những lãnh tụ yêu nước lúc bấy giờ rơi vào khủng hoảng, bế tắc về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc…Trong bối cảnh đó, có một người thanh niên nung nấu lý tưởng cách mạng, quyết chí ra đi tìm con đường giải phóng dân tộc mình khỏi ách đô hộ ngoại xâm. 

Bác Hồ làm phụ bếp trên con tàu đã đưa Người ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh tư liệu).

Người thanh niên đó là Nguyễn Tất Thành.

Tiếp thu tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng giải phóng dân tộc của các bậc tiền bối nhưng anh thanh niên Nguyễn Tất Thành không đi theo con đường mà các vị tiền bối đã đi… Người tiếp bước các vị tiền bối trên con đường giải phóng dân tộc, nhưng tầm nhìn của Người vượt lên các vị tiền bối.

Người đi khắp Á, Âu, Phi, Mỹ la tinh, đến “những đất tự do, những trời nô lệ”… Người đến nước Pháp và các nước châu Âu, trung tâm của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc lúc bấy giờ để nhận chân “con bạch tuộc” chủ nghĩa thực dân…

Người đến các quốc gia thuộc địa để chứng kiến tình cảnh thân phận của những người dân ở các nước cùng cảnh ngộ bị áp bức bóc lột.
Người nghiên cứu tìm hiểu tinh thần cuộc cách mạng tư sản Pháp, cuộc cách mạng tư sản Mỹ, đến với Lê-nin và cuộc cách mạng tháng Mười Nga. Người tiếp thu tinh thần các cuộc cách mạng tư sản Pháp, tư sản Mỹ để thêm niềm tin hướng tới cuộc cách mạng vô sản. Người sống cuộc sống cần lao và tham gia các tổ chức, phong trào cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Người đến với Lê-nin và chủ nghĩa Mác vì nhận ra học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học này soi đường cho các dân tộc thuộc địa, bị áp bức, trong đó có dân tộc Việt Nam tự vùng lên giải phóng. Người tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê nin để từ đó tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở một đất nước nông nghiệp, thuộc địa, nửa phong kiến ở châu Á.

Từ người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến người cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc và Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là một quá trình nhận thức, hành động đầy trí tuệ, bản lĩnh và sáng tạo. Ba mươi năm bôn ba bốn biển năm châu, sống cuộc sống cần lao, trải nghiệm, mở rộng tầm nhìn, nhập vào dòng chảy cách mạng thế giới, có thể ví đó là giai đoạn tích lũy năng lượng, nguồn sáng trí tuệ của Lãnh tụ tương lai của dân tộc. Để rồi ba mươi sau, sau hành trình trở lại phương Đông, trở về đất nước, Người truyền nguồn năng lượng, ánh sáng trí tuệ ấy cho cả dân tộc, thổi bùng lên thành cuộc cách mạng tháng Tám, dành độc lập dân tộc, đem lại tự do cho nhân dân, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối.

Từ ý chí của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã sáng lên tầm nhìn Nguyễn Ái Quốc. Từ những hoạt động cách mạng không mệt mỏi của người cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã lung linh trí tuệ, bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Từ Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình mang tầm thời đại. Cuộc hành trình ấy đem đến một cuộc cách mạng khởi đầu cho hàng loạt cuộc cách mạng của các quốc gia thuộc địa trên thế giới, mà âm vang của nó còn mãi đến bây giờ.

Và hơn hết, cuộc hành trình ấy để lại một thời đại Hồ Chí Minh, với mốc son dành độc lập dân tộc, thống nhất non sông, đi lên chủ nghĩa xã hội, hội nhập thế giới…

Người làm cuộc hành trình không để tạo ra những kỷ lục, nhưng cái đích của cuộc hành trình dài lâu mà Người hướng tới và đã đạt được, còn hơn cả một kỷ lục. Ánh sáng từ chủ nghĩa Mác- Lê nin mà Người tiếp nhận không chỉ lan tỏa và thành nguồn năng lượng mạnh thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng ở Việt Nam, giành độc lập dân tộc, tự do cho đồng bào mình, mà có sức lan tỏa, ảnh hưởng trên phạm vi thế giới, đặc biệt là đối với những quốc gia bị thực dân đế quốc xâm lược, thống trị.

Cuộc hành trình của Người cũng không vì sự nổi tiếng, nhưng những gian truân, thử thách, trải nghiệm mà Người gặp phải trên bước đường bôn ba đi tìm chân lý, khiến nhân loại cảm phục và ngưỡng mộ. Quá trình Người đi tìm chân lý, ánh sáng, cũng chính là quá trình Người phát hiện ra dân tộc mình, trong tương lai, ở tầm cao và chiều sâu, đó là bình đẳng với mọi dân tộc, sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới. Cuộc hành trình của Người là từ dân tộc, hướng ra thế giới, hướng ra biển lớn, đến với ánh sáng nhân loại, những điểm hẹn lịch sử, tiếp thu tinh hoa văn minh trí tuệ loài người, lại trở về, sáng danh, rạng rỡ dân tộc.

Cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh những năm đầu thế kỷ XX để lại những bài học kinh nghiệm quý giá cho dân tộc ta. Con đường cách mạng, con đường tìm đến chân lý không bao giờ bằng phẳng. Thành quả cách mạng, ánh sáng chân lý không tự dưng đến mà phải qua quá trình đấu tranh, vận động, bằng ý chí, trí tuệ, mồ hôi, xương máu của cả một dân tộc. Ý chí không cam phận hèn kém, yếu thế không bao giờ ngưng nghỉ trong mỗi người Việt Nam. Mỗi cá nhân, dù ở cương vị nào, phải có trách nhiệm với dân tộc, với đất nước, cùng góp phần tạo ra những thời cơ, vận hội mới cho dân tộc.

Tinh thần cuộc hành trình cứu nước một trăm năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thêm trí tuệ, ý chí, nghị lực và bản lĩnh của dân tộc ta, trên con đường tới mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.

Uông Ngọc Dậu

dangcongsan.vn