Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 8 (Chú thích và bản chỉ dẫn tên người)

CHÚ THÍCH

1. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III): Họp từ ngày 28-12-1960 đến ngày 6-1-1961, tại Hà Nội. Hội nghị đã kiểm điểm việc thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1958-1960), thảo luận và quyết định những nhiệm vụ, chỉ tiêu của kế hoạch Nhà nước năm 1961.

Hội nghị nhấn mạnh: Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch Nhà nước trong năm 1961 là cần tập trung thực hiện tốt mối quan hệ giữa cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá, khoa học – kỹ thuật; tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tr. 4.

2. Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II: Họp từ ngày 23 đến ngày 27-2-1961, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 752 đại biểu thay mặt cho tổ chức công đoàn cơ sở các cấp. Đoàn đại biểu Liên hiệp công đoàn thế giới và nhiều đoàn đại biểu công đoàn các nước anh em đã tham dự Đại hội.

Đại hội đã tổng kết tình hình công tác công đoàn trong thời gian 1950-1961 và rút ra những bài học kinh nghiệm lớn trong công tác công đoàn. Căn cứ vào chủ trương, đường lối của Đảng, Đại hội đã xác định vai trò và chức năng của công đoàn trong giai đoạn cách mạng mới nhằm đẩy mạnh các mặt hoạt động của công đoàn đảm bảo hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ mới. Nghị quyết được Đại hội thông qua đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trọng của công đoàn trong giai đoạn mới là: “Tập trung lực lượng thực hiện nhiệm vụ trung tâm công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc làm cơ sở đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”.

Đại hội đã thông qua Điều lệ mới và bầu Ban Chấp hành mới của Tổng công đoàn gồm 55 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên dự khuyết.

Đại hội cũng đã nhất trí tán thành việc đổi tên Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thành Tổng Công đoàn Việt Nam. Tr. 35.

3. Liên hiệp Công đoàn thế giới (WFTU): Tổ chức công đoàn quốc tế lớn gồm gần 20 triệu đoàn viên của hơn 70 nước trên thế giới, trong đó có các nước xã hội chủ nghĩa, các nước tư bản và các nước đang phát triển, 11 công đoàn ngành quốc tế, gồm 600 tổ chức công đoàn quốc tế.

Liên hiệp Công đoàn thế giới được thành lập ngày 3-10-1945 tại Đại hội lần thứ I các công đoàn thế giới họp ở Pari (Pháp).

Điều lệ của Liên hiệp Công đoàn thế giới ghi rõ tổ chức này “nhằm hướng đến việc xác lập trật tự thế giới, trong đó loại bỏ bất bình đẳng về xã hội và bất kỳ hình thức nào bóc lột con người”. Liên hiệp Công đoàn thế giới đã kiên trì đấu tranh để thống nhất hành động của các tổ chức công đoàn trong cuộc đấu tranh vì quyền sống của người lao động, vì tự do cho các dân tộc, vì hoà bình và tiến bộ xã hội. Liên hiệp công đoàn thế giới đã lập Quỹ đoàn kết quốc tế để ủng hộ và giúp đỡ những người lao động khi bãi công, thiên tai…

Các cơ quan của Liên hiệp Công đoàn thế giới gồm có Đại hội các công đoàn thế giới – cơ quan cao nhất được triệu tập bốn năm một lần; Đại hội đồng – cơ quan lãnh đạo thường trực giữa các kỳ Đại hội và Ban thư ký.

Ngoài ra, Liên hiệp Công đoàn thế giới còn tham gia hoạt động trong Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và một số tổ chức của Liên hợp quốc như Tổ chức Khoa học và văn hoá giáo dục (UNESCO), Tổ chức Lương thực và nông nghiệp (FAO)…

Trụ sở của Liên hiệp Công đoàn thế giới đặt ở Praha (Tiệp Khắc). Tổng Công đoàn Việt Nam là thành viên của Liên hiệp Công đoàn thế giới từ năm 1969. Tr. 36.

4. Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III: Họp từ ngày 8 đến ngày 13-3-1961, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có hơn 420 đại biểu chính thức gồm đủ các thành phần dân tộc, tôn giáo và các  địa phương. Đoàn đại biểu Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế, nhiều đoàn đại biểu các nước anh em và quốc tế đã tới dự Đại hội.

Đại hội đã kiểm điểm công tác của phong trào phụ nữ từ Đại hội lần thứ II (1955) đến năm 1961. Đại hội cũng đã quyết định những nhiệm vụ của phụ nữ trong giai đoạn cách mạng mới và chỉ rõ trách nhiệm và vinh dự của phụ nữ nước ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà và bảo vệ hoà bình thế giới.

Đại hội đã thông qua Điều lệ sửa đổi của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và bầu Ban Chấp hành mới của Hội gồm 67 uỷ viên.

Ngày 9-3-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với Đại hội về các vấn đề địa vị và quyền làm chủ của người phụ nữ, việc thực hiệnLuật hôn nhân và gia đình, vấn đề chăm sóc các cháu bé, về cán bộ lãnh đạo và nhiệm vụ đoàn kết, v.v. để phong trào phụ nữ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Tr. 40.

5. Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế: Một tổ chức quần chúng có tính chất quốc tế của phụ nữ để lãnh đạo và thúc đẩy phong trào phụ nữ thế giới, thành lập tháng 12 năm 1945 ở Pari (Pháp). Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là thành viên của tổ chức này. Cơ quan quyền lực tối cao của Liên đoàn là Đại hội đại biểu các tổ chức thành viên, ba năm họp một lần. Giữa hai kỳ đại hội, điều hành công việc của tổ chức là một Ban Chấp hành do Đại hội bầu ra. Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế tuyên bố mục tiêu hoạt động của mình là đoàn kết tất cả phụ nữ tiến bộ ở các nước; đấu tranh chống chủ nghĩa phátxít; tranh thủ hoà bình, dân chủ và quyền bình đẳng của phụ nữ; bảo vệ trẻ em; ủng hộ phong trào độc lập dân tộc. Là một tổ chức thành viên của Hội đồng hoà bình thế giới, Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế đã có nhiều hoạt động tích cực như vận động đòi giải trừ quân bị và cấm sử dụng vũ khí nguyên tử, kêu gọi phụ nữ các nước phản đối “Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NATO”, tổ chức lấy chữ ký ủng hộ hoà bình, tổ chức các cuộc mít tinh biểu tình quy mô lớn của giới phụ nữ, ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ ở các nước thuộc địa và lệ thuộc v.v, đã góp phần vào việc thúc đẩy phong trào phụ nữ quốc tế và hoà bình thế giới. Trụ sở của Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế đặt tại Béclin (Đức). Tr. 42.

6. Đại hội toàn quốc lần thứ III Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam: Họp từ ngày 22 đến ngày 25-3-1961, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 677 đại biểu đại diện cho thanh niên các dân tộc, tôn giáo và các  địa phương. Đoàn đại biểu Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, nhiều đoàn đại biểu thanh niên các nước anh em và quốc tế đã tới dự Đại hội.

Đại hội đã kiểm điểm công tác của Đoàn từ Đại hội lần thứ II (1956) đến năm 1961; thảo luận và quyết định phương hướng nhiệm vụ của Đoàn nhằm giúp thanh niên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Đại hội đã quyết định phát động trong thanh niên phong trào thi đua những người tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Đại hội đã thông qua Điều lệ sửa đổi của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 63 uỷ viên chính thức và 8 uỷ viên dự khuyết. Đại hội đã quyết định lấy ngày 26-3 hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn.

Ngày 24-3-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với Đại hội. Người xúc động kể lại quá trình Đảng ta và Người đã dìu dắt những người thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên, đến nay Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam là lực lượng lớn mạnh xung kích trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Đại hội nhất trí thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ mới của Đoàn, Thư của Đại hội gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Lời kêu gọi gửi đoàn viên thanh niên trong cả nước. Tr. 51.

7. Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới (WBDY): Tổ chức thanh niên quốc tế lớn nhất, được thành lập vì mục tiêu đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc, vì lợi ích và quyền lợi của thế hệ trẻ.

Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới được thành lập tháng 10-1945 tại Đại hội Thanh niên thế giới ở Luân Đôn (Anh), với sự tham gia của đại biểu 63 nước. Hiện nay, Liên đoàn tập hợp 250 tổ chức thanh niên của hơn 100 nước. Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam gia nhập tổ chức này từ năm 1949.

Theo sáng kiến của Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, ngày 24-4 hằng năm được coi là “Ngày đoàn kết quốc tế của thanh niên”. Tr. 52.

8. Hội đồng đoàn kết nhân dân Á-Phi: gồm đại biểu của một số nước, trong đó có Việt Nam. Ban lãnh đạo của Hội đồng được bầu ra tại Đại hội đoàn kết nhân dân Á-Phi lần thứ II họp tại Cônacri (Ghinê). Hơn 70 đoàn đại biểu các tổ chức xã hội của 50 nước Á-Phi tới dự Đại hội. Đại hội đã nhận định: từ Đại hội Băngđung và Lơ Ke đến Đại hội này đã có thêm nhiều nước Á-Phi giành được độc lập và gia nhập tổ chức đoàn kết nhân dân các nước Á-Phi. Đại hội đã thông qua bản Tuyên bố chung và các quyết nghị quan trọng về sự đoàn kết và thống nhất của nhân dân các nước Á-Phi; về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc; về việc cấm sử dụng và thử vũ khí nguyên tử; về việc ủng hộ đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Angiêri; về cuộc đấu tranh và thống nhất đất nước của nhân dân Triều Tiên và nhân dân Việt Nam.

Nghị quyết về vấn đề Việt Nam đòi đế quốc Mỹ phải chấm dứt hành động can thiệp vào miền Nam Việt Nam, rút ngay phái đoàn quân sự Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ nhằm thống nhất nước Việt Nam trên cơ sở độc lập dân tộc. Tr. 58.

9. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thành lập tại Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, họp từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội. Đây là Mặt trận dân tộc thống nhất kế tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên-Việt.

Tham gia Mặt trận gồm đông đảo các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo… nòng cốt là liên minh công nông và do Đảng ta lãnh đạo.

Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ và có cơ cấu tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương (Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương) đến  địa phương (Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, huyện, xã).

Quan hệ giữa các tổ chức trong Mặt trận dựa trên nguyên tắc thảo luận dân chủ đi đến thống nhất hành động; thân ái hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, tôn trọng tính độc lập của mỗi tổ chức.

Năm 1976, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc đã hợp nhất Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh sứ mệnh đoàn kết toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tr. 65.

10. Đại hội hợp nhất Việt Minh – Liên Việt: Họp từ ngày 3 đến ngày 7-3-1951 tại Việt Bắc. Đại hội đã thông qua Nghị quyết thống nhất hai tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) thành Mặt trận Liên Việt nhằm củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào thời kỳ quyết liệt.

Thành viên của Mặt trận gồm có Đảng Lao động Việt Nam, các đoàn thể, tôn giáo và các đảng phái yêu nước, đoàn kết đấu tranh cho mục đích chung là tiêu diệt thực dân Pháp, đánh bại can thiệp Mỹ, đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc đến thắng lợi.

Đại hội đã thông qua Chính cương, Điều lệ và Tuyên ngôn của Mặt trận dựa trên nguyên tắc đảm bảo đoàn kết rộng rãi, thực hiện dân chủ, tôn trọng tính độc lập của các đoàn thể, dùng phê bình và tự phê bình để giúp đỡ lẫn nhau. Đại hội nhất trí tán thành việc xây dựng và bảo vệ khối đoàn kết ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia để chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Đại hội đã bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự Mặt trận Liên Việt. Tr. 66.

11. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) họp đầu tháng 6 năm 1961, ra Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30-6-1961“Về việc tăng cường lãnh đạo của Trung ương”. Nghị quyết chỉ rõ: Sự lãnh đạo của Trung ương trong ba năm qua là to lớn và căn bản. Bên cạnh đó, Trung ương còn có những nhược điểm và khuyết điểm như: đường lối thì đúng nhưng lãnh đạo có chỗ yếu kém như chưa kịp thời, chưa sát thực tế, thiếu cụ thể và phân tán; Không kịp thời tổng kết kinh nghiệm phong phú; Công tác tổ chức và chỉ đạo thực hiện còn có nhiều thiếu sót; Trình độ lý luận của Đảng còn non, chưa được coi trọng đúng mức… Phần cuối Nghị quyết chỉ rõ những phương hướng và biện pháp tăng cường lãnh đạo của Trung ương, chủ yếu là tổ chức và chỉ đạo thực hiện như: Cần phải tăng cường những hoạt động có hiệu quả, kịp thời trong việc chỉ đạo của Chính phủ đối với sản xuất, kinh tế, văn hoá, ngoại giao; Phải nghiêm chỉnh thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ thưởng phạt; Phải tăng cường kiểm tra; Phải khẩn trương tiến hành cải tiến công tác đi đôi với cải tiến tổ chức các cơ quan của Đảng và Nhà nước; Phải định chế độ học tập, chương trình học tập và tổ chức quản lý việc học tập… Tr. 71.

12. Đại hội Liên hoan chiến sĩ thi đua toàn quân: Họp từ ngày 10 đến ngày 12-7-1961, tại Hà Nội.

Tham dự Đại hội có 224 đại biểu chiến sĩ thi đua, 48 đại biểu các đơn vị tiên tiến, đại diện cho các quân binh chủng, quân khu và dân quân tự vệ các địa phương. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm và dự Đại hội.

Đại hội đã nghe nhiều báo cáo điển hình của các chiến sĩ thi đua, đơn vị tiên tiến trong toàn quân và bầu đại biểu dự Đại hội Liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III. Tr. 101.

13. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III): Họp vào tháng 7-1961. Hội nghị đã kiểm điểm tình hình hợp tác hoá nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp trong thời gian kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế và văn hoá (1958-1960).

Hội nghị đã ra Nghị quyết về phương hướng chung và nhiệm vụ phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất; về chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể phục vụ nông nghiệp; về vấn đề tổ chức và quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và nông trường quốc doanh; về vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nông nghiệp.

Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến về vị trí, vai trò của nông nghiệp đối với công nghiệp cũng như đối với nền kinh tế nước ta và về mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp. Người khẳng định thành tích của phong trào hợp tác hoá nông nghiệp, chỉ ra những khuyết điểm và nhấn mạnh cần tăng cường sự lãnh đạo của chi bộ đảng ở nông thôn, việc bồi dưỡng, củng cố ban quản trị hợp tác xã và đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng và phát huy tinh thần làm chủ, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, không ngừng nâng cao thu nhập của hợp tác xã và xã viên. Tr. 104.

14. Hiệp định Giơnevơ (về việc lập lại hoà bình ở Đông Dương): Là văn bản pháp lý quốc tế được ký kết ngày 21-7-1954, ghi nhận kết quả của Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương.

Nội dung cơ bản của các văn kiện được ký kết tại Hội nghị (các Hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Campuchia; các phụ bản Hiệp định; Tuyên bố chung của Hội nghị) như sau:

– Các nước tham gia Hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

– Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương; quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương. Mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

– Vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai miền, sau hai năm (7-1956) sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam.

– Ở Lào, các lực lượng kháng chiến tập kết lại hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalì. Ở Campuchia, lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ.

Bản Tuyên bố chung ghi rõ: “Ở Việt Nam, đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ.”

Với âm mưu thôn tính nước ta, ngay từ đầu, đế quốc Mỹ đã ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Năm 1955, chúng hất cẳng Pháp, xây dựng bộ máy chính quyền tay sai của chúng ở miền Nam, tiến hành đàn áp dã man những người kháng chiến và cự tuyệt tổng tuyển cử tự do trên cả nước. Trước tình hình đó, nhân dân cả nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã anh dũng tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thực hiện thống nhất đất nước. Tr. 105.

15. Hội nghị Sinh viên quốc tế về “Vai trò sinh viên và các tổ chức sinh viên trong việc phát triển nền giáo dục dân tộc”: Họp từ ngày 29-8 đến ngày 2-9-1961, tại Hà Nội. Hội nghị này do Hội Liên hiệp sinh viên Việt Nam và Hội Liên hiệp sinh viên quốc tế tổ chức. Đại biểu của 37 tổ chức sinh viên ở 35 nước thuộc châu Á, Phi, Mỹ latinh đã tới dự Hội nghị. Hội nghị đã nhất trí thông qua bản Thông cáo nhấn mạnh sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc để xây dựng một nền giáo dục dân tộc và dân chủ; nêu lên nguyên tắc chủ yếu là phải phục vụ nhu cầu của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội; giáo dục phải dựa trên cơ sở của lý tưởng hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, tình hữu nghị và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Tr. 122.

16. Phong trào không liên kết (Phong trào các nước không liên kết) được hình thành tại Hội nghị cấp cao lần thứ nhất họp ở Bengrát (Nam Tư) tháng 9-1961. Đây là phong trào quốc tế rộng lớn, bao gồm những nước có chính sách đối ngoại không liên kết, không tham gia vào bất cứ khối, nhóm quân sự – chính trị nào. Phong trào không liên kết chủ trương chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc; đấu tranh giành độc lập về chính trị, kinh tế, văn hoá; hợp tác quốc tế trên cơ sở công bằng và cùng có lợi; thiết lập một trật tự kinh tế quốc tế mới công bằng, hợp lý, bảo vệ hoà bình và an ninh của các dân tộc.

Trải qua hơn 30 năm tồn tại và phát triển, từ 25 nước thành viên khi mới thành lập, đến Hội nghị cấp cao không liên kết lần thứ 11 (1995) ở Côlômbia, Phong trào không liên kết đã có 109 quốc gia thành viên.

“Hội nghị cấp cao” (thường họp 3 năm một lần) là cơ quan cao nhất của Phong trào không liên kết. Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước thành viên mỗi năm họp một lần (có năm 2 lần). “Uỷ ban phối hợp” thành lập từ năm 1973 gồm đại diện của 25 nước thành viên do Hội nghị cấp cao bầu ra, có nhiệm vụ chuẩn bị các kỳ họp cấp cao, phối hợp hoạt động của các nước không liên kết trong các tổ chức và Hội nghị quốc tế. Trụ sở đặt tại Niu Oóc (Mỹ).

Bước vào thập niên 90 thế kỷ XX, trong tình hình đang dần dần xuất hiện một trật tự thế giới mới, các nước không liên kết tiếp tục duy trì những hoạt động của mình để xây dựng một trật tự thế giới mới công bằng và phát triển.

Việt Nam là thành viên chính thức của Phong trào không liên kết từ tháng 3-1976 tại Hội nghị cấp cao ở Côlômbia. Tr. 124.

17. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười: Cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I. Lênin, ngày 7-11-1917 (tức ngày 25-10 theo lịch Nga), giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã vùng dậy lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, thành lập chính quyền Xôviết do V.I. Lênin đứng đầu. Cách mạng Tháng Mười đã đập tan bộ máy thống trị của các giai cấp bóc lột, lập nên nhà nước kiểu mới: Chính quyền Xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản.

Cách mạng Tháng Mười thắng lợi đã mở đầu cho một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân các dân tộc bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc bị nô dịch đi tới cách mạng giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tr. 147.

18. Hội Liên hiệp sinh viên quốc tế, là một tổ chức quốc tế của học sinh, sinh viên thế giới vì mục đích thúc đẩy và lãnh đạo phong trào của giới này ở các nước.

Tháng 8 năm 1946, đại biểu sinh viên của 43 nước trên thế giới đã họp Đại hội đại biểu sinh viên lần thứ nhất tại Praha (Tiệp Khắc), tuyên bố thành lập Hội Liên hiệp sinh viên quốc tế, đặt trụ sở ở Praha.

Mục tiêu chủ yếu của tổ chức này đề ra là: đoàn kết sinh viên toàn thế giới bảo vệ hoà bình, bảo vệ quyền lợi của sinh viên, đấu tranh cho độc lập dân tộc và nền giáo dục dân chủ, thủ tiêu sự phân biệt chủng tộc, phân biệt xã hội, chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.

Từ sau ngày thành lập, Hội Liên hiệp sinh viên quốc tế đã triển khai nhiều hoạt động cho những mục tiêu của tổ chức mình, qua đó tăng cường sự đoàn kết và hiểu biết giữa học sinh, sinh viên các nước.

Tại Đại hội đại biểu lần thứ IV tổ chức này vào tháng 8 năm 1956, đã thông qua Nghị quyết về chống chủ nghĩa thực dân, quyết định lấy ngày 21-2 là “Ngày sinh viên thế giới đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân” và ngày 24-4 là “Ngày sinh viên Á-Phi đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân”.

Cuối năm 1986, nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Hội Liên hiệp sinh viên quốc tế, Hội đã tổ chức hàng loạt hoạt động với chủ đề “Giáo dục không phải là đặc quyền”.

Hội Liên hiệp sinh viên Việt Nam là thành viên của tổ chức này. Tr. 150.

19. Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945): Cuộc chiến tranh do bọn phát xít Đức, Italia, Nhật Bản gây ra với âm mưu chia lại thị trường thế giới và tiêu diệt nước Nga Xôviết. Do tính chất của cuộc chiến tranh và âm mưu của các thế lực phát xít, cuộc chiến tranh nổ ra ở từng vùng có tính chất khác nhau. Từ tháng 9-1939 đến tháng 6-1941 là chiến tranh giữa nước Đức phát xít với các nước đế quốc; từ tháng 6-1941 đến tháng 8-1945, cuộc chiến tranh chủ yếu diễn ra trên mặt trận Xô-Đức và từ tháng 12-1941 đến tháng 8-1945, cuộc chiến tranh do phát xít Nhật gây ra ở châu Á và Thái Bình Dương.

Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đã cuốn hút 61 nước với 1.700 triệu người vào vòng chiến. Chiến sự xảy ra trên lãnh thổ của 40 nước. Hơn 60 triệu người đã bị chết và một khối lượng của cải vật chất khổng lồ bị chiến tranh tiêu huỷ.

Kết quả của cuộc chiến tranh là sự thắng lợi của lực lượng các nước Đồng minh như Liên Xô, Mỹ, Anh, v.v., trong đó Liên Xô đóng vai trò quyết định. Các lực lượng phát xít đã bị tiêu diệt. Liên Xô không những đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945) mà còn trực tiếp giải phóng nhiều nước châu Âu, châu Á. Tr. 152.

20. Năm nguyên tắc chung sống hoà bình: Những nguyên tắc hợp tác hoà bình giữa các quốc gia được nêu trong Tuyên bố chung giữa Thủ tướng hai nước Trung Quốc và Ấn Độ ngày 28-6-1954 và Tuyên bố chung giữa Thủ tướng hai nước Trung Quốc và Miến Điện ngày 29-6- 1954: 1- Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau; 2 – Không xâm phạm lẫn nhau; 3 – Không can thiệp vào nội bộ của nhau; 4 – Bình đẳng và cùng có lợi; 5 – Chung sống hoà bình. Tr. 153.

21. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) họp từ ngày 30-11 đến ngày 2-12-1961 bàn về một số vấn đề trong đường lối đối ngoại của Đảng ta trước tình hình mới. Hội nghị đã nghe Đoàn đại biểu Đảng đi dự Đại hội lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô về báo cáo; nghiên cứu, thảo luận Báo cáo của đồng chí Khơrútsốp báo cáo, về Cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô xây dựng chủ nghĩa cộng sản và tệ sùng bái cá nhân Stalin cũng như quan hệ của Liên Xô đối với Anbani và một số nước xã hội chủ nghĩa khác. Hội nghị đã kết luận:

– Tán thành bản Báo cáo về Đại hội lần thứ XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô do đồng chí Lê Duẩn trình bày; tán thành các hoạt động của Đoàn đại biểu Đảng ta do đồng chí Hồ Chí Minh dẫn đầu tại Đại hội.

– Phổ biến rộng rãi trong Đảng và nhân dân ta bản Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô, tiếp tục nghiên cứu bản Cương lĩnh ấy để hiểu rõ những vấn đề quan trọng của thời đại và những điều bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

– Uỷ nhiệm cho Bộ Chính trị tìm cơ hội thuận tiện trình bày ý kiến của Trung ương Đảng ta về vấn đề quan hệ Anbani – Liên Xô với Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, với Trung ương Đảng Lao động Anbani và với Trung ương các đảng anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, với một số đảng anh em khác.

– Ra sức giáo dục toàn Đảng, toàn dân ngày càng đoàn kết chặt chẽ với Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc và với tất cả các đảng mácxít-lêninnít mà Đảng Cộng sản Liên Xô là đội tiên phong… Tr. 159.

22. Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam: Cuối năm 1944, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển thuận lợi cho cách mạng. Trên cơ sở lực lượng chính trị đã phát triển và lực lượng vũ trang nhân dân đang hình thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Nhiệm vụ chính của Đội là thực hành vũ trang tuyên truyền, giúp đỡ các cán bộ và lực lượng vũ trang ở các  địa phương; kêu gọi, tổ chức toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước.

Theo chỉ thị đó, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 người do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, được thành lập trong khu rừng Sam Cao, thuộc tổng Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình (Cao Bằng). Dưới lá cờ đỏ sao vàng, toàn Đội đã đọc 10 lời thề danh dự. Ngay sau khi mới thành lập, đội quân cách mạng ấy đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) ngày 24 và 25-12-1944, cổ vũ phong trào đánh Nhật đuổi Pháp, mở đường cho những thắng lợi tiếp theo. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là khởi điểm phát triển thành Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày 22-12 được lấy là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tr. 165.

23. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương  (khoá III): Họp từ ngày 26-3 đến ngày 16-4-1962. Hội nghị bàn về nhiệm vụ, phương hướng xây dựng và phát triển công nghiệp ở nước ta.

Hội nghị đã nhận định tình hình, nhiệm vụ xây dựng và phát triển công nghiệp từ ngày hoà bình lập lại đến năm 1962, nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ và bước đi cụ thể của việc công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta; những chủ trương cụ thể về thời kỳ đầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965); tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với công nghiệp.

Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến, nêu rõ những điều kiện thuận lợi để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tầm quan trọng của việc phát triển nông nghiệp, mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp. Người nhấn mạnh những nhiệm vụ chính của ngành nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất đủ lương thực để giải quyết vấn đề ăn cho nhân dân; nhiệm vụ của công nghiệp là phải giúp vào việc thúc đẩy nông nghiệp phát triển và cung cấp đủ hàng tiêu dùng cho nhân dân. Người nêu lên một số biện pháp quan trọng để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm và Hội nghị lần thứ bảy của Trung ương Đảng, đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta. Tr. 219.

24. Hội nghị Băngđung: Hội nghị họp từ ngày 18 đến ngày 24-4-1955 tại Băngđung (Inđônêxia).

Dự Hội nghị này, ngoài 5 nước khởi xướng là Inđônêxia, Ấn Độ, Miến Điện, Sri Lanca và Pakixtan, còn có 24 nước Á – Phi khác. Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đã tham dự Hội nghị.

Thông cáo chung của Hội nghị nêu rõ: Chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi biểu hiện của nó là một tai họa cần phải nhanh chóng tiêu diệt. Hội nghị hoàn toàn ủng hộ quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc, lên án chính sách phân biệt chủng tộc; khẳng định Năm nguyên tắc chung sống hoà bình là cơ sở để giải quyết các mối quan hệ quốc tế; kêu gọi các nước hãy tiến hành ngay việc giải trừ quân bị; nghiêm cấm việc sản xuất vũ khí hạt nhân, thực hiện hoà bình, hợp tác thân thiện và giải quyết những tranh chấp bằng thương lượng.

Hội nghị Băngđung thể hiện bước tiến mới của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội ở các nước Á – Phi. Tr. 223.

25. Đại hội Liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III: Họp từ ngày 4 đến ngày 6-5-1962, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội gồm 1060 đại biểu anh hùng và chiến sĩ thi đua các ngành, các giới, các  địa phương và đại diện của nhiều đơn vị tiên tiến.

Đại hội đã biểu dương thành tích thi đua của lao động toàn quốc từ Đại hội Liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ II (1958) tới năm 1962.

Đại hội đã tuyên dương các đơn vị lá cờ đầu trong phong trào thi đua là Nhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng), Hợp tác xã nông nghiệp Đại Phong (Quảng Bình), Hợp tác xã thủ công nghiệp Thành Công (Thanh Hoá), Trường phổ thông cấp II Bắc Lý (Nam Hà) và Phong trào Ba nhất trong quân đội. Tại Đại hội, 45 đại biểu xuất sắc được tuyên dương là Anh hùng Lao động. Tr. 228.

26. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam: Tổ chức Mặt trận thống nhất của nhân dân miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Mặt trận thành lập ngày 20-12-1960 theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) và do Đảng ta – trực tiếp là Đảng bộ miền Nam lãnh đạo.

Tham gia Mặt trận bao gồm đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị và thống nhất ở mục tiêu đấu tranh đánh đổ ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ và tay sai; xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Đó cũng là nội dung cơ bản trong Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm được công bố ngay trong những ngày đầu Mặt trận mới thành lập.

Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là tổ chức đoàn kết, thống nhất các lực lượng yêu nước miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước trong thời kỳ 1960-1975.

Năm 1976, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr. 231.

27. Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV): Thành lập tháng 1-1949. Tổ chức kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm mục đích thống nhất và phối hợp những nỗ lực của các nước thành viên, góp phần tăng cường và hoàn thiện sự hợp tác, phát triển có kế hoạch nền kinh tế quốc dân của các nước thành viên; thúc đẩy tiến bộ khoa học, nâng cao trình độ công nghiệp hoá của các nước thành viên; san bằng trình độ phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao năng suất lao động và phúc lợi của nhân dân.

Sự hợp tác trong Hội đồng tương trợ kinh tế dựa trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị – xã hội ở nhiều nước thành viên, cơ chế hợp tác của SEV ngày càng tỏ ra không còn hiệu lực.

Cuối tháng 6-1991, SEV tuyên bố chấm dứt hoạt động. Tr. 262.

28. Bản Tuyên bố Mátxcơva năm 1957. Từ ngày 14 đến ngày 16-11-1957, Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Công nhân các nước xã hội chủ nghĩa đã họp ở Mátxcơva. Tham gia Hội nghị có các đoàn đại biểu của 12 nước xã hội chủ nghĩa. Hội nghị đã thảo luận những vấn đề khẩn cấp về tình hình quốc tế, về cuộc đấu tranh cho hoà bình và chủ nghĩa xã hội và những vấn đề quan hệ giữa các đảng Mác – Lênin ở các nước xã hội chủ nghĩa. Hội nghị đã nhất trí thông qua một bản Tuyên bố quan trọng. Những vấn đề nêu lên trong bản Tuyên bố có tác dụng đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều và tư tưởng bè phái, củng cố về mặt tư tưởng, tổ chức và tăng cường sự đoàn kết giữa các Đảng Cộng sản và Công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở nguyên tắc chung. Bản tuyên bố cũng nêu lên những nguyên tắc chung về những hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước khác nhau, về ý nghĩa lịch sử của hệ thống xã hội chủ nghĩa và sự cần thiết phải tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Tr. 292.

29. Bản Tuyên bố Mátxcơva năm 1960. Do Hội nghị đại biểu của 81 Đảng Cộng sản và Công nhân trên thế giới họp ở Mátxcơva tháng 11 năm 1960 đã nhất trí thông qua, bổ sung và phát triển nội dung của bản Tuyên bố năm 1957.

Trong Tuyên bố này, Hội nghị đã thống nhất những nhận định về đặc điểm thời đại, về so sánh lực lượng giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, về chiến tranh và hoà bình, về phong trào cộng sản ở các nước tư bản, về phong trào giải phóng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, trên cơ sở đó vạch rõ nhiệm vụ của những người cộng sản, của các Đảng Cộng sản và Công nhân trên toàn thế giới.

Tuyên bố dành một phần quan trọng để nói về sự đoàn kết giữa các đảng anh em. Các Đảng Cộng sản cần phải không ngừng củng cố tình đoàn kết chặt chẽ, bảo vệ sự thống nhất nội bộ và giữa các đảng, thắt chặt quan hệ giữa đảng và quần chúng, kiên quyết chống chủ nghĩa xét lại và các khuynh hướng giáo điều, biệt phái. Sự đoàn kết nhất trí trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin giữa các đảng anh em, nhất là Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc, là điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo cho phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng trong cuộc đấu tranh vĩ đại cho tương lai tươi sáng của toàn thể loài người. Tr. 292.

30. Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III: Họp từ ngày 26-11 đến ngày 1-12-1962, tại Hà Nội. Dự Đại hội có 664 đại biểu thay mặt cho các ngành văn hoá nghệ thuật như văn học, âm nhạc, sân khấu, hội hoạ, kiến trúc, điện ảnh, nhiếp ảnh, múa rối, xiếc và 170 vị khách trong và ngoài nước. Đại hội có đủ đại biểu văn nghệ các dân tộc, miền Nam tập kết, văn nghệ sĩ chuyên nghiệp và nghiệp dư trong và ngoài quân đội. Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá tình hình hoạt động văn học nghệ thuật từ Đại hội lần thứ II (1957) đến Đại hội này, quyết nghị phương hướng và nhiệm vụ mới nhằm phục vụ đắc lực hơn nữa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Ngày 26-11-1962, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta gửi thư tới Đại hội và ngày 1-12-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nói chuyện với Đại hội. Người đã phân tích tình hình, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam, từ đó chỉ ra nhiệm vụ của văn nghệ nước ta và của các văn nghệ sĩ với cách mạng. Tr. 316.

31. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III): Họp đầu tháng 4-1963. Hội nghị đã ra Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Nghị quyết khẳng định rõ phương hướng chung của kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất là: “Phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.”

Nghị quyết nêu phương hướng cụ thể của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, vận tải và bưu điện, xây dựng cơ bản và thương nghiệp.

Về công nghiệp: Phấn đấu thực hiện đưa công nghiệp tiến lên một bước mới nhằm đáp ứng các nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng.

Về nông nghiệp: Cần phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, đẩy mạnh sản xuất lương thực, tăng thêm khối lượng nông sản tiêu dùng và nông sản hàng hoá…, tạo cơ sở thuận lợi cho việc thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết còn nêu rõ cần đẩy mạnh việc vận tải hàng hoá, phục vụ sản xuất và chiến đấu, phát triển giao thông vận tải nông thôn và rừng núi; tăng vốn tích luỹ cho xây dựng cơ bản; thương nghiệp phục vụ sản xuất phát triển và phục vụ việc cải thiện đời sống của nhân dân.

Để hoàn thành việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nghị quyết nhấn mạnh phải “thấu suốt hơn nữa quan hệ khăng khít giữa hai nhiệm vụ chiến lược của nhân dân ta, ra sức củng cố miền Bắc làm cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”. Tr. 371.

32. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Chiến thắng lớn nhất, có tính chất quyết định trong cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược.

Điện Biên Phủ là châu lỵ của châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu, nằm giữa vùng Tây Bắc gần biên giới Việt – Lào. Đây là một vùng có vị trí chiến lược quan trọng đối với toàn bộ chiến trường Đông Dương.

Tháng 11-1953, thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Đây là cái xương sống trong “kế hoạch Nava” của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Lực lượng của chúng ở Điện Biên Phủ lên tới hơn 16.000 tên, bao gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải và 1 phi đội máy bay thường trực cùng nhiều vũ khí hiện đại của Pháp, Mỹ. Với lực lượng như vậy, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ âm mưu làm thay đổi cục diện chiến trường Đông Dương theo chiều hướng có lợi cho chúng.

Điện Biên Phủ đã trở thành điểm quyết chiến chiến lược của ta và địch trên toàn bộ chiến trường Đông Dương.

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định tình hình và quyết định mở chiến dịch tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, sau gần bốn tháng chuẩn bị, ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau 55 ngày đêm chiến đấu gian khổ và anh dũng, ngày 7-5-1954, quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ.

Chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đã đập tan kế hoạch Nava và có ý nghĩa quyết định nhất đối với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương. Tr. 384.

33. Đại hội Tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa toàn miền Bắc. Đại hội họp từ ngày 20 đến ngày 22-6-1963 tại Hà Nội. Đại biểu của 389 tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa toàn miền Bắc đã về dự Đại hội.

Đại hội đã tổng kết thành tích và kinh nghiệm chỉ đạo, xây dựng và tổ chức phong trào phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa, xác định phương hướng mục tiêu của phong trào và biểu dương thành tích của 389 tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa vừa được Chính phủ công nhận. Tr. 406.

34. Kế hoạch Xtalây-Taylo. Để tiến hành “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã đề ra kế hoạch “Xtalây-Taylo (tên của hai viên tướng Mỹ). Theo kế hoạch này, chúng đề ra ba biện pháp để thực hiện ý đồ chiến lược.

1. Tăng cường quân nguỵ, dùng quân nguỵ do cố vấn Mỹ chỉ huy. Sử dụng nhiều phương tiện chiến tranh như máy bay trực thăng, xe thiết giáp…, nhằm nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng cách mạng miền Nam.

2. Xây dựng bộ máy nguỵ quyền mạnh và ngăn chặn phong trào đấu tranh của nhân dân các thành thị, giữ vững thành thị, đồng thời tiêu diệt phong trào cách mạng ở nông thôn bằng việc “bình định” và lập “ấp chiến lược”.

3. Ngăn chặn biên giới, kiểm soát vùng ven biển, cô lập cách mạng miền Nam bằng việc cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc.

Thực hiện kế hoạch Xtalây-Taylo, đế quốc Mỹ hy vọng chuyển sang tiến công nhằm giành lại thế chủ động. Chúng đặt quyết tâm “bình định” xong miền Nam trong vòng 18 tháng.

Kế hoạch Xtalây-Taylo được tiến hành từ cuối năm 1961, đến đầu năm 1964 bị phá sản hoàn toàn. Tr. 439.

35. Liên hợp quốc. Tổ chức quốc tế được thành lập vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai. Tại Hội nghị họp ở Xan Phranxixcô (Mỹ) từ ngày 25-4 đến ngày 26-6-1945, đại diện của 50 nước đã ký tham gia Hiến chương Liên hợp quốc. Hiến chương Liên hợp quốc bắt đầu có hiệu lực từ ngày 24-10-1945. Ngày nay, hằng năm lấy đó làm Ngày Liên hợp quốc.

Hiến chương Liên hợp quốc vạch rõ mục đích thành lập tổ chức quốc tế này là để ngăn ngừa và loại trừ những mối đe doạ đối với hoà bình, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế; tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tín ngưỡng và tiếng nói. Tất cả các nước hội viên đều bình đẳng, không một nước nào có quyền can thiệp vào các công việc nội bộ của nước khác.

Những cơ quan chủ yếu của Liên hợp quốc là Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế và xã hội, Hội đồng quản thác, Toà án quốc tế và Ban thư ký. Trụ sở của Liên hợp quốc đặt tại Niu Oóc (Mỹ). Hoạt động của Liên hợp quốc trước đây đều bị Mỹ chi phối và thao túng.

Năm 1977, Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc. Tr. 445.

36. Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III): Họp vào tháng 12-1963. Hội nghị thông qua hai Nghị quyết quan trọng đó là: Nghị quyết Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta và Nghị quyết Ra sức phấn đấu, tiến lên giành những thắng lợi ở miền Nam.

1. Nghị quyết Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, Hội nghị Trung ương đã phân tích đặc điểm tình hình thế giới, nội dung và tính chất thời đại và cho rằng lực lượng so sánh thế giới ngày càng có lợi cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, không có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác, cao trào cách mạng xuất hiện sau Chiến tranh thế giới thứ hai đang phát triển mạnh mẽ và liên tục. Trên cơ sở đánh giá tình hình thế giới, Hội nghị đã vạch ra những chủ trương và nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta. Hội nghị quyết định cần phải tiến hành những công tác cấp bách sau: Tăng cường việc giáo dục chính trị, làm cho cán bộ và đảng viên thấm nhuần hơn nữa đường lối của Đảng ta về cách mạng Việt Nam, hiểu rõ lập trường và quan điểm của Đảng về những vấn đề chiến lược của phong trào quốc tế và nhiệm vụ quốc tế của Đảng; Ra sức cải tiến và tăng cường công tác đối ngoại của Đảng và của Nhà nước…

2. Nghị quyết Ra sức phấn đấu, tiến lên giành những thắng lợi ở miền Nam. Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm phong phú của cách mạng miền Nam trong những năm qua và định ra những phương hướng, nhiệm vụ cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống Mỹ trong thời gian tới. Hội nghị đã nhận định rằng, quân và dân miền Nam đã giành được những thắng lợi quan trọng trong chống “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Thắng lợi đó đã chỉ ra cho quân và dân miền Nam khả năng kiềm chế và thắng địch trong “chiến tranh đặc biệt” và phải sẵn sàng đối phó nếu địch liều lĩnh gây chiến tranh cục bộ ở miền Nam.

Hội nghị vạch ra Phương châm đấu tranh của cách mạng miền Nam: “Phương châm chiến lược chung của cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam là chiến đấu lâu dài, dựa vào sức mình là chính; về phương châm đấu tranh thì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách linh hoạt tuỳ theo từng vùng, từng thời kỳ khác nhau”. Để giành thắng lợi, cần tích cực chủ động, linh hoạt và phối hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh. Cần tăng cường lực lượng của ta về mọi mặt, đặc biệt là lực lượng quân sự. Ra sức chuẩn bị, nắm thời cơ thuận lợi để giành thắng lợi hoàn toàn.

Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, xây dựng và mở rộng căn cứ địa; phá phần lớn “ấp chiến lược”, làm chủ vùng rừng núi và phần lớn nông thôn đồng bằng, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng ở thành thị nổi dậy, dồn chế độ Mỹ và tay sai tới chỗ khủng hoảng sâu sắc, tạo thế chủ động và chiến lược, tạo thời cơ giành những thắng lợi có tính chất quyết định.

Hội nghị nhấn mạnh hai mục tiêu chủ yếu cần phải đạt cho được là: 1 – Tiêu diệt từng bộ phận quân đội địch, tạo điều kiện làm tan rã hoàn toàn lực lượng quân sự của địch; 2 – Làm thất bại kế hoạch gom dân, lập “ấp chiến lược”, giành nhân lực, vật lực cho cách mạng, làm chủ rừng núi và phần lớn đồng bằng.

Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh dấu bước trưởng thành về lý luận và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghị quyết Hội nghị đã bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng miền Nam, chỉ đạo toàn dân ta đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Tr. 464.

37. Đề nghị sáu điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày 7-11-1963, Hội nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã đánh giá và nhận định về việc đế quốc Mỹ làm cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm.

Hội nghị ra tuyên bố nêu sáu yêu sách cấp bách nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam sau khi tập đoàn Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Đó là:

1. Phải triệt hạ vô điều kiện toàn bộ chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm, bao gồm đường lối lệ thuộc Mỹ, các chính sách chống cộng, các chính sách chiến tranh, độc tài phát xít, các chính sách phản động nói chung về đối nội cũng như đối ngoại, các hình thức tổ chức chính trị phản động… của chúng. Phải trả tự do cho tất cả tù chính trị và trừng trị những bọn có nhiều nợ máu đối với nhân dân.

2. Thực hiện một nền dân chủ thực sự.

3. Phải chấm dứt ngay sự xâm lược của đế quốc ở miền Nam. Đế quốc Mỹ phải tôn trọng độc lập và chủ quyền của miền Nam Việt Nam.

4. Phải thực hiện chính sách kinh tế độc lập, dân chủ và hợp lý để nâng cao dần mức sống của nhân dân, tiến tới chiến thắng thất nghiệp và nghèo đói.

5. Đình chỉ chiến tranh, khôi phục lại hoà bình, an ninh và ổn định ở nông thôn và các vùng khác ở miền Nam.

6. Các phái hữu quan ở miền Nam cùng nhau thương lượng để đi đến ngừng bắn và giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước. Tr. 475.

BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI

A

AIĐÍCH, D.N. (Đipa Nuxaitapa) (1923-1965): Chủ tịch Đảng Cộng sản Inđônêxia (1959-1965).

Ông sinh ra trên đảo Bangga ở nam Xumatơra, tốt nghiệp Trường Trung cấp thương nghiệp. Năm 1939, bắt đầu tham gia phong trào dân tộc, gia nhập “Đoàn Thanh niên Phương Đông Giacácta” và là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đoàn. Năm 1941-1942, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành của tổ chức thanh niên do Đảng Phong trào nhân dân Inđônêxia lãnh đạo; năm 1943, gia nhập Đảng Cộng sản Inđônêxia thời kỳ này đang phải hoạt động bí mật; cùng năm, tham gia tổ chức “Phong trào Inđônêxia độc lập” – một đoàn thể chống phát xít, từng là người lãnh đạo của đoàn thể này. Tháng 8-1945, sau khi Inđônêxia tuyên bố độc lập, ông đứng ra tổ chức Đoàn Thanh niên Inđônêxia, làm Bí thư Ban Chấp hành Đoàn; năm 1947, là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Inđônêxia; năm 1947-1948, làm Bí thư Mặt trận dân chủ nhân dân Inđônêxia; năm 1948 được bầu vào Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Inđônêxia; năm 1951, được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng; năm 1954, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, cùng năm được bầu vào Quốc hội. Từ năm 1959, ông là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Inđônêxia; năm 1961, làm Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc; năm 1965, sau sự kiện “30-9”, Đảng Cộng sản Inđônêxia bị đàn áp khốc liệt, D.N.Aiđích bị sát hại.

B

BÀNH CHÂN (1902-1997): Người tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc). Năm 1923, ông tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc; những năm 1924-1929, hoạt động trong phong trào công nhân Trung Quốc. Tháng 6-1929, ông bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam; sau khi ra tù (1935), làm Bí thư thị uỷ Thiên Tân, phụ trách tổ chức của Cục phương Bắc. Trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật và chiến tranh giải phóng, ông từng giữ các chức vụ: Bí thư phân cục Tấn-Sát-Ký, Phó hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương, Bí thư Cục Đông Bắc, Trưởng ban Tổ chức của Trung ương Đảng, v.v..

Sau ngày nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, ông đảm nhiệm các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Luật pháp của Chính phủ, Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Trung Quốc, Thị trưởng Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Thành uỷ Bắc Kinh.

Năm 1956, ông được Đại hội VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc bầu vào Bộ Chính trị, là Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng; là Phó trưởng ban Thường vụ Quốc hội các khoá I, II, III, Phó Chủ tịch Uỷ ban chính trị hiệp thương toàn quốc khoá II, III. Ông bị thanh trừng trong “Đại cách mạng văn hoá”; tháng 2-1979, được khôi phục; cùng năm, được bầu bổ sung làm Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội khoá V kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Luật pháp của Quốc hội. Tại Đại hội XI Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị; tháng 6-1983, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá VI được bầu làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội.

BATIXTA, PH. (Phungienxiô Batixta) (1901-1973): Người đứng đầu Nhà nước Cộng hoà Cuba thân Mỹ trong những năm 1940-1944 và 1952-1959. Chế độ độc tài ở Cuba do Ph. Batixta thiết lập và đứng đầu đã bị cách mạng Cuba lật đổ năm 1959.

BEN BÊLA, A. (Ácmét Ben Bêla) (1919-?): Nhà hoạt động chính trị Angiêri, một trong những người lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Angiêri, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, vừa là Tổng thống kiêm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Angiêri từ năm 1963; năm 1965, bị H. Bumêđiên lật đổ và lưu đầy. Tháng 11-1980, được trả tự do.

BỚCSÉT, U. (Unphrết Bớcsét) (1911-1984): Nhà báo nổi tiếng người Ôxtrâylia. Bớcsét là nhà báo nước ngoài đầu tiên đến Hirôsima (Nhật Bản) ngay sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố này. Năm 1954, ông đến Việt Bắc (Việt Nam) để tìm hiểu và lấy tư liệu viết về Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông đã ở Hà Nội trong những ngày đầu giải phóng và ở Hải Phòng trong ngày quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Khi Mỹ mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, Bớcsét đã đến nhiều vùng giải phóng của miền Nam, nhiều lần ra chiến trường để tìm hiểu cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Ông đã nhiều lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.

BRÊGIƠNÉP, L.I. (Lêônít Ilích Brêgiơnép) (1906-1982): Nhà hoạt động chính trị Xôviết, đảng viên Đảng Cộng sản (b) Liên Xô năm 1931; Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1952; Uỷ viên dự khuyết Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng từ năm 1956; Uỷ viên chính thức từ năm 1957; Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô những năm 1960-1964, 1970-1982; Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1964 đến năm 1982.

C

CAĐA, I. (Ianốt Cađa) (1912-1989): Nhà hoạt động chính trị Hunggari. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Hunggari năm 1931. Năm 1942, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Hunggari; năm 1943, là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng rồi Phó Tổng Bí thư.

Sau khi Đảng Cộng sản Hunggari hợp nhất với Đảng Xã hội dân chủ Hunggari thành Đảng Lao động Hunggari, năm 1951, ông được bầu vào Bộ Chính trị, là Bí thư Trung ương Đảng. Từ năm 1954-1956, ông lại được tái cử các chức vụ trên.

Tháng 11-1956, Ianốt Cađa đứng đầu Chính phủ cách mạng công nông Hunggari được thành lập sau sự biến cuối tháng 10, là Bí thư thứ nhất Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari cải tổ từ Đảng Lao động Hunggari, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Hunggari từ năm 1961-1965, sau đó là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Hunggari.

CAXTƠRÔ, PH. (Phiđen Caxtơrô): Luật sư, nhà hoạt động của Đảng và Nhà nước Cuba, sinh năm 1927. Năm 1952, ông là một trong những người lãnh đạo phong trào đấu tranh bí mật chống chế độ độc tài thân Mỹ ở Cuba. Năm 1956, ông dẫn đầu 80 thanh niên yêu nước đổ bộ vào miền Nam tỉnh Ôriêngtê và lập căn cứ cách mạng trong miền rừng núi Xiera Maextơra. Từ sau ngày cách mạng Cuba thành công (1959), ông được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng: Tổng Tư lệnh lực lượng vũ trang, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Thủ tướng nước Cộng hoà Cuba.

CÂYTA, M. (Môđibô Câyta) (1915-1977): Nhà hoạt động chính trị của châu Phi, chiến sĩ của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Mali. Năm 1945, ông là một trong những người sáng lập Đảng Liên minh Xuđăng, từng là Tổng Bí thư của Đảng này (1958). Tháng 4-1959, ông tham gia thành lập Liên bang Xênêgan-Mali và là Tổng thống Liên bang, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ. Sau đó, được bầu làm Tổng thống Cộng hoà Mali.

CHU ÂN LAI (1898-1976): Người huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Năm 1917, ông du học ở Nhật; năm 1919, về nước, tham gia phong trào Ngũ Tứ; năm 1920, sang Pháp học; năm 1922, tham gia Đảng Cộng sản trẻ Trung Quốc ở nước ngoài, rồi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp qua sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc.

Từ năm 1924 sau khi về nước đến năm 1949 thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, ông được giao nhiều chức vụ quan trọng: Uỷ viên trưởng Khu uỷ Lưỡng Quảng Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Quân uỷ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Trung ương cục Xôviết, Tổng Chính uỷ Hồng quân công nông Trung Quốc kiêm Tổng Chính uỷ Đệ nhất phương diện quân, Phó Chủ tịch Quân uỷ kiêm Tổng Tham mưu trưởng… Thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác, ông là đại diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong Chính phủ Quốc dân Đảng.

Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, ông liên tục được bầu làm Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc và giữ chức vụ này tới khi qua đời.

Tại các Đại hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc các khoá V, VI, VII, VIII, IX, X, ông đều được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là Uỷ viên Thường vụ của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chu Ân Lai là người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cùng với Người xây đắp nên tình đồng chí, tình bạn vĩ đại và cảm động, tình hữu nghị giữa hai Đảng và nhân dân hai nước.

Ông mất ngày 8-1-1976 tại Bắc Kinh.

CHU ĐỨC (1886-1976): Người tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc). Năm 1911, ông tham gia khởi nghĩa Vân Nam. Sau đó, ông là Thiếu tướng Lữ trưởng của quân đội Vân Nam; năm 1922, sang Đức học và tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc; năm 1925, sang Liên Xô học tại Trường Đại học Phương Đông và lớp huấn luyện quân sự bí mật; năm 1926, về nước; năm 1927, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Nam Xương; năm 1934, tham gia Vạn lý trường chinh. Thời kỳ chiến tranh chống Nhật, ông giữ các chức vụ: Tổng tư lệnh Bát lộ quân, Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương kiêm Phó Tổng Tư lệnh Chiến khu 2. Tháng 9-1949, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân Trung ương. Tháng 10-1949, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc. Năm 1954, là Phó Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Năm 1955, được phong hàm Nguyên soái. Là Trưởng ban Thường vụ Quốc hội các khóa II, III, IV; Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc các khoá VI, VII, VIII, IX, X.

CRÚPXCAIA, N.C. (Nađegiơđa Konstina Crúpxcaia) (1869-1939): Cán bộ Đảng và Nhà nước Liên Xô, là vợ và bạn chiến đấu của V.I. Lênin. Bà bắt đầu những hoạt động cách mạng trong sinh viên từ năm 1890 và là một trong những người tổ chức “Hội Liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân” ở Xanh Pêtécbua (1895), cùng bị bắt và đi đày với Lênin (1896-1899), sau đó làm Thư ký toà soạn báo Tia lửa, rồi Thứ trưởng Bộ Dân uỷ Giáo dục (1929); là một trong những người sáng lập hệ thống giáo dục nhân dân, nhà lý luận giáo dục Xôviết. Từ năm 1927, bà là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô khoá I.

D

DAVÁTXKI, A. (Alếchxăngđrơ Davátxki) (1899-1964): Nhà hoạt động chính trị Ba Lan, đảng viên Đảng Cộng sản Ba Lan từ năm 1923. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Davátxki là Tổng Tham mưu trưởng quân du kích Ba Lan, Phó Tư lệnh quân đội Ba Lan ở Liên Xô; những năm 1949-1952, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ba Lan; năm 1952, là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà nhân dân Ba Lan. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám (10-1956) và Đại hội lần thứ III, Davátxki được bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan.

DIỆP KIẾM ANH (1897-1986): Người tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Năm 1924, ông dạy ở Trường Quân sự Hoàng Phố; gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1927; những năm 1928-1930, học ở Liên Xô; những năm 1931-1934, là Tham mưu trưởng của Quân uỷ Trung ương, Tham mưu trưởng của Đệ nhất phương diện quân; Tư lệnh Quân khu Phúc Kiến, Hiệu trưởng Trường Quân sự Hồng quân; năm 1934, tham gia Vạn lý trường chinh.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật và chiến tranh giải phóng, ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng.

Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, ông lần lượt giữ các chức: Bí thư thứ nhất Cục Hoa Nam, Tư lệnh Quân khu Hoa Nam, Chủ tịch tỉnh Quảng Đông kiêm Thị trưởng Quảng Châu, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, Viện trưởng kiêm Chính uỷ Viện Khoa học quân sự, Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương…

Năm 1955, ông được phong hàm nguyên soái; Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 1975; Trưởng ban Thường trực Quốc hội Trung Quốc khoá V (1978); là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khoá VII đến khoá XII, Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá VIII và IX, Phó Chủ tịch Trung ương Đảng các khoá X và XI, Thường vụ Bộ Chính trị khoá XII.

Ông là bạn lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhiều lần sang thăm Việt Nam.

DƯƠNG ĐỨC HIỀN (1916-1963): Nguyên quán thôn Linh Quy, xã Quyết Thắng, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội).

Xuất thân trong một gia đình viên chức tiểu tư sản, ngay từ hồi còn là học sinh ông đã có lòng yêu nước, căm thù bọn thực dân cướp nước.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Luật khoa ở Hà Nội (1940), ông chọn nghề dạy học tư để hoạt động cách mạng. Đảng Cộng sản Đông Dương đã chú ý đến những hoạt động của nhóm thanh niên Dương Đức Hiền, giúp ông đứng ra thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam (30-6-1944).

Đảng Dân chủ Việt Nam đã tự nguyện gia nhập Mặt trận Việt Minh, và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã vận động các tầng lớp trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc cùng với toàn dân phấn đấu giải phóng nước nhà và xây dựng chế độ mới.

Trong những ngày hoạt động bí mật, gian khổ và hiểm nguy thời kỳ tiền khởi nghĩa, ông luôn tỏ ra là một người trí thức cách mạng, hăng hái, bền bỉ, kiên quyết, có nhiều đóng góp vào hoạt động của Mặt trận Việt Minh và của Đảng Dân chủ Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông lần lượt được cử làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đại biểu Quốc hội khoá I, Uỷ viên Thường trực Quốc hội, Uỷ viên Tổng bộ Việt Minh, Tổng thư ký Hội Liên Việt, Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Liên Việt.

Hoà bình lập lại (1954), ông được bầu vào Quốc hội khoá II, được cử vào Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II, ông được cử vào Ban Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông đã được Nhà nước ta tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.

Đ

ĐẶNG TIỂU BÌNH (1904-1997): Người tỉnh Tứ Xuyên. Du học ở Pháp năm 1920-1922, tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1924.

Trước và trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật và chiến tranh giải phóng, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Chính ủy Sư đoàn 129 Bát Lộ quân, quyền Bí thư Đảng bộ Hoa Bắc, Bí thư Trung ương Cục kiêm Chính uỷ Quân khu Tấn-Sát-Lỗ-Tượng, Bí thư thứ nhất kiêm Chính uỷ Quân khu Trung Nguyên, Bí thư Đảng bộ  Hoa Đông…

Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, ông là Bí thư thứ nhất kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban quân chính kiêm Chính uỷ Quân khu Tây Nam; năm 1954, là Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng; năm 1955, được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị. Tại Đại hội VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (1956), ông được bầu vào Bộ Chính trị, là Uỷ viên Thường trực và Tổng Bí thư; bị thanh trừng trong “Đại cách mạng văn hoá”. Năm 1973, ông được khôi phục chức Phó Thủ tướng Chính phủ, được Đại hội X Đảng Cộng sản Trung Quốc bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, đảm trách Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng. Năm 1975, ông được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị; tháng 4-1976, lần thứ hai bị tước mọi chức vụ vì lý do “đứng đằng sau” sự kiện Thiên An Môn; năm 1977 lại được khôi phục các chức vụ cũ. Ông là người tích cực chủ trương chính sách cải cách, mở cửa của Trung Quốc.

ĐẶNG DĨNH SIÊU (1904-1992): Nguyên quán tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, sinh tại Nam Ninh (Quảng Tây). Năm 1919, bà tham gia phong trào Ngũ Tứ, là một trong những người sáng lập tổ chức “Nữ giới ái quốc đồng chí hội” ở Thiên Tân, cùng với Chu Ân Lai, v.v. thành lập một đoàn thể tiến bộ có tên là “Giác ngộ xã”. Năm 1924, bà tham gia Đoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa Trung Quốc; năm 1925, vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng năm kết hôn với Chu Ân Lai. Năm 1926, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân Đảng, bà được bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng này; năm 1932, trở về căn cứ địa Trung ương ở Giang Tây, tham gia Ban Bí thư Trung ương cục; tháng 10-1934, tham gia Vạn lý trường chinh.

Trong thời kỳ kháng chiến, bà tham gia công tác trong Mặt trận thống nhất dân tộc chống Nhật ở Vũ Hán, là Uỷ viên Uỷ ban Phụ vận Cục Trường Giang, Đảng uỷ viên Cục Phương Nam..

Sau ngày thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, bà là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung Quốc khoá II và khoá III; Chủ tịch danh dự khoá IV; Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ nhi đồng toàn quốc; Hội trưởng danh dự Hội hữu nghị với các nước của Trung Quốc; là Uỷ viên Thường vụ Quốc hội các khoá I, II, III, Phó Trưởng ban Thường vụ Quốc hội các khoá IV, V; là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khoá VIII đến khoá XII; năm 1978, được bầu vào Bộ Chính trị, là Bí thư thứ hai Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng…

Bà là người bạn lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐOÓCTICỐT, T. (1919-1983): Một trong những người lãnh đạo phong trào giải phóng của nhân dân Cuba. Năm 1959, ông được bầu làm Tổng thống nước Cộng hoà Cuba; năm 1962, là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng từ năm 1965.

ĐÔBI, I. (Istơvan Đôbi) (1898-1968): Nhà hoạt động chính trị Hunggari; Chủ tịch Đảng những người tiểu nông từ năm 1947; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từ năm 1948; Chủ tịch Đoàn Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Hunggari từ năm 1952; Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari từ năm 1959.

G

GHÊOÓCGHIU ĐÊ (1901-1965): Nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng và Nhà nước Rumani; tham gia hoạt động trong phong trào công nhân từ rất sớm. Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản; năm 1932, là Bí thư Uỷ ban hành động Trung ương của công nhân đường sắt; năm 1933, lãnh đạo cuộc bãi công nổi tiếng của công nhân đường sắt và dầu hoả, bị chính quyền phản động kết án 12 năm tù khổ sai. Trong thời gian ở tù, ông vẫn được bầu vắng mặt vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1935).

Sau ngày Rumani được giải phóng, ông được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng: Bộ trưởng Giao thông (1945-1946), Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng (từ năm 1948), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1952-1955), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (từ năm 1961).

Tháng 10-1945, ông là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản. Năm 1948, sau khi hợp nhất Đảng Cộng sản và Đảng Xã hội dân chủ thành Đảng Công nhân Rumani, ông được cử giữ chức Tổng Bí thư. Tháng 10-1955, là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

GÍPCỐP, T. (Tôđo Gípcốp) (1911-?): Nhà hoạt động chính trị Bungari; gia nhập Đảng Cộng sản Bungari năm 1932, là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng năm 1945, Uỷ viên chính thức năm 1948, Bí thư thứ nhất Đảng bộ Xôphia năm 1948-1949, Uỷ viên Bộ Chính trị năm 1951, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Bungari năm 1954; từ 1962-1971, là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; từ 1972, là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

GÔMUNCA, V. (Vlađixláp Gômunca) (1905-1982): Nhà hoạt động chính trị Ba Lan, xuất thân là công nhân dầu mỏ. Năm 1926, ông gia nhập Đảng Cộng sản; năm 1931, là Chủ tịch Uỷ ban Nghiệp đoàn cánh tả. Năm 1932, bị bắt giam vì hoạt động chính trị; năm 1939, sang Liên Xô; năm 1942, về nước, tham gia hoạt động chống phát xít, thành lập Đảng Công nhân Ba Lan (tiền thân là Đảng Cộng sản Ba Lan bị Quốc tế Cộng sản giải tán năm 1938) và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là Tổng Bí thư những năm 1943-1948; năm 1949, bị xử trí sai, khai trừ ra khỏi Đảng; năm 1956 được phục hồi, là Uỷ viên Bộ Chính trị, rồi Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan những năm 1956-1970.

GRỐTTƠVÔN, Ô. (Ốttô Grốttơvôn) (1894-1964): Nhà hoạt động có tên tuổi của phong trào công nhân và nhà nước Đức, nhà hoạt động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, một trong những người lãnh đạo phong trào đấu tranh thống nhất dân chủ chống phát xít ở nước Đức trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai.

Sau khi nhà nước Đức Quốc xã sụp đổ, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Đảng Xã hội – dân chủ Đức, đồng Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức cùng với Vinhem Pích (1946), Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Hội đồng lập hiến (1948-1949), Thủ tướng nước Cộng hoà dân chủ Đức từ ngày thành lập (1949) cho đến khi qua đời.

H

HÀ HUY GIÁP (1908-1995): người Hương Sơn, Hà Tĩnh, giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Năm 1926, tham gia các phong trào biểu tình bãi khoá của học sinh sinh viên ở Hà Nội, sau đó vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn; gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930, cùng năm được chỉ định vào Xứ uỷ Nam Bộ. Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt kết án tù chung thân và đầy ra Côn Đảo; năm 1936, được tha và bị đưa về quản thúc ở Vinh, ở đây ông tiếp tục hoạt động lãnh đạo phong trào công nhân Nhà máy xe lửa Trường Thi. Năm 1937, ông bị bắt lần thứ hai, kết án 3 năm tù, bị đầy đi Đắc Lây (Kon Tum) và Trà Khê (Phú Yên).

Tháng 3-1945, ông tham gia tổ chức lãnh đạo nhà tù, vận động binh lính địch đảo ngũ, phát động tù nhân phá trại tự giải phóng. Sau đó trở về hoạt động ở Sài Gòn – Chợ Lớn, tham gia lãnh đạo phong trào tiền khởi nghĩa, cùng Xứ uỷ lập Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ, Tổng Công đoàn Nam Bộ.

Tháng 8-1945, ông được cử ra Việt Bắc dự Hội nghị Tân Trào rồi về Nam Bộ tham gia kháng chiến.

Năm 1949, ông là Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương; Phó giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).

Năm 1951, ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng; sau đó trở về Nam Bộ phụ trách tuyên huấn Trung ương Cục.

Từ năm 1956, ông được cử làm Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, rồi Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Bí thư Đảng Đoàn bộ.

Năm 1960, ông được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng. Năm 1963, là Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Bí thư Đảng Đoàn bộ Văn hoá và Hội Văn nghệ. Năm 1965, là Phó trưởng Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Từ tháng 6-1977, ông là Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh kiêm Phó trưởng Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương cho đến năm 1987.

HOÀNG MINH GIÁM (1904-1995). Quê ở Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội; tốt nghiệp Trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương; dạy học ở Phnôm Pênh (Campuchia), Sài Gòn rồi trở ra Hà Nội vào những năm 30 thế kỷ XX; dạy học ở Trường tư thục Thăng Long, là giáo viên, Phó hiệu trưởng rồi Hiệu trưởng.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng: Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1947). Bộ trưởng Bộ Văn hoá (1955-1976), Phó Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam.

Là nhân chứng trong nhiều cuộc gặp gỡ lịch sử giữa đại diện của Việt Nam và Pháp những năm 1945-1946.

HOÀNG VĂN THÁI (1915-1986): Tên thật là Hoàng Văn Xiêm, quê Thái Bình. Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam; tham gia cách mạng từ hồi còn trẻ, vào Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1938; năm 1941 có thời gian là chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn; năm 1945, phụ trách Trường Quân chính kháng Nhật.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại đoàn trưởng Đại đoàn Độc lập, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Uỷ viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Phó bí thư Quân uỷ Miền, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Từ Đại hội III, IV, V, ông liên tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội nhiều khoá.

HỒ ĐẮC DI (1900-1984): Bác sĩ phẫu thuật Việt Nam. Quê Thừa Thiên – Huế. Tốt nghiệp bác sĩ y khoa Trường Đại học Y Pari; nguyên nội trú các bệnh viện Pari. Thầy thuốc nội trú ở Bệnh viện Phủ Doãn, Hà Nội (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức). Ông là một trong những người đầu tiên xây dựng ngành ngoại khoa Việt Nam; Giáo sư và Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Hà Nội (1945-1977); Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam (1947-1984). Các công trình nghiên cứu khoa học chủ yếu của ông thuộc các lĩnh vực ngoại khoa bụng, sản phụ khoa, triết học trong y học.

Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về y dược (1996) cho các công trình về sinh học, bệnh học đại cương và về quan điểm, đường lối và phương pháp luận đào tạo cán bộ y tế Việt Nam.

K

KENNƠĐI, G.P. (Giôn Phitơgheran) (1917-1963): Tổng thống thứ 35 của nước Mỹ, xuất thân từ một gia đình triệu phú bang Matxachuxét; được bầu vào Thượng nghị viện năm 1952; năm 1960, là ứng cử viên Tổng thống của Đảng Dân chủ, đã thắng đối thủ Níchxơn, nhận chức Tổng thống Mỹ tháng 1-1961.

Năm 1961, Kennơđi triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, dùng lực lượng quân nguỵ cộng vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ và do Mỹ chỉ huy. Tháng 11-1963, Kennơđi bị ám sát.

KHƠRÚTSỐP, N.X. (Nikita Xécgâyvích) (1894-1971): Nhà hoạt động chính trị Liên Xô, đảng viên Bônsêvích năm 1918; những năm 1932-1934, lần lượt làm Bí thư thứ hai, Bí thư thứ nhất Thành uỷ Mátxcơva, rồi Bí thư thứ hai Khu uỷ Mátxcơva; là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1934, Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị năm 1938; Bí thư thứ nhất Đảng bộ Ucraina (1938-1941). Tháng 3-1939, ông là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô; tháng 12-1949, phụ trách Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 12-1952, ông được bầu là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương kiêm Bí thư Trung ương; là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1953; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ 1958-1964.

KIM NHẬT THÀNH (1912-1994): Lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên. Ông tham gia cách mạng thời còn niên thiếu; gia nhập Đảng Cộng sản Triều Tiên năm 1931. Năm 1934, ông tổ chức các đội du kích Triều Tiên tại Mãn Châu (Trung Quốc), sau đó, là người chỉ huy quân đội cách mạng Triều Tiên và tham gia cuộc chiến tranh giải phóng đất nước khỏi ách chiếm đóng của phát xít Nhật.

Từ năm 1946, ông được bầu làm Bí thư thứ nhất Bộ Tổ chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Triều Tiên và làm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lâm thời Bắc Triều Tiên, sau đó làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên. Trong những năm chống Mỹ (1950-1953), Kim Nhật Thành được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Quân sự nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Triều Tiên.

LÊNIN, V.I. (Vlađimia Ilích) (1870-1924): Lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới, người sáng lập Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người, người sáng lập Quốc tế Cộng sản. Là học trò trung thành và xuất sắc của Mác và Ăngghen, Lênin đã bảo vệ tinh thần cách mạng của chủ nghĩa Mác, chống lại mọi sự xuyên tạc của bọn cơ hội chủ nghĩa, phát triển chủ nghĩa Mác, giải quyết đúng đắn về lý luận và thực tiễn các vấn đề đặt ra cho cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.

LÊ THANH NGHỊ (1911-1989): Tên thật là Nguyễn Khắc Xướng; nhà hoạt động Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Quê làng Thượng Cốc, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Dương. Xuất thân là công nhân ngành điện, ông hoạt động trong phong trào đấu tranh của công nhân mỏ Vàng Danh, Cọc Năm, Hòn Gai (1928); gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930). Tháng 5-1930, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án tù chung thân đày ra Côn Đảo. Năm 1936, ra tù ông trở về Hà Nội hoạt động trong phong trào công nhân, xây dựng các hội ái hữu, nghiệp đoàn, tổ chức cơ sở Đảng và tham gia Thành uỷ Hà Nội. Cuối năm 1937, ông về hoạt động cách mạng ở Hải Dương; năm 1940, bị bắt, đày tại Nhà tù Sơn La; đầu năm 1945, ra tù trở về Hà Nội, được chỉ định vào Xứ uỷ Bắc Kỳ, chỉ đạo phong trào cách mạng ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám, Uỷ viên Uỷ ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ; tháng 8-1945, là Uỷ viên phụ trách miền Duyên hải, Thường vụ Xứ uỷ (1946). Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954), ông là Chánh Văn phòng Trung ương Đảng (cuối năm 1948), Bí thư Liên khu uỷ, Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Kháng chiến, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Liên khu III, Bí thư Thành uỷ Hà Nội. Ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II-V; 1951-1986); Uỷ viên Bộ Chính trị (1956-1982); Thường trực Ban Bí thư (1980-1982); Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (1955-1960); Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, Trưởng Ban Công nghiệp Trung ương Đảng (1970-1974). Những năm 1974-1980, ông là Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (1981); từ năm 1982 đến năm 1986, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Nhà nước. Đại biểu Quốc hội (khoá II-VII). Ông được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương cao quý khác.

LÊ DUẨN (1907-1986): Nhà hoạt động xuất sắc của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, chiến sĩ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; quê làng Bích La Đông, xã Triều Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông đã tham gia phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu (1925) và các hoạt động yêu nước những năm 1926-1927; gia nhập Đảng Tân Việt (1928), hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hà Nội (1929), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) và hoạt động tại Hà Nội. Tháng 4-1931, ông bị Pháp bắt, kết án 20 năm tù cầm cố, giam ở các nhà tù Hoả Lò, Sơn La; năm 1933, bị đày ra Côn Đảo; cuối năm 1936, được trả lại tự do, hoạt động cách mạng ở Quảng Trị. Cuối năm 1937, ông là Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ, Uỷ viên Trung ương Đảng (1939); bị Pháp bắt lại (1940) và đày ra Côn Đảo; tháng 8-1945, trở về hoạt động ở Nam Bộ; đầu năm 1946, được điều ra Trung ương; cuối năm 1946, trở lại Nam Bộ; Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ (1947-1951); Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1951), Uỷ viên Bộ Chính trị (liên tục từ tháng 2-1951). Sau năm 1954, ông trở lại Nam Bộ để lãnh đạo cách mạng, trực tiếp dự thảo “Đề cương cách mạng miền Nam” (1956). Từ tháng 2-1957, ông được uỷ nhiệm lãnh đạo công việc chung của Đảng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ năm 1960 là Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Từ tháng 12-1976, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá IV, V), đại biểu Quốc hội (khoá II-VII).

Được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, giải thưởng “Vì sự nghiệp củng cố hoà bình giữa các dân tộc” của Uỷ ban Giải thưởng quốc tế Lênin và nhiều huân chương của Liên Xô, Lào, Campuchia, Ba Lan, Bungari, Cuba, Cộng hoà dân chủ Đức, Hunggari, Mông Cổ, Tiệp Khắc.

LÊ VĂN HIẾN (1904-1997): Người xã Phước Ninh, thành phố Đà Nẵng, xuất thân trong một gia đình lao động.

Ông học xong trung học, năm 1922 trúng tuyển vào làm nhân viên bưu điện Đà Nẵng. Năm 1927, ông cùng một số đồng chí thành lập Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1929, ông bị bắt, sau được tha, phải đổi vào làm việc ở Nha Trang (Khánh Hoà). Tại đây, ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng; năm 1930, lại bị bắt, chịu án 5 năm tù khổ sai, giam ở ngục Kon Tum.

Năm 1935, mãn hạn tù, ông về Đà Nẵng, được phân công làm công tác tài chính của Đảng; tháng 5-1940, bị bắt lần nữa. Tháng 5-1945, ông tham gia chuẩn bị khởi nghĩa ở Đà Nẵng.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông được giao nhiều trọng trách: Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Đà Nẵng rồi Bộ trưởng Bộ Lao động (1945), Bộ trưởng Bộ Tài chính (1946-1959), Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao (1948), Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (1958).

Từ năm 1962, ông được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Vương quốc Lào trong suốt 15 năm liên tục.

LÊ VĂN LƯƠNG (1912-1995): Tên thật là Nguyễn Công Miều, quê xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Năm 1927, tham gia Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 3-1931, ông bị đế quốc Pháp bắt, giam ở Khám lớn Sài Gòn rồi đày ra Côn Đảo. Trong tù, ông tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ nhà tù cho đến ngày được giải phóng. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông về công tác tại Nam Bộ, là Uỷ viên dự khuyết Xứ uỷ Nam Bộ (10-1945); tháng 1-1946, ra Bắc chỉ đạo báo Sự thật và Nhà xuất bản Sự thật, là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương.

Tại Đại hội II của Đảng (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, sau đó là Uỷ viên chính thức Bộ Chính trị, phụ trách công tác tổ chức; Thứ trưởng Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1954); Bí thư Khu uỷ Tả ngạn (11-1956); Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương (1957); Chánh Văn phòng Trung ương (1959).

Tại Đại hội III của Đảng (1960), ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Ban Bí thư kiêm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng; tại Đại hội IV (1976), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội; tại Đại hội V (1982), được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục làm Bí thư Thành uỷ Hà Nội; cuối năm 1986, được Bộ Chính trị phân công tham gia tổng kết công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ.

Ông là đại biểu Quốc hội các khoá VI, VII. Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân, huy chương cao quý.

LƯU THIẾU KỲ (1898-1969): Người tỉnh Hồ Nam, nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc.

Năm 1921, ông sang Liên Xô và gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc tại đây; năm 1922, sau khi về nước, là Uỷ viên Khu uỷ Hồ Nam, Chủ tịch Tổng Công hội toàn quốc (1932), tham gia Vạn lý trường chinh (1934-1935), Chính uỷ Tân Tứ quân (1941), Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (1927), Uỷ viên Bộ Chính trị (1931), Bí thư Trung ương Đảng (1943-1956), Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1958-1968). Trong thời gian “Cách mạng văn hoá”, ông bị xử trí oan sai (1968) và bị cách chức, chết trong tù (1969); năm 1980, được khôi phục danh dự.

LÝ THỪA VÃN (1875-1965): Nguyên Tổng thống Đại Hàn dân quốc; thuở nhỏ theo Nho học, sau chuyển sang Tây học; năm 1895, dạy tiếng Anh tại “Bồi tài học đường” ở Xơun; du học ở Mỹ từ năm 1904 đến năm 1910. Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, ông từ Mỹ trở về Xơun, làm Nghị trưởng “Nghị viện dân chủ” và Chủ tịch Quốc hội trong khu vực do quân đội Mỹ chiếm đóng; tháng 8-1948, thành lập Chính phủ Đại Hàn dân quốc, là Tổng thống Đại Hàn dân quốc những năm 1948-1960.

M

MAO TRẠCH ĐÔNG (1893-1976): Nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, quê Hồ Nam; tốt nghiệp Trung học sư phạm. Tháng 8-1918, làm nhân viên Thư viện Đại học Bắc Kinh; năm 1919 về Hồ Nam, xuất bản Tạp chí “Tương giang bình luận”; năm 1920 lập nhóm cộng sản ở Hồ Nam; tháng 7-1921 tham gia Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc; Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản từ Đại hội III (6-1923). Trong thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác, ông là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Quốc dân Đảng từ Đại hội I (1-1924); Bí thư Ban Nông vận của Đảng Cộng sản (1926); lãnh đạo Khởi nghĩa Vụ mùa (9-1927); lập căn cứ địa cách mạng ở núi Tỉnh Cương (1928); Chủ tịch Chính phủ Cộng hoà Xôviết Trung Hoa (chính quyền cách mạng thành lập ở khu giải phóng năm 1931); Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản (1933); tham gia lãnh đạo Vạn lý trường chinh. Tại Hội nghị Tuân Nghĩa (1-1935); được bầu làm Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Lãnh đạo Quân sự của Trung ương Đảng. Từ đó, trên thực tế ông là người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản; Chủ tịch Bộ Chính trị và Chủ tịch Ban Bí thư Trung ương Đảng (3-1943); Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng (4-1945); Chủ tịch Chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1954-1959). Năm 1958, ông phát động phong trào “Đại nhảy vọt và Công xã nhân dân”; năm 1966, phát động “Đại cách mạng văn hoá vô sản”; năm 1974, đề xướng thuyết “Ba thế giới”. Ông mất ngày 9-9-1976 ở Bắc Kinh. Ông đã viết nhiều tác phẩm về triết học, quân sự, chính trị nhằm phục vụ cách mạng và xây dựng nước Trung Hoa mới. Các tác phẩm chính: Bàn về mâu thuẫn, Bàn về thực tiễn, Vấn đề chiến lược của chiến tranh cách mạng Trung QuốcBàn về đánh lâu dàiBàn về chủ nghĩa dân chủ mới; các bài nói: “Hội nghị tọa đàm về văn nghệ tại Diên An”, “Vấn đề giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”… Đảng Cộng sản Trung Quốc coi tư tưởng Mao Trạch Đông là cơ sở tư tưởng đầu tiên của cách mạng Trung Quốc.

N

NÁTXE, G.A. (Gaman Ápđen) (1918-1970): Nhà hoạt động chính trị Ai Cập, xuất thân từ một gia đình công chức. Những năm 1945-1948, Nátxe Gama Ápđen học ở Học viện tham mưu lục quân Lơ Ke. Năm 1945, ông là một trong những người khởi xướng thành lập “Tổ chức sĩ quan tự do”. Tháng 7-1952, tổ chức này với sự ủng hộ của quân đội đã làm cuộc cách mạng thủ tiêu chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hoà Ai Cập do ông làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội chính. Tháng 4-1954, ông lên làm Thủ tướng kiêm Chủ tịch Hội đồng cách mạng; tháng 6-1956, là Tổng thống Cộng hoà Ai Cập.

Tháng 2-1958, sau khi Ai Cập và Xyri hợp nhất thành nước Cộng hoà Ảrập thống nhất, ông được cử làm Tổng thống. Tháng 9-1961, khi Xyri tách khỏi liên minh, ông vẫn là Tổng thống kiêm Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng của Ai Cập.

Ông là một trong những người sáng lập Phong trào không liên kết.

NÊRU, J. (Giaoaháclan Nêru) (1889-1964): Nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của Ấn Độ. Jaoaháclan Nêru là học trò và người kế tục sự nghiệp của Găngđi trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của Ấn Độ.

Năm 1912, J. Nêru gia nhập Đảng Quốc đại và là Uỷ viên Uỷ ban toàn Ấn Độ của Đảng. Năm 1929, ông là Tổng thư ký của Đảng và là Chủ tịch Đảng trong các năm 1929, 1930, 1935, 1936-1937, 1946, 1951-1954. Năm 1946, ông là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Khi Ấn Độ tuyên bố độc lập (1947), ông giữ chức Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. J. Nêru là người có nhiều đóng góp vào sự nghiệp hoà bình thế giới, một trong những người đề xướng năm nguyên tắc chung sống hoà bình và là một trong những người sáng lập Phong trào các nước không liên kết.

Ông là người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tác giả của nhiều tác phẩm nghiên cứu về phong trào dân tộc.

NGHIÊM XUÂN YÊM (1913-2001): Kỹ sư canh nông, nhà hoạt động chính trị; quê ở Tây Mỗ, xã Hữu Hưng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

Sau khi tốt nghiệp thủ khoa khoá đầu tiên của Trường Cao đẳng nông lâm Hà Nội, ông từ chối làm việc cho chính quyền thực dân Pháp, tham gia phong trào yêu nước của thanh niên chống Pháp, Nhật. Năm 1944, vào Đảng Dân chủ Việt Nam, tích cực hoạt động trong phong trào Việt Minh.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông xuất bản tờ báo Tấc đất hướng dẫn nông dân canh tác, tuyên truyền giải quyết nạn đói. Ông đã được Nhà nước giao cho nhiều trọng trách: Thứ trưởng Bộ Canh nông (1947), Bộ trưởng Bộ Canh nông (1954), Bộ trưởng Bộ Nông lâm (1955), Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp (1960), Bộ trưởng Bộ Nông trường (1963), Bộ trưởng Phó Chủ nhiệm Uỷ ban nông nghiệp Trung ương (1971), Bộ trưởng phụ trách khoa học và kỹ thuật nông nghiệp (1976).

Ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Dân chủ Việt Nam (1950-1958), Tổng Thư ký Đảng Dân chủ (1958-1988), đại biểu Quốc hội từ khoá II đến khoá VIII, Phó Chủ tịch Quốc hội từ năm 1981 đến năm 1987 và là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

NGÔ ĐÌNH DIỆM (1901-1963): Quê ở Quảng Bình. Sau khi tốt nghiệp Trường Hậu Bổ, làm tri huyện Hương Trà, tri phủ Hải Lăng, quản đạo Ninh Thuận, rồi Thượng thư Bộ lại trong Chính phủ Nam Triều (1933).

Từ năm 1950 đến năm 1954, Ngô Đình Diệm qua Nhật, Italia rồi đến Mỹ, Bỉ, Pháp. Trong thời gian này, Ngô Đình Diệm được Hồng y giáo chủ Spenman đỡ đầu, liên hệ với nhiều chính khách.

Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Chính phủ Mỹ vận động Pháp và Bảo Đại chấp nhận để Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng ở miền Nam. Tháng 10-1955, với thủ đoạn “trưng cầu dân ý”, Ngô Đình Diệm đã lật Bảo Đại lên làm Tổng thống, cầm đầu “Chính phủ Việt Nam cộng hoà”. Ngô Đình Diệm không chỉ phá hoại Hiệp định Giơnevơ mà còn thi hành đường lối chia cắt Bắc Nam, “chống cộng”, đàn áp phong trào dân chủ, đàn áp tôn giáo… Cùng với chế độ gia đình trị, Ngô Đình Diệm bị nhiều lực lượng chống đối và bị bắn chết trong vụ đảo chính ngày 1-11-1963.

NGUYỄN DUY TRINH (1910-1985): Quê ở Nghi Lộc (Nghệ An), tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925; gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng năm 1926. Đầu năm 1932, ông bị địch kết án tù khổ sai, đày đi Côn Đảo rồi Kon Tum (1935-1945).

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Uỷ viên Trung ương Đảng (1951), Bí thư Trung ương Đảng (1955); Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (1956); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao (1965-1980); là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VII.

NGUYỄN CHÍ THANH (1914-1967): Người Niêm Phò, Quảng Điền, Thừa Thiên (nay thuộc Thừa Thiên -Huế), gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (1937), Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên (1938), hai lần bị bắt, lần thứ hai (1931) bị đày lên Lao Bảo, Ban Mê Thuột. năm 1941, vượt ngục về Thừa Thiên xây dựng cơ sở. Tháng 8-1945, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được chỉ định làm Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ, là Bí thư Phân khu uỷ Bình Trị Thiên (1947), Bí thư Liên khu uỷ Liên khu IV (1948), Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó bí thư Tổng quân uỷ (1950). Ông là Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá II, III, được phong hàm Đại tướng năm 1959, là Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1961, ông phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng; sau đó được điều trở lại quân đội, phụ trách Trung ương Cục miền Nam (1964).

NGUYỄN HỮU THỌ (1910-1996): Luật sư, nhà hoạt động chính trị và nhà nước nổi tiếng của Việt Nam; quê ở huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông tham gia phong trào yêu nước của trí thức Sài Gòn – Chợ Lớn (1947); gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (1949); tham gia thành lập Đoàn đại biểu các giới ở Sài Gòn đấu tranh đòi các quyền dân chủ, dân sinh; tham gia cuộc biểu tình chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ tại Sài Gòn (1950); bị bắt và đày đi Lai Châu (đến 11-1952); tham gia phong trào bảo vệ hoà bình ở Sài Gòn, đấu tranh đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ (1954); lại bị bắt và quản thúc tại Tuy Hoà, Phú Yên (1954-1955); được giải thoát (10-1961). Ông là Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (2-1962); Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương của Mặt trận (1-1964); Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (9-1969).

Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội xhủ nghĩa Việt Nam (7-1976 – 1980); quyền Chủ tịch nước (4-1980); Chủ tịch Quốc hội và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (7-1981); Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (11-1988); Chủ tịch danh dự Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (8-1994); đại biểu Quốc hội các khoá VI-VIII. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương cao quý khác.

NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (1904-1979), tức Sao Đỏ: Quê ở xã Thanh Tùng, Thanh Miện, Hải Dương: khi lớn lên, làm công nhân tàu biển; năm 1925, được gặp Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) và bắt đầu hoạt động cách mạng, được tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên cử về nước hoạt động. Năm 1928, từ Hải Phòng, ông được tổ chức phái đi công tác tại Hồng Kông, Quảng Châu, Thượng Hải. Ông gia nhập nhóm cộng sản đầu tiên của người Việt Nam ở Trung Quốc.

Năm 1931, ông bị mật thám Pháp bắt đưa về nước và bị kết án 20 năm tù khổ sai; năm 1932, vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng; năm 1933, lại bị thực dân Pháp bắt, bị kết án tù chung thân và đày đi Sơn La; năm 1943, lại vượt ngục và trở về hoạt động cách mạng. Năm 1944, ông được Đảng chỉ định làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và binh vận. Năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, ông được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, ông được bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc; sau Cách mạng Tháng Tám, liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; từ Đại hội lần thứ III đến Đại hội lần thứ IV, là Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Về mặt chính quyền, ông đã lần lượt giữ các chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Liên Xô; Tổng thanh tra của Chính phủ. Tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá III, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI đã bầu ông làm Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

NÔVÔTNI, A. (Antônin Nôvốtni) (1904-1975): Nhà hoạt động chính trị Tiệp Khắc, đảng viên Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ năm 1928; năm 1946, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; năm 1953, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 11-1957, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hoà Tiệp Khắc.

P

PHẠM HÙNG (1912-1988): Tên thật là Phạm Văn Thiện, quê Long Hồ, Châu Thành, Trà Vinh.

Năm 1928-1929, ông là thành viên của tổ chức “Nam Kỳ học sinh Liên hiệp Hội” và “Thanh niên Cộng sản Đoàn”; năm 1930, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; năm 1931, bị bắt, chịu án tử hình, sau giảm xuống tù chung thân đày ra Côn Đảo. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia Xứ uỷ Nam Bộ, rồi Bí thư Xứ uỷ lâm thời Nam Bộ. Năm 1951, là Uỷ viên Trung ương Đảng, tham gia Trung ương Cục miền Nam; năm 1952, là Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Phân Liên khu miền Đông Nam Bộ; năm 1954, là Trưởng phái đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Quốc tế tại Sài Gòn; từ năm 1956, là Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ông đã từng giữ các chức vụ: Bộ trưởng Phủ thủ tướng, Phó Thủ tướng (1958), Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1980), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1987).

PHẠM VĂN ĐỒNG (1906-2000): Nguyên quán làng Cây Gạo, xã Đức Tây, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1925, ông tham gia phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên tại Hà Nội, để tang chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh và bị đuổi học; năm 1926, dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu; năm 1927, về hoạt động ở Nam Kỳ và được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Năm 1929, ông bị bắt và kết án 10 năm tù, đầy đi Côn Đảo; năm 1936, được trả lại tự do, ra hoạt động công khai tại Hà Nội; năm 1940-1941, ông hoạt động tại miền Nam Trung Quốc, sau đó, trở về nước tham gia tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao-Bắc-Lạng.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông được cử vào Chính phủ lâm thời, làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, được bầu vào Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII.

Từ năm 1947, ông được cử giữ nhiều trọng trách như: Đại diện Chính phủ tại Nam Trung Bộ, Phó Thủ tướng Chính phủ (1949), rồi Thủ tướng Chính phủ (1955), sau đó, là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến năm 1987. Ông là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tham gia các Hội nghị Phôngtennơblô (1946), Hội nghị Giơnevơ (1954), Hội nghị Băngđung (1955) và nhiều hội nghị quốc tế khác.

Ông là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng (1947), Uỷ viên chính thức (1949). Từ năm 1951, ông liên tục được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, cho đến năm 1986; sau đó, là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

PICÁTXÔ, P. (Pablô Picátxô) (1881-1973): Nhà danh hoạ và hoạt động xã hội Tây Ban Nha. Từ đầu thế kỷ XX, ông sang sống ở Pari cho đến lúc qua đời. Sau hơn 80 năm hoạt động nghệ thuật, ông để lại một di sản văn hoá đồ sộ: 15.000 bức tranh đủ các cỡ, 10.000 bản khắc in các loại, 34.000 minh họa, hàng trăm pho tượng cùng nhiều phác thảo hình hoạ, đồ gốm. Năm 1946, ông đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người sang thăm Pháp.

Pablô Picátxô rất có cảm tình với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Họa sĩ đã vẽ bức tranh Mừng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lập lại hoà bình (1954). Năm 1968, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở giai đoạn quyết liệt, ông khẳng định: “Đã bao năm nay, tôi khâm phục lòng dũng cảm phi thường của các bạn Việt Nam… Đấy là dân tộc của những hiệp sĩ”.

PRAXÁT, R. (Ragiăngđra Praxát) (1884-1963): Nhà hoạt động chính trị Ấn Độ; Chủ tịch Quốc hội lập hiến Ấn Độ (1946); Chủ tịch Đảng Quốc đại (1947); Tổng thống Chính phủ lâm thời Ấn Độ (1950); Tổng thống nước Cộng hoà Ấn Độ (1952-1962).

R

RAĐACRIXNAN, S. (1888-?): Nhà hoạt động chính trị và Nhà nước Ấn Độ, Nhà triết học; Đại sứ Ấn Độ tại Liên Xô (1949-1952), Phó Tổng thống nước Cộng hoà Ấn Độ (1952-1962), Tổng thống Ấn Độ (1962). Ông còn là Giáo sư triết học của nhiều trường đại học ở Ấn Độ và nước ngoài; Giáo sư danh dự Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp (Liên Xô) chuyên ngành triết học và tôn giáo Ấn Độ.

S

SONG HÀO (1917-2004): Tên thật là Nguyễn Văn Khương, quê xã Hào Kiệt, huyện Vụ Bản, Nam Định. Ông tham gia phong trào thanh niên từ rất sớm (1936). Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương (1939); năm 1940, bị Pháp bắt giam; năm 1944, vượt ngục. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ông là chính trị viên một đội Cứu quốc quân, Bí thư khu căn cứ Nguyễn Huệ, đại biểu Quốc dân Đại hội ở Tân Trào, chỉ huy lực lượng vũ trang giành chính quyền ở Tuyên Quang, Hà Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, từ năm 1945 đến năm 1950, ông là Xứ uỷ viên Bắc Kỳ phụ trách các tỉnh Thái-Hà-Tuyên; Chính uỷ Liên khu 10, Chính uỷ Khu Tây Bắc; từ năm 1951 đến năm 1954, là Chính uỷ đầu tiên của Đại đoàn 308, Uỷ viên Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Trung ương. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1955 – 2-1961); Uỷ viên Tổng Quân uỷ (1957); Trưởng ban Kiểm tra Đảng của Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương Đảng (1960); Thứ trưởng Bộ Quốc phòng,  Phó bí thư Quân uỷ Trung ương (1961-1975), năm 1974, được phong quân hàm Thượng tướng; Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng (1976-1981), Bộ trưởng Bộ Thương binh-Xã hội (1982-1986). Ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá III, IV, V (Uỷ viên Ban Bí thư khoá IV), đại biểu Quốc hội khoá IV, VI.

Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.

T

TITỐP, G. (Ghécman Titốp): Anh hùng Liên Xô, phi công vũ trụ, Chủ tịch Hội hữu nghị Xô-Việt.

Năm 1957, Ghécman Titốp là phi công chiến đấu. Năm 1961, đã hoàn thành chuyến bay vào vũ trụ trên tàu vũ trụ “Phương Đông 2”.

Tháng 1-1962, G. Titốp sang thăm Việt Nam, được Nhà nước ta tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam.

TÔN ĐỨC THẮNG (1888-1980): Người xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh Long Xuyên. Năm 1910, ông làm thợ trong xưởng máy của hải quân Pháp tại Sài Gòn. Năm 1912, ông tổ chức cuộc bãi công ở Nhà máy sửa chữa tàu thuỷ Ba Son; sau đó, bị lùng bắt phải trốn sang Pháp, làm thợ máy trong hải quân Pháp. Năm 1919, ông tham gia cuộc binh biến của công nhân và thuỷ thủ Pháp tại Biển Đen nhằm chống lại cuộc chiến tranh can thiệp phản cách mạng của bọn đế quốc vào nước Cộng hoà Xôviết Nga. Năm 1920, ông trở về nước, xây dựng công hội bí mật tại Sài Gòn-Chợ Lớn và lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son tháng 8-1925 thắng lợi. Năm 1927, ông được cử vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên; cuối năm 1929, bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo.

Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, được chính quyền cách mạng đón về, ông tham gia ngay vào cuộc chiến đấu của đồng bào Nam Bộ chống thực dân Pháp.

Từ năm 1955, ông là Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ năm 1960, ông là Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tạ thế, ông được cử làm Chủ tịch nước và giữ chức vụ đó cho tới khi qua đời.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương cao quý khác.

TÔN THẤT TÙNG (1912-1982): Trí thức yêu nước, người tỉnh Thừa Thiên (Huế). Năm 1931, học Trường Bưởi (Hà Nội). Sau khi tốt nghiệp xuất sắc Trường Đại học Y khoa (1939), ông được giữ lại làm bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt-Đức).

Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã hăng say nghiên cứu khoa học. Luận án “Các tĩnh mạch trong gan” của ông được Trường Đại học Tổng hợp Pari tặng Huy chương Bạc. Viện Hàn lâm phẫu thuật Pháp đánh giá cao phương pháp cắt gan của ông.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông được cử làm Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm cố vấn phẫu thuật cho Bộ Quốc phòng, đồng thời góp sức xây dựng Trường Đại học Y khoa. Hoà bình lập lại, ông được cử làm Giám đốc Bệnh viện Việt-Đức, kiêm Chủ nhiệm Khoa ngoại Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Ông là tác giả của nhiều công trình khoa học về phẫu thuật có giá trị, là viện sĩ của nhiều nước như Pháp, Angiêri, Liên Xô và Cộng hoà dân chủ Đức.

Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội từ khoá II đến khoá VII, là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động hạng Nhất; truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

TRẦN DUY HƯNG (1912-1988): Bác sĩ, tham gia cách mạng từ năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng của Nhà nước: Chủ tịch Uỷ ban hành chính Thành phố Hà Nội (8-1945); Thứ trưởng Bộ Nội vụ (1947); Thứ trưởng Bộ Y tế (6-1954). Từ 1954-1977, được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban hành chính (sau này là Uỷ ban nhân dân) Thành phố Hà Nội. Ông là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VII.

TRẦN NGHỊ (1901-1972): Người tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc); du học ở Pháp những năm 1919-1921. Năm 1923, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, là Bí thư đảng đoàn Tổng hội học sinh Bắc Kinh, đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong Thị uỷ Quốc dân Đảng Bắc Kinh; tham gia khởi nghĩa Vũ Xương năm 1927; năm 1934, tham gia Vạn lý trường chinh. Sau đó, ông là Uỷ viên Phân cục Trung ương Khu Xôviết, Chánh Văn phòng Chính phủ nước Cộng hoà Xôviết Trung Hoa.

Trong kháng chiến chống Nhật, ông là Phó bí thư Quân uỷ Hoa Trung. Trong chiến tranh giải phóng, là Bí thư thứ hai Cục Trung Nguyên Đảng Cộng sản Trung Quốc, từng là Tư lệnh kiêm Chính uỷ của nhiều quân đoàn, tham gia tổ chức và chỉ huy chiến dịch Hoài-Hải.

Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập (1949), ông từng giữ các chức vụ: Tư lệnh Quân khu Hoa Đông, Bí thư thứ hai Cục Hoa Đông kiêm Bí thư thứ nhất và Thị trưởng thành phố Thượng Hải, Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Ông là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc các khoá VII, VIII, IX; Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII.

Năm 1955, được phong quân hàm Nguyên soái nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Tháng 5-1960, cùng Thủ tướng Chu Ân Lai sang thăm Việt Nam, chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh 70 tuổi. Ông là người đề nghị đổi tên Mục Nam Quan thành Hữu Nghị Quan và tự tay đề bút trên cửa Hữu Nghị. Tháng 5-1963, ông lại tháp tùng Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ sang thăm Việt Nam.

TRẦN TỬ BÌNH (1907-1967): Xuất thân trong một gia đình cố nông ở xã Tiên Động Thượng, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Học ở Trường dòng Công giáo. Vì năm 1925, tham gia cuộc để tang Phan Chu Trinh nên bị đuổi học; về quê một thời gian rồi đi phu đồn điền cao su Nam Bộ. Được giác ngộ cách mạng khi đang làm phu Đồn điền cao su Phú Riềng. Năm 1928, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên; năm 1929 vào Đảng Cộng sản, ba lần bị đế quốc Pháp bắt đầy đi Côn Đảo và nhiều nhà tù khác. Tháng 3 năm 1945, ông vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1945, là Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, tham gia lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông được giao nhiều trọng trách: Phó bí thư Quân uỷ Trung ương (1947), Chính uỷ Trường Sĩ quan lục quân (1950), Tổng Thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam (1958). Từ năm 1959, ông được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội trong nhiều khoá.

Ông đã được Quốc hội và Chính phủ tặng nhiều huân chương cao quý và phong quân hàm Thiếu tướng.

TRẦN VÂN (1905-1995): Người tỉnh Giang Tô; gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1925. Từ năm 1935-1937, ông là thành viên của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Quốc tế Cộng sản. Trong chiến tranh giải phóng, ông phụ trách Bí thư Đảng phân cục Liêu Đông kiêm Chính uỷ Quân khu Liêu Đông, Phó bí thư Đảng Cục Đông Bắc kiêm Bí thư phân cục Nam Mãn, Chủ tịch Tổng Công hội…

Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, từng giữ các chức vụ: Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Trưởng ban Thường vụ Quốc hội các khoá IV và V.

Ông là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khoá VI đến khoá XII, Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá VI, VII, VIII, XI và XII. Tại Đại hội XIII, ông được bầu làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn Trung ương. Ông là nhà lãnh đạo công cuộc cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc trong những năm 80 của thế kỷ XX.

TRƯỜNG CHINH (1907-1988). Tên thật là Đặng Xuân Khu, nhà hoạt động chính trị, nhà thơ (bút danh Sóng Hồng), nhà báo, quê Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925, gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên năm 1927. Từ năm 1936 đến năm 1939, ông là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương trong Uỷ ban Mặt trận Dân chủ Bắc Kỳ; năm 1940, là quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương; năm 1941, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương và năm 1951 được bầu lại làm Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1958, ông là Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Tại Đại hội III (1960), Đại hội IV (1978), Đại hội V (1982), ông được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ năm 1960 đến năm 1981, là Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1981, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tháng 7-1986 đến trước Đại hội VI của Đảng, lần thứ ba ông được bầu vào cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

TURÊ, X. (Xêcu Turê) (1922-1984): Người lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Ghinê. Một trong những người sáng lập Liên đoàn dân chủ châu Phi thành lập năm 1946 và là Phó Chủ tịch Liên đoàn. Từng làm Tổng Bí thư Đảng Dân chủ Ghinê, Thị trưởng Cônacri và là Nghị sĩ Ghinê trong Quốc hội Pháp (1956). Năm 1957, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Chính phủ Ghinê, Nghị sĩ của Đại hội đồng Tây Phi thuộc Pháp. Năm 1958, ông làm Thủ tướng Chính phủ, sau đó làm Tổng thống nước Cộng hoà Ghinê.

TƯỞNG GIỚI THẠCH (1887-1975): Người tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Từng học quân sự ở Nhật. Năm 1923, giữ chức Tham mưu trưởng Tổng hành dinh Chính phủ quân sự Quảng Đông; năm 1924, được Tôn Trung Sơn cử đi khảo sát về quân sự ở Liên Xô, rồi về nước giữ chức Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau khi Tôn Trung Sơn mất, Tưởng Giới Thạch giữ chức Chủ tịch Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng, Tổng tư lệnh quân đội Chính phủ Quốc dân. Năm 1943, tái nhiệm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Đảng. Năm 1948, giữ chức Tổng thống. Tháng 1-1949, Tưởng Giới Thạch từ chức; cùng năm rút ra Đài Loan tiếp tục giữ chức Tổng tài Quốc dân Đảng và Tổng thống Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan.

U

UNBRÍCH, V. (Vante Unbrích) (1893-1973): Nhà hoạt động chính trị Đức, một trong những người sáng lập Đảng Xã hội thống nhất Đức (1946). Những năm 1946-1949, ông là Phó Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức; từ 1950-1953, được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Xã hội thống nhất Đức; những năm 1953-1971, là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Xã hội thống nhất Đức; năm 1971, là Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức; từ năm 1960 đến năm 1972, là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Cộng hoà dân chủ Đức.

V

VÕ NGUYÊN GIÁP: Sinh ngày 25-8-1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình; sớm tham gia phong trào yêu nước và gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng. Thời kỳ 1936-1939, hoạt động công khai tại Hà Nội; năm 1940, ông sang Trung Quốc, được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau đó cùng Người trở về tham gia xây dựng căn cứ địa ở Cao – Bắc – Lạng. Võ Nguyên Giáp là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Hội nghị toàn quốc của Đảng năm 1945 ở Tân Trào, ông được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được cử giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị trù bị Đà Lạt. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy quân đội qua nhiều chiến dịch từ Việt Bắc Thu Đông 1947 đến Biên giới 1950, Điện Biên Phủ 1954, và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975.

Từ Đại hội II (1951) đến Đại hội IV (1976) liên tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Đại hội V (1982) tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII. Từ năm 1955, ông được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ (sau này là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) liên tục cho đến năm 1991. Hiện là Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

VÔRÔSILỐP, K.E. (Klimen Ephremôvích) (1881-1969): Nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô (1935). Ông gia nhập Đảng Xã hội-dân chủ Nga (1903) và đứng về phía những người bônsêvích, là một trong những người tổ chức và lãnh đạo Hồng quân, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Uỷ viên Bộ Chính trị (1926-1960), Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), Uỷ viên nhân dân phụ trách quân sự và hải quân (1925), Uỷ viên nhân dân quốc phòng Liên Xô (1934-1940), Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng Nhà nước (1941-1945), Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (1946), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô (1953-1960)…

X

XAMBU, GI. (Giamxaranghin Xambu) (1895-1972): Nhà hoạt động chính trị Mông Cổ, là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1952-1953) rồi Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ từ năm 1954.

XÊĐENBAN, J. (Giumhadin Xêđenban) (1916-1991): Nhà hoạt động Đảng và Nhà nước Mông Cổ; gia nhập Đảng nhân dân cách mạng Mông Cổ từ năm 1939; Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Mông Cổ (1940-1954 và 1981-1984), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ (1952-1974), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Quốc hội (1974-1984); Nguyên soái (1979).

XIHANÚC, X.N. (Xămđéc Nôrôđôm Xihanúc): Quốc vương Campuchia, sinh năm 1922. Những năm 1930-1940, ông theo học các trường tiểu học, trung học và cao đẳng tại Phnôm Pênh và Sài Gòn.

Tháng 4-1941, Nôrôđôm Xihanúc được Hội đồng ngôi vua bầu làm Vua. Những năm 1946-1948, ông học ở Trường Huấn luyện kỵ binh và thiết giáp tại Pháp. Tháng 4-1955, ông được vua cha cho thoái vị. Sau đó, ông thành lập Cộng đồng xã hội bình dân và trở thành Thủ tướng sau cuộc bầu cử hiến pháp.

Tại Hội nghị cấp cao Á-Phi lần thứ nhất họp ở Băngđung (Inđônêxia), ông tuyên bố Campuchia trung lập. Năm 1956, ông tham gia ký “Hiến chương Phong trào không liên kết” và trở thành người sáng lập thứ 5 của Phong trào. Năm 1960, sau khi vua Suramarít băng hà, ông được bầu làm Quốc trưởng.

Sau đảo chính của Lon Non (tháng 3-1970), ông trở thành Chủ tịch Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia; tháng 4-1970, ông tham gia Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương họp tại Quảng Đông (Trung Quốc). Sau chiến thắng tháng 4-1975, ông trở thành Chủ tịch Nhà nước Campuchia dân chủ, đến tháng 4-1976 ông từ chức.

Tháng 6-1991, ông được cử làm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc tối cao. Từ tháng 11-1991, ông là Quốc trưởng Campuchia cho đến khi Hội đồng Hiến pháp được thành lập sau cuộc Tổng tuyển cử tháng 5-1993. Tháng 9-1993, ông được Hội đồng ngôi Vua bầu là Quốc vương và là người đứng đầu Nhà nước suốt đời của Campuchia. Tháng 10 năm 2004, ông nhường ngôi cho Thái tử Ranarít Xmôni.

XIRĂNGKIÊVÍCH, J. (Giôdép Xirăngkiêvích) (1911-?): Nhà hoạt động chính trị Ba Lan; tham gia chiến tranh chống phát xít và đã bị giam cầm trong trại tập trung khét tiếng của Đức quốc xã Ôsơvenxim. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ông là Tổng Bí thư Đảng Xã hội Ba Lan (1945), Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan (1948). Từ tháng 3-1954, ông được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà nhân dân Ba Lan.

XUÂN THUỶ (1912-1985): Tên thật là Nguyễn Trọng Nhân, quê Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội; tham gia cách mạng từ năm 1932 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1941. Trong những năm 1933-1943, ông đã ba lần bị địch bắt, mỗi lần ra tù ông lại tiếp tục hoạt động. Năm 1945, ông là Uỷ viên Uỷ ban nhân dân lâm thời Bắc Bộ, tích cực tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng: Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng phái đoàn Chính phủ ta tại Hội nghị Pari về Việt Nam. Từ năm 1980, là Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Xô, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII.

XUCÁCNÔ, A. (Ácmét Xucácnô) (1901-1970): Lãnh tụ phong trào độc lập của Inđônêxia, người sáng lập và là Chủ tịch Đảng Quốc dân Inđônêxia (1927); Chủ tịch Đảng Inđônêxia (1932); Tổng thống nước Cộng hoà Inđônêxia từ 1945-1965. Là một trong những người đề xướng việc triệu tập Hội nghị Băngđung (1955).

XUPHANUVÔNG (1909-1995): Hoàng thân, nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng và Nhà nước Lào, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Chủ tịch Mặt trận Lào xây dựng đất nước.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đã giữ nhiều trọng trách: Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào, Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắcxạt). Ông là đại biểu các lực lượng cách mạng Lào tham gia các Chính phủ liên hiệp Lào lần thứ nhất (1957-1958), lần thứ hai (1962-1964) và lần thứ ba (1974-1975). Ông đã nhiều lần sang thăm Việt Nam và là người có nhiều đóng góp vào sự củng cố và phát triển tình hữu nghị Lào-Việt.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)