Tháng 7, ngày 1
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Những việc vô lý, ký bút danh C.B, đăng báo Nhân dân, số 200.
Bài báo trích lời của một số báo chí Pháp như tờ Le Monde (Thế giới) số ra ngày 5-6-1954, tờ La Nouveleb Tritique (Phê bình mới), số ra tháng 3-1954… nói về những tội ác của đội quân viễn chinh Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam như bắn giết nhân dân, đốt phá nhà cửa, giết hại trâu bò, phá hoại mùa màng, lương thực… “Cuộc chiến tranh này thật là vô nghĩa”. Đó là lời kết luận chung của nhiều sĩ quan và binh lính Pháp mà các tờ báo trên đã viết.
Bài báo kết luận: Vì vô lý, vô nghĩa cho nên nó đã đưa thực dân Pháp đến Điện Biên Phủ và sẽ đưa chúng đến nhiều Điện Biên Phủ khác nữa.
– Báo Nhân dân, số 200, từ ngày 1 đến ngày 3-7-1954.
Tháng 7, ngày 2
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Không biết, ký bút danh Đ.X, đăng báo Cứu quốc, số 2631.
Bài báo ca ngợi tấm gương hy sinh của 26 cụ phụ lão yêu nước ở Hà Nam. Trong một trận càn, địch đã bắt được các cụ và dùng mọi cực hình để tra tấn, nhưng với tinh thần bất khuất các cụ đã không hề khai báo. Chúng đã dùng thủ đoạn giết từng người một để uy hiếp tinh thần những người còn lại, nhưng các cụ đều trả lời “Không biết”, và các cụ đã hy sinh rất anh dũng.
Bài báo cũng cho biết, để ghi nhớ công lao của các cụ, Nhà nước đã công nhận các cụ là liệt sĩ và truy tặng các cụ Huân chương Kháng chiến.
– Báo Cứu quốc, số 2631, ngày 2-7-1954.
Tháng 7, ngày 3
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ và đồng bào vùng mới giải phóng ở đồng bằng Bắc Bộ. Trong thư, cùng với việc căn dặn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, Người đã nêu lên bốn nhiệm vụ quan trọng phải thực hiện là:
1. Đoàn kết nhất trí, yêu mến và giúp đỡ lẫn nhau.
2. Hăng hái tăng gia sản xuất, làm ăn, buôn bán, để cải thiện sinh hoạt.
3. Hăng hái tham gia và ủng hộ kháng chiến.
4. Luôn luôn tỉnh táo, không nên chủ quan khinh địch.
Đối với đồng bào công giáo, Người khuyên nhủ phải “tin tưởng ở chính sách tự do tín ngưỡng của Chính phủ”, “chớ để địch lợi dụng”. Đối với cán bộ và chiến sĩ, Người căn dặn phải “nhã nhặn đối với dân, gần gũi và giúp đỡ dân, thi hành đúng chính sách của Chính phủ và giữ vững nền nếp liêm khiết, giản dị”. Đối với những người lầm đường lạc lối, Người nói rõ chính sách của Chính phủ ta là “ai cải tà quy chính đều được Chính phủ và nhân dân ta đối đãi khoan hồng”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 303-304.
Tháng 7, từ ngày 3 đến ngày 5
Tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hội đàm với Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương và những vấn đề có liên quan trong cuộc đàm phán ở Hội nghị Giơnevơ. Cùng tham dự có Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và tướng Trần Văn Quang.
Trong thời gian này, Người đã thăm lại sông Liễu Giang và núi Ngư Phong, nơi 10 năm trước Người đã rèn luyện sức khỏe sau khi ra khỏi nhà tù của Quốc dân Đảng Trung quốc.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986, t. 6, tr. 583.
– Hoàng Tranh: Ký ức tốt đẹp, hoài niệm sâu sắc, Quảng Tây nhật báo, ngày 19-5-1990 (bản Trung văn), bản dịch của Viện Hồ Chí Minh.
– Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 150-151.
Tháng 7, ngày 4
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngư mục hỗn châu”, ký bút danh C.B, đăng báo Nhân dân, số 201.
Bài báo cho biết, Mỹ và Pháp đang rêu rao về nền “độc lập” và “dân chủ” của chính quyền bù nhìn Bảo Đại. Người cho rằng đây là thủ đoạn “mắt cá dễ lộn ngọc trai” hòng lừa bịp những ai cả tin. Dẫn lời Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ nói về tổng tuyển cử, về nền độc lập và dân chủ ởViệt Nam mà Hội nghị Giơnevơ đang bàn bạc và uy tín của chính quyền Bảo Đại đối với những vấn đề đó, Người khẳng định những thủ đoạn đó sẽ không lừa bịp được nhân dân ta.
– Báo Nhân dân, số 201, từ ngày 4 đến ngày 6-7-1954.
Tháng 7, ngày 5
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đội du kích công giáo, ký bút danh Đ.X, đăng báo Cứu quốc, số 2633, ca ngợi đội du kích vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở thôn Q.N, tỉnh Nam Định. Bài báo cho biết, với tinh thần dũng cảm, mưu trí và khôn khéo, đội du kích đã diệt khá nhiều địch, lôi kéo được một số ngụy binh bỏ ngũ trở về với kháng chiến.
– Báo Cứu quốc, số 2633, ngày 5-7-1954.
Tháng 7, ngày 6
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của Việt Nam thông tấn xã.
Trả lời câu hỏi về sự tiến triển của Hội nghị Giơnevơ, Người nhận xét: Hội nghị tuy tiến triển chậm “nhưng với những vấn đề đã thỏa thuận, Hội nghị cũng đã mở đường cho việc lập lại hòa bình ở Đông Dương” và nêu rõ: nhân dân ta sẽ cố gắng đấu tranh cho hòa bình, đồng thời phải có tinh thần cảnh giác cao đối với âm mưu của đối phương.
Trả lời câu hỏi về ý nghĩa bản Tuyên bố chung giữa Thủ tướng các nước Trung Quốc, Ấn Độ và Miến Điện, Người khẳng định: “Hai bản tuyên bố chung đó phù hợp với nguyện vọng hòa bình của nhân dân thế giới” và “thích hợp cho việc giải quyết vấn đề Đông Dương”, “Nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh hai bản tuyên bố chung đó”.
Chủ tịch rất hoan nghênh nguyện vọng của Thủ tướng Pháp Măngđét Phơrăngxơ, khi ông nói việc ngừng bắn ở Đông Dương phải thực hiện mau chóng, và chỉ rõ: “chúng ta hoan nghênh nguyện vọng của ông Măngđét Phrăngxơ, nhưng phải bài trừ chính sách của đế quốc Mỹ ngăn cản và phá hoại Hội nghị Giơnevơ, mới có thể thực hiện nhanh chóng ngừng bắn ở Đông Dương được”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 305-306.
Tháng 7, ngày 7
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Công giáo Pháp chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, ký bút danh C.B., đăng báo Nhân dân, số 202.
Bài báo ca ngợi cuộc đấu tranh của những người Pháp theo đạo Thiên Chúa, trong đó có cả các vị linh mục chống chiến tranh xâm lược ở Đông Dương. Họ đòi hai bên cần trực tiếp thương lượng để chấm dứt chiến tranh. Họ kiên quyết chống bất kỳ ai lợi dụng việc bảo vệ tôn giáo vào cuộc xung đột ở Đông Nam Á, chống việc sử dụng những vũ khí giết người dã man trong cuộc chiến tranh. Người chỉ rõ: Thái độ của những người theo đạo Thiên Chúa ở Pháp như vậy là rất đúng đắn và kêu gọi “những người công giáo Việt Nam, ai đã lầm đường theo giặc, phản nước phản Chúa, cần phải mau hối cải, mau mau quay về với chính nghĩa, với Tổ quốc yêu mến của chúng ta”.
Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Những người trung thành với đạo Chúa, ký bút danh Đ.X, đăng báo Cứu quốc, số 2635.
Bài báo phê phán hành động tuyên truyền chiến tranh, khủng bố những người có tư tưởng hòa bình và khẳng định rằng đó là những hành động phản lại những tư tưởng của Chúa. Những người trung thành với Chúa là những người có nhiều cống hiến cho sự nghiệp hòa bình thế giới.
– Báo Nhân dân, số 202, từ ngày 7 đến ngày 9-7-1954.
– Báo Cứu quốc, số 2635, ngày 7-7-1954.
Tháng 7, ngày 9
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Mao Trạch Đông, cảm ơn Chính phủ và nhân dân Trung quốc đã giúp đỡ sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta.
– Báo Cứu quốc, số 2658, ngày 9-7-1954.
Tháng 7, ngày 10
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Gửi báo cáo và xin chỉ thị, ký bút danh C.B, đăng báo Nhân dân, số 203, nêu rõ tầm quan trọng của việc gửi báo cáo xin chỉ thị của cấp trên, những nguyên tắc của việc báo cáo, v.v.. Người cũng phê phán một số cấp ủy và chính quyền địa phương không thực hiện nghiêm túc chế độ gửi báo cáo, xin chỉ thị và chỉ rõ: “Mỗi cán bộ phụ trách phải kiên quyết làm đúng chế độ ấy”.
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Quyết định số 212-QĐ, ân giảm tội cho một phạm nhân xuống 15 năm tù.
– Quyết định số 214-QĐ và Quyết định số 215-QĐ, ân giảm tội cho ba phạm nhân xuống tù chung thân.
– Báo Nhân dân, số 203, từ ngày 10 đến ngày 12-7-1954.
– Bản chụp Quyết định, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 7, ngày 11
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thủ tướng nước Cộng hòa nhân dân Mông Cổ Xêđenban, chúc mừng kỷ niệm Quốc khánh nước Cộng hòa nhân dân Mông Cổ.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 310.
Tháng 7, ngày 13
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mỹ tính toán, ký bút danh C.B, đăng báo Nhân dân, số 204, chỉ rõ Mỹ là kẻ đứng đầu các lực lượng chống cộng, dùng “người châu Á đánh người châu Á” để gây nên cảnh “nồi da nấu thịt”.
Bài báo viết: “Phản động Mỹ khéo tính toán thật! Nhưng chúng quên một điều là ngoài Bảo Đại, Lý Thừa Văn và Tưởng Giới Thạch thì đại đa số người châu Á không ai dại đi làm bia đỡ đạn chết thay cho đế quốc Mỹ”.
– Báo Nhân dân, số 204, từ ngày 13 đến ngày 15-7-1954.
Tháng 7, ngày 13 và ngày 14
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ. Người đã đọc báo cáo về tình hình và nhiệm vụ mới.
Phát biểu kết thúc phiên họp, sau khi nhận định kết quả làm việc của Hội đồng Chính phủ trong lần họp này, Người chỉ rõ: Công tác mới nhiều, phức tạp, khó khăn. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, về mặt nhận thức phải toàn diện đồng thời lại phải có sự nghiên cứu tỉ mỉ từng bộ phận. Trong khi tiến hành công tác phải có sự “phân công rành mạch” nhưng lại phải có “phối hợp ăn khớp, chỉ đạo chặt chẽ và khéo léo”, “mỗi bộ, mỗi ngành phải chuẩn bị kế hoạch hoạt động và cán bộ để thực hiện kế hoạch đó”, phải “đả thông tư tưởng cán bộ”, “Tình hình có những biến chuyển mới, nói chung là công của dân ta, nói riêng là của bộ đội ta đã cố gắng, quyết tâm và chịu đựng gian khổ. Các ngành, các bộ sẽ cố gắng thi đua với bộ đội, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, chuẩn bị mọi mặt cho đầy đủ, nắm quyền chủ động, chủ động thì nhất định chúng ta thắng lợi”.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 7, ngày 15
Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị lần thứ sáu (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II). Tại Hội nghị, Người đã đọc bản báo cáo quan trọng gồm hai phần: Tình hình mới và Nhiệm vụ mới.
Ở phần Tình hình mới, sau khi giới thiệu những thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thái độ của Mỹ đối với Hội nghị Giơnevơ, Người khẳng định: “Mỹ là kẻ thù chính của hòa bình thế giới, ta phải tập trung lực lượng chống đế quốc Mỹ.
Về Tình hình trong nước, Người đã phân tích những chuyển biến của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những thắng lợi về quân sự và ngoại giao của Nhà nước và nhân dân ta, âm mưu của Mỹ đối với Đông Dương và khẳng định: “Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào”.
Ở phần Nhiệm vụ mới, Người chỉ rõ để tiến tới thực hiện hòa bình, “ta vẫn tiếp tục đánh Pháp. Nhưng mũi nhọn của ta cũng như mũi nhọn của thế giới đều chĩa vào Mỹ”;… “Chính sách của ta là tranh thủ hòa bình để chống lại chính sách chiến tranh của Mỹ” và nhấn mạnh: “trước tình hình mới hiện nay, ta không thể giữ cương lĩnh cũ. Trước kia khẩu hiệu của ta là “Kháng chiến đến cùng”. Nay vì tình hình mới,ta cần nêu khẩu hiệu mới là “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”. Để chống đế quốc Mỹ trực tiếp can thiệp, kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, ta phải nắm vững lá cờ hòa bình, chính sách của ta có thay đổi: trước ta tịch thu tài sản của đế quốc Pháp, nay đã đàm phán thì có thể theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, mà giữ lợi ích kinh tế và văn hóa của Pháp ở Đông Dương. Dùng lối nói chuyện thì phải nhân nhượng nhau đúng mức…
Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.
Trong báo cáo, Người cũng đề ra ba nhiệm vụ, 10 công tác và vấn đề “điều chỉnh khu vực Pháp rút quân, đề phòng tư tưởng “tả” hoặc “hữu khuynh” có thể nảy sinh.
Phần cuối báo cáo, Người khẳng định lại: Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, độc lập, thống nhất và dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt. Các công tác phải liên hệ và phối hợp với nhau, bộ phận phối hợp với toàn cục,… Mỗi công tác phải hợp với từng nơi, từng lúc, từng hoàn cảnh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 311-320.
– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Văn kiện Đảng (1953-1954), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tập IV, quyển II, tr. 535-545.
– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện Lịch sử Đảng (1945 – 1954), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979, t. 2, tr. 367-369.
Tháng 7, trước ngày 22
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 ngày Quốc khánh nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng đến Chủ tịch Hội đồng quốc gia nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan Alếchxăngđơ Davaxki.
Chủ tịch chúc mừng những thắng lợi to lớn về mọi mặt của nhân dân Ba Lan và “tin chắc rằng tình hữu nghị anh em giữa hai dân tộc chúng ta ngày càng tăng cường trong công cuộc đấu tranh chung bảo vệ hòa bình và dân chủ thế giới”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 324.
Tháng 7, ngày 22
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ và cán bộ toàn quốc sau khi Hội nghị Giơnevơ thành công.
Người chỉ rõ những nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và nêu ra quyết tâm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc. Về việc thực hiện Hiệp nghị Giơnevơ, Người nhấn mạnh việc điều chỉnh khu vực2) chỉ là “tạm thời” và khẳng định: “Chúng ta quyết làm đúng những điều đã ký kết với Chính phủ Pháp, đồng thời chúng ta đòi Chính phủ Pháp phải làm đúng những điều họ đã ký kết với ta”. Người kêu gọi đồng bào hãy “tỉnh táo đề phòng âm mưu của những kẻ phá hoại hòa bình”,… “ra sức khôi phục và xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng” để thực hiện “quyền độc lập hoàn toàn của nước ta”; củng cố và phát triển tình hữu nghị với nhân dân hai nước Miên, Lào, và các nước khác, kể cả nước Pháp.
Cuối cùng, Người kêu gọi “toàn thể đồng bào, quân đội và cán bộ hãy theo đúng đường lối, làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc”.
Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Báo chí tư sản Pháp bình luận tên Việt gian Ngô Đình Diệm, ký bút danh C.B, đăng báoNhân dân, số 207.
Bài báo vạch rõ những hành động của Ngô Đình Diệm câu kết với Đảng Bêdô (một đảng phản động nhất ở Pháp), với giám mục phản động Spenman ở Mỹ, kẻ chủ trương kéo dài cuộc chiến tranh ở Đông Dương và ủng hộ trực tiếp sự can thiệp của Mỹ vào Đông Dương.
Bài báo kết luận: Diệm chủ trương kéo dài chiến tranh mà cả nước thì muốn hòa bình. Vì vậy, ngoài vài người ở Trung Bộ và Bắc Bộ ủng hộ Diệm thì Diệm hoàn toàn trơ trọi một mình…
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 321-322.
– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Văn kiện Đảng (1953-1954), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tập IV, quyển II, tr.595-598.
– Báo Nhân dân, số 207, từ ngày 22 đến ngày 24-7-1954.
Tháng 7, ngày 28
Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh nhân ngày thương binh liệt sĩ (27-7), đăng báo Nhân dân, số 209.
Trong thư, Người bày tỏ sự biết ơn đối với đồng bào ở những nơi đã đón thương binh về địa phương chăm sóc và căn dặn các thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sĩ “cần phải biết ơn sự săn sóc của đồng bào, cần phải cố gắng tăng gia sản xuất, tự lực cánh sinh, tùy theo khả năng mà tham gia các công tác trong xã, chớ nên yêu cầu quá đáng ra vẻ “công thần”.
Nhân dịp này, Người nhờ cụ Bộ trưởng chuyển số tiền 30.600 đồng do một kiều bào ở Trung Quốc gửi tặng và một tháng lương của Người là 45.000 đồng để làm quà cho các thương, bệnh binh.
Cùng ngày, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Hội nghị Giơnevơ đã thắng lợi lớn, ký bút danh C.B, đăng báo Nhân dân, số 209. Bài báo khẳng định ý nghĩa của Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương và chỉ rõ đó là thắng lợi của nhân dâncác nước Đông Dương, của các lực lượng hòa bình, dân chủ trên thế giới.
Người nhắc nhở toàn dân: “Phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng thống nhất, hành động nhất trí, ra sức đấu tranh để hoàn thành độc lập, xây dựng dân tộc thực sự. Chúng ta đã thắng lợi trong kháng chiến, chúng ta sẽ thắng lợi trong hòa bình”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 325-326.
– Báo Nhân dân, số 209, từ ngày 28 đến ngày 30-7-1954.
Tháng 7, cuối tháng
Tại An toàn khu (Việt Bắc), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo kiêm đạo diễn điện ảnh Liên Xô Rôman Cácmen. Câu chuyện được trao đổi bằng tiếng Nga. Thấy nhà báo tỏ vẻ ngạc nhiên trước cuộc sống giản dị, quá khiêm tốn của Người, Người giải thích: “Tôi đã quen với cuộc sống như thế này, những năm tháng đấu tranh cách mạng đã tập cho tôi quen như thế, chỉ sau năm phút tôi đã sẵn sàng lên đường”.
Trả lời câu hỏi của Rôman Cácmen: “Chủ tịch học tiếng Nga có khó lắm không? “Người nói: “Người chiến sĩ cách mạng cần phải biết tiếng nói của Lênin”. Khi nhà báo hỏi: “Chủ tịch làm việc bao nhiêu tiếng trong một ngày?” Người nói: “Chim rừng đánh thức tôi, còn tôi đi nằm lúc trên trời xuất hiện những vì sao”.
Trong thời gian được làm việc gần Chủ tịch, Rôman Cácmen đã thấy không hoàn toàn như vậy: Nhiều đêm, Chủ tịch chống gậy, quần và tay áo xắn cao, đi theo ánh đuốc của đồng chí cận vệ trên con đường hẻm trong rừng. Chủ tịch đến một bản xa nào đó trong núi hoặc đi họp Hội đồng Chính phủ về muộn.
– Rôman Cácmen: Ánh sáng trong rừng sâu, in trong cuốn Tuyển tập và hồi ký về Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Mátxcơva, 1990, tr. 398-404 (bản tiếng Nga), bản dịch của Viện Hồ Chí Minh.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Bạn phải đăng nhập để bình luận.