Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 4 (Năm 1950 – Tháng 9)

Việt Nam - Hồ Chí MinhTháng 9, ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp của Hội đồng Chính phủ để nhận định về tình hình thế giới và trong nước trong thời gian qua, về tình hình và âm mưu của địch, bàn kế hoạch đối phó của ta trong thu đông này, kế hoạch di chuyển cơ quan, vấn đề tiếp tế lương thực.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi gửi các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, bộ đội địa phương và dân quân du kích, nêu rõ ý nghĩa quan trọng của Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng và hô hào chiến sĩ ở mặt trận Cao – Bắc – Lạng cũng như ở các mặt trận khác hãy ra sức thi đua giết giặc lập công, quyết tâm thắng trận này.

Trong ngày, bài viết của Người nhan đề Phải tẩy sạch bệnh quan liêu, ký bút danh X.Y.Z., đăng trên báo Sự thật, số 140.

Tác giả phân tích nguyên nhân, biểu hiện, tác hại của căn bệnh này và chỉ ra thang thuốc chữa bệnh quan liêu là:

“Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

– Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

– Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

– Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.

Nhân ngày Độc lập (2-9) Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 134b/SL, tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Liên hiệp công đoàn thành Chợ Lớn, Liên đoàn cao su Nam Bộ và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho Công đoàn Đà Nẵng.

– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 291.

– Báo Sự thật, số 140, ngày 2-9-1950.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 86-90.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, gửi điện tới Păngđi 8) Nêru – Thủ tướng Ấn Độ, thăm hỏi nhân dân thành phố Asam vừa bị tai nạn động đất 9).

– Báo Cứu quốc, số 1646, ngày 15-9-1950.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 91.

Tháng 9, trước ngày 8

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời những câu hỏi của nhà báo Pháp Lêô Phighe liên quan đến chính sách đối ngoại của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Người bày tỏ sự vui mừng, phấn khởi trước việc Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ mới công nhận Việt Nam, khẳng định mối quan hệ giữa ba nước Đông Dương được dựa trên nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn và tôn trọng độc lập quốc gia của nhau.

Với nước Pháp, Người nêu rõ, chỉ cần quân đội Pháp rút hết về nước là hoà bình sẽ được lập lại và hai nước Việt – Pháp sẽ hợp tác trên lập trường anh em và bình đẳng.

Về việc đế quốc Mỹ công nhiên can thiệp vào nội tình Việt Nam, theo Người, “việc can thiệp đó có tính chất xâm lược, phản dân chủ và không Mỹ chút nào. Nhất định đế quốc Mỹ sẽ thất bại như ở Trung Hoa trước đây”.

Người mong nhân dân các nước Bắc Phi và Đông Phi sẽ đoàn kết lại để ngăn cản không cho thực dân Pháp đẩy thanh niên nước họ vào cuộc chiến tranh “bẩn thỉu” ở Đông Dương hay bất cứ một cuộc chiến tranh phi nghĩa nào; và hoan nghênh phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam đang lan rộng ở bên Pháp. “Nhân dân Pháp đấu tranh chống cuộc chiến tranh ở Việt Nam cũng là đấu tranh cho hoà bình thế giới và độc lập của nước Pháp”.

– Báo Cứu quốc, số 1641, ngày 8-9-1950.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 92-93.

Tháng 9, ngày 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào Cao -Bắc – Lạng.

Người thay mặt Chính phủ và quân đội trân trọng cảm tạ đồng bào ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn đã cố gắng rất nhiều trong việc chuẩn bị cho chiến dịch, như góp quân lương, sửa đường sá, vận tải, chuyên chở, giúp đỡ bộ đội, v.v., và kêu gọi: “Toàn thể đồng bào ba tỉnh, các uỷ ban kháng chiến và hành chính, các đoàn thể nhân dân cố gắng thêm nữa, tiếp tục giúp đỡ cho bộ đội ta trước mặt trận để quân ta giết nhiều địch, đánh thắng to”.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Bắc Thái: Bác Hồ với Bắc Thái, Ty Văn hoá – Thông tin Bắc Thái, 1978, tr. 21.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 94.

Cuối tháng 8, đầu tháng 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường đi Chiến dịch Biên giới (Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng).

– Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 152.

Tháng 9, trước ngày 10

Trên đường đi chiến dịch, ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong làm đường phục vụ chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thanh niên bốn câu thơ:

Không có việc gì khó,

Chỉ sợ lòng không bền,

Đào núi và lấp biển,

Quyết chí ắt làm nên.

– Thơ Bác Hồ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 120.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 95.

Tháng 9, ngày 10

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Sở Chỉ huy chiến dịch đặt ở làng Tả Phầy Tử thuộc huyện Quảng Yên, phía bắc thị xã Cao Bằng. Tại đây, Người đã phê chuẩn quyết tâm của Bộ Chỉ huy chiến dịch gồm bốn bước: đánh Đông Khê; đánh quân tiếp viện của địch lên Đông Khê; đánh Thất Khê, đánh Cao Bằng.

Cùng ngày, bài viết của Người nhan đề Chỉnh đốn Đoàn thể và chính quyền, ký bút danh X.Y.Z., đăng trên báo Sự thật, số 141.

Bài báo có đoạn:

“Người ta mỗi ngày ai cũng rửa mặt, vài hôm phải tắm giặt để giữ cho thân thể sạch sẽ, mạnh khoẻ.

Người cách mạng cũng thế, trước hết là cán bộ chính quyền và Đoàn thể cách mạng, mỗi người cũng phải rửa các mặt tinh thần, tư tưởng của mình, để tẩy sạch những chứng bệnh, những khuyết điểm.

Chính quyền và Đoàn thể cũng cần thường thường rửa các bộ máy của mình, để tẩy trừ những phần tử bất chính, đầu cơ, và chỉnh đốn lại cách làm việc cho gọn gàng, mau chóng”.

– Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 152.

– Báo Sự thật, số 141, ngày 10-9-1950.

Tháng 9, ngày 11

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị cán bộ
chỉ huy cấp trung đoàn và đại đoàn do Đảng uỷ Bộ Chỉ huy chiến dịch triệu tập để nghe phổ biến kế hoạch chiến dịch.

Người chỉ thị: “Chưa đánh thắng thì chưa được coi là đã chuẩn bị xong. Quân sự thì phải chuẩn bị mãi. Thắng xong chiến dịch này cũng mới chỉ là chuẩn bị xong một đợt; toàn thắng mới là chuẩn bị xong… Trong quân sự phải kiên quyết và bạo dạn. Bạo dạn, dũng cảm không phải là liều. Liều là dại. Dũng cảm là khôn. Kiên quyết và bạo dạn không phải là một người mà phải toàn bộ tất cả mọi người. Muốn toàn bộ kiên quyết và bạo dạn thì phải có kỷ luật… Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”.

– Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 153.

– Theo Bác đi chiến dịch, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1980, tr. 246-249.

Tháng 9, ngày 13

Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Sở Chỉ huy chiến dịch để đến Mặt trận Đông Khê, trực tiếp theo dõi bộ đội đánh trận mở màn chiến dịch.

Người chỉ thị cho bộ đội: “Dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết khắc phục đánh cho kỳ thắng trận đầu”.

– Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 1977, tr. 404.

Tháng 9, ngày 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 135/SL, chỉ định người vào Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 136/SL, chỉ định ông Hoàng Anh, nguyên Uỷ viên, làm Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, trước ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Trung đoàn 296 (Đoàn Sông Lô). Trung đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, Chính uỷ Trần Độ cùng toàn thể cán bộ chiến sĩ Trung đoàn đã được Người giao nhiệm vụ “phải đánh thắng trận mở màn của Chiến dịch Biên giới”.

– Báo Cựu chiến binh thủ đô, số 44, tháng 5-1997.

 Tháng 9, trước ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập đồng chí Hoàng Cầm – Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 130, tiểu đoàn chủ công đánh chiếm Phủ Thiên (khu hành chính của huyện lỵ Đông Khê) – đến trạm thường trực của Sở Chỉ huy tiền phương.

Sau khi nghe đồng chí Hoàng Cầm báo cáo tình hình chuẩn bị chiến đấu của tiểu đoàn, Người hỏi:

– Chú có tin trận này ta nhất định thắng không?

Đồng chí Hoàng Cầm thưa:

– Báo cáo Bác, tin ạ.

Tiếp đó, Chủ tịch nói về tầm quan trọng của chiến dịch đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, giải thích vì sao ta không lấy Cao Bằng làm hướng tiến công chủ yếu, nhấn mạnh công tác nghi binh và bí mật…

– Bác của chúng ta, Nxb. Quân đội nhân dân,  Hà Nội, 1985, tr. 123-125.

Tháng 9, ngày 16

6 giờ, khi tiếng súng tấn công căn cứ điểm Đông Khê đã nổ mở màn cho Chiến dịch Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đi quan sát trận đánh.

Từ vị trí quan sát đặt trên một ngọn núi có thể nhìn rõ toàn bộ các cứ điểm địch ở Đông Khê.

Trong lúc bộ binh của ta đánh các đồn Phìa Khoá, Yên Ngựa, Cam Phầy thì pháo binh của ta bắn vào đồn chính để phá huỷ pháo và một phần công sự của địch. Địch chống cự rất ác liệt. Đồn chính mờ mịt lửa khói. Máy bay địch lồng lộn trút từng đợt bom xuống những nơi chúng nghi có quân ta. Thả bom xong, máy bay địch tiếp tục bắn phá, có lúc chúng sà xuống thấp, thấp hơn cả ngọn núi Người đứng quan sát. Người như không để ý tới máy bay của địch, vẫn chăm chú theo dõi tình hình chiến đấu và đối chiếu với bản đồ tác chiến.

Xế chiều, Người mới ra về.

Từ trận địa trở về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Tướng Trần Canh- người được Đảng và Chính phủ Trung Quốc cử sang giúp Việt Nam trong Chiến dịch Biên giới. Người vui vẻ chép tặng ông một bài thơ chữ Hán mới làm, nhan đề Đăng Sơn.

ĐĂNG SƠN

Huề trượng đăng sơn quan trận địa,

Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân.

Nghĩa binh tráng khí thốn Ngưu Đẩu 10)

Thệ diệt sài lang xâm lược quân.

Dịch thơ:

LÊN NÚI

Chống gậy lên non xem trận địa,

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây.

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu,

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy 11).

– Đ.K.L.: Theo Bác đi chiến dịch. In trong cuốn Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1984, tr. 122-123.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr. 128 (bản Trung văn).

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 121-122.

Tháng 9, ngày 18

Sau khi quân ta chiếm hoàn toàn Đông Khê vào 10 giờ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Bộ Chỉ huy chiến dịch: “Có thể địch sẽ giành lại Đông Khê để giữ Cao Bằng, hoặc phải đánh lên để đón quân Cao Bằng rút lui”. Người vạch ý đồ tác chiến của ta là “nhử thú vào tròng” để “khép vòng lưới thép” tiêu diệt chúng.

– Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 1977, tr. 405.

Tháng 9, ngày 19

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 137/SL, sửa đổi điều 6 của Sắc lệnh số 49/SL ngày 18-6-1949 và điều 6 sửa đổi của Sắc lệnh số 79/SL ngày 22-5-1950 về cách tính thuế điền thổ của Bộ luật thuế trực thu.

– Sắc lệnh số 138/SL, sửa đổi Điều 7 Bộ luật thuế trực thu ban hành ngày 18-6-1949 theo Sắc lệnh số 49/SL.

– Sắc lệnh số 139/SL, cho phép phát hành trong toàn quốc một công trái gọi là công trái quốc gia ghi bằng thóc và thu bằng tiền hoặc thóc. Tổng số công trái phát hành ấn định là 100.000 tấn thóc. Công trái được hưởng lãi năm 3% và sẽ hoàn lại vốn sau 5 năm kể từ ngày mua.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 9, ngày 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi các chiến sĩ bị thương trong trận Đông Khê.

Lời thư có đoạn:

“Chính phủ, đồng bào đều nhớ ơn các chú. Tôi gửi lời khen ngợi các chú và chúc các chú mau lành mạnh để trở lại hàng ngũ tiếp tục chiến đấu giết giặc”.

– Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.126.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 96.

Tháng 9

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen đồng bào, tướng sĩ Nam Bộ và Nam Trung Bộ “đã kháng chiến 5 năm và đang tiếp tục củng cố bức Thành đồng của Tổ quốc”.

Bức thư có đoạn:

“Thực dân xâm lược Pháp dựa vào sự giúp đỡ của bọn can thiệp Mỹ và bù nhìn phản quốc đã bao phen định phá vỡ bức thành này. Nhưng chúng đã thất bại và bức Thành đồng càng ngày càng trở nên vững chắc sau mỗi mưu mô xâm chiếm của giặc.

Được như vậy là nhờ ở ý chí cương quyết của toàn dân, của các tướng sĩ và đồng bào Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ và sự đoàn kết của quân, dân với Chính phủ kháng chiến”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 97.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)