Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 4 (Năm 1950 – Tháng 12)

Việt Nam - Hồ Chí MinhTháng 12, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 176/SL, bổ nhiệm Giám đốc Vụ Hình – Hộ Bộ Tư pháp.

– Sắc lệnh số 177/SL, chuẩn y cho ông Dương Ngà, Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội, được từ chức.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 17

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Hội nghị Ban Kinh tế Chính phủ (họp từ ngày 15).

Tối, Người nói chuyện với hội nghị về tình hình thế giới.

– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 338.

Tháng 12, từ ngày 18 đến ngày 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ để xem xét tình hình thế giới  từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 12, kiểm điểm công tác của chính quyền trong năm 1950, kiểm điểm tình hình một năm chuẩn bị tổng phản công, thông qua chương trình hoạt động năm 1951 và quyết định về một số vấn đề quan trọng.

Tổng kết Hội nghị, sau khi nhắc lại những nhiệm vụ nặng nề của Chính phủ, của các cấp các ngành chính quyền, của các đoàn thể và của toàn dân, Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của chúng ta không những là phải giải phóng đất nước, xây dựng một nước Việt Nam mới – độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường, mà còn phải góp sức vào công cuộc bảo vệ hoà bình và dân chủ thế giới”.

Tối ngày 19, để kỷ niệm ngày Toàn quốc kháng chiến, Người cho tổ chức lửa trại và liên hoan văn nghệ. Các vị trong Quốc hội và Chính phủ đều tham gia. Người cũng tham gia một tiết mục: đọc thơ của vợ chồng một ông cụ trên 70 tuổi gửi tiền biếu Người.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 338-339, 341.

Tháng 12, ngày 19

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm một năm ngày Toàn quốc kháng chiến.

Đánh giá sự thay đổi lực lượng giữa địch và ta mấy năm vừa qua, Người chỉ rõ: “Tình thế bên địch ngày càng khó khăn”, còn “ta đã từ bị động chuyển dần sang chủ động, từ thế yếu chuyển dần sang thế mạnh, từ thế thủ chuyển dần sang thế công”.

Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước:

“Tuyệt đối chớ vì thắng mà kiêu căng, chủ quan, khinh địch. Chúng ta phải nhớ rằng: càng gần thất bại, địch càng cố gắng, càng hung dữ, càng liều mạng. Càng gần thắng lợi ta càng gặp nhiều sự gay go. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng tinh thần và lực lượng để đối phó với những khó khăn mới”.

Cùng ngày, nhân kỷ niệm Ngày thành lập Quân giải phóng Việt Nam, Người gửi thư tới Quân đội quốc gia, bộ đội địa phương và dân quân Việt Nam.

Bức thư có đoạn:

“Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân nên hy sinh kham khổ.

Quân đội ta luôn luôn giữ gìn và phát triển truyền thống anh dũng của Quân giải phóng Việt Nam và đạo đức cách mạng gồm 10 điều kỷ luật.

Với quân đội ấy, kháng chiến nhất định thắng lợi”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 477/SL, tặng thưởng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam, HUÂN CHƯƠNG HỒ CHÍ MINH HẠNG BA về thành tích: “Đã chỉ huy quân đội và dân quân chiến thắng giặc trong 5 năm kháng chiến trên các chiến trường, đặc biệt trong trận bảo vệ Việt Bắc – Thu Đông 1947 và trong Chiến dịch giải phóng biên giới mùa thu 1950”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 133-136.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Liên khu IV do ông Lê Viết Lượng, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV làm Trưởng đoàn. Người nghe ông Lượng báo cáo tình hình mọi mặt của các tỉnh trong Liên khu, và căn dặn các vị trong Đoàn phải chú ý chăm lo sản xuất và chăm lo đời sống của nhân dân, phải đi sát dân giúp đỡ kế hoạch và động viên nhân dân sản xuất, chiến đấu.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 180/SL, về việc truy tố trước Toà án quân sự những người đầu cơ tiền tệ, làm giấy bạc giả, lưu hành giấy bạc giả, tàng trữ hay lưu hành những giấy bạc của địch đã có lệnh cấm; những người có những hoạt động có tính cách phá hoại nền tài chính quốc gia.

– Sắc lệnh số 181/SL, duyệt y và cho phép thi hành kể từ ngày 1-1-1951 ngân sách toàn quốc tài khoá 1951.

– Sắc lệnh số 182/SL, ấn định mức thuế xuất các loại thuốc lào, thuốc lá là 15% giá bán buôn.

– Sắc lệnh số 183/SL, bổ nhiệm Giám đốc Nha Công nghệ; Giám đốc và Phó Giám đốc Nha Tiểu công nghệ.

– Sắc lệnh số 184/SL, bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Bộ Tổng tư lệnh.

– Sắc lệnh số 185/SL, chỉ định người vào Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu III, thay ông Đặng Kim Giang được cử giữ chức vụ khác.

– Sắc lệnh số 186/SL, cho phép Bộ Giao thông công chính phát hành một loại tem thư có in hình Chủ tịch
Hồ Chí Minh.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nghệ An: Nghệ An trong lòng Bác, 1974, tr. 14-18.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc.

– Tài liệu lưu trữ của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 24

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Gửi các tù binh Pháp đang bị giam giữ tại Việt Nam.

Bức thư viết:

“Các bạn thân mến,

Tôi xin chúc các bạn một Nôen tốt đẹp. Đành rằng các bạn còn thiếu thốn rất nhiều cho lễ đó, nhưng lỗi là thuộc về phía thực dân Pháp…

Nhân dân Việt Nam xem các bạn như những người bạn và tìm mọi cách để cuộc sống của các bạn được tốt hơn.

Hãy kiên nhẫn và giữ gìn kỷ luật.

Một lần nữa, chúc các bạn một Nôen, một năm mới
tốt đẹp.

H.C.M”

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng  Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 25

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Công giáo nhân dịp lễ Nôen.

Bức thư có đoạn:

“Lâu nay, đồng bào đã ghi nhớ lời dạy của Đức Chúa và lời kêu gọi của Tổ quốc, đã đoàn kết và kháng chiến.

Ngày nay, cuộc kháng chiến cứu nước đang chuyển sang giai đoạn mới, đồng bào càng phải vì Đức Chúa, vì Tổ quốc mà đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, kháng chiến hăng hái hơn nữa, để sớm đến ngày thắng lợi và thái bình”.

– Báo Cứu quốc, số 1718, ngày 25-12-1950.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 137.

Tháng 12

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới các chiến sĩ và cán bộ tham gia Chiến dịch Trung du21, căn dặn:

“Lần này các chú phải cố gắng hơn nữa, vì chiến dịch này rất là quan trọng. Vả chăng, chiến dịch này là lần đầu tiên ta đánh ở đồng bằng, và địch thì có chuẩn bị.

Chính vì lẽ đó mà ta quyết phải thắng“.

Người nhắc nhở:

“Mỗi một người, mỗi một đơn vị, mỗi một bộ phận đều phải:

Bí mật hơn

Nhanh chóng hơn

Kiên quyết hơn.

Chiến dịch này, các chú nhất định phải đánh thắng“.

– Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.145-146.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 138.

Trong năm

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho “chú Vĩnh” 22), hỏi vấn đề “áo và chăn cho chiến sĩ đã có bao nhiêu? Chừng nào thì có đủ? Đoàn thể và Chính phủ có thể giúp bằng cách gì nữa để bộ đội mau có áo, chăn? Gạo ăn mùa sau cho bộ đội yên tâm rồi chứ?!”.

Cuối thư, Người không quên “hỏi thăm thím và hôn hai cháu”.

– Báo Cựu chiến binh Việt Nam, số 48, 1994.

Trong năm

Nghe tin luật sư Phan Anh ốm nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi mấy vần thơ theo lối “Chinh phụ ngâm”:

Điện thường tới, Người chưa thấy tới.

Bức màn thưa từng dõi bóng dương.

Bóng dương mấy lúc xuyên ngang,

Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai.

– Thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr. 363.

Trong năm

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ chữ Hán: Vô đề

VÔ ĐỀ

Sơn kính khách lai, hoa mãn địa,

Tùng lâm quân đáo, điểu xung thiên.

Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,

Huề dũng giai đồng quán thái viên.

Dịch thơ:

KHÔNG ĐỀ

Đường non khách tới hoa đầy,

Rừng sâu quân đến, tung bay chim ngàn.

Việc quân, việc nước đã bàn,

Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau 23).

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 115-116.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 139.

Trong năm

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ chữ Hán: Tư chiến sĩ.

TƯ CHIẾN SĨ

Canh thâm lộ cấp như thu vũ,

Thần tảo sương nùng tự hải vân

Khoái tống hàn sam cấp chiến sĩ,

Dương quang hoà noãn báo tân xuân.

Dịch thơ:

NHỚ CHIẾN SĨ

Đêm khuya móc tựa mưa thu,

Sớm sương dày đặc, mây mù biển dăng

Mau mau gửi các chiến trường,

Áo cho chiến sĩ trên đường lập công.

Mặt trời toả ánh nắng hồng,

Báo tin xuân đến, mùa đông sắp tàn 24).

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 117-118.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 140.

Trong năm

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ chữ Hán: Đối nguyệt.

ĐỐI NGUYỆT

Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ,

Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền,

Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,

Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.

Dịch thơ:

ĐỐI TRĂNG

Ngoài song, trăng rọi cây sân,

Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.

Việc quân, việc nước bàn xong,

Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm 25).

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 119-120.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 141.

—————–

Chú thích  – T ừ tháng 7 đến tháng 12

1) Trên đầu bức thư có ghi: “Thư này phải đưa đọc đến tận các xã trong Liên khu, trước hết tại các xã đã xảy ra những việc ép uổng dân như đã nêu rõ trong thư của Phó Thủ tướng. Khi đọc khắp rồi, phải báo cáo dư luận của đồng bào thế nào. Không được đăng báo”.

2) Danh sách gồm 35 vị có tên trong Sắc lệnh (B.T).

3) Miên: Campuchia (B.T).

4) Ai Lao: Lào (B.T).

5) Chứng bệnh liệt nửa người (B.T).

6) Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ bảy khai mạc ngày 1-8-1950 với sự chủ toạ của đồng chí Trường Chinh bàn mấy vấn đề quan trọng:

1- Đảng ra công khai và tên Đảng. 2- Chính cương của Đảng. Theo đề án của Trung ương, khi ra công khai, Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Cuộc thảo luận hết sức sôi nổi. Có hai ý kiến, một nửa chủ trương giữ tên Đảng Cộng sản Đông Dương, nửa khác đồng ý với đề án của Trung ương, không ý kiến nào được đa số (Theo Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t.2, tr. 269).

7) Tên thật là Ernest Frey, quốc tịch Áo, đảng viên cộng sản, tham gia chiến đấu trong quân đội Việt Nam, đã được nhập quốc tịch Việt Nam.

8) Păngđi, từ thể hiện sự kính trọng và thân mật (B.T).

9) Tháng 8-1950, tại thành phố Asam (Ấn Độ) xảy ra nạn động đất, gây thiệt hại lớn (B.T).

10) Ngưu Đẩu: tức sao Khiên Ngưu và sao Bắc Đẩu, hai vì sao trong nhị thập bát tú (B.T).

11) Bản dịch của Xuân Diệu (B.T).

12) Bản dịch của Phan Văn Các (B.T).

13) Mật danh của Tướng Trần Canh (B.T).

14) Mật danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (B.T).

15) Tức Chiến dịch Biên giới. Hội nghị họp từ ngày 23 đến ngày 28-10-1950 tại Lam Sơn (Cao Bằng) (B.T).

16) Bệnh viện của Bộ Quốc phòng đặt trên đất Trung Quốc, có nhiệm vụ cứu chữa các thương binh trong Chiến dịch Biên giới. Bệnh viện có 60 cán bộ nhân viên Trung Quốc giúp đỡ (B.T).

17) Bất đễ: không trọn tình anh em (B.T).

18) Nguyên lượng: thứ lỗi, tha thứ (B.T).

19) Trần Dụ Châu, nguyên Đại tá, Giám đốc Nha Quân nhu đã phạm tội tham ô, biển thủ công quỹ hàng trăm triệu đồng (tiền kháng chiến) để sống xa hoa truỵ lạc, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và quân đội. Toà án binh đã truy tố và kết án tử hình Trần Dụ Châu.

20) Đây là Hội nghị thành lập Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, họp ngày 19-11-1950 (B.T).

21) Một bầu (B.T).

22) Bí danh của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu (B.T).

23) Bản dịch của Xuân Thuỷ (B.T).

24) Bản dịch của Sóng Hồng (B.T).

25) Bản dịch của Nam Trân (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)