Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng tới Đại nguyên soái Xtalin nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 149/SL, bổ nhiệm Phó Văn phòng Phủ Thủ tướng.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 113.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, ngày 7
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 150/SL, về việc giam giữ phạm nhân và trách nhiệm của Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp đối với việc tổ chức và kiểm soát các trại giam trong phạm vi toàn quốc.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, ngày 9
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho họ Nguyễn Sinh khi nhận được tin ông Nguyễn Sinh Khiêm mất. Toàn văn bức điện như sau:
“Gửi họ Nguyễn Sinh
Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu.
Than ôi! Tôi chịu tội bất đễ 17) trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng 18) cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.
Ngày 9 tháng 11 năm 1950
HỒ CHÍ MINH”.
– Bản chụp bức điện, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 114.
Tháng 11, ngày 10
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Quyết định số 147-C/QĐ thành lập Đoàn Thanh tra đặc biệt đi thanh tra việc sử dụng ngân sách của Bộ Quốc phòng. Đoàn gồm:
– Ông Hồ Tùng Mậu, Tổng Thanh tra Chính phủ, Trưởng đoàn.
– Ông Tô Quang Đẩu, thanh tra Chính phủ, đoàn viên.
– Ông Trần Hữu Dực, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, đoàn viên.
– Bản chụp Quyết định, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, đầu tháng
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Gửi cán bộ tỉnh Bắc Cạn, căn dặn những việc phải làm như: thu mua thóc kịp thời, đắp đường sửa đường, tranh thủ gặt hái, thực hiện “chén gạo tiết kiệm”, tổ chức “quán nghỉ cán bộ”, chấn chỉnh lề lối làm việc, “giản chính, tinh cán”. Người yêu cầu phải thường xuyên báo cáo với Người kết quả những việc trên – cả khuyết điểm và ưu điểm.
– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Bắc Thái: Bác Hồ với Bắc Thái, tr. 31-32.
Tháng 11, ngày 11
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi các bạn nam nữ Pháp đấu tranh cho hoà bình. Người nêu rõ:
“Cuộc chiến tranh trên đất nước chúng tôi là để sửa soạn cho một cuộc chiến tranh đế quốc khác. Vì vậy trong khi chiến đấu để bảo vệ hoà bình thế giới, các bạn đồng thời làm một việc rất đúng là mở một chiến dịch mạnh mẽ đòi đình chỉ ngay tức khắc cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Không phân biệt nam nữ, trẻ già, thợ thuyền, nông dân hay trí thức, các bạn đã đoàn kết để cùng góp phần cố gắng và quyết tâm của mình, chúng tôi kính phục và theo dõi cuộc đấu tranh của các bạn.
Về phần chúng tôi, trong khi chiến đấu để giải phóng Tổ quốc, chúng tôi đồng thời cũng đang làm suy yếu đế quốc Pháp, một trong những kẻ gây chiến tranh thế giới.
Tất cả chúng ta đều gắng sức theo đuổi một mục đích, nhất định những cố gắng của chúng ta chẳng bao lâu sẽ đưa bọn đế quốc đến chỗ thất bại hoàn toàn”.
– Báo Cứu quốc, số 1687, ngày 11-11-1950.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 115-116.
Tháng 11, trước ngày 14
Nhân dịp nhà báo Lêô Phighe, đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, sang thăm Việt Nam trở về Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viếtThư gửi các bà mẹ và vợ Pháp có con và chồng chết trận ở Việt Nam.
Thư cho biết, những binh lính sĩ quan Pháp bỏ mình trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, chỉ có một số rất ít thi hài được chở về cho gia đình họ, còn phần lớn đã bị bọn chỉ huy cho san phẳng mồ mả để che giấu những thất bại to lớn của chúng. Tất nhiên vẫn còn những nấm mồ thoát khỏi hành vi tàn bạo ấy. Đối với những nấm mồ này, “chúng tôi tự coi có bổn phận thiêng liêng phải giữ gìn nguyên vẹn để sau này, khi chiến tranh chấm dứt, các bà có thể mang hài cốt của chồng con mình về quê cha đất tổ”. Việc làm đó, “mong rằng có thể làm dịu nhiều những nỗi đau khổ của các bà”.
Thư cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với những bà mẹ và bà vợ đã hăng hái đấu tranh đòi hồi hương đạo quân viễn chinh và chấm dứt cuộc chiến tranh đầy tội ác này.
– Báo Cứu quốc, số 1689, ngày 14-11-1950.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 119-120.
Tháng 11, ngày 14
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Công điện số 508/D cho đồng bào Sơn Hà (Quảng Ngãi) khi nhận được tin do sai lầm của một số cán bộ nên một bộ phận đồng bào ở đây đã bị địch lợi dụng, gây rối loạn trị an, làm hại đến đoàn kết.
Người khuyên đồng bào “mau mau tỉnh ngộ, trở về yên phận làm ăn, chớ nghe lời giặc lừa phỉnh” và “rất mong đồng bào nghe theo lời thân ái đoàn kết của tôi, mau mau quay về với Chính phủ”.
Người đề nghị: “Nếu cán bộ địa phương có điều gì sai lầm, nếu đồng bào có việc gì oan ức, thì đồng bào phái đại biểu đến trình bày với tôi và Chính phủ”, “Tôi và Chính phủ sẽ trừng trị những cán bộ có lỗi, và sẽ làm cho đồng bào khỏi oan ức”.
Cùng ngày, Người gửi Mật điện số 509/D cho cán bộ chính quyền và đoàn thể miền Nam Trung Bộ, nêu những “khuyết điểm nặng” trong vụ Sơn Hà và trong việc động viên tài lực của dân. Người yêu cầu các cán bộ “phải dùng phê bình và tự phê bình, từ trên xuống, từ dưới lên, kiên quyết sửa chữa cho kỳ sạch” những khuyết điểm đó.
– Tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 117-118.
Tháng 11, trước ngày 15
Được tin một số đông binh sĩ Pháp ở Đông Dương về nước đã thành lập một tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình, đòi hồi hương các bạn đồng ngũ đang buộc phải tham gia cuộc chiến ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới những người bạn Pháp đó.
Bức thư có đoạn:
“Nhân dân Việt Nam rất biết ơn sự cố gắng của các bạn cũng như đã biết ơn sự cố gắng của các bà mẹ và những người lao động Pháp. Nhìn vào hành động của các bạn, nhân dân Việt Nam thấy rằng mình đang có hàng triệu người bạn trung thành ở ngay nước Pháp. Họ đã không bao giờ nhầm lẫn bọn đế quốc Pháp với nhân dân Pháp mà họ muốn thắt chặt mãi thêm mối dây thân hữu”.
– Báo Cứu quốc, số 1690, ngày 15-11-1950.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 121.
Tháng 11, từ ngày 15 đến ngày 17
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ để nghe báo cáo tình hình thế giới và trong nước từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11, tình hình quân sự trong mùa thu, đặc biệt là về Chiến dịch Biên giới, và bàn một số vấn đề quan trọng khác.
Kiểm điểm về vụ Trần Dụ Châu 19), sau khi nghe Bộ Quốc phòng trình bày vụ án và nghe Hội đồng Chính phủ nhận xét, cho ý kiến khắc phục, sửa chữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận và rút ra một số bài học. Người nói đại ý: Về vụ Trần Dụ Châu, chúng ta phải chịu một phần trách nhiệm, chúng ta không có chính sách cán bộ đúng. Chúng ta sinh trưởng trong một xã hội lạc hậu, nhiễm thực dân phong kiến, xã hội cũ hám danh hám lợi, danh lợi dễ làm hư người… Bây giờ chúng ta dùng cán bộ để cải tạo xã hội mà không có chính sách cải tạo cán bộ, đó là khuyết điểm. Chính sách cán bộ thế nào? Lúc tìm người phải tìm cả tài, cả đức, chú trọng tư tưởng. Nếu cán bộ biết thương dân, tiếc của dân thì không xảy ra việc đáng tiếc. Đồng thời, phải giáo dục, cải tạo, kiểm tra cán bộ.
Người yêu cầu phải đẩy mạnh việc tự phê bình và phê bình: “Chúng ta hay nể nả. Mình chỉ biết mình thanh liêm là đủ. Quan niệm “thanh cao tự thủ” là không đủ. Tất cả chúng ta phụ trách trước nhân dân, trong anh em phải có tự phê bình và phê bình… Phải mở cửa khuyến khích lãnh đạo tự phê bình và phê bình”.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, ngày 17
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi Hội nghị hoà bình ở Việt Nam 20).
Người khẳng định: “Muốn giữ hoà bình một cách thiết thực thì phải ra sức chống đế quốc chủ nghĩa”, và cuộc kháng chiến Việt Nam chính là “đang chặt cái gốc chiến tranh đế quốc, đang giúp sức bảo vệ hoà bình”. Vì vậy, nhiệm vụ của mọi người là “đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ toàn dân Việt Nam, để kháng chiến lâu dài, để đánh tan bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ“.
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 151/SL, bổ sung quyền hạn và lề lối làm việc của Hội thẩm nhân dân các cấp huyện và tỉnh.
– Sắc lệnh số 152/SL, quy định việc truy tố những công chức làm việc tại các cơ quan trung ương và các ngành thuộc phạm vi liên khu bị phạm pháp.
– Sắc lệnh số 153/SL, quy định Hội đồng nhân dân tỉnh họp thường kỳ ba tháng một lần.
– Sắc lệnh số 154/SL, quy định những kỷ luật đối với công chức, quân nhân, dân thường làm lộ bí mật của cơ quan hay công việc của Chính phủ.
– Sắc lệnh số 155/SL về việc thành lập Toà án quân sự liên khu.
– Sắc lệnh số 156/SL, về việc thiết lập Toà án nhân dân liên khu.
– Sắc lệnh số 157/SL, về việc thiết lập Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm.
– Sắc lệnh số 158/SL, về việc đưa những cán bộ công nông có thành tích, kinh nghiệm vào các ngạch thẩm phán theo đề nghị của một Hội đồng tuyển chọn.
– Sắc lệnh số 159/SL, ấn định những trường hợp được ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu lực của việc ly hôn.
– Sắc lệnh số 160/SL, về việc thành lập Vụ Hình – Hộ trong Bộ Tư pháp.
– Sắc lệnh số 161/SL, bổ nhiệm Đổng lý văn phòng Bộ Tư pháp.
– Sắc lệnh số 162/SL, về việc thành lập Nha Công chính trực thuộc Bộ Giao thông Công chính.
– Sắc lệnh số 163/SL, về việc hạn chế giết trâu bò trong toàn quốc nhằm phát triển chăn nuôi, lợi cho tăng gia sản xuất và hợp với chính sách tiết kiệm chung.
– Sắc lệnh số 164/SL, về việc cải tổ Nha khẩn hoang di dân thành Sở doanh điền thuộc Bộ Canh nông.
– Sắc lệnh số 165/SL, bổ nhiệm ông Lê Duy Thước, Phó Đổng lý văn phòng Bộ Canh nông, kiêm chức Giám đốc Sở doanh điền thuộc Bộ Canh nông.
– Sắc lệnh số 166/SL, về việc tách Nha Kỹ nghệ thuộc Bộ Kinh tế thành hai nha: Nha Công nghệ và Nha Tiểu công nghệ. Mỗi nha do một Giám đốc và một Phó Giám đốc điều khiển.
– Sắc lệnh số 167/SL, bãi bỏ Sắc lệnh số 221/SL ngày 20-8-1948; cho phép Bộ trưởng Bộ Kinh tế, trong thời kỳ kháng chiến, có thể ban hành bằng nghị định những thể lệ đặc biệt để ngăn ngừa những luồng thương mại có hại cho dân sinh.
– Sắc lệnh số 168/SL, về việc thành lập Sở Nội thương trực thuộc Bộ Kinh tế.
– Sắc lệnh số 169/SL, sửa đổi điều 2 và điều 3 của Sắc lệnh số 8/SL ngày 23-2-1949 về việc hoá giá và thủ tục định giá tối đa.
– Sắc lệnh số 170/SL, giao cho Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh, tuỳ mức độ nghiêm trọng của các hạng phạm pháp, có thể tịch thu, xử phạt hoặc truy tố bị can sau khi hỏi ý kiến Ty Kinh tế.
– Sắc lệnh số 171/SL, ân giảm cho một phạm nhân từ tội tử hình xuống khổ sai chung thân.
– Sắc lệnh số 172/SL, về việc thành lập trong Bộ Giáo dục một Vụ Văn học Nghệ thuật gồm các ngành văn hoá (văn, sử, địa, triết học, kinh tế học, ngôn ngữ, văn tự) và các ngành nghệ thuật (âm nhạc, ca kịch, hội họa, kiến trúc).
– Sắc lệnh số 173/SL, bổ nhiệm ông Hoài Thanh giữ chức Giám đốc Vụ Văn học Nghệ thuật thuộc Bộ Giáo dục.
– Sắc lệnh số 174/SL, bổ nhiệm Phó Giám đốc Nha Bình dân học vụ.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 123-124.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, trước ngày 27
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các nhà báo trong nước và nước ngoài.
Trả lời những câu hỏi về Chiến dịch Biên giới, Người nêu rõ kết quả, nguyên nhân, ý nghĩa quan trọng của thắng lợi đó và chỉ rõ: “Sau thắng lợi này, một điều mà quân và dân ta phải giữ là tuyệt đối không được vì thắng lợi mà kiêu căng, chủ quan, khinh địch. Trái lại, chúng ta phải cố gắng hơn nữa, cẩn thận hơn nữa, kiên quyết hơn nữa”.
Về kết quả thi đua trong năm, Người nói: “Thành tích rất khá vì dân chúng rất hăng hái”. Tuy vậy, phong trào thi đua vẫn còn nhiều khuyết điểm, như: đặt kế hoạch chưa sát; việc đôn đốc theo dõi, giúp đỡ còn kém; việc tổng kết kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm làm chưa tốt. Chủ tịch nhấn mạnh: “Chúng ta cố gắng sửa chữa những khuyết điểm đó – mà việc này thì các báo chí phải gánh một phần trách nhiệm – thì thi đua ái quốc chắc sẽ có những thành tích tốt đẹp gấp bội”.
– Báo Sự thật, số 151, ngày 27-11-1950.
Tháng 11, ngày 27
Bốn bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thư gửi chiến sĩ và cán bộ Hoà Bình, Thư gửi chiến sĩ và cán bộ Lào Cai, Thư gửi đồng bào Hoà Bình và Thư gửi đồng bào Lào Cai, đăng trên báo Sự thật, số 151.
Trong các bức thư, Người thay mặt Chính phủ khen ngợi chiến công của các chiến sĩ, cán bộ hai tỉnh Hoà Bình, Lào Cai; thân ái an ủi toàn thể đồng bào hai tỉnh “đã mấy năm, đồng bào sống cực khổ dưới gót sắt giặc Pháp dã man, chịu đủ sự áp bức tàn nhẫn”; và căn dặn những công việc mà các chiến sĩ, cán bộ và đồng bào hai tỉnh cần làm ngay.
– Báo Sự thật, số 151, ngày 27-11-1950.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 125-128.
Tháng 11
Sau chiến thắng Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết gửi luật sư Phan Anh mấy vần thơ:
Đất chuyển, trời xoay, bể mịt mù.
Thu này, kháng chiến đã ba thu.
Hoàn toàn thắng lợi, vài thu chắc.
Một túi thơ tiên, rượu một bù… 21).
– Thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr. 367.
– Báo Giáo dục và thời đại, ngày 13-12-1996.
Tháng 11
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới toàn thể phụ lão xã Vĩnh Đồng, châu Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình.
Người thăm hỏi và căn dặn đồng bào, quân đội, chính quyền và đoàn thể trong tỉnh phải: Đoàn kết chặt chẽ; Thi đua ủng hộ kháng chiến; Thi đua tăng gia sản xuất; Thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính và chớ chủ quan khinh địch, phải cẩn thận đề phòng.
Người mong “mọi người cố gắng làm tròn nhiệm vụ để góp một phần xứng đáng vào cuộc kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công”.
– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Hà Sơn Bình: Bác Hồ với cán bộ và nhân dân các dân tộc Hà Sơn Bình, 1980, tr. 28-29.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 131-132.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Bạn phải đăng nhập để bình luận.