CHÚ THÍCH
1. Liên hiệp Pháp (Union Française): Do Pháp lập ra đầu năm 1946 nhằm tập hợp và duy trì ảnh hưởng của Pháp ở các nước thuộc địa cũ. Khối Liên hiệp Pháp bao gồm nước Pháp, đất thuộc Pháp ở hải ngoại, và các quốc gia liên kết với Pháp.
Để tỏ thiện chí, đầu năm 1946, ta đồng ý tham gia Khối Liên hiệp Pháp trên cơ sở Pháp công nhận nền độc lập và thống nhất của ta. Lập trường của Việt Nam trong vấn đề này là: với tư cách một nước trong khối, Việt Nam chịu ràng buộc theo quy ước chứ không phải theo hiến pháp; không cần phải có đại biểu trong Hội đồng liên bang nhưng phải có đặc sứ ở Pháp; Việt Nam có thể nhận cố vấn Pháp, nhưng không thể bị bắt buộc nhận họ ở tất cả các ngành hoạt động quốc gia; Việt Nam có quyền gửi thẳng sứ thần ra nước ngoài, cũng có thể nhờ Pháp thay mặt ngoại giao với một số nước nhất định, có quyền gia nhập Liên hợp quốc, ký kết những hiệp ước liên minh với các nước miễn là không nhằm mục đích chống lại Pháp; về kinh tế, Việt Nam tiêu thụ hàng hoá của Pháp, cung cấp nguyên liệu cho Pháp, đồng thời Pháp phải cung cấp máy móc, dụng cụ, giúp đỡ phát triển kỹ nghệ cho Việt Nam, v.v..
Nước Pháp đã không chấp nhận Việt Nam tham gia Khối Liên hiệp Pháp. Đến năm 1958, tổ chức này cũng không còn tồn tại nữa. Tr. 11.
2. Quốc hội Pháp tranh luận vấn đề Việt Nam: Ngày 13-3-1947, Quốc hội Pháp đã mở cuộc thảo luận về vấn đề Việt Nam. Cuộc tranh luận đã diễn ra gay gắt giữa các đại biểu của phái thực dân với những đại biểu dân chủ tiến bộ, đứng đầu là Đảng Cộng sản Pháp. Phái phản động chủ trương đánh Việt Nam và đánh đến một chừng mực nhất định nào đó mới đàm phán, nhưng không đàm phán với Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn Đảng Cộng sản và những người dân chủ tiến bộ thì đề nghị phải dàn xếp ngay và dàn xếp với Chính phủ Hồ Chí Minh và Việt Minh.
Sau nhiều cuộc tranh luận gay gắt, ngày 19-3-1947, Quốc hội Pháp đã bỏ phiếu tán thành chính sách phản động của Chính phủ Pháp. Đảng Cộng sản Pháp đã không bỏ phiếu để phản đối chính sách phản động này. Tr. 69.
3. Hội nghị dân quân, tự vệ, du kích toàn quốc: Họp ngày 24-5-1947 tại Việt Bắc. Hội nghị đã kiểm điểm hoạt động của dân quân, tự vệ và du kích; bàn việc thống nhất tổ chức dân quân, tự vệ và du kích trong cả nước; công bố 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật dân vận của dân quân, tự vệ và du kích. Tr. 85.
4. Đảng Dân chủ Việt Nam: Tổ chức chính trị của giới trí thức, công chức và tư sản dân tộc Việt Nam.
Với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng được thành lập ngày 30-6-1944.
Tháng 7-1944, Đảng Dân chủ Việt Nam tự nguyện gia nhập Mặt trận Việt Minh và cùng với các hội cứu quốc tiến hành quá trình chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng Tháng Tám 1945.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng Dân chủ Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc tăng cường và củng cố khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng và củng cố chính quyền, góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam.
Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ Việt Nam (từ ngày 18 đến ngày 20-10-1988) – Đại hội cuối cùng, Đảng đã kết thúc 44 năm hoạt động và hoàn thành vai trò lịch sử. Tr. 94.
5. Đảng Xã hội Việt Nam: Thành lập ngày 22-7-1946, nhằm tập hợp giới trí thức Việt Nam yêu nước, sát cánh cùng toàn dân bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Đảng Xã hội Việt Nam đã tự nguyện gia nhập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam và có nhiều đóng góp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước.
Ngày 15-10-1988, tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội đã diễn ra lễ mít tinh trọng thể kết thúc 42 năm hoạt động của Đảng Xã hội Việt Nam.Tr. 98.
6. Ngày thương binh liệt sĩ 27-7: Tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm Ngày thương binh để nhân dân ta có dịp tỏ lòng biết ơn, yêu mến thương binh. Thực hiện chỉ thị của Người, một hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở trung ương, khối và tỉnh đã họp ở Phú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) bàn bạc và nhất trí đề nghị lấy ngày 27-7-1947 làm “Ngày thương binh liệt sĩ” đầu tiên trong cả nước.
Từ đó, ngày 27-7 hằng năm trở thành “Ngày thương binh liệt sĩ”. Tr. 101.
7. Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Dương: Sau khi Inđônêxia (Nam Dương) giành được độc lập, ngày 18-8-1945, đế quốc Hà Lan núp sau lưng quân đội Anh tiến vào Inđônêxia tìm cách khôi phục lại chế độ thực dân của họ ở nước này. Ngày 2-7-1947, đế quốc Hà Lan huy động 20 vạn quân trang bị vũ khí hiện đại, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Inđônêxia. Cuộc kháng chiến của nhân dân Inđônêxia bắt đầu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các chiến sĩ và nhân dân Inđônêxia, bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ của Chính phủ và nhân dân ta đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Inđônêxia và “tin chắc rằng cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Nam Dương sẽ thắng lợi”. Tr. 106.
8. Ngày Nam Bộ kháng chiến: Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp được quân đội Anh giúp sức đã nổ súng đánh chiếm trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ tại Sài Gòn.
Ngay chiều hôm đó, dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ Nam Bộ và Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, nhân dân Sài Gòn đã tổng đình công, không hợp tác với giặc Pháp. Một vạn rưỡi tự vệ cùng nhân dân lập vật chướng ngại trên đường phố, đánh trả quyết liệt quân xâm lược, mở đầu cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ chống thực dân Pháp. Ngày 23-9 trở thành truyền thống lịch sử – Ngày Nam Bộ kháng chiến. Tr. 123.
9. Ngày toàn quốc kháng chiến: Trước những hoạt động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh raLời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Người vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, đồng thời nêu bật quyết tâm của nhân dân ta: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ“. Người khẳng định: “Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta“.
Ngay đêm 19-12-1946, cả dân tộc ta nhất tề đứng dậy tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đó, ngày 19-12 đi vào lịch sử: Ngày toàn quốc kháng chiến. Tr. 139.
10. Ngày thành lập Giải phóng quân Việt Nam (22-12): Năm 1944, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển thuận lợi, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc có khả năng bùng nổ và thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”.
Chỉ thị nêu rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”, hoạt động theo nguyên tắc tập trung lực lượng, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương. Về chiến thuật, vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nghi binh, nhanh chóng, tích cực, bất ngờ. Chỉ thị nêu rõ tiền đồ của Đội rất vẻ vang. Trong tương lai nó sẽ phát triển ra cả nước.
Theo chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, được thành lập tại một khu rừng nằm giữa tổng Trần Hưng Đạo và tổng Hoàng Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng, nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hoà An…
Dưới lá cờ đỏ sao vàng, toàn đội đã đọc 10 lời thề danh dự. Ngay sau khi thành lập, đội quân cách mạng ấy đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) trong hai ngày 24 và 25-12-1944. Chiến thắng đầu tiên này đã cổ vũ phong trào đánh đuổi thực dân Pháp, mở đường cho những thắng lợi tiếp theo.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 22-12 trở thành ngày truyền thống – Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tr. 140.
11. Hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ hai: Được tiến hành từ ngày 6 đến ngày 11-3-1948 theo Chỉ thị của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương. Tham gia Hội nghị gồm các chính trị viên quân khu và chính trị viên trung đoàn. Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo của Quân uỷ Trung ương về nhiệm vụ chiến lược, chiến thuật và công tác chính trị, nghe một số báo cáo về tình hình trong nước và tình hình thế giới.
Hội nghị đã xác định nhiệm vụ của công tác chính trị trong quân đội là phải bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chiến lược do Quân uỷ Trung ương đề ra, động viên toàn quân nêu cao tinh thần anh dũng, đoàn kết, thống nhất, đồng cam cộng khổ, chống quan liêu, chống quân phiệt.
Hội nghị ra Nghị quyết về hệ thống tổ chức công tác chính trị, nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp uỷ Đảng trong quân đội, chế độ chính trị viên và việc tăng cường công tác đào tạo cán bộ, bồi dưỡng chính trị viên và bồi dưỡng chính trị cho cán bộ quân sự. Tr. 169.
12. Hội nghị dân quân toàn quốc: Được tiến hành đầu tháng 4-1948, theo chủ trương của Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương, để đánh giá những mặt mạnh và mặt yếu của phong trào du kích chiến tranh.
Hội nghị biểu dương những thành tích của dân quân, du kích toàn quốc trong các công tác đánh giặc, trừ gian, tiễu phỉ, phá tề, phá giao thông địch, tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc và học tập bổ túc văn hoá; biểu dương những đơn vị và đội viên du kích có nhiều thành tích xuất sắc.
Hội nghị cũng chỉ rõ những thiếu sót của dân quân du kích là chưa phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, chưa chủ động linh hoạt trong tác chiến mà còn nặng về hình thức trong tổ chức và huấn luyện. Tr. 178.
13. Pháp lập chính phủ bù nhìn: Do thất bại trong chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh”, thực dân Pháp tăng cường thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, âm mưu đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng bù nhìn. Do mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ, giữa bù nhìn Bảo Đại và bù nhìn Nguyễn Văn Xuân ở Nam Bộ, việc đưa Bảo Đại ra đứng đầu chính quyền bù nhìn chưa thành.
Ngày 5-6-1948, thực dân Pháp đã gấp rút dựng lên một “Chính phủ trung ương” do Nguyễn Văn Xuân cầm đầu.
Ngày 7-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam không thừa nhận bất cứ thứ giấy tờ nào do bọn bù nhìn ký kết với bất kỳ nước nào và sẽ chiểu theo pháp luật để trừng trị bọn phản quốc”. Tr. 208.
14. Lời kêu gọi thi đua ái quốc: Sau chiến thắng Việt Bắc (thu đông 1947), theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27-3-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc để động viên mọi lực lượng phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Chỉ thị vạch rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc mau thành công”.
Nhân dịp kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến toàn quốc, ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi, chính thức phát động cuộc vận động thi đua ái quốc. Tr. 209.
15. Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng lần thứ sáu: Được tiến hành từ ngày 14 đến ngày 18-1-1949. Dự Hội nghị có đại biểu cán bộ toàn quốc và cán bộ cao cấp của Đảng trong các ngành. Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng và các báo cáo về quân sự, chính quyền, mặt trận, công tác Đảng. Hội nghị cũng nêu phương hướng và một số việc cụ thể để chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II sẽ họp vào đầu năm 1951.
Nhận định tổng quát về cuộc kháng chiến của nhân dân ta, Hội nghị chỉ rõ: “Ta càng đánh càng mạnh”, “Pháp càng đánh càng suy nhược”. So sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi có lợi cho ta. Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta là phải “nỗ lực chuẩn bị, sẵn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không được bỏ lỡ cơ hội chiến lược”. Hội nghị khẳng định: “Bất kể Mỹ dùng cách can thiệp gì, chúng ta cũng không sợ… Mỹ cũng sẽ phải chia cái thất bại đau đớn nhục nhã với thực dân Pháp ở Việt Nam”.
Hội nghị chủ trương “động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân vào công cuộc kháng chiến kiến quốc với khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng””.
Về nhiệm vụ quân sự, Hội nghị quyết định: “Đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược, cắt các đường giao thông quan trọng”. “Trung tâm công tác lúc này là tiếp tục xây dựng bộ đội chủ lực”, phát triển và củng cố dân quân du kích.
Về công tác kinh tế, tài chính, cần phải phát triển bộ phận kinh tế nhà nước, nhất là công nghiệp quốc phòng, đẩy mạnh sản xuất tự cấp, tự túc trong toàn quốc và từng địa phương, xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiếp tục thi hành triệt để giảm tô, chuẩn bị cải cách ruộng đất.
Về công tác xây dựng Đảng, phải đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ chính trị và lý luận cho cán bộ, đảng viên, củng cố chi bộ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thăm và nói chuyện tại buổi lễ bế mạc của Hội nghị. Tr. 272.
16. Liên hợp quốc: Là một tổ chức quốc tế được thành lập tại Hội nghị họp ở Xan Phranxixcô (Mỹ), từ ngày 24-4 đến ngày 26-6-1945. Đại diện của 51 nước đã ký tham gia Hiến chương Liên hợp quốc. Hiến chương bắt đầu có hiệu lực từ ngày 24-10-1945. Vì vậy, ngày 24-10 hằng năm được gọi là Ngày Liên hợp quốc.
Hiến chương Liên hợp quốc nêu rõ: Mục đích thành lập tổ chức quốc tế này là để ngăn ngừa và loại trừ những mối đe doạ đối với hoà bình, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế; tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tín ngưỡng và tiếng nói. Tất cả các nước hội viên đều bình đẳng, không một nước nào có quyền can thiệp vào các công việc nội bộ của nước khác.
Những cơ quan chủ yếu của Liên hợp quốc là Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Uỷ ban kinh tế và xã hội, Toà án quốc tế và Ban thư ký,… Trụ sở Liên hợp quốc đặt tại Niu Oóc (Mỹ).
Năm 1977, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gia nhập Liên hợp quốc. Tr. 294.
17. Bản ký kết 8-3 giữa Pháp và Bảo Đại: Thực hiện âm mưu chia rẽ lực lượng kháng chiến của ta, nhằm cứu vãn tình thế nguy ngập trên chiến trường Đông Dương, năm 1949, thực dân Pháp được sự giúp đỡ của Mỹ đã đưa Bảo Đại về Việt Nam làm Quốc trưởng bù nhìn. Ngày 8-3-1949, Bảo Đại đã ký với Tổng thống Pháp Ôriôn bản thoả hiệp.
Nội dung cơ bản của bản thoả hiệp là:
Về chính trị, Pháp công nhận “Việt Nam có toàn quyền cai trị lấy mình nhưng phải có cố vấn chính trị Pháp bên cạnh”.
Về quân sự, Việt Nam có quân đội riêng, nhưng huấn luyện viên phải là người Pháp; quân đội Pháp được đóng trên đất Việt Nam và được hoàn toàn tự do hành động; lúc có chiến tranh, tất cả quân đội Việt Nam đặt dưới sự chỉ huy của người Pháp.
Về ngoại giao, đại sứ Pháp đại diện cho Việt Nam.
Về kinh tế, đồng tiền Việt Nam phải phụ thuộc vào đồng phrăng, nghĩa là quyền phát hành giấy bạc vẫn ở trong tay Ngân hàng Đông Dương.
Về văn hoá, các trường Việt Nam từ tiểu học đến đại học phải học bằng tiếng Pháp, không được dùng tiếng Việt.
Về vấn đề thống nhất đất nước, công nhận Nam Bộ có chế độ riêng, mọi thể chế do Pháp đặt ra sau cuộc khởi hấn ở Nam Bộ năm 1945 vẫn giữ nguyên. Tr. 297.
18. Cách mạng Tháng Mười: Cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I. Lênin, ngày 7-11-1917 (tức ngày 24 Tháng Mười, theo lịch Nga), giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã vùng dậy lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và bọn phản cách mạng, thành lập Chính phủ Xôviết do Lênin làm Chủ tịch. Giai cấp công nhân Nga đã đập tan bộ máy thống trị của các giai cấp bóc lột, lập nên Nhà nước kiểu mới – chính quyền Xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản. Từ đó nước Nga Xôviết vững bước tiến lên xây dựng thành một nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh.
Cách mạng Tháng Mười thắng lợi đã mở đầu một thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc bị nô dịch đi tới cách mạng giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tr. 365.
19. Hội nghị cán bộ nông dân cứu quốc toàn quốc: Họp từ ngày 28-11 đến ngày 7-12-1949 tại Việt Bắc.
Hội nghị đã nghe và thảo luận báo cáo về tình hình và nhiệm vụ của Hội nông dân cứu quốc trong giai đoạn mới, kiểm điểm công tác của Hội từ khi thành lập. Hội nghị đã đề ra chương trình hoạt động trong năm 1950, gồm sáu cuộc vận động lớn: tăng gia sản xuất tự túc; nuôi dưỡng bộ đội; xây dựng hợp tác xã; hoàn thành giảm tô, thực hiện giảm tức; đào tạo cán bộ và thanh toán nạn mù chữ.
Tr. 367.
20. Chiến dịch Biên giới: Tức Chiến dịch Cao – Bắc -Lạng (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn), hay còn gọi là Chiến dịch Lê Hồng Phong II, được tiến hành theo quyết định hồi tháng 6-1950 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phá tan vòng vây của chủ nghĩa đế quốc đối với ta.
Đầu tháng 9-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên đường ra mặt trận.
Sáng ngày 16-9-1950, chiến dịch bắt đầu. Bộ đội ta đánh chiếm Đông Khê, một căn cứ quan trọng của địch trên tuyến phòng ngự đường số 4, nằm giữa Lạng Sơn và Cao Bằng. Bị mất Đông Khê, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng theo kế hoạch: Một mặt dùng gần hết lực lượng dự bị còn lại ở Bắc Bộ để mở cuộc hành binh Phốccơ (Phoque) lên chiếm thị xã Thái Nguyên; mặt khác, dùng binh đoàn Lơpagiơ mở cuộc hành binh Têredơ (Thérèse) từ Lạng Sơn theo đường số 4 rút về.
Sáng ngày 7-10-1950, quân ta tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lơpagiơ tại Cốc Xá cách Đông Khê 7km. Chiều ngày 7-10-1950, quân ta lại tiêu diệt gọn binh đoàn Sáctông tại cao điểm 477 ở gần Cốc Xá về phía tây. Binh đoàn từ Thất Khê lên ứng cứu cũng bỏ chạy. Tại Thái Nguyên, quân địch bị quân ta chặn đánh dữ dội, đã phải tháo lui.
Trong 13 ngày (từ 10 đến 23-10-1950), địch liên tiếp bỏ các vị trí Thất Khê, Nà Lầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu, rút về Tiên Yên ở khu vực duyên hải. Hệ thống phòng tuyến đường số 4 của địch bị phá vỡ.
Trong Chiến dịch Biên giới, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 8.000 tên địch (trong đó bắt sống 3.500 tên), tiêu diệt gọn một nửa lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc Đông Dương, thu nhiều vũ khí, giải phóng năm thị xã, 13 thị trấn, nhiều vùng đất đai quan trọng, cả một dải biên giới bao gồm 35 vạn dân. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố. Cách mạng nước ta lần đầu tiên đã phá tan vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.
Chiến dịch Biên giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta, một chiến dịch đánh vận động, đánh tiêu diệt xuất sắc, đạt hiệu suất chiến đấu cao, đánh dấu bước phát triển mới về quyền chủ động của quân đội ta trên chiến trường chính. Tr. 455.
21. Chiến dịch trung du: còn gọi là Chiến dịch Trần Hưng Đạo, diễn ra từ ngày 25-12-1950 đến ngày 17-1-1951, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích. Trong chiến dịch này, phía ta đã huy động năm trung đoàn bộ đội chủ lực phối hợp với các lực lượng địa phương đánh địch ở vùng Vĩnh Yên, Phúc Yên và Bắc Ninh. Chúng ta đã tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch và qua chiến dịch này, các lực lượng vũ trang của ta có thêm kinh nghiệm chiến đấu. Tr. 493.
oooooooooooooooooooooooooooooooooooooooooo
BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI
B
BẢO ĐẠI (Nguyễn Vĩnh Thuỵ) (1913 – 1997), sinh tại Huế, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn; lên ngôi năm 1926, thoái vị ngày 30-8-1945. Từ tháng 9-1945, được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm cố vấn của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng 3-1946, được cử sang Trùng Khánh (Trung Quốc) thực hiện chính sách ngoại giao của Chính phủ ta với chính quyền Tưởng Giới Thạch. Nhân chuyến đi này, Bảo Đại ở lại Trung Quốc. Năm 1949, Bảo Đại được Pháp đưa về Việt Nam làm Quốc trưởng bù nhìn. Tháng 10-1955, bằng “trưng cầu dân ý”, Mỹ đã phế truất Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên thay. Sau đó, sang Pháp sống cuộc đời tha phương và mất tại Pari năm 1997.
BƠLUM, Lêông (1872 – 1950), đảng viên Đảng Xã hội phái hữu, nhiều năm làm chủ bút báo Le Populaire – Cơ quan Trung ương của Đảng Xã hội Pháp. Sau khi Mặt trận nhân dân giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 1936, Bơlum đứng đầu Chính phủ Pháp và đã thi hành chính sách làm suy yếu Mặt trận nhân dân và phá hoại việc thực hiện cương lĩnh của Mặt trận.
BÔLAÉC, Êmin, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương từ tháng 3-1947 đến tháng 10-1948. Bôlaéc đã gặp Bảo Đại ở Hạ Long (1947) để sắp đặt kế hoạch đưa Bảo Đại về Việt Nam làm Quốc trưởng chính phủ bù nhìn do thực dân Pháp lập ra sau đó.
BÙI BẰNG ĐOÀN (1889 – 1955), nhân sĩ, quê ở Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Tây), đỗ cử nhân năm 1906. Năm 1911 là tri huyện, rồi tuần phủ Ninh Bình. Năm 1933 làm Thượng thư Bộ Hình. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thành viên trong Ban Cố vấn Chính phủ, là đại biểu Quốc hội khoá I, được cử vào Ban Thường trực Quốc hội, rồi Trưởng ban Thường trực Quốc hội cho đến khi mất.
BÙI KỶ (1887 – 1960), nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học, quê ở làng Châu Cầu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam, đỗ cử nhân năm 1909, phó bảng năm 1910, sau đó du học ở Pháp. Trở về nước, phục vụ trong ngành giáo dục, viết sách, làm báo. Sau Cách mạng Tháng Tám, làm Chủ tịch Hội Văn hoá kháng chiến Liên khu III. Hoà bình lập lại, làm Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Trung. Mất tại Hà Nội năm 1960. Với bút danh Ưu Thiên đã để lại nhiều tác phẩm khảo cứu văn học và dịch thuật có giá trị.
C
CHU ÂN LAI (1898 – 1976), quê ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.
Năm 1917, du học ở Nhật. Năm 1919 về nước, tham gia phong trào Ngũ Tứ. Năm 1920 sang Pháp học. Năm 1922, tham gia Đảng Cộng sản trẻ Trung Quốc ở nước ngoài, rồi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp qua sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc.
Từ năm 1924, sau khi về nước, đến năm 1949 thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, ông được giao nhiều chức vụ quan trọng: Uỷ viên trưởng Khu uỷ Lưỡng Quảng Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Quân uỷ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Trung ương Cục Xôviết, Tổng chính uỷ Hồng quân công nông Trung Quốc kiêm Tổng chính uỷ Đệ nhất phương diện quân, Phó Chủ tịch Quân uỷ kiêm Tổng tham mưu trưởng… Thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác, ông là đại diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong Chính phủ Quốc dân Đảng.
Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, ông liên tục được bầu làm Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc và giữ cương vị này tới khi qua đời.
Tại Đại hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc các khoá V, VI, VII, VIII, IX, X, ông đều được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và là Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Chu Ân Lai là người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cùng với Người xây đắp nên tình đồng chí, tình bạn vĩ đại và cảm động, tình hữu nghị giữa hai Đảng và nhân dân hai nước.
Ông mất ngày 8-1-1976 tại Bắc Kinh.
CHU ĐỨC (1886 – 1976), năm 1911, tham gia khởi nghĩa Vân Nam. Sau đó là Thiếu tướng Lữ trưởng của quân đội Vân Nam. Năm 1922, sang Đức học và tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1925, học Đại học Phương Đông (Liên Xô) tại lớp huấn luyện quân sự bí mật. Năm 1926, về nước. Năm 1927, tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Xương. Năm 1934, tham gia Vạn lý trường chinh. Thời kỳ chiến tranh chống Nhật, giữ chức Tổng chỉ huy và Tổng tư lệnh Bát lộ quân, Phó Chủ tịch Uỷ ban quân uỷ Trung ương kiêm Phó Tổng tư lệnh Chiến khu II. Tháng 9-1949, được bầu làm Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân Trung ương. Tháng 10-1949, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc. Năm 1954, là Phó Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Năm 1955, được phong hàm Nguyên soái. Từ năm 1959, được bầu là Uỷ viên trưởng Uỷ ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc các khoá II, III, IV. Được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khoá VI), được bầu vào Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm (khoá VI), vào Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ VII, VIII, IX, X.
CÙ HUY CẬN (1919 – 2005), nhà thơ, người quê ở xã An Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông sớm tham gia những hoạt động yêu nước. Tại Quốc dân đại hội Tân Trào (1945) được bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám, ông được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách như: Bộ trưởng Bộ Canh nông, Bộ trưởng phụ trách văn hoá nghệ thuật, Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông còn tham gia nhiều hoạt động văn hoá quốc tế.
Huy Cận làm thơ từ thời còn là học sinh. Trước Cách mạng Tháng Tám đã có nhiều tác phẩm, như Lửa thiêng (1940) – tập thơ đầu tay, cũng là một tập thơ xuất sắc trong phong trào thơ mới, Vũ trụ con (1940 – 1942), Kinh cầu tự (1942) – tập văn xuôi triết lý.
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thơ Huy Cận tập trung cho đề tài đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu là các tập Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Những năm 60 (1968),Chiến trường gần, chiến trường xa (1972), Hạt lại gieo (1984).
Hơn nửa thế kỷ lao động sáng tạo, với tư cách một nhà thơ tiêu biểu, Huy Cận đã có nhiều đóng góp cho nền thơ hiện đại Việt Nam.
D
DUY TÂN (1900 – 1945), tức Nguyễn Vĩnh San, vua thứ 11 nhà Nguyễn từ năm 1907 đến năm 1916. Duy Tân là người yêu nước và có tinh thần dân tộc. Năm 1916, cùng Thái Phiên và Trần Cao Vân trong tổ chức Việt Nam quang phục hội dựa vào số binh lính bị mộ sang Pháp tổ chức khởi nghĩa ở Huế và miền Nam Trung Kỳ. Công việc bị bại lộ, khởi nghĩa không thành, Duy Tân bị thực dân Pháp đày sang đảo Rêuyniông (châu Phi). Duy Tân là người ham học và có ý chí. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, gia nhập quân đội Đồng minh chống phát xít; năm 1945, mất vì tai nạn máy bay ở châu Phi.
Đ
ĐÁCGIĂNGLIƠ, Gioócgiơ Tiơri đờ (1889 – 1964), thời thanh niên làm lính thuỷ chiến đấu ở Marốc. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất tham gia đội tàu chống tàu ngầm. Năm 1920 đi tu, cho đến năm 1939, được gọi về làm thuyền trưởng hải quân. Năm 1940 bị bắt rồi vượt ngục trốn sang Anh, được Đờ Gôn bổ nhiệm làm uỷ viên Hội đồng kháng chiến Pháp, Đô đốc hải quân Pháp. Ông là Cao uỷ Pháp vùng Thái Bình Dương từ năm 1941 đến năm 1943, là Cao uỷ Pháp ở Đông Dương từ năm 1945 đến năm 1947.
Tác giả cuốn Hồi ký về Đông Dương (1945 – 1947), in năm 1985.
ĐẶNG THAI MAI (1902 – 1984), nhà nghiên cứu văn học, quê ở Thanh Chương, Nghệ An. Sau khi tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội, vào dạy học ở Trường Quốc học Huế. Bị bắt và bị kết án tù treo vì tham gia Đảng Tân Việt. Mãn hạn tù, ông ra Hà Nội tham gia lập Trường tư thục Thăng Long, vừa dạy học, vừa viết báo, là một trong những người sáng lập phong trào truyền bá chữ quốc ngữ. Thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936 -1939), ông tích cực hoạt động trên các báo chí công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ nhiều chức vụ chính quyền: Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến tỉnh Thanh Hoá, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam. Là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá V.
ĐẶNG VĂN NGỮ (1910 – 1967), sinh tại Huế, là bác sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu ký sinh trùng học.
Trước Cách mạng Tháng Tám, khi đang học ở Đại học Y khoa Hà Nội, ông được cử sang Nhật nghiên cứu ở Viện Vi trùng – Ký sinh trùng tại Tôkyô, và đã tìm ra được thứ nấm pênixilin.
Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1949, theo tiếng gọi của Tổ quốc và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông về nước tham gia kháng chiến.
Giữa núi rừng Việt Bắc (Chiêm Hoá, Tuyên Quang), trong điều kiện hết sức khó khăn, ông đã nghiên cứu và sản xuất thành công thuốc kháng sinh pênixilin chế từ giống nấm ông đem từ Nhật về, phục vụ kịp thời cho thương bệnh binh trên các chiến trường, nhất là trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Từ năm 1965, nhận rõ nhu cầu to lớn về vắcxin phòng chống bệnh sốt rét của chiến trường miền Nam, ông dẫn đầu một đội công tác đi phục vụ chiến trường. Dưới bom đạn đất lửa Vĩnh Linh, đội công tác của ông đã tìm ra loại vắcxin mới phục vụ cho các chiến trường Khu V, Tây Nguyên và các mặt trận khác.
Ngày 1-4-1967, ông bị bom Mỹ sát hại tại chiến trường Khu V.
Giáo sư, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng liệt sĩ.
ĐIMITƠRỐP, Ghêoócghi (1882 – 1949), nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lãnh tụ của Đảng Cộng sản và Nhà nước Bungari. Là đảng viên Đảng Xã hội Dân chủ Bungari năm 1902, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1909. Năm 1923, tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của công nhân và nông dân Bungari. Sau khi khởi nghĩa thất bại, phải rời Tổ quốc, tiếp tục hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Từ năm 1935 đến năm 1943, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Từ năm 1942, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc đoàn kết tất cả các lực lượng chống phát xít ở Bungari. Sau khi Bungari được giải phóng, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản và là người lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Bungari.
ĐỖ ĐÌNH THIỆN (1903 – 1972), điền chủ yêu nước, chủ đồn điền Chi Nê (Hoà Bình). Sinh ở xã Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. Theo học ở Pháp từ 1927 – 1931, bị Pháp bắt và trục xuất về nước vì hoạt động cách mạng. Ông là thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người đi Pháp năm 1946.
ĐỜGÔN, Sáclơ (1890 – 1970), tư lệnh sư đoàn. Năm 1940, sau khi Pêtanh ký hoà ước với Đức, ông đứng đầu Chính phủ kháng chiến Pháp chống phát xít Đức đóng ở Angiêri rồi Chính phủ lâm thời Pháp ở Pari (1944 – 1946). Tự rút lui khỏi chính trường năm 1946. Sau sự kiện Angiêri, trở lại chính trường, làm Tổng thống Pháp (1959 – 1965).
G
GĂNGĐI, Môhanđát Karamsan (1869 – 1948), luật sư, triết gia, nhà văn, nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ.
Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Anh, giành độc lập dân tộc, Găngđi chủ trương không dùng bạo lực và không coi bạo lực là phương thức đấu tranh chính trị.
Những năm 1924 – 1934, 1940 – 1941, ông là Chủ tịch Đảng Quốc đại (Đảng Quốc dân đại hội) của Ấn Độ, có vai trò quan trọng trong việc biến Đảng này thành một tổ chức quần chúng chống đế quốc. Học thuyết “phi bạo lực bất hợp tác” của Găngđi trở thành tư tưởng chủ đạo của Đảng Quốc đại trong cuộc đấu tranh cho nền độc lập Ấn Độ. Tuy nhiên, năm 1946, ông cũng tuyên bố là không nhất thiết chỉ dùng phương pháp đấu tranh “phi bạo lực”.
Găngđi có ảnh hưởng và uy tín lớn ở Ấn Độ, được nhân dân Ấn Độ suy tôn là Mahátma nghĩa là “Tâm hồn vĩ đại”. Năm 1948, ông bị bọn phản động ám sát.
H
HÀM NGHI (1871 – 1944), tức Nguyễn Ưng Lịch, vua thứ 8 nhà Nguyễn, người đứng đầu phe chủ chiến chống thực dân Pháp trong triều đình Huế. Khi kinh đô Huế thất thủ (7-1885), Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết ra phía Bắc tổ chức kháng chiến. Bị thực dân Pháp lùng bắt, phải lánh ở vùng rừng núi tỉnh Quảng Bình, xuống Chiếu Cần vương kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân chống Pháp. Tháng 11-1888, bị thực dân Pháp bắt, sau đó đày sang Angiê (thủ phủ của Angiêri ở Bắc Phi).
HOÀNG ĐẠO THUÝ (1900 – 1994), nhà giáo dục, nhà văn hoá, nhà Hà Nội học, quê ở Thanh Trì, Hà Nội. Tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội năm 1920. Tổng uỷ viên Hướng đạo Đông Dương (1930 – 1945), đại biểu dự Đại hội quốc dân Tân Trào 8-1945, Giám đốc Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khoá I (1946), khoá III (1947), Cục trưởng Cục Quân huấn (1-1948), Tổng thư ký Ban Thi đua Trung ương (8-1948), Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc (6-1949), được phong quân hàm Đại tá năm 1958, là đại biểu Quốc hội khoá I, II.
HOÀNG HỮU NAM (tức Phan Bôi) (1911 – 1947), quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Ông học ở Hà Nội và tham gia cách mạng. Năm 1929, vào Sài Gòn rồi tham gia Đảng Cộng sản. Năm 1930 – 1936 bị Pháp bắt tù khổ sai ở Côn Đảo. Năm 1939, lại bị bắt đày ở Bắc Mê rồi đưa sang Mađagátxca. Năm 1943 về Việt Bắc. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông là Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Ông mất vì tai nạn ở Tuyên Quang.
HOÀNG MINH GIÁM (1904 – 1995), quê ở Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Dạy học ở Phnôm Pênh (Campuchia), Sài Gòn rồi trở ra Hà Nội vào những năm 30 thế kỷ XX, dạy học ở Trường tư thục Thăng Long, là giáo viên, Phó Hiệu trưởng rồi Hiệu trưởng.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng: Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1947), Bộ trưởng Bộ Văn hoá (1955 – 1976), Phó Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam.
Là nhân chứng trong nhiều cuộc gặp gỡ lịch sử giữa đại diện của Việt Nam và Pháp những năm 1945-1946.
HOÀNG QUỐC VIỆT (1905 – 1992), tên thật là Hạ Bá Cang, quê ở Đáp Cầu, Võ Giàng, Bắc Ninh. Tham gia cách mạng từ năm 1925 và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1928. Năm 1930, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hội nghị hợp nhất cử ra. Năm 1937, là Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ. Từ tháng 5-1941, là Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1945, là Uỷ viên Thường vụ Trung ương. Từ năm 1951 đến năm 1957 là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và là Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1960, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1976, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1977 được bầu lại là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1983, là Chủ tịch danh dự của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
HOÀNG SÂM (1915 – 1969), Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, tên thật là Trần Văn Kỳ, quê ở huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Tham gia cách mạng từ năm 1927, năm 1942 là Tỉnh uỷ viên tỉnh Bắc Cạn. Năm 1944 khi Đội tuyên truyền giải phóng quân thành lập, được cử làm trung đội trưởng và sau đó là đại đội trưởng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là Uỷ viên Quân uỷ hội và được giao phụ trách Quân khu II. Năm 1948 là Chỉ huy trưởng Quân khu III. Năm 1955 làm Phó Chủ tịch Uỷ ban quân chính Hải Phòng. Từ năm 1955 đến khi hy sinh, là tư lệnh nhiều quân khu. Trước khi hy sinh (1969), là Bí thư Quân uỷ và Tư lệnh Quân khu III.
HOÀNG VĂN THÁI (1915 – 1986), tên thật là Hoàng Văn Xiêm, quê ở Thái Bình. Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tham gia cách mạng từ hồi còn trẻ, vào Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1938. Năm 1941 có thời gian là chỉ huy trưởng Đội cứu quốc quân Bắc Sơn. Năm 1945 phụ trách Trường Quân chính kháng Nhật.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đã lần lượt giữ các chức vụ: Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại đoàn trưởng Đại đoàn Độc lập, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Uỷ viên Thường vụ Đảng ủy quân sự Trung ương, Phó Bí thư quân uỷ Miền, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Từ Đại hội III, IV, V liên tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội nhiều khoá.
HỒ TÙNG MẬU (1896 – 1951), tên thật là Hồ Bá Cự, quê ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tham gia hoạt động cách mạng từ lúc còn trẻ và đã nhiều năm hoạt động ở Thái Lan và Trung Quốc. Năm 1923 cùng Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái lập ra nhóm Tâm Tâm xã.
Là một trong những người đầu tiên tham gia tổ chức tiền thân của Đảng và đã tham dự các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng ở Quảng Châu, do Nguyễn Ái Quốc tổ chức.
Hồ Tùng Mậu còn là người tích cực liên hệ với Hội quốc tế Cứu tế đỏ và vận động luật sư Lôdơbi đấu tranh về mặt pháp lý đòi chính quyền Anh ở Hồng Kông phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc khi Người bị chúng bắt giam trái phép tại Hồng Kông (1931). Bị trục xuất khỏi tô giới Anh, bị thực dân Pháp bắt tháng 6-1931, đưa về nước, kết án tử hình, sau giảm xuống chung thân. Sau Cách mạng Tháng Tám, đã được Đảng và Nhà nước giao giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến Liên khu IV (1946), Tổng thanh tra Chính phủ (1947). Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Hồ Tùng Mậu đã hy sinh ngày 23-7-1951 trên đường đi công tác tại Thanh Hoá. Được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
HUỲNH THÚC KHÁNG (1876 – 1947), quê ở Thạnh Bình, tổng Tiên Phước Thượng (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam. Đỗ Giải nguyên năm 1900 và Hoàng giáp năm 1904. Ông cùng các ông Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp tham gia phong trào Duy Tân nên bị Pháp bắt và đày đi Côn Đảo 13 năm (1908 – 1921). Năm 1926, được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, nhưng do bất đồng ý kiến với Khâm sứ Pháp nên ông từ chức và sáng lập báo Tiếng dân ở Huế (1927 – 1943). Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông tham gia Chính phủ Liên hiệp kháng chiến với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Pháp (1946), ông được trao quyền Chủ tịch nước. Ông là một sáng lập viên và là Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt). Năm 1947, ông lâm bệnh mất tại Quảng Ngãi khi đang làm Đại diện Chính phủ ở miền Trung.
K
KHƠRÚTSỐP, Nikita Xécgâyêvích (1894 – 1971), sinh ở Calinốpca thuộc tỉnh Cuốcxơ, công nhân mỏ vùng Đônbát. Năm 1918, gia nhập Đảng Cộng sản và tham gia Hồng quân chiến đấu ở mặt trận phía Nam. Sau nội chiến, đi học văn hoá và làm công tác đảng ở vùng Đônbát và Kiép.
Từ năm 1931, là Bí thư Đảng khu Bauman, khu Crátxnaia Prétnia ở thành phố Mátxcơva.
Từ năm 1932 đến năm 1934, là Bí thư thứ hai rồi Bí thư thứ nhất Thành uỷ Mátxcơva. Năm 1934, được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1938, là Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ucraina, Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị. Năm 1939, là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai được phong Trung tướng, là Uỷ viên Hội đồng quân sự khu Kiép và mặt trận Tây Nam, mặt trận Xtalingrát, Tổng chỉ huy lực lượng du kích ở Ucraina.
Năm 1947, làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ucraina, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ucraina, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1949, được bầu lại làm Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, Bí thư thứ nhất Thành uỷ Mátxcơva. Sau Đại hội lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô, là Uỷ viên Chủ tịch Đoàn và Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô.
Tháng 9-1953, được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.
Từ tháng 2-1958 đến cuối năm 1964 là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, Uỷ viên Chủ tịch Đoàn Xôviết tối cao Liên Xô.
Trong chuyến sang thăm Liên Xô lần đầu tiên (đầu năm 1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cuộc tiếp xúc với Khơrútsốp.
L
LÊ BÌNH (1924 – 1945), liệt sĩ cách mạng. Người huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đầu năm 1945, gia nhập Mặt trận Việt Minh và sau đó được đưa vào Sài Gòn hoạt động. Cách mạng Tháng Tám thành công, Lê Bình được giao phụ trách lực lượng an ninh quận Tân Bình rồi tỉnh Cần Thơ. Ông đã hy sinh khi chỉ huy Đội tự vệ Cảm tử trong trận đánh nổi tiếng hạ đồn Cái Răng (Châu Thành, Cần Thơ) ngày 12-11-1945. Trường Huấn luyện dân quân Trung ương trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp được mang tên Lê Bình.
LÊ ĐÌNH THÁM (1897 – 1969), quê Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau khi học hết bậc thành chung ở Huế, ông ra Hà Nội học và tốt nghiệp Trường Y, rồi lại về làm việc tại bệnh viện thành phố Huế. Là một trong những người thành lập Hội Phật giáo ở Huế.
Năm 1948, ông được cử giữ chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ. Năm 1949, được điều động lên Việt Bắc, lần lượt giữ các chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam; Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam.
LÊ ĐỨC THỌ (1911 – 1990), tên thật là Phan Đình Khải, quê ở xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay là xã Nam Vân, thành phố Nam Định), nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam.
Ông hoạt động cách mạng từ rất sớm. Năm 1926, khi còn đi học ở thành phố Nam Định, ông đã tham gia bãi khoá và dự lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh. Năm 1929, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kỳ hoạt động bí mật, hai lần bị bắt và bị cầm tù ở Nam Định, Hà Nội, Côn Đảo, Sơn La, Hoà Bình. Sau khi ra tù, là Uỷ viên Trung ương Đảng trực tiếp phụ trách Xứ uỷ Bắc Kỳ (10-1944), Uỷ viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng (8-1945).
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông phụ trách công tác tổ chức của Đảng. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông thay mặt Trung ương Đảng tham gia Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ vào Nam Bộ công tác (1948), làm Phó Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ (1949).
Hiệp nghị Giơnevơ 1954 được ký kết, ông làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương (1955); được bầu vào Ban Bí thư và Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng (1960); Uỷ viên Quân uỷ Trung ương (1967); Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1968). Tháng 5 – 1968, ông được giao nhiệm vụ phụ trách công tác đấu tranh ngoại giao, là cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Pari về Việt Nam, trực tiếp đàm phán với đại diện Chính phủ Hoa Kỳ để giải quyết việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Là một trong những người trực tiếp chỉ đạo, có những đóng góp to lớn vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975).
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), ông được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng, Lê Đức Thọ đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Quốc hội và Chính phủ nước ta cũng như chính phủ một số nước đã tặng ông nhiều huân chương cao quý.
LÊ HỮU TỪ, Giám mục địa phận Phát Diệm (Ninh Bình). Sau Cách mạng Tháng Tám, được cử vào Ban Cố vấn Chính phủ. Tháng 9-1948, trước âm mưu quân Pháp nhảy dù xuống Bùi Chu – Phát Diệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Việt Bắc đã gửi điện thăm hỏi và thư cho Giám mục nhân Phái đoàn Chính phủ về công tác tại vùng này với mong muốn Giám mục với tư cách Cố vấn Chính phủ, góp phần hạn chế âm mưu của giặc Pháp. Tuy nhiên, tháng 9-1949, Pháp vẫn nhảy dù xuống Phát Diệm và đổ bộ lên Bùi Chu, chiếm đóng trung tâm công giáo lớn ở Bắc Bộ. Năm 1954, Giám mục Lê Hữu Từ di tản vào Nam cùng nhiều giáo dân.
LÊNIN, Vlađimia Ilích (1870 – 1924), lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới, người sáng lập Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người, sáng lập Quốc tế Cộng sản. Là học trò trung thành và xuất sắc nhất của C. Mác và Ph. Ăngghen, Lênin đã đấu tranh kiên quyết để bảo vệ tinh thần cách mạng của chủ nghĩa Mác, chống lại mọi sự xuyên tạc của bọn cơ hội chủ nghĩa, phát triển thiên tài cả ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác (triết học mácxít, kinh tế chính trị học mácxít, chủ nghĩa xã hội khoa học), giải quyết đúng đắn về lý luận và thực tiễn các vấn đề đặt ra cho cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.
LÊ THƯỚC (1890 – 1975), quê ở huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ), Hà Tĩnh. Thuở nhỏ theo Hán học, từng đỗ Giải nguyên. Sau theo Tây học, tốt nghiệp thành chung tại Quốc học Huế, rồi Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Sau đó đi dạy học. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được giao giữ nhiều chức vụ như: Chủ tịch Uỷ ban tản cư, di cư tỉnh Thanh Hoá; Chủ tịch Uỷ ban tăng gia sản xuất tỉnh Thanh Hoá; Uỷ viên Mặt trận Liên Việt toàn quốc… Hoà bình lập lại (1954), ông làm việc ở Bộ Giáo dục, rồi Bộ Văn hoá, là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu văn học, sử học.
LÊ VĂN HIẾN (1904 – 1997), quê ở xã Phước Ninh, thành phố Đà Nẵng, xuất thân trong một gia đình lao động.
Học xong trung học, năm 1922 trúng tuyển vào làm nhân viên bưu điện Đà Nẵng. Năm 1927, ông cùng một số đồng chí thành lập Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1929 bị bắt, sau được tha, phải đổi vào làm việc ở Nha Trang (Khánh Hoà). Tại đây, ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1930, lại bị bắt, chịu án 5 năm tù khổ sai, giam ở ngục Kon Tum.
Năm 1935, mãn hạn tù ông về Đà Nẵng, được phân công làm công tác tài chính của Đảng. Tháng 5-1940 bị bắt lần nữa. Tháng 5-1945, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa ở Đà Nẵng.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông được giao nhiều trọng trách: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Đà Nẵng rồi Bộ trưởng Bộ Lao động (1945), Bộ trưởng Bộ Tài chính (1946 – 1959), Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao (1948), Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (1958).
Từ năm 1962, ông được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Vương quốc Lào trong suốt 15 năm liên tục.
LƠCLÉC, Philíp Mariơ đờ (1902 – 1947), Đại tướng Pháp, tham gia phong trào kháng chiến Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1944, cùng với quân Đồng minh, Lơcléc đổ bộ lên Noócmăngđi và chỉ huy Sư đoàn cơ giới 2 giải phóng Pari. Năm 1945, là Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương (8-1945 – 6-1946), nhân danh nước Pháp ký văn bản đầu hàng của Nhật. Năm 1946, chỉ huy quân Pháp ra Bắc Bộ thay thế quân Tưởng Giới Thạch (sau Hiệp ước 6-3-1946) và mất năm 1947 vì tai nạn máy bay. Năm 1952, được truy phong Thống chế.
LƯU THIẾU KỲ (1898-1969), nhà hoạt động chính trị Trung Quốc. Là một trong những đảng viên cộng sản Trung Quốc đầu tiên học tại Mátxcơva (1921-1922). Từ năm 1932, là Chủ tịch Liên đoàn Lao động toàn Trung Quốc và Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1936, là Bí thư Đảng bộ Hoa Bắc; Chính uỷ Tân tứ quân năm 1941 – 1942. Năm 1949, được bầu làm Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc; năm 1959, được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Bị xử trí sai trong Cách mạng văn hoá. Hội nghị lần thứ 11 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1980, quyết định khôi phục tên tuổi Lưu Thiếu Kỳ.
M
MÁC, Các (1818 – 1883), lãnh tụ vĩ đại và người thầy của giai cấp công nhân quốc tế, người sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học.
C. Mác không chỉ là nhà lý luận thiên tài mà còn là nhà cách mạng vĩ đại. Năm 1847, ông gia nhập Liên minh những người cộng sản. Năm 1864, là người sáng lập và là linh hồn của Quốc tế thứ I. Năm 1848, C. Mác cùng với Ph. Ăngghen hoàn thành tác phẩmTuyên ngôn của Đảng Cộng sản – Cương lĩnh có tầm quan trọng đặc biệt đầu tiên của giai cấp vô sản. Sau đó, C. Mác hoàn thành bộTư bản (Tập I, xuất bản năm 1867; tập II, III xuất bản sau khi C. Mác qua đời với sự cộng tác của Ph. Ăngghen vào các năm 1885 và 1894). Cùng với hàng loạt tác phẩm khác của mình, bộ Tư bản của C. Mác đã chứa đựng những nguyên lý quan trọng của chủ nghĩa cộng sản khoa học, trong đó có học thuyết về giá trị thặng dư, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử… Từ sự phân tích sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, C. Mác đã chỉ rõ sự phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại là đi tới chủ nghĩa cộng sản.
MAO TRẠCH ĐÔNG (1893 – 1976), nhà hoạt động chính trị nổi tiếng Trung Quốc, quê ở huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam.
Năm 1921, tham gia Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó phụ trách Bí thư Khu uỷ Hồ Nam. Năm 1923, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, làm Bí thư Trung ương Cục phụ trách công tác tổ chức. Năm 1930, làm Tổng Chính uỷ Hồng quân Trung Quốc. Tháng 11-1931, là Chủ tịch Chính phủ Dân chủ Công nông Trung Hoa. Sau đó, tham gia lãnh đạo cuộc Vạn lý trường chinh (10-1934). Tại hội nghị Tuân Nghĩa, được bầu vào Thường vụ Bộ Chính trị (1-1935), là Chủ tịch Uỷ ban Quân sự Trung ương (12-1936), Chủ tịch Bộ Chính trị và Chủ tịch Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2-1943). Năm 1949 – 1950, là Chủ tịch Chính phủ nhân dân Trung ương, Chủ tịch Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc. Năm 1954 được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều lần gặp gỡ, thăm viếng, hội đàm với Chủ tịch Mao Trạch Đông.
MUTÊ, Mariuýt (1902 – 1969), đảng viên Đảng Xã hội Pháp. Năm 1946 là Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại (Bộ Thuộc địa Pháp). Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp (từ tháng 6 đến tháng 9 – 1946), Mutê đã có nhiều cuộc tiếp xúc, là người ký Tạm ước 14-9-1946 với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
MUÝT, Pôn (1902 – 1967), học ở Hà Nội, thành viên Trường Viễn Đông Bác Cổ từ năm 1926 đến đầu những năm 40. Về Pháp, tham gia phong trào kháng chiến Pháp chống phát xít Đức. Năm 1945, là phái viên của Đờ Gôn đến Việt Nam. Từ năm 1945 đến năm 1947 là Cố vấn chính trị của Tướng P.Lơcléc và nhận nhiệm vụ bên cạnh Đô đốc Đácgiăngliơ và Cao uỷ Pháp Bôlaéc ở Đông Dương. P. Muýt là đặc phái viên của Cao uỷ Pháp Bôlaéc trong cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Nguyên tháng 5-1947.
N
NÊRU, Giaoaharơlan (1889 – 1964), nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ. Gia nhập Đảng Quốc đại (1912), là Tổng thư ký (1929) rồi trở thành Chủ tịch Đảng. Năm 1946, ông tham gia thành lập Chính phủ lâm thời Ấn Độ, giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Từ năm 1947, Ấn Độ tuyên bố độc lập, ông giữ chức Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Ông là người có nhiều đóng góp vào sự nghiệp hoà bình thế giới, là một trong những người đề xướng Năm nguyên tắc chung sống hoà bình, và là một trong những người sáng lập Phong trào không liên kết, là người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tác giả của nhiều tác phẩm nghiên cứu về phong trào dân tộc.
NGUYỄN BÌNH (1906 – 1951), tên thật là Nguyễn Phương Thảo, quê ở Hưng Yên, Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1926, vì tham gia truy điệu Phan Chu Trinh nên bị đuổi học, sau đó sang Trung Quốc.
Từ năm 1929 đến năm 1930, tham gia Việt Nam Quốc dân đảng. Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, bị bắt giam ở Hoả Lò, rồi bị đày ra Côn Đảo. Ở Côn Đảo, do tiếp xúc với các đảng viên cộng sản nên đã rời bỏ Quốc dân đảng. Năm 1936, được trả lại tự do, tiếp tục bí mật hoạt động chống Pháp, tham gia lập chiến khu Đông Triều do ông làm Tư lệnh.
Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi, Nguyễn Bình được Tổng bộ Việt Minh và Chính phủ Việt Nam cử vào Nam Bộ công tác, giữ chức Uỷ viên Ban Quân sự Nam Bộ và Tư lệnh.
Năm 1951, trên đường ra Việt Bắc, Nguyễn Bình bị phục kích và đã hy sinh.
NGUYỄN CHÍ THANH (1914 – 1967), quê ở Niêm Phổ, Quảng Điền, Thừa Thiên (nay thuộc Thừa Thiên -Huế), gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (1937), Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên (1938), hai lần bị bắt, lần thứ hai (1931) bị đày lên Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Năm 1941, vượt ngục về Thừa Thiên xây dựng cơ sở. Tháng 8-1945, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được chỉ định làm Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ, là Bí thư Phân khu uỷ Bình Trị Thiên (1947), Bí thư Liên khu uỷ Liên khu IV (1948), Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Bí thư Tổng Quân uỷ (1950). Ông là Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá II, III, được phong hàm Đại tướng năm 1959, là Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1961, phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng; sau đó được điều trở lại quân đội, là Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1964).
NGUYỄN DUY TRINH (1910 – 1985), quê ở xã Phúc Thọ, Nghi Lộc, Nghệ An. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1927. Năm 1928, gia nhập Đảng Tân Việt cách mạng. Năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Đầu năm 1932, bị địch bắt kết án tù khổ sai và đày đi Côn Đảo (1935 – 1945).
Sau Cách mạng Tháng Tám, lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Uỷ viên Trung ương Đảng (1951), Bí thư Trung ương Đảng (1955), Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (1956), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1965 – 1980). Là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VII.
NGUYỄN KHANG (1919 – 1976), quê ở thôn Nguyên Kinh, xã Minh Hưng, Kiến Xương, Thái Bình. Tham gia cách mạng từ rất sớm. Năm 1939, là Uỷ viên Thường vụ Thành uỷ Hà Nội. Năm 1941 bị bắt, kết án khổ sai và đày đi Sơn La. Năm 1944, vượt ngục trở về tham gia Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ.
Tháng 8-1945, được phân công thay mặt Xứ uỷ Bắc Kỳ chỉ đạo khởi nghĩa ở một số tỉnh và trực tiếp tổ chức chỉ đạo cuộc biểu tình giành chính quyền ở Hà Nội ngày 19-8. Trong kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng: Bí thư Liên khu Việt Bắc, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu I.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội lần thứ III (1960), trúng cử Uỷ viên chính thức.
Từ năm 1957 đến năm 1960, là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại các nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Cộng hoà nhân dân Mông Cổ.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, về giữ chức Bộ trưởng Phủ Thủ tướng cho tới năm 1976.
NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (1904 – 1979), tức Sao Đỏ, quê ở xã Thanh Tùng, Thanh Miện, Hải Dương. Khi lớn lên, làm công nhân tàu biển. Năm 1925, gặp Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) và bắt đầu hoạt động cách mạng, được tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cử về nước hoạt động. Năm 1928, từ Hải Phòng, được tổ chức phái đi công tác tại Hồng Kông, Quảng Châu, Thượng Hải. Ông gia nhập nhóm cộng sản đầu tiên của người Việt Nam ở Trung Quốc.
Năm 1931, bị mật thám Pháp bắt đưa về nước và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Năm 1932, vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1933, lại bị thực dân Pháp bắt, bị kết án tù chung thân và đày đi Sơn La. Năm 1943, lại vượt ngục và trở về hoạt động cách mạng. Năm 1944, được Đảng chỉ định làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và binh vận. Năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Đại hội quốc dân Tân Trào, được bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám, liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ Đại hội III đến Đại hội IV, là Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Ông đã lần lượt giữ các chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Liên Xô, Tổng thanh tra của Chính phủ. Tại Quốc hội khoá III, kỳ họp thứ năm, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI đã bầu ông làm Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
NGUYỄN SINH KHIÊM (Nguyễn Tất Đạt) (1888 -1950), quê ở Nam Đàn, Nghệ An, anh ruột Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông tham gia hoạt động chống Pháp trong tổ chức của Đội Quyên, Đội Phấn và bị Pháp bắt giam năm 1914, lĩnh án tù khổ sai 3 năm, sau tăng lên 9 năm. Năm 1920, thực dân Pháp chuyển ông về giam lỏng ở Huế. Ở đây, ông vẫn tiếp tục hoạt động yêu nước. Năm 1940, ông về quê, chính quyền thực dân lại bắt giam ông đến năm 1941 mới được tha. Cuối năm 1946, ông từ Nghệ An ra Hà Nội thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh.
NGUYỄN SƠN (1908 – 1956), tên thật là Vũ Nguyên Bác. Các tên khác là Lý Đức Lan, Hồng Thuỷ, Lam Giang… Quê ở làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội.
Thuở nhỏ học ở Hà Nội. Năm 1926, sang Trung Quốc tham gia lớp huấn luyện ở Quảng Châu do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Sau đó được cử vào học Trường Quân sự Hoàng Phố. Khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, ông tham gia chiến đấu tại Khu căn cứ Đông Giang của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tham gia cuộc Vạn lý trường chinh, trải qua nhiều công tác huấn luyện chính trị, quân sự, tuyên truyền, báo chí, văn nghệ trong Bát Lộ quân, Quân giải phóng Trung Quốc, là Uỷ viên Chính phủ công nông Xôviết Trung Quốc.
Năm 1945 về Việt Nam, được giao nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Quốc phòng (1-1947), rồi Tư lệnh kiêm Chính uỷ Chiến khu 5, Chiến khu 4. Tháng 1-1948, được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1951 trở lại Trung Quốc công tác ở Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Năm 1955 được Chính phủ Trung Quốc phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1956 mất tại Hà Nội.
NGUYỄN VĂN TỐ (1889 – 1947), quê ở Hà Đông (Hà Tây). Thuở nhỏ theo Hán học, sau chuyển sang Tây học, đỗ bằng Thành chung, làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội.
Trước năm 1945, làm Hội trưởng Hội truyền bá quốc ngữ. Tháng 8-1945, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ lâm thời, là đại biểu Quốc hội khoá I, Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông được cử làm Phó Chủ tịch Uỷ ban tản cư di cư, rồi cùng Chính phủ rút lên Việt Bắc tiếp tục tham gia kháng chiến. Mùa đông năm 1947, quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, ông bị bắt và bị giặc sát hại.
NGUYỄN XIỂN (1907 – 1997), giáo sư, kỹ sư khí tượng, nhà hoạt động chính trị, quê ở Nam Đàn, Nghệ An.
Năm 1928, sau khi đỗ đầu tú tài toán học ở Hà Nội, ông được cấp học bổng sang Pháp du học, tốt nghiệp về nước dạy học, sau đó được tuyển vào ngạch kỹ sư khí tượng Đông Dương (1937).
Cách mạng Tháng Tám thành công, ông là Chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Bộ kiêm Giám đốc Nha Khí tượng Thuỷ văn đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, được cử tham gia xây dựng và trực tiếp giảng dạy ở Trường đại học khoa học cơ bản và Sư phạm cao cấp. Hoà bình lập lại, ông là Giám đốc Nha Khí tượng, rồi Bộ trưởng Bộ Cứu tế, Chủ tịch Uỷ ban Vật lý Địa cầu Việt Nam, Chủ tịch Hội phổ biến Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Chủ nhiệm báo Khoa học thường thức.
Ông là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VIII, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội từ khoá II đến khoá VI và Phó Chủ tịch Quốc hội khoá VII. Ông còn là Phó Tổng thư ký (1946) và Tổng thư ký (1956-1988) Đảng Xã hội Việt Nam, Uỷ viên Ban Liên Việt toàn quốc (1947), Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ông đã được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý của Việt Nam và nước ngoài. Năm 1996, ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh.
O
ÔRIÔN, Vanhxăng (1884 – 1966), đảng viên Đảng Xã hội Pháp, nhà hoạt động chính trị, Bộ trưởng trong Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp (1936 – 1938). Năm 1943, tham gia phong trào “Nước Pháp chiến đấu” ở Luân Đôn (Anh). Từ tháng 1-1947 đến tháng 1-1954, là Tổng thống nước Pháp. Tháng 1-1947, ra sắc luật loại trừ các bộ trưởng cộng sản khỏi Chính phủ, ủng hộ nước Pháp gia nhập khối NATO. Tháng 12-1958, ra khỏi Đảng Xã hội Pháp.
P
PHAN ANH (1912 – 1990), quê ở xã Tùng Ảnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông là Chủ tịch Tổng hội sinh viên, tốt nghiệp Khoa Luật, Đại học Đông Dương, luật sư và giáo sư Trường tư thục Thăng Long (Hà Nội), thành viên tích cực của cuộc vận động truyền bá quốc ngữ và phong trào thanh niên.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, là Chủ tịch Uỷ ban kiến thiết quốc gia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ kháng chiến, Tổng thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đi dự Hội nghị Phôngtennơblô (Pháp). Trong kháng chiến chống Pháp, từng là Bộ trưởng Kinh tế, Bộ trưởng Công thương, Bộ trưởng Thương nghiệp, Bộ trưởng Ngoại thương. Ông được cử làm Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa I và khoá II, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV. Là đại biểu Quốc hội từ khoá II đến khoá VIII. Luật sư Phan Anh còn là một trong những người sáng lập Hội Luật gia Việt Nam, Uỷ viên Ban Thường vụ Hội Luật gia quốc tế, Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Hoà bình thế giới.
PHAN KẾ TOẠI (1889 – 1973), quê ở Ba Vì, Hà Tây. Học xong trường Hậu bổ năm 1914, đi làm quan ở nhiều nơi. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, triều đình Huế cử làm Khâm sai Bắc Kỳ. Tháng 8-1945, trước khí thế cách mạng sục sôi, ông từ chức Khâm sai và theo cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, được cử làm Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Sau khi miền Bắc giải phóng, ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ rồi Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
PHẠM HÙNG (1912 – 1988), tên thật là Phạm Văn Thiện, quê ở Long Hồ, Châu Thành, Trà Vinh.
Năm 1928 – 1929 là thành viên của tổ chức “Nam Kỳ học sinh Liên hiệp Hội” và “Thanh niên Cộng sản Đoàn”. Năm 1930, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Nam 1931, bị bắt, chịu án tử hình, sau giảm xuống tù chung thân đày ra Côn Đảo. Sau Cách mạng Tháng Tám, tham gia Xứ uỷ Nam Bộ, rồi Bí thư Xứ uỷ lâm thời Nam Bộ.
Năm 1951 là Uỷ viên Trung ương Đảng, tham gia Trung ương Cục miền Nam. Năm 1952 là Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Phân Liên khu miền Đông Nam Bộ.
Năm 1954, là Trưởng phái đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Quốc tế tại Sài Gòn. Từ năm 1956 là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam. Ông đã từng giữ các chức vụ: Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Phó Thủ tướng (1958), Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1980), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1987).
PHẠM NGỌC THẠCH (1909 – 1968), quê ở Quảng Nam, con nhà giáo yêu nước Phạm Ngọc Thọ.
Trước Cách mạng Tháng Tám, vừa làm nghề bác sĩ, vừa tham gia hoạt động cách mạng, một trong những sáng lập viên của tổ chức Thanh niên tiền phong Nam Bộ.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được giữ nhiều chức vụ quan trọng: Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ lâm thời, Thứ trưởng Phủ Chủ tịch (1949), Uỷ viên thường vụ, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn (1950 -1953), Bộ trưởng Bộ Y tế kiêm Viện trưởng Viện chống lao Trung ương (1958), Chủ tịch Uỷ ban điều tra tội ác của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Ông còn là người có nhiều hoạt động trong lĩnh vực y học quốc tế.
Ông được Chính phủ phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, là đại biểu Quốc hội khoá II và III.
Ngày 7-11-1968, ông đã hy sinh ở chiến trường miền Nam trong khi làm nhiệm vụ.
PHẠM VĂN BẠCH (1910 – 1987), quê ở tỉnh Trà Vinh. Đỗ cử nhân luật tại Trường đại học Liông (Pháp). Năm 1936, về nước dạy học ở Cần Thơ và tham gia phong trào yêu nước ở đây.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông giữ các chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
PHẠM VĂN ĐỒNG (1906 – 2000), quê ở xã Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi. Tham gia phong trào học sinh sinh viên để tang chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Năm 1926, dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu. Năm 1927, về hoạt động ở Nam Kỳ và được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, bị bắt và bị kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo. Năm 1936, được trả lại tự do, ra hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940 – 1941, hoạt động tại miền Nam Trung Quốc, sau đó trở về nước tham gia tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao – Bắc – Lạng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được cử vào Chính phủ lâm thời làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, được bầu vào Quốc hội liên tục từ khóa I đến khoá VII.
Từ năm 1947, được cử giữ nhiều trọng trách: Đại diện Chính phủ tại Nam Trung Bộ, Phó Thủ tướng Chính phủ (1949), rồi Thủ tướng Chính phủ (1955), sau đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến năm 1987. Ông là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham gia các Hội nghị Phôngtennơblô (1946), Hội nghị Giơnevơ (1954), Hội nghị Băng Đung (1955) và nhiều Hội nghị quốc tế khác.
Ông là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng (1947), Uỷ viên chính thức (1949). Từ năm 1951 đến năm 1986, ông liên tục được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Từ năm 1987 là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
PHIGHE, Lêô, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, Tổng Thư ký Đoàn Thanh niên Cộng hoà Pháp, Phó Chủ tịch Đoàn Thanh niên dân chủ quốc tế, nghị sĩ Quốc hội Pháp. Năm 1950, L.Phighe sang Việt Nam, thăm vùng giải phóng, trại tù binh Pháp và được tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tháng 8-1950, bị bắt vì những hoạt động tuyên truyền chống “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” của Pháp ở Đông Dương. Sau đó, được trả tự do. Miền Bắc được giải phóng, ông đã sang thăm lại Việt Nam.
R
RAMAĐIÊ, Pôn (1888 – 1961), nhà hoạt động của Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Chính phủ Pháp năm 1947, nhiều lần làm Bộ trưởng trong các Chính phủ Pháp. Tháng 5 – 1947, P. Ramađiê đã đưa các bộ trưởng cộng sản ra khỏi Chính phủ của mình.
T
TẠ QUANG BỬU (1910 – 1986), quê ở Nam Đàn, Nghệ An, thuở nhỏ học ở Quảng Nam, Huế, được cấp học bổng du học ở Pháp.
Sau khi tốt nghiệp Trường Điện cao cấp Pari (Pháp), Trường Đại học Oxford (Anh), năm 1940 trở về dạy học ở Huế. Là Uỷ viên trưởng Hướng đạo sinh Trung Kỳ, đóng góp nhiều công sức vào việc giáo dục lực lượng thanh niên yêu nước. Tháng 4-1945, tham gia thành lập Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến ở Huế – chuẩn bị cán bộ quân sự cho cách mạng.
Sau cách mạng, ông được giao nhiều chức vụ quan trọng: Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thành viên của Phái đoàn Việt Nam tại các Hội nghị Phôngtennơblô (1946) và Hội nghị Giơnevơ (1954), Hiệu trưởng Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp… Ông là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VI, Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Xô.
Giáo sư Tạ Quang Bửu còn là tác giả của nhiều công trình khoa học tự nhiên.
THÀNH THÁI (1879 – 1954), tức Nguyễn Bửu Lân, vua thứ 10 nhà Nguyễn năm 1889 – 1907. Thành Thái là người yêu nước và có tinh thần dân tộc. Năm 1907, Thành Thái bị thực dân Pháp đày sang đảo Rêuyniông (châu Phi). Năm 1947, được đưa về miền Nam nhưng phải sống tại Sài Gòn; mất ngày 24-3-1954.
TÔN ĐỨC THẮNG (1888 – 1980), quê ở xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc tỉnh An Giang). Năm 1910, ông làm thợ trong xưởng Ba Son của Hải quân Pháp tại Sài Gòn. Năm 1912, ông tổ chức cuộc bãi công của công nhân nhà máy, bị lùng bắt, phải trốn sang Pháp, làm thợ máy trong Hải quân Pháp. Năm 1919, ông tham gia cuộc binh biến của công nhân và thuỷ thủ Pháp tại Biển Đen nhằm chống lại cuộc chiến tranh can thiệp phản cách mạng của bọn đế quốc vào nước Cộng hoà Xôviết Nga. Năm 1920, ông trở về nước, xây dựng công hội bí mật tại Sài Gòn – Chợ Lớn và lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son tháng 12-1925 thắng lợi. Năm 1926, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, được cử vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ của tổ chức cách mạng này. Cuối năm 1929, bị thực dân Pháp bắt trong vụ án Đường Bácbiê, kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo.
Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, được chính quyền cách mạng đón về, ông tham gia ngay vào cuộc chiến đấu của đồng bào Nam Bộ chống thực dân Pháp. Từ năm 1955, ông là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ năm 1960, ông là Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tạ thế, ông được cử làm Chủ tịch nước và giữ chức vụ đó cho tới khi qua đời. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương cao quý khác.
TRẦN CANH (1903 – 1961), quê ở huyện Tương Hương, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Năm 1922 tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau khởi nghĩa Nam Xương (1927) đã lần lượt giữ các chức vụ: Sư đoàn trưởng, Hiệu trưởng Trường Hồng quân, Tư lệnh Binh đoàn,…
Sau năm 1949, được cử giữ chức Cố vấn quân sự bên cạnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Tư lệnh chí nguyện quân Trung Quốc chống Mỹ giúp Triều Tiên. Năm 1955, được phong quân hàm Đại tướng. Năm 1959, làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
TRẦN ĐẠI NGHĨA (1913 – 1997), tên thật là Phạm Quang Lễ, quê ở Chấn Hiệp, Tam Bình, Vĩnh Long, một trong số những trí thức yêu nước ở Pháp theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước năm 1946. Ông là kỹ sư quân giới đầu tiên của Việt Nam, Cục trưởng Cục Quân giới (1947), Cục trưởng Cục Pháo binh (1949). Năm 1948 được phong quân hàm Thiếu tướng.
Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đã nghiên cứu, thiết kế và tổ chức sản xuất thành công nhiều loại vũ khí như mìn, đạn, lựu đạn, bom phóng, súng bazôka, súng SKZ, có công lớn trong việc xây dựng ngành quân giới Việt Nam. Năm 1952, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.
Hoà bình lập lại (1954), ông là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường đại học Bách khoa Hà Nội (1956), Chủ nhiệm Uỷ ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước (1964), Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học – Kỹ thuật Nhà nước (1965 – 1972), Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (1966), Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam (1975 – 1983), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (1973 – 1974) và Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng (1974 – 1977), Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (1983 – 1988).
Ông còn là đại biểu Quốc hội các khoá II và III. Được Quốc hội và Chính phủ tặng nhiều huân chương cao quý. Năm 1996, ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh.
TRẦN ĐĂNG NINH (1909 – 1955), quê ở Quảng Nguyên, Ứng Hoà, Hà Đông (nay là Hà Tây). Là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1936. Năm 1940 tham gia lãnh đạo phong trào đấu tranh vũ trang ở Bắc Sơn. Năm 1941, là Uỷ viên Trung ương Đảng. Năm 1945, là Uỷ viên Uỷ ban khởi nghĩa. Năm 1947, phụ trách công tác kiểm tra Đảng và sau đó làm Phó Tổng thanh tra Chính phủ. Từ năm 1950, là Tổng cục trưởng Tổng cục Cung cấp Bộ Quốc phòng. Năm 1951, được bầu lại làm Uỷ viên Trung ương Đảng.
TRẦN HUY LIỆU (1901 – 1969), nhà báo, nhà sử học và nhà hoạt động chính trị. Quê ở Vân Cát, Vụ Bản, Nam Định. Tham gia hoạt động yêu nước từ rất sớm, là một trong những yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng ở Nam Kỳ, sau gia nhập Đảng Cộng sản. Tháng 8-1945, dự Đại hội quốc dân Tân Trào và được cử làm Phó Chủ tịch Uỷ ban dân tộc giải phóng. Sau Cách mạng Tháng Tám, lần lượt giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước: Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, Chủ tịch Hội Văn hoá cứu quốc, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Viện trưởng Viện Sử học, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học xã hội…
TRẦN HỮU TƯỚC (1913 – 1983), sinh tại Hà Nội. Du học ở Pháp, năm 1937 tốt nghiệp Trường đại học Y khoa Pari, tham gia phong trào Việt kiều yêu nước. Năm 1946, khi phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp đàm phán ở Hội nghị Phôngtennơblô, theo tiếng gọi của Tổ quốc và lời khuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông về nước tham gia kháng chiến.
Tại chiến khu Việt Bắc, ông tham gia đào tạo các thế hệ bác sĩ đầu tiên, nhận trọng trách xây dựng bệnh viện Tai – Mũi – Họng.
Từ năm 1954, được cử làm Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, kiêm Chủ nhiệm bộ môn Tai – Mũi – Họng của Trường đại học Y khoa Hà Nội. Từ năm 1969 đến khi mất, là Viện trưởng Viện Tai – Mũi – Họng. Là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu khoa học.
Ông còn là đại biểu Quốc hội các khoá III và IV, Chủ tịch Hội Tai – Mũi – Họng Việt Nam, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Năm 1966, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.
TRƯỜNG CHINH (1907 – 1988), tên thật là Đặng Xuân Khu, nhà hoạt động cách mạng, nhà thơ (bút danh Sóng Hồng), nhà báo, quê ở Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925, gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1927. Từ năm 1936 đến năm 1939, là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương trong Uỷ ban Mặt trận dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, là quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương và năm 1951 được bầu lại là Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1958, là Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Tại Đại hội III (1960), Đại hội IV (1976), Đại hội V (1982) được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ năm 1960 đến năm 1981, là Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1981 được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tháng 7-1986 đến trước Đại hội VI của Đảng, lần thứ ba ông được bầu vào cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
TÚ MỠ (1900 – 1976), tên thật là Hồ Trọng Hiếu, sinh tại Hà Nội trong một gia đình làm nghề thủ công. Lúc nhỏ học chữ Hán, sau học quốc ngữ. Đậu bằng thành chung; làm thư ký cho Sở Tài chính Pháp ở Hà Nội.
Từ năm 1926, ông xuất hiện trên văn đàn như một cây bút trào phúng. Năm 1932, tham gia nhóm Tự lực Văn đoàn, cộng tác với báo Phong hoá, Ngày nay, nổi danh với tập thơ châm biếm Dòng nước ngược.
Từ năm 1947, ông chuyển hẳn sang công tác tuyên truyền đánh địch bằng thơ ca.
Hoà bình lập lại ở miền Bắc, ông tập trung vào đề tài chống Mỹ – nguỵ, đấu tranh thống nhất nước nhà. Năm 1957, ông giữ chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
V
VALUY, Gioócgiơ (1899 – 1970), Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương (6-1946 – 2-1948), Chỉ huy quân đội Khối Bắc Đại Tây Dương ở Trung Âu (1956 – 1960).
VÕ LIÊM SƠN (1888 – 1949), nhân sĩ yêu nước, quê ở Thiên Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. Cử nhân Hán học. Năm 1912, ông làm Tri huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) một thời gian rồi từ quan về dạy học. Năm 1927, tham gia Đảng Tân Việt. Trong cao trào 1930 – 1931, ông và người con cả bị bắt giam. Sau khi ra tù, ông vào Phan Rang hoạt động. Tháng 3-1945, từ chối tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim.
Sau Cách mạng Tháng Tám, làm Chủ tịch Hội Mùa đông binh sĩ, Uỷ viên Ban vận động Mùa đông binh sĩ. Năm 1948, là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Liên khu IV. Trong thời gian dự Hội nghị Văn hoá toàn quốc tại Việt Bắc, ông được gặp và xướng hoạ thơ với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
VÕ NGUYÊN GIÁP, sinh ngày 25-8-1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình. Sớm tham gia phong trào yêu nước và gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng. Thời kỳ 1936 – 1939, hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940, sang Trung Quốc, được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau đó cùng Người trở về tham gia xây dựng căn cứ địa ở Cao – Bắc – Lạng. Võ Nguyên Giáp là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Hội nghị toàn quốc của Đảng năm 1945 ở Tân Trào, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được cử giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị trù bị Đà Lạt. Năm 1948, được phong quân hàm Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy quân đội qua nhiều chiến dịch từ Việt Bắc Thu Đông 1947 đến Biên giới 1950, Điện Biên Phủ 1954, và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975.
Từ Đại hội II (1951) đến Đại hội IV (1976), ông liên tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Đại hội V (1982) được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII. Từ năm 1955, được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ, sau này là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng liên tục cho đến năm 1991. Hiện là Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
VŨ ĐÌNH TỤNG (1895 – 1973), quê ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Là một nhà trí thức Công giáo yêu nước, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), ông đã tích cực tham gia nhiều công tác cách mạng và được cử làm Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ. Trong kháng chiến chống Pháp và sau ngày miền Bắc giải phóng, là Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh. Năm 1958, là Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Ông còn là Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban liên lạc toàn quốc những người Công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu hoà bình.
X
XANHTƠNY, Giăng (1907 – 1978), chính khách Pháp, nhân viên Nhà băng Đông Dương từ năm 1929 – 1931. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phục vụ trong phong trào kháng chiến Pháp. Từ cuối 1945 – 1947, là đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội, nhiều lần tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuối năm 1954, Xanhtơny là Tổng đại diện Cộng hoà Pháp tại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1969, thay mặt Chính phủ Pháp dự Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội.
XTALIN, Iôxíp Víchxariônôvích (1879 – 1953), một trong những nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô (cũ). Năm 1898, gia nhập Đảng Công nhân dân chủ – xã hội Nga rồi trở thành đảng viên bônsêvích sau Đại hội lần thứ II của Đảng. Thời kỳ chuẩn bị tiến hành cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Xtalin là Uỷ viên trong Trung tâm quân sự cách mạng. Thời kỳ nước ngoài vũ trang can thiệp và nội chiến, Xtalin là Uỷ viên Hội đồng Quân sự cách mạng. Năm 1922, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (b) Nga. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1941 – 1945) là Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng và là Uỷ viên nhân dân Bộ Quốc phòng Liên Xô, Tổng Tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô. Ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm lý luận.
XUPHANUVÔNG (1909 – 1995), nhà hoạt động của Đảng và Nhà nước Lào, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch Hội đồng tối cao, Chủ tịch nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Chủ tịch Mặt trận xây dựng đất nước Lào.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Xuphanuvông đã giữ nhiều trọng trách: Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào, Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hắcxạt). Là đại biểu các lực lượng cách mạng Lào tham gia các Chính phủ liên hiệp Lào lần thứ nhất (1957 – 1958), lần thứ hai (1962 – 1964) và lần thứ ba (1974 – 1975). Là người có nhiều cống hiến to lớn trong việc xây dựng và củng cố tinh thần đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị Lào – Việt.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)
Bạn phải đăng nhập để bình luận.