Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Khâu Lấu, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang).
Cùng ngày, bài viết của Người nhan đề Thế nào là liêm, ký bút danh Lê Quyết Thắng, đăng trên báo Cứu quốc, số 1257.
Sau khi phân tích những nội dung mới của chữ Liêm và nêu cụ thể của những hành vi bất liêm cùng tác hại của nó, bài báo có đoạn:
“Để thực hiện chữ Liêm, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên.
Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư” 10).
Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân.
“Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm cũng phải hoá ra Liêm.
Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm.
Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”.
– Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ Hà Tuyên: Bác Hồ với Hà Tuyên, 1986, tr. 89.
– Báo Cứu quốc, số 1257, ngày 1-6-1949.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr.640-642.
Tháng 6, ngày 2
Nhân ngày mở đầu cuộc vận động “Rèn cán chỉnh quân” (rèn luyện cán bộ chấn chỉnh quân đội), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc toàn thể quân đội, dân quân và công nhân quốc phòng hăng hái xung phong thi đua, thành công vẻ vang trong cuộc vận động này.
Người nhắc nhở: “Sự thành công phần lớn là do cán bộ, vậy cán bộ phải cố gắng hơn mọi người để làm kiểu mẫu cho mọi người”.
Cùng ngày, bài viết của Người nhan đề Thế nào là Chính, ký bút danh Lê Quyết Thắng, đăng trên báo Cứu quốc, số 1258.
Bài báo có đoạn:
“Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.
“Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả, mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn”.
Người nêu những điều cần thiết để mỗi người thực hiện được chữ Chính.
– Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr. 107.
– Báo Cứu quốc, số 1258, ngày 2-6-1949.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr.643-645.
Tháng 6, ngày 4
Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp của Trung ương, lần lượt thảo luận các đề án về chính trị, dân sự, quân vận, kinh tế.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 66.
Tháng 6, ngày 5
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục điều khiển phiên họp.
Ngày kỷ niệm sinh nhật của Người (19-5), đồng bào các nơi gửi tới rất nhiều tặng phẩm. Người đem đến hội nghị một số. Giờ nghỉ, quà ít người nhiều, Người cho “bốc thăm”, có người trúng bộ quần áo lụa, có người trúng gói trà, người trúng chai mật ong, v.v.. Không khí vui vẻ mà đầm ấm.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 66.
Tháng 6, ngày 6
Hội nghị Trung ương vẫn tiếp tục dưới sự điều khiển của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 66.
Tháng 6, ngày 7
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 46/SL, chuẩn y cho ông Lê Đức Mai thôi giữ chức Uỷ viên quân sự trong Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ và chỉ định người thay thế chức vụ trên.
– Sắc lệnh số 47/SL, hợp nhất hai xã Phong Mai và Phong Khánh (huyện Phong Điền); hai thôn Phú Ân và Phú Lễ (huyện Quảng Điền) thành một xã lấy tên là xã Phong Chương thuộc huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên.
– Sắc lệnh số 48/SL, tạm thời tách huyện Lộc Bình ra khỏi tỉnh Hải Ninh và sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 6, trước ngày 11
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của báo Cứu quốc.
Về tình hình Trung Quốc, Người nêu rõ: “Tưởng Thống chế thất bại vì không được lòng dân, Giải phóng quân thắng lợi vì được toàn dân ủng hộ”.
Sau khi cho biết Giải phóng quân Trung Quốc đã đánh chiếm được những căn cứ trọng yếu ở Hoa Nam như Hàng Châu, Nam Xương”, v.v.. Người tiên đoán: “Cứ cái đà ấy thì cuộc nội chiến Trung Quốc có thể kết liễu trong năm nay”.
– Tài liệu lưu trữ của Phòng Lưu trữ Bộ Ngoại giao.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 627-628.
Tháng 6, từ ngày 14 đến ngày 16
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ để nhận định về tình hình thế giới, trong nước, bàn một số vấn đề của các Bộ: Quốc phòng, Tài chính, Nội chính…
Tổng kết phiên họp, Người nhấn mạnh:
a- Mọi việc muốn thành công cần phải trông vào dân. Các kế hoạch chương trình cần phổ biến cho dân hiểu và vận động dân tham gia.
b- Cán bộ cần chú ý giúp cho nhân viên quán xuyến công việc, trông xa và trông rộng, nhìn rõ công việc chung.
c- Trong kế hoạch thi đua của các Bộ, cần phải chú ý việc tuyên truyền trong dân…
d- Các Bộ và các cơ quan phải luôn luôn giữ bí mật, quân sự hoá, chuẩn bị tinh thần và vật chất để sẵn sàng đối phó với mọi chuyển biến của thời cuộc.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 2, tr. 68.
Tháng 6, ngày 18
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 49/SL, ban hành Bộ luật thuế trực thu áp dụng trong cả nước kể từ ngày 1-1-1950.
– Sắc lệnh số 50/SL, về tổ chức của Bộ Quốc phòng. Sắc lệnh ghi rõ nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng, các cơ quan của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu và các Cục.
– Sắc lệnh số 51/SL, bổ nhiệm Đổng lý quân vụ Bộ Quốc phòng.
– Sắc lệnh số 52/SL, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Quốc phòng.
– Sắc lệnh số 53/SL, bổ nhiệm Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng kiêm Chánh Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh, thay ông Nguyễn Thương được cử giữ chức vụ khác.
– Sắc lệnh số 54/SL, cử ông Phan Phác, nguyên Cục trưởng Cục Quân huấn, làm Quyền Tổng tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu.
– Sắc lệnh số 55/SL, cử Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa giữ chức Giám đốc Nha Quân giới, Đại tá Vũ Văn Cẩn, giữ chức Giám đốc Nha Quân dược, Đại tá Trần Dụ Châu giữ chức Giám đốc Nha Quân nhu.
– Sắc lệnh số 56/SL, cử Đại tá Phan Tử Lăng, Cục trưởng Cục Quân chính kiêm chức Cục trưởng Cục Quân nhu, Đại tá Lê Khắc giữ chức Cục trưởng Cục Công binh, ông Hoàng Đạo Thuý giữ chức Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc.
– Sắc lệnh số 57/SL, cử vào Bộ Chỉ huy Đại đoàn chủ lực 11) các ông:
+ Vương Thừa Vũ giữ chức Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ.
+ Lê Vinh Quốc giữ chức Phó chính uỷ.
+ Cao Văn Khánh giữ chức Đại đoàn phó.
– Sắc lệnh số 58/SL, bãi bỏ Sắc lệnh số 241/SL ngày 12-10-1948, về việc thành lập Ban Trung ương bao vây kinh tế địch.
– Sắc lệnh số 59/SL, bãi bỏ thể lệ hiện hành về sản xuất diêm tiêu.
– Sắc lệnh số 60/SL, bổ nhiệm Chánh Văn phòng Bộ Kinh tế.
– Sắc lệnh số 61/SL, bổ nhiệm Phó Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.
– Sắc lệnh số 62/SL, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.
– Sắc lệnh số 63/SL, quy định: trong năm 1949 vẫn giữ nguyên các biểu thuế điền thổ và các bách phân phụ thu vào thuế điền thổ và thuế môn bài đã áp dụng trong năm 1948.
– Sắc lệnh số 64/SL, sáp nhập Nha Địa chính cùng với các cơ quan phụ thuộc vào Bộ Tài chính.
– Sắc lệnh số 65, bổ nhiệm Phó Đổng lý sự vụ Bộ Tài chính.
– Sắc lệnh số 66/SL, bổ nhiệm Chánh Văn phòng Bộ Tài chính.
– Sắc lệnh số 67/SL, định nguyên tắc kiểm soát những nguyên liệu cần thiết cho việc chế tạo quân giới; những hình thức xử phạt đối với những vụ vi phạm.
– Sắc lệnh số 68/SL, ấn định kế hoạch thực hành các công tác thuỷ nông và thể lệ bảo vệ các công trình thuỷ nông.
– Sắc lệnh số 69/SL, cho phép bị can nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa.
– Sắc lệnh số 70/SL, tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho ông Phó Cục trưởng Cục Quân giới Nguyễn Ngọc Xuân.
– Sắc lệnh số 71/SL, bãi bỏ thuế tổng nội sản xuất.
– Sắc lệnh số 72/SL, về việc thành lập Hội đồng Tu luật (gồm 25 người).
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 6, ngày 20
Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bút danh Lê Quyết Thắng, viết xong cuốn sách Cần kiệm liêm chính 12).
Cuốn sách gồm bốn chương: Cần, Kiệm, Liêm, Chính mà nội dung đã được Người viết trong bốn bài báo: Thế nào là Cần, Thế nào là Kiệm, Thế nào là Liêm, Thế nào là Chính, lần lượt đăng trên báo Cứu quốc các ngày 30-5-1949, 31-5-1949, 1-6-1949 và 2-6-1949.
Cuối sách, tác giả viết:
“Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt,
Con cháu mình sung sướng,
Gia đình mình no ấm,
Làng xóm mình thịnh vượng,
Nòi giống mình vẻ vang,
Nước nhà mình mạnh giàu.
Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.
Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.
Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều Thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính“.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 629-645.
Tháng 6, ngày 27
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 73/SL và Sắc lệnh số 74/SL, ân giảm cho hai phạm nhân đã bị toà án binh Liên khu IX kết án tử hình xuống 20 năm khổ sai.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 6
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Franc-Tireur về quan hệ giữa Việt Nam với Pháp và Trung Quốc, về kết quả những cải cách xã hội ở Việt Nam, về bản ký kết giữa Chính phủ Pháp và Bảo Đại.
Trả lời câu hỏi: “Cụ có sợ Trung Hoa và Liên Xô sẽ thống trị Việt Nam không?“, Người nói: “Chúng tôi không sợ ai cả. Không nước nào có thể thống trị được chúng tôi”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 646-647.
Tháng 6
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Hội nghị thi đua ái quốc.
Sau khi biểu dương “phong trào khá cao và rộng, bộ đội, đoàn thể, cơ quan và nhân dân hăng hái, nhiều đơn vị đã có kết quả khá”, Người nhận xét: “Tổ chức và lãnh đạo còn kém, không phát triển được hết sáng kiến và năng lực của quần chúng. Cơ quan lãnh đạo các cấp, các ngành, các đoàn thể, các địa phương thiếu sự phối hợp với nhau, thiếu sự tổng kết kinh nghiệm và trao đổi kinh nghiệm”.
Người mong Hội nghị bàn cách sửa chữa những khuyết điểm ấy và mỗi cán bộ, mỗi người dân, mỗi ngành đều ra sức thiết thực thi đua với tinh thần chuẩn bị tổng phản công.
– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 648.
Tháng 6
Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng nhà thơ Tú Mỡ một cuốn sổ tay bọc da gáy vàng, chiến lợi phẩm của anh em bộ đội kính biếu Người.
Trang đầu cuốn sổ, Người viết:
“Tặng Bút Chiến Đấu 13)
Tháng 6-1949
HỒ CHÍ MINH”.
– Báo Cứu quốc, ngày 12-9-1949.
Tháng 6
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng Uỷ ban kháng chiến hành chính liên tỉnh Sơn – Lai 14) tấm ảnh chân dung Người.
Người ghi trên tấm ảnh:
“Gửi Uỷ ban kháng chiến hành chính Sơn – Lai.
Thi đua thực hiện
Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Chí công vô tư”.
Người còn gửi thư tới toàn thể đồng bào, các cơ quan, đoàn thể và cán bộ liên tỉnh Sơn – Lai.
Bức thư có đoạn: “Sơn – Lai tuy ở xa Chính phủ, nhưng lòng Chính phủ vẫn gần Sơn – Lai. Chính phủ biết rằng: Nhân dân Sơn – Lai đoàn kết và trung thành. Các cơ quan và đoàn thể gần gũi dân chúng. Các cán bộ cố gắng và tận tuỵ. Nam nữ dân quân du kích hăng hái diệt giặc lập công”.
Người nhắc nhở đồng bào Sơn – Lai “đã cố gắng, nay phải cố gắng thêm, thi đua ái quốc, tăng gia sản xuất, cố gắng học tập, ra sức đánh giặc, đẩy mạnh cầm cự chuẩn bị tổng phản công. Tất cả để chiến thắng”.
Cuối thư, Chủ tịch tái bút: “Tôi gửi lời riêng hỏi thăm các cụ phụ lão và hôn các cháu nhi đồng”.
– Tài liệu lưu tại Bảo tàng Sơn La.
Khoảng giữa năm
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Chuẩn bị thu đông cho nhân dân và bộ đội, nói về những công việc phải làm ngay để nhân dân và bộ đội đủ ăn,chuẩn bị đánh giặc trong mùa thu đông này.
– Bút tích bài viết, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 649-651.
——————
Chú thích – Từ tháng 1 đến tháng 6
1) Hội đồng Chính phủ họp phiên đầu năm ngày 25-1-1949 (B.T).
2) Đảng Xã hội Pháp tiến hành Đại hội lần thứ XVIII từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920 (B.T).
3) Trong dịp Tết Kỷ Sửu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận được 120.541 điện và thư chúc Tết, trong đó có 1.302 bức thư của đồng bào vùng địch tạm chiếm, 216 thư của những nhóm người Việt Nam đang trong hàng ngũ quân địch, 126 thư của ngoại kiều và 37 thư của các hàng binh, tù binh người Đức, Angiêri, Marốc…
Người cũng nhận được 52.122 quà Tết, trong đó có 3.010 thứ là của đồng bào vùng địch tạm chiếm.
4) Đây là thanh kiếm “Quyết thắng” do anh chị em công nhân xưởng Phan Bôi thuộc Liên đoàn lao động Liên khu I kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phong trào Thi đua ái quốc (B.T).
5) Được thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất: Liên hiệp công đoàn Nam Bộ.
– Được thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì: Linh mục Nguyễn Bá Luật – Phó Chủ tịch Liên đoàn Công giáo Nam Bộ; Cao Triều Phát – Cố vấn Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, Chủ tịch Cao Đài mười hai phái hợp nhất; Lý Chính Thắng – cán bộ Tổng Công đoàn Nam Bộ; Nguyễn Văn Tiếp – nguyên Chủ tịch Uỷ ban hành chính Mỹ Tho.
– Được thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba: Phạm Văn Chiêu – Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh Gia Định; Bửu Doa – công an xung phong tỉnh Khánh Hoà; Công Khắc Nhân – Phó kiểm soát Bưu điện Trung ương Hà Nội; Nguyễn Ngọc Thại – thư ký Bưu điện Thuận Hoá.
– Được thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất: Nhạc sĩ Văn Cao; Dương Minh Châu – Uỷ ban kháng chiến Tây Ninh; Lê Mua – liên lạc và trinh sát viên tỉnh Khánh Hoà; Đặng Đình Kỳ – công an viên thành phố Hà Nội; Trần Văn Tích – công an viên thành phố Hà Nội; Trần Kim Xuyến – nguyên Phó Giám đốc Nha Thông tin Việt Nam.
6) Tập san chuyên hướng dẫn bộ đội ta học văn hoá, do Cục Chính trị Bộ Tổng tư lệnh xuất bản mỗi tháng một kỳ tại Việt Bắc, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
7) Tên tắt của Ung Châu, Long Châu, Khâm Châu thuộc đất Quảng Tây (Trung Quốc) (B.T).
8) Vế 1, hai chữ “Giáp phải” nói lái đi thì thành “giải pháp”, có nghĩa là Đại tướng Võ Nguyên Giáp phải quét sạch giặc Pháp.
Vế 2 có nghĩa là Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến có tài kiếm ra nhiều tiền (B.T).
9) Tức ông Hoàng Đạo Thuý, lúc đó là Tổng thư ký Ban thi đua ái quốc Trung ương (B.T).
10) Dĩ công vi tư: lấy của công làm của riêng (B.T).
11) Tức Đại đoàn 308 – Đại đoàn Quân Tiên phong (B.T).
12) Cuốn sách do Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu I xuất bản năm 1949, Nhà xuất bản Sự thật xuất bản năm1950 (B.T).
13) Một bút danh của nhà thơ Tú Mỡ (B.T).
14) Sơn – Lai: Sơn La và Lai Châu (B.T).
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Bạn phải đăng nhập để bình luận.