Tháng 11, ngày 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 102/SL, cho phép phát hành tại Nam Bộ các tín phiếu loại một đồng, năm đồng, mười đồng, hai mươi đồng, năm mươi đồng, một trăm đồng, năm trăm đồng, có giá trị như giấy bạc Việt Nam. Tổng số giá trị tín phiếu phát hành không được quá hai mươi triệu đồng.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, ngày 9
Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ để nghe báo cáo về tình hình thế giới, tình hình nước Pháp, tình hình sau cuộc tấn công của giặc Pháp lên Việt Bắc và bàn về kế hoạch công tác quân sự, tài chính…
Theo đề nghị của Người, Chính phủ đã cử ông Phan Kế Toại giữ chức quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, ngày 10
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục dự họp Hội đồng Chính phủ.
Trong ngày, Người viết Thư gửi ông giám đốc và toàn thể nam nữ giáo viên bình dân học vụ Khu III, khen ngợi thành tích xoá nạn mù chữ trong toàn khu. Người mong “ông giám đốc, các giáo viên và các cơ quan đoàn thể cố gắng làm thế nào để chừng tháng 6 năm sau toàn thể nhân dân Khu III từ 8 tuổi trở lên đều biết chữ”.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.307-308.
Tháng 11, ngày 13
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng bào xã Duyên Trang, huyện Tiên Hưng, Thái Bình, khen ngợi về thành tích toàn dân trong xã từ 8 tuổi trở lên đều thoát nạn mù chữ. Người căn dặn: “Học hành là vô cùng. Học càng nhiều biết càng nhiều càng tốt,… đồng bào trong xã gắng học thêm thường thức như làm tính, lịch sử, địa dư, chính trị, vệ sinh. Đồng thời cố gắng tăng gia sản xuất ủng hộ kháng chiến”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 309.
Tháng 11, ngày 15
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký giấy uỷ nhiệm cho các ông Vũ Đình Hoè, Trần Đăng Khoa, Trần Huy Liệu đi kinh lý Khu I và Khu XII.
– Bản chụp giấy uỷ nhiệm, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, ngày 20
Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển đến ở và làm việc tại xã Phú Bình, huyện Định Hoá (Thái Nguyên).
– Tài liệu của Phòng Di tích, Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, ngày 25
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 265-SL/M, sáp nhập tỉnh Quảng Yên (gồm cả khu vực Hồng Gai) vào Chiến khu XII về mọi phương diện kháng chiến, hành chính và quân sự.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 11, ngày 29
Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển đến ở và làm việc tại Khuôn Đào, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
– Tài liệu của Phòng Di tích, Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ Hà Tuyên: Bác Hồ với Hà Tuyên, 1986, tr. 84.
Tháng 12, ngày 4
Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển đến ở và làm việc tại Khuổi Tẩu, xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
– Tài liệu của Phòng Di tích, Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 12, ngày 7
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 612/MDB, về việc khen thưởng các Chủ tịch và Uỷ viên kháng chiến kiêm hành chính cấp xã, nhân kỷ niệm một năm Ngày toàn quốc kháng chiến.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 12, ngày 8
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn của các nhà báo Việt Nam và nước ngoài.
Về cuộc gặp gỡ giữa Vĩnh Thuỵ và Cao uỷ Pháp Bôlaéc 9), trong tuyên bố của Người có đoạn: “Chính phủ và nhân dân ta rất mong cố vấn Vĩnh Thuỵ không có những hành động trái ngược với những lời cố vấn đã thề trước Tổ quốc và trước đồng bào, trái với nguyện vọng của dân tộc. Dù sao vận mệnh của dân tộc sẽ không vì một người, hoặc một nhóm người mà thay đổi”.
Cùng ngày, Người điện gửi Giám mục Lê Hữu Từ nhân dịp lễ Thiên Chúa giáng sinh. Người chúc Giám mục “mọi sự lành” để phụng sự Đức Chúa, để lãnh đạo đồng bào Công giáo tham gia kháng chiến và nhờ chuyển lời chúc phúc của Người tới toàn thể đồng bào Công giáo.
– Báo Sự thật, số 88, ngày 19-12-1947.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.310-312.
Tháng 12, ngày 12
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Gửi Chính phủ Cao Miên giải phóng 10) nhiệt liệt hoan nghênh việc thành lập Uỷ ban Giải phóng Việt – Miên – Lào nhằm mục đích theo đuổi đến cùng cuộc chiến đấu chung chống đế quốc và thực dân Pháp.
Bức thư có đoạn:
“Tôi tin chắc rằng các dân tộc ta, đã có sẵn một tinh thần đấu tranh cao, lại gắng đi tới một sự cộng tác chặt chẽ thì thắng lợi thế nào cũng về ta, và chúng ta nhất định sẽ giành được độc lập cho đất nước”.
– Bút tích bức thư. Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 12, ngày 19
Nhân kỷ niệm một năm Ngày toàn quốc kháng chiến9, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước.
Người kêu gọi các tầng lớp đồng bào, chiến sĩ cả nước hãy ra sức phấn đấu, đóng góp cho kháng chiến, và trịnh trọng tuyên bố:
“Nhân dân Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp, song nhân dân Việt Nam quyết không đầu hàng, quyết không chịu mất nước, quyết không chịu làm nô lệ một lần nữa.
Và Chính phủ Hồ Chí Minh thề quyết lãnh đạo nhân dân và quân đội chiến đấu đến cùng, để phá tan xiềng xích của bọn thực dân, để tranh lại quyền thống nhất và độc lập. Chính phủ Hồ Chí Minh quyết làm trọn cái nhiệm vụ vẻ vang mà quốc dân đã giao cho, và quyết không phụ lòng tin cậy mà đồng bào đã đặt vào Chính phủ”.
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết sáu bức thư: Thư gửi cán bộ Khu I; Thư gửi đồng bào và tướng sĩ Khu II; Thư gửi đồng bào và chiến sĩ Khu III; Thư gửi đồng bào và chiến sĩ Khu X; Thư gửi đồng bào, vệ quốc quân, dân quân du kích, cán bộ xung phong cảm tử Khu XI; Thư gửi đồng bào và tướng sĩ Khu XII và bài Kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quân Việt Nam10.
Trong các bức thư, ngoài nội dung biểu dương quân dân các vùng trong một năm kháng chiến vừa qua đã phát huy tinh thần khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, hăng hái chiến đấu, lập nhiều chiến công, Người đã thẳng thắn vạch rõ những khuyết điểm cụ thể của từng vùng, phân tích nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm cho “năm kháng chiến mới”.
Trong bài Kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quân Việt Nam, Người nêu lên sự trưởng thành của lực lượng vũ trang Việt Nam từ Giải phóng quân đến Vệ quốc quân, và căn dặn: “Vệ quốc quân, dân quân du kích phải luôn luôn phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức: trí, dũng, liêm, trung của Giải phóng quân”.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thông tư gửi các Bộ “Về việc cử các nhân viên làm việc đắc lực để khen thưởng”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.313-331.
– Bản chụp thông tư, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 12, khoảng ngày 19
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời sáu câu hỏi của các nhà báo về những kinh nghiệm trong một năm kháng chiến, về triển vọng cuộc kháng chiến năm tới, về cuộc tấn công mùa đông của địch…
Trả lời câu hỏi: “Theo Chủ tịch, kết quả cuộc hành quân mùa đông của địch sẽ thế nào?“, Người khẳng định:
“Cũng như các cuộc hành quân khác, kết quả địch sẽ thất bại, vì:
a) Địch chỉ hoạt động được mấy tháng. Sau mùa mưa thì chúng hết thiên thời.
b) Việt Bắc địa thế hiểm trở, quân địch không có địa lợi.
c) Địch càng lan rộng thì người càng thiếu, sức người càng mỏng, chúng dễ bị tiêu diệt, chúng càng đánh lan ra, càng giở thói tham ô tàn nhẫn, càng làm cho đồng bào ta, miền ngược cũng như miền xuôi, đoàn kết chặt chẽ chống lại chúng, thế là địch không có nhân hoà.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.327-328.
Tháng 12, ngày 23
Lời kêu gọi tướng sĩ Vệ quốc quân, dân quân du kích nhân cuộc vận động luyện bộ đội lập chiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Vệ quốc quân, số 16.
Người nêu rõ ý nghĩa của cuộc vận động luyện bộ đội, lập chiến công do Bộ Tổng chỉ huy quân đội phát động và kêu gọi cán bộ chiến sĩ phải ra sức thi đua diệt giặc lập công.
– Báo Vệ quốc quân, số 16, ngày 23-12-1947.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.332.
Tháng 12, ngày 24
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Công giáo nhân dịp lễ Nôen 1947.
Bức thư có đoạn: “Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do. Đức Chúa phù hộ chúng ta, chúng ta chắc sẽ thắng lợi.
Trong cuộc kháng chiến, nhiều đồng bào công giáo đã hăng hái hy sinh. Tôi đề nghị toàn thể đồng bào công giáo trong kỳ lễ Nôen này cầu nguyện cho linh hồn các chiến sĩ giáo và lương đã bỏ mình vì nước và cầu nguyện cho Tổ quốc ta được thắng lợi”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 333.
Cuối năm
Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển đến ở và làm việc tại bản Ca, Bình Trung, Chợ Đồn (Bắc Cạn).
– Tài liệu của Phòng Di tích, Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Cuối năm
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Việt Bắc anh dũng 11) (ký bút danh Tân Sinh).
Cuốn sách vạch rõ những thất bại của Pháp trong cuộc phiêu lưu quân sự lên Việt Bắc, khái quát những nguyên nhân quyết định thắng lợi và dự báo những âm mưu mới của địch.
Tác giả nhắc nhở mọi người chớ kiêu căng, chủ quan khinh địch, mà phải luôn luôn chuẩn bị, cẩn thận đề phòng, phải ra sức sửa chữa những khuyết điểm và phát huy các ưu điểm, làm trọn bổn phận công dân.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.339-368.
Cuối năm
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp giáo sư Hồ Đắc Di sau khi Trường đại học Y ở Chiêm Hoá (Tuyên Quang) bị quân Pháp phá hủy.
Người nói: Nước nhà đang kháng chiến, còn gặp nhiều khó khăn, các chú phải “tự lực cánh sinh”, bàn bạc với nhau, tự tìm cách giải quyết. Chính phủ cũng sẽ cố gắng giúp đỡ.
– Báo Sức khoẻ và đời sống, ngày 13-5-2000.
Trong năm
Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Phạm Ngọc Thạch làm phái viên Chính phủ đi gặp lãnh đạo Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ để vận động chính quyền các nước này giúp Việt Nam đặt cơ quan đại diện Chính phủ và tổ chức Phòng thông tin 12).
– Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Việt Nam (1945 – 1995), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 132.
Trong năm
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết gửi tặng ba cụ lão du kích Cao Bằng bốn câu thơ lục bát:
Tuổi cao chí khí càng cao,
Múa gươm giết giặc ào ào gió thu.
Sẵn sàng tiêu diệt quân thù,
Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.334.
Trong năm
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc và bài Cảnh khuya. Nguyên văn hai bài thơ như sau:
CẢNH RỪNG VIỆT BẮC
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày,
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay,
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.
CẢNH KHUYA
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.335, 336.
———————–
Chú thích
1) Hưởng ứng phong trào ủng hộ thương binh liệt sĩ, ông Lam Sơn, thay mặt một số đồng bào trong vùng tạm chiếm Khu VII đã gửi số tiền 10.000 đồng để mua một cái cúc của chiếc áo lụa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng cho Ngày thương binh liệt sĩ. Được biết Liên hiệp công đoàn Bắc Cạn đã mua chiếc áo đó và đã tặng lại cho ông Cao Triều Phát – đại biểu đồng bào Cao Đài Nam Bộ, nên Người đã gửi lá thư trên (B.T).
2) Khu VII gồm các tỉnh Bà Rịa, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn và Sài Gòn (cũ) (B.T).
3) Tiếng Pháp có nghĩa là “thân”, “thân ái” (B.T).
4) Trần Đại Nghĩa, Võ Quý Huân – những nhà trí thức ở Pháp đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước tham gia kháng chiến sau khi Người dự Hội nghị Phôngtennơblô (B.T).
5) Tiền lưu hành trong thời kỳ kháng chiến (B.T).
6) Sự nghiệp chung, công việc chung (B.T).
7) Chi bộ Đảng Xã hội Pháp ở Sài Gòn có gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức điện yêu cầu Người cho biết lập trường của Chính phủ Việt Nam sau khi thành lập Chính phủ mới.
8) Cuốn sách do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948 (B.T).
9) Ngày 6 và 7-12-1947, Vĩnh Thuỵ đã có cuộc gặp gỡ với Cao uỷ Pháp Bôlaéc ở Vịnh Hạ Long (B.T).
10) Chủ tịch nước Cao Miên (Campuchia) giải phóng, gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh bức thư báo tin Uỷ ban Giải phóng Việt – Miên – Lào đã được thành lập nhằm mục đích chiến đấu chống đế quốc và thực dân Pháp đang âm mưu đặt lại nền thống trị của chúng ở Đông Dương. Ông tin tưởng vào sự thắng lợi cuối cùng của nhân dân Campuchia và kêu gọi sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam. Trên đây là thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh (B.T).
11) Cuốn sách do Tổng bộ Việt Minh xuất bản lần đầu tiên năm 1948 (B.T).
12) Theo cuốn sách Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, với sự giúp đỡ của Chính phủ và các đoàn thể sở tại, có sự phối hợp tốt với các cơ quan đại diện, ta đã cử đại biểu đi tham gia 12 hội nghị quốc tế và khu vực, đáng chú ý là Hội nghị liên Á tháng 4-1947 tổ chức tại Niu Đêli (Ấn Độ), Hội nghị ESCAP (Hội đồng Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương) tháng 1-1949 tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan), Hội nghị Nhân dân thế giới đấu tranh cho hoà bình tổ chức tại Pari (Pháp) tháng 4-1949, Hội nghị Liên hiệp công đoàn thế giới tổ chức tại Milan (Italia) tháng 6-1949. Từ năm 1947 đến năm 1949, ta tổ chức được 12 phòng thông tin ở Pari, Luân Đôn, Niu Oóc, Praha, Niu Đêli, Rănggun, Băng Cốc, Xingapo, Hồng Kông, Tân Đảo. Với sự hỗ trợ của các tổ chức dân chủ, các hội ái hữu sở tại và Việt kiều, các phòng thông tin của ta đã cung cấp ra thế giới tin tức và hình ảnh cuộc kháng chiến của ta, đường lối chính sách của ta (B.T).
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)