Tháng 6, ngày 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 51/SL, tạm thời định giá một đồng bạc Việt Nam bằng hai mươi đồng tiền đồng 6). Mọi sự đổi chác, giao dịch… bằng tiền đồng sẽ tính theo tỷ lệ trên.
– Sắc lệnh số 52/SL, ấn định lại mức thuế nhập nội, thuế xuất ngoại các loại hàng hoá.
– Sắc lệnh số 53/SL, ấn định quy cách kiểu tem
trước bạ.
– Sắc lệnh số 54/SL, bãi bỏ Hội đồng quản trị Ngoại thương Cục ghi trong Điều 2 Sắc lệnh số 29/SL ngày 16-3-1947 và đặt Ngoại thương Cục dưới quyền điều khiển trực tiếp của Bộ Kinh tế. Sắc lệnh ghi rõ hệ thống tổ chức của Ngoại thương Cục, chức năng và quyền hạn của các tổ chức đó.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 6, ngày 2
Tại Tân Trào (Tuyên Quang), 1 giờ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp Hội đồng Chính phủ.
Nhắc lại một kỷ niệm trong chuyến đi họp Hội đồng Chính phủ lần này, ông Lê Văn Hiến đã ghi trong nhật ký:
“… Trời mưa, ai nấy đều bị ướt hết cả. Đường đi vất vả quá, cụ Bùi 7) phải đi võng. Chúng tôi kẻ đi bộ, người đi ngựa, nhưng mọi người đều vui vẻ. Khi đến địa điểm đã gặp Cụ 8) và Giáp 9) đến sẵn từ lâu rồi. Thì ra bản này là nơi trước đây, năm 1945, đã họp cuộc Hội nghị dân tộc và sau đó cử lâm thời Chính phủ… Cụ bắt tay từng người, rờ những bộ quần áo ướt sũng của chúng tôi, rồi lập tức cho đốt lửa để mọi người ngồi quây quần xung quanh sưởi và hong áo cho khô”.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 1, tr. 102-108.
Tháng 6, ngày 6
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58/SL, đặt ba loại huân chương: Sao Vàng, Hồ Chí Minh, Độc Lập, do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra sắc lệnh tặng (hoặc truy tặng) cho đoàn thể và những người có công với nước, với dân; hoặc các nhân vật người nước ngoài có công với nước Việt Nam.
Huân chương Sao Vàng chỉ có một hạng, “để tặng những người có công đức vĩ đại với dân tộc”.
Huân chương Hồ Chí Minh có ba hạng: hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba, “để tặng những người có tài, đức, có công với dân tộc”.
Huân chương Độc lập có ba hạng: hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba, “để tặng những người có công đặc biệt trong việc cứu quốc hoặc kiến quốc”.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 6, ngày 10
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Tướng Raun Xalăng (Raul Salan) vừa trở lại Đông Dương nhận chức Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp thay Tướng Valuy (Valluy). Đồng thời, nhờ Xalăng chuyển bức thư của Người viết gửi Lêông Bơlum.
Trong Thư gửi Tướng R. Xalăng có đoạn:
“Vì chúng tôi đã buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữu của nhau. Chúng ta đã từng là bạn. Giữa hai chúng ta hiện nay vẫn là bạn bè của nhau. Ngài muốn như vậy chứ?
Vì tình yêu thương con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc và phá huỷ nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước tới nay.
Tôi đảm bảo với ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế. Tôi hy vọng người của chúng tôi trong tay các ngài cũng được đối xử như vậy”.
Trong Thư gửi Chủ tịch Lêông Bơlum, sau khi nêu rõ “những nét thật đặc biệt” về nguyên nhân, về diễn biến và hậu quả của chiến tranh, Người viết:
“Vậy làm thế nào để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này, làm thế nào để lập lại hoà bình?
Tôi cho rằng, chỉ có một chính sách phù hợp là chính sách mà chính ngài đã đề ra trên báo Dân chúng (ngày 12-12-1946), một chính sách hữu nghị và tin tưởng lẫn nhau, dựa trên sự thống nhất và độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp.
Vì lợi ích và tương lai chung của hai dân tộc chúng ta, tôi hy vọng các ngài sẽ cố gắng làm cho chính sách khôn ngoan và hào hiệp đó được thực hiện”.
– Salan: Fin d’un empire, Edition Press de la Cité, Paris, 1971, tr. 76-77, 450-451.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 141-146.
Tháng 6, ngày 12
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Đại hội Đảng bộ Liên khu IV, căn dặn: “Hội thì phải nghị, nghị thì phải quyết, quyết thì phải hành” và nhấn mạnh: “Các đồng chí đều là cán bộ cao cấp tức là những người phụ trách vận mệnh an nguy của nước nhà và dân tộc. Vì vậy mỗi đồng chí phải gắng làm cho đúng năm chữ: Trí, Nhân, Dũng, Nghĩa, Liêm… Nếu thiếu một trong năm điều đó, tức là một khuyết điểm to và ảnh hưởng đến công tác.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 55/SL, cho phép ông Frey, kiều dân Áo, được nhập quốc tịch Việt Nam và lấy tên là Nguyễn Dân.
– Tài liệu lưu trữ của Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 6, ngày 16
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi các nhân viên cơ quan Chính phủ, khen ngợi mọi người đã cố gắng vượt qua thiếu thốn gian khổ, cùng nhau đoàn kết, đồng cam cộng khổ tham gia kháng chiến. Người chỉ rõ: cuộc trường kỳ kháng chiến chính là “một viên đá thử vàng đối với mỗi một quốc dân, đồng thời là một trường học để rèn luyện cho cán bộ”.
Lấy tư cách “như một người anh”, Người nêu một số kinh nghiệm bản thân, khuyên nhủ và căn dặn mọi người những việc làm thiết thực để giữ vững, nâng cao tinh thần và sức mạnh mỗi người góp phần làm cho cuộc kháng chiến cứu nước mau đi đến thắng lợi.
– Tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 147-149.
Tháng 6, ngày 17
Tại Tân Trào (Tuyên Quang), từ 14 giờ đến 18 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Đảng đoàn Chính phủ.
Từ 20 giờ đến 1 giờ sáng hôm sau (18-6), Người chủ toạ phiên họp Hội đồng Chính phủ, bàn hai vấn đề chính:
– Kỷ niệm sáu tháng kháng chiến.
– Nghe Bộ trưởng Bộ Quốc phòng báo cáo và thảo luận về tình hình quân sự trong sáu tháng qua.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 56/SL, thành lập Trường Ngoại ngữ, nhằm mục đích đào tạo cán bộ ngoại ngữ cho các ngành trong nước.
– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 1, tr. 113-114.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 6, ngày 19
Nhân kỷ niệm cuộc kháng chiến toàn quốc tròn sáu tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi gửi đồng bào và toàn thể các chiến sĩ vệ quốc quân, dân quân tự vệ.
Người nêu rõ những thất bại của địch, sự trưởng thành của ta qua sáu tháng chiến đấu và phân tích những nguyên nhân dẫn tới thắng lợi:Vì kháng chiến của ta là chính nghĩa; Vì đồng bào ta đại đoàn kết; Vì tướng sĩ ta dũng cảm; Vì chiến lược ta đúng; Vì ta nhiều bầu bạn. Người kêu gọi: “Chúng ta quyết hy sinh chịu khổ và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá tan cái xiềng xích nô lệ 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sắp đến”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 150-152.
Tháng 6, ngày 20
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới, nêu rõ ý nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và kêu gọi nhân dân Pháp, nhân dân châu Á, các nhân sĩ dân chủ trên thế giới hãy cùng hành động với nhân dân Việt Nam, hãy “lên tiếng ủng hộ hoà bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 153-154.
Tháng 6, ngày 22
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài về những câu hỏi liên quan đến tính chất của Chính phủ Việt Nam, thời hạn kết thúc chiến tranh, chương trình kiến thiết của Việt Nam sau chiến tranh…
Nói về chương trình kiến thiết bước đầu của Việt Nam sau chiến tranh, Người “rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”.
Đề cập tới vai trò của trí thức Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Người khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.155-156.
Tháng 6, ngày 30
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng tới Ban Chấp hành Đảng Dân chủ Việt Nam nhân kỷ niệm lần thứ 3 ngày thành lập Đảng Dân chủ4.
Người chỉ rõ: Đảng Dân chủ có nhiệm vụ rất quan trọng là “làm cho dân chủ thắng lợi hoàn toàn”. Người mong các đảng viên Dân chủ nêu cao tinh thần đoàn kết, ra sức thi đua bằng hành động cụ thể trong thực tế cứu nước và xây dựng đất nước, đồng thời từng đảng viên “phải là người kiểu mẫu trong sự hy sinh phấn đấu cho Tổ quốc, cho đồng bào”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 157.
Tháng 6
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào trung du và hạ du về việc chống lụt. Người nhấn mạnh: “Lụt cũng là một thứ giặc ghê gớm… Chúng ta cần phải ra sức ngăn giặc lụt cũng như chống giặc ngoại xâm” và kêu gọi mọi người phải coi việc canh đê phòng lụt là công việc thiết thân ai cũng phải tham gia.
“Lụt thì lút cả làng,
Muốn cho khỏi lụt thiếp chàng cùng lo“.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr.160-161.
Tháng 6
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo Việt Nam về những lời tuyên bố mới đây của Cao uỷ Bôlaéc (Bollaert).
Người công nhận ông ta đã có những ý kiến đúng đắn về hướng giải quyết cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng điều kiện họ đưa ra thì không thể nào chấp nhận được. Một lần nữa, Người nhắc lại thiện chí của Chính phủ ta trong việc giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 158-159.
Tháng 6
Hai bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Sự thật:
1. Bài Cán bộ tốt và cán bộ xoàng (ký bút danh A.G.), đăng trên số 77.
Người chỉ rõ: nơi nào có cán bộ tốt thì “công việc rất phát triển”, nơi nào cán bộ xoàng thì “công việc cứ luộm thuộm”. Bằng những ví dụ điển hình ở những địa phương có cán bộ “tốt” và cán bộ “xoàng”, Người kết luận: “Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng mỹ mãn”.
2. Bài Người tuyên truyền và cách tuyên truyền (ký bút danh A.G.) của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên số 79.
Người hướng dẫn cho các cán bộ tuyên truyền cách tuyên truyền để “dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm“. Muốn vậy, theo tác giả, người đi tuyên truyền phải hiểu rõ nội dung, phải biết cách nói, phải có lễ độ, phải chịu khó, chịu khổ đi sát với dân.
– Báo Sự thật, số 77 (từ ngày 1 đến ngày 15-6-1947); số 79 (từ ngày 26-6 đến ngày 9-7-1947).
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 139-140, 162-163.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)