Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 4 (Năm 1947 – Tháng 4)

Tháng 4, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 39/SL, huỷ bỏ tất cả các kiểu tem trước bạ và giấy tín chỉ đã lưu hành trước ngày 19-12-1946; ấn định cách thức thu thuế, tem trước bạ mới.

– Sắc lệnh số 40/SL, cho phép một kiều dân Trung Hoa được nhập quốc tịch Việt Nam.

Tối, Người rời Phú Thọ sang Tuyên Quang.

–  Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Vĩnh Phú: Vĩnh Phú những lần đón Bác, 1990, tr. 18.

Tháng 4, ngày 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nơi ở mới: làng Xảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Lúc đầu, Người ở tạm trong nhà dân, sau ra ở trong một chiếc lán mái lợp lá, vách che liếp do các đồng chí phục vụ làm.

Trong khu vực lán, Người tăng gia, trồng bí đỏ.

– Tài liệu của Ban Di tích, Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, từ ngày 3 đến ngày 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng, bàn việc cụ thể hoá đường lối kháng chiến, rút kinh nghiệm những tháng đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc.

– Tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Trung ương Đảng.

Tháng 4, ngày 4

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Vũ Đình Huỳnh thông báo lại một số ý kiến của Giám mục Lê Hữu Từ trong thư gửi cho Người.

Người căn dặn ông Huỳnh: “Nhiệm vụ của chú ở đó là để cùng với cụ Từ, dàn xếp việc xích mích giữa đồng bào lương giáo, để thực hiệnđoàn kết kháng chiến.

Vì vậy, chú cần phải khôn khéo và cẩn thận, từ lời nói cho đến việc làm”.

Và yêu cầu “Bất kỳ thế nào, chú phải lập tức đi gặp cụ Từ, và giải thích rõ ràng, làm cho hết sự hiểu lầm đó”.

Cùng ngày, Người ký Sắc lệnh số 41/SL, về việc thành lập Uỷ ban hành chính đặc biệt miền thượng du tỉnh Thanh Hoá để giúp Uỷ ban hành chính tỉnh giải quyết công việc của địa phương.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 119-120.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam nhắc phải làm gấp việc di chuyển các Bộ, và dặn: “Đường khó đi. Dù có xe hơi cũng không chắc đi được. Vậy, tốt nhất là dùng xe bò, xe ngựa”. “Phải giải thích cho các Bộ trưởng hiểu: chịu khó mấy hôm mà an toàn, hơn là cầu yên và chờ nước đến chân mới nhảy, và dặn họ giải thích với gia quyến họ”. “Phải cử người thạo việc đi theo để lúc gặp việc khó khăn, biết cách giải quyết và biết nâng đỡ tinh thần của đàn bà, trẻ con”.

Người còn viết thư gửi ông Lê Văn Hiến, yêu cầu khẩn trương di chuyển cơ quan và máy móc lên Việt Bắc để chủ động đề phòng quân Pháp tấn công.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 42/SL, quy định kể từ ngày 1-1-1947, bãi bỏ các ngân sách các cấp kỳ, tỉnh, thành phố, thị xã, khu tự trị và sáp nhập vào Quỹ toàn quốc. Riêng Quỹ đặc biệt Quốc phòng vẫn giữ như cũ.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 1, tr. 65.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 8

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam, nhắc nhở “một khuyết điểm chính trị rất to”, đó là “trên đường Tuyên – Thái 31), xe cộ (vừa xe ngựa, xe ôtô) rất bừa bãi, không camouflé 32) hoặc có cũng rất sơ sài. Như thế là dễ làm mồi cho phi cơ địch, dễ mất xe mất đồ đạc. Hai là địch dễ biết ta đi phương hướng nào”.

Người đề nghị ông Nam “phải ra lệnh cho công an, tự vệ, hễ thấy bất kỳ thứ xe gì, không cải trang thì giữ lại bắt cải trang cẩn thận, rồi mới cho đi”.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 9

17 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam báo tin quân địch chuẩn bị tấn công và chỉ thị “nhân viên và tài liệu Chính phủ phải dời ngay vào nơi an toàn. Lúc dời phải rất bí mật, chỉ một số người rất ít, rất cần thiết ở lại, nhưng cũng phải chuẩn bị sẵn sàng”.

Người đề nghị ông Nam báo ngay cho ông Lê Văn Hiến biết tin này.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 19

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp của Hội đồng Chính phủ bắt đầu từ 20 giờ 30. Cuộc họp kéo dài tới 2 giờ sáng hôm sau. Trọng tâm thảo luận là vấn đề ngoại giao.

Kết thúc phiên họp, Người yêu cầu tất cả các vị Bộ trưởng nhanh chóng thu xếp chuyển vào an toàn khu ngay, càng sớm càng tốt.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 43/SL, cấp cho Ngoại thương Cục 20 triệu đồng làm vốn hoạt động ban đầu.

– Sắc lệnh số 44/SL, về việc bổ nhiệm Giám đốc Nha tiếp tế.

– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 1, tr. 74-75.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 25

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 45/SL, thiết lập Toà án binh tối cao và quy định thành phần, thẩm quyền xét xử của toà án này.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 29

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào cả nước sau ngày Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng mất.

Người ca ngợi nhân cách, đức độ, lòng yêu nước thương dân của cụ Huỳnh và kêu gọi toàn thể đồng bào hãy bày tỏ lòng tiếc thương đối với cụ bằng cách “càng đoàn kết chặt chẽ, càng hăng hái kháng chiến”, bằng cách “theo gương dũng cảm, nối chí quật cường của cụ”, bằng cách “hoàn thành sự nghiệp cứu nước, cứu dân mà cụ đã ra sức đeo đuổi suốt đời”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 121-122.

Tháng 4, ngày 30

Hội đồng Chính phủ họp. Các thành viên ngồi trên mấy chiếc chiếu trải dài, giữa để mấy ngọn đèn dầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp.

Cuộc họp bắt đầu lúc 19 giờ và kết thúc hồi 3 giờ sáng hôm sau (1-5) để bàn các việc:

– Cử người thay cụ Huỳnh Thúc Kháng và ông Hoàng Hữu Nam (vừa mới mất).

– Vấn đề trao đổi đại diện ngoại giao theo đề nghị của Chính phủ Inđônêxia.

– Việc thả tù binh và trao trả cho phía Pháp các cha cố người nước ngoài.

– Nghe báo cáo của các Bộ Quốc phòng và Tài chính.

Mở đầu phiên họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị mọi người đứng dậy mặc niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng và ông Hoàng Hữu Nam. Người nói về thân thế và sự nghiệp cách mạng của hai vị. Sau đó, Chủ tịch báo cáo trước Hội đồng Chính phủ về tình hình chung trong nước và quốc tế.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46/SL, về việc bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Y tế và Chánh văn phòng Bộ Y tế.

– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 1, tr. 82.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 4

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ông Sáclơ Phen bức thư viết bằng tiếng Anh dưới đây:

“Ông Phen thân mến,

Tôi rất cảm ơn ông về tình bạn tích cực của ông. Cho tôi gửi lời chúc mừng tốt đẹp tới các bạn bè của chúng ta. Xin gửi tới ông những lời thăm hỏi nồng nhiệt của tôi và Hồ Chí Minh mãi mãi vẫn là bạn của ông.

4/7

Hồ”.

–          Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

—————————-

Chú thích (Tháng 1, 2, 3 và 4)

1) Mật danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó (B.T).

2) Lúc này là Thứ trưởng Bộ Canh nông (B.T).

13 Nay gọi là Mianma (B.T).

4) Chúc mừng năm mới (B.T).

5) Vũ Đình Huỳnh, đặc phái viên Bộ Nội vụ tại Ninh Bình (B.T).

6) Một bộ phận của Trung đoàn Thủ đô (B.T).

7) Trong sách Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân (Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975), trang 25-26 in là “Các em là đội quyết tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh” (B.T).

8) Giám mục Lê Hữu Từ (B.T).

9) Nguyễn Văn Lưu, lúc đó là Chánh Văn phòng Chủ tịch Chính phủ (B.T).

10) Cù Huy Cận (B.T).

11) Uỷ ban hành chính (B.T).

12) Nguyên văn những câu hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong thư là: 1. Tên tỉnh; 2. Mấy huyện, tên huyện; 3. Mấy xã; 4. Mấy mẫu ruộng; 5. Số dân; 6. Số trâu bò, lợn gà; 7. Mỗi năm có bao nhiêu lúa… chiêm, mùa; 8. Có hoa màu gì khác; 9. Có mấy đồn điền, mấy mẫu; 10. Có thổ sản gì khác; 11. Mấy cái chợ; 12. Mấy trường học; 13. Số người biết quốc ngữ; 14. Công việc bình dân học vụ khá không; 15. Có mấy học sinh trung và tiểu học; 16. Có mấy đại biểu Quốc hội; 17. Ai là người có danh vọng, dân phục; 18. Mấy người Việt Minh, mấy cán bộ; 19. Có những tổ chức nào khác; 20. Có bao nhiêu vệ quốc

13) Chủ tịch nước Cao Miên giải phóng (Campuchia) gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh bức thư báo tin một Uỷ ban giải phóng Việt – Miên – Lào đã được thành lập và kêu gọi sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam. Người đã viết thư trả lời.

14) Đặng Việt Châu, đặc phái viên Bộ Nội vụ tại Thanh Hoá (B.T).

1) Sau này được Người đặt tên mới là Hoàng Hữu Kháng (B.T).

2) Đồn điền của ông Đỗ Đình Thiện (B.T).

3) Đặc phái viên Bộ Nội vụ tại Ninh Bình (B.T).

18) Trong cuộc gặp gỡ các đại biểu nhân dân Thanh Hoá chiều 20-2-1947, các đại biểu dân tộc thiểu số trong tỉnh vì nhận được thông báo muộn và ở xa nên không về kịp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết gửi đồng bào thiểu số Thanh Hoá lá thư này.

19) Trong nguyên bản không ghi ngày tháng. Căn cứ vào nội dung bài viết, chúng tôi phỏng đoán Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài này sau chuyến đi thăm Thanh Hoá ngày 20-2-1947.

20) Bức thư này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi cho các đồng chí ở Trung Bộ. Người có sửa lại đôi chỗ về câu chữ và bớt một phần về nội dung (xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 76-79).

21) Cụ Nguyễn Liên, thân sinh ông Nguyễn Trung lúc đó là Chủ nhiệm huyện bộ Việt Minh Tam Nông (B.T).

22) Cụ Hoàng Văn Nguyên, bố vợ đồng chí Đỗ Văn Mô lúc đó là Phó Chủ nhiệm huyện bộ Việt Minh Tam Nông (B.T).

23) Ngày 2-3-1947, quân đội Pháp đánh nống ra ngoại vi Hà Nội, cố chiếm tỉnh lỵ Hà Đông và một vài làng khác nhằm gây ảnh hưởng với Quốc hội và nhân dân Pháp.

24) Phòng Nam Bộ trực thuộc Chính phủ được thành lập từ tháng 1-1946, có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ theo dõi phong trào kháng chiến ở Nam Bộ, tổ chức chi viện sức người, sức của cho Nam Bộ.

25) Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng nguyên âm Hán Việt, có nghĩa là khó khăn (B.T).

26) Thư gửi cho Giám mục Lê Hữu Từ (B.T).

27) Hoàng Hữu Nam (B.T).

28) Lê Văn Hiến (B.T).

29) Cuốn sách do Uỷ ban Trung ương vận động Đời sống mới xuất bản năm 1947 (B.T).

30) Cơ quan tuyên truyền và giáo dục bộ đội của Quân đội ta. Báo ra hằng tuần. Số đầu tiên ra ngày 22-3-1947. Năm 1951, báo Vệ quốc quân và báo Quân du kích sáp nhập thành báo Quân đội nhân dân (B.T).

31) Tuyên Quang – Thái Nguyên (B.T).

32) Nghĩa là nguỵ trang, cải trang (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)