Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 4 (Năm 1946 – Cuối tháng 12)

Tháng 12, ngày 19

Sáng sớm, sau khi nhận được tối hậu thư của Bộ Chỉ huy quân đội Pháp 1), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một bức thư gửi J.Xanhtơny, Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Đông Dương. Nội dung bức thư như sau: “Những ngày vừa qua tình hình trở nên căng thẳng hơn. Thực là rất đáng tiếc. Trong khi chờ đợi quyết định của Pari, tôi mong rằng ông sẽ cùng ông Giám tìm một giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại” 2).

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ tọa Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông, nay thuộc Hà Tây).

Trong ngày, tại gác hai ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Dương (làng Vạn Phúc), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Lời kêu gọi có đoạn:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

… Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng cương quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”.

Cả dân tộc nhất tề cầm vũ khí lao vào cuộc kháng chiến theo lệnh của Người.

18 giờ 40 phút cùng ngày, Người rời Vạn Phúc chuyển đến Xuân Dương (Thanh Oai, Hà Đông), bắt đầu cuộc hành trình lên Việt Bắc.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 480-481.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr. 160-161.

– Võ Nguyên Giáp: Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 420-425.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p. 296.

– Nhật ký Vũ Kỳ. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Phùng Thế Tài: Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 153.

Tháng 12, ngày 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 1/SL, thành lập tại mỗi khu quân sự, mỗi đơn vị hành chính từ cấp tỉnh trở xuống, một Uỷ ban bảo vệ có nhiệm vụ thi hành những mệnh lệnh và chỉ thị của cấp trên về bảo vệ đất nước.

Sắc lệnh quy định rõ thành phần, quyền hạn và phương thức hoạt động của Uỷ ban này.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 21

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Gửi dân chúng Việt Nam, dân chúng Pháp, dân chúng các nước Đồng minh, tố cáo dã tâm của thực dân Pháp muốn cướp nước Việt Nam một lần nữa, khẳng định ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu đến cùng để giành lại tự do, độc lập và bày tỏ thiện chí đối với nhân dân và binh lính Pháp.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, phông Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 482-484.

Tháng 12, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Hỏi và Trả lời, để giải đáp ba vấn đề: 1. Kháng chiến sẽ bao giờ thắng lợi? 2. Toàn dân kháng chiến là thế nào? 3. Chiến sĩ đánh trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương nên làm việc gì?

Trả lời câu hỏi thứ nhất, Người chỉ rõ: “Giồng khoai 3 tháng mới có củ, giồng lúa 4 tháng mới được ăn. Giồng tự do độc lập ít nhất cũng phải 1 năm, hoặc 5, 7 tháng… Muốn trị lửa phải dùng nước. Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng”.

Người giải thích về toàn dân kháng chiến: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông đàn bà, người già con trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến”, và kết luận:

“Dân ta phải giữ nước ta,

Dân là con nước, nước là mẹ chung”.

Người tóm tắt nội dung đã trả lời trong câu hỏi thứ ba bằng bốn câu thơ:

“Tiền phương chiến sĩ hy sinh,

Đem xương máu mình, giữ nước non ta.

Hậu phương sản xuất tăng gia.

Cũng là kháng chiến, cũng là vẻ vang”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh điện trả lời Thủ tướng Pháp L. Bơlum về bức điện của ông ta mà Người mới nhận được chiều hôm trước (22-12). Trong điện văn, Chủ tịch đã nói rõ thêm về hành động tàn bạo ngang ngược của các nhà chức trách Pháp ở Hà Nội từ ngày 17-12 đến ngày 19-12, và hy vọng phía Pháp sẽ nhận được lệnh “phải rút quân đội về những vị trí trước ngày 17-12 và phải đình chỉ những cuộc hành binh mệnh danh là tảo thanh, để cho cuộc xung đột chấm dứt ngay”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 485-487.

Tháng 12, ngày 24

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng bào Công giáo nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh.

Người chỉ rõ hành động xâm lược của thực dân Pháp đã “làm trái hẳn với lòng bác ái của Đức Giêsu” và kêu gọi đồng bào “không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”. Người chúc phúc toàn thể đồng bào Công giáo và “kính cẩn cầu Đức Thượng đế phù hộ dân tộc Việt Nam và giúp cho Việt Nam đi đến cuộc thắng lợi cuối cùng”.

Cùng ngày, Người còn viết Thư gửi các kiều dân Pháp và Gửi các tù binh Pháp.

Trong cả hai bức thư, Người đều bày tỏ sự thông cảm trước cảnh ngộ hiện nay của họ – những người Pháp mà Người vẫn coi là bạn – đang là nạn nhân của một cuộc chiến tranh xâm lược do bọn thực dân phản động gây ra chỉ vì quyền lợi ích kỷ của chúng. Người mong một ngày gần đây, nhân dân hai nước Pháp và Việt Nam sẽ có thể cùng nhau hợp tác trong hoà bình và thân ái để mưu hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 488-490.

Tháng 12, ngày 26

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 2/SL, uỷ cho các Uỷ ban kháng chiến Khu quyền thiết quân luật trong địa phận, nhưng phải báo cáo với Bộ Quốc phòng và thông báo ngay cho các cơ quan hành chính và dân chúng. Trước khi bãi lệnh thiết quân luật, phải được Bộ trưởng Quốc phòng chấp thuận (trừ khi giao thông bị gián đoạn).

Tối, Người tới một địa điểm thuộc tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Tây) chủ trì phiên họp mở rộng của Hội đồng Chính phủ với sự tham gia của Ban Thường trực Quốc hội và Uỷ ban kiến thiết để bàn biện pháp đẩy mạnh công cuộc kháng chiến. Kết luận phiên họp, Người khẳng định lại quyết tâm kháng chiến đến cùng để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

-Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bác Hồ với Hà Tây, những di tích lịch sử. Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 3-1992, tr. 21.

– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 1, tr. 4.

Tháng 12, ngày 27

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Một vài ý kiến về các Uỷ ban kiến thiết, động viên dân chúng, tăng gia sản xuất, Uỷ ban tản cư.

Sau khi phân tích ý nghĩa của sự phân công và nhấn mạnh sự cần thiết phải hợp tác trong hoạt động, trong việc phối hợp kế hoạch… giữa các cơ quan chuyên môn đó, Người nêu những ý kiến cụ thể hướng dẫn việc tổ chức, cách thức hoạt động và nội dung công việc của các uỷ ban trên trong việc động viên nhân dân về tinh thần và vật chất vào công cuộc trường kỳ kháng chiến.

– Tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Văn phòng  Hội đồng Bộ trưởng.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 491-495.

Tháng 12, ngày 28

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi anh em Hoa kiều bày tỏ sự thông cảm với những nỗi khổ cực của họ dưới ách thống trị của thực dân Pháp trong hơn 80 năm qua, vạch trần thủ đoạn “bảo hộ Hoa kiều” của chúng, đồng thời biểu dương tình nghĩa của Hoa kiều đối với nhân dân Việt Nam và mong rằng: “Trong cơn hoạn nạn, Hoa – Việt anh em,  cảm tình càng nồng, đoàn kết càng chặt”.

Người gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến, căn dặn: phải đối đãi tử tế, chăm sóc chu đáo những tù binh và thường dân Pháp để họ thấy rõ mục đích kháng chiến của nhân dân ta và chính sách nhân đạo của Chính phủ.

Trong thư viết cùng ngày gửi Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam, Người nhắc “cần có sự giúp đỡ để Hội nghị trí thức và quan lại cũ thành công”, “cần thận trọng việc mua sắm vũ khí cho kháng chiến”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 3NV/SL về việc tạm hoãn các cuộc tuyển cử vào Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính và việc bổ sung người thay các uỷ viên hành chính vì lý do nào đó, không thể tiếp tục chức vụ cũ.

– Sắc lệnh số 4/SL, uỷ cho Uỷ ban bảo vệ cấp Khu quyền ân xá, ân giảm, phóng thích các tội phạm do các toà án thường, toà án quân sự, toà án binh (trừ toà án binh tại mặt trận) kết án và những thủ tục khi tội phạm muốn xin được hưởng các quyền nói trên.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 496-497.

– Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng, Nxb. Đà Nẵng, 1995, t. 1, tr. 6.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 29

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam, nhắc Bộ Nội vụ cần tổ chức mau các Uỷ ban tản cư và Uỷ ban động viên dân chúng tăng gia sản xuất.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng  Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 30

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi ông Hoàng Hữu Nam đề nghị nên mời cụ Nguyễn Văn Tố tham gia Uỷ ban tản cư hoặc Uỷ ban động viên dân chúng.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng  Hồ Chí Minh.

Tháng 12, ngày 31

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 5/SL, về việc thành lập Uỷ ban tản cư Trung ương và các Uỷ ban tản cư của các tỉnh, phủ, huyện, làng.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 —————-

Chú thích

1) Đây là tối hậu thư thứ ba Pháp gửi cho ta trong hai ngày. Pháp yêu cầu đình chỉ mọi hoạt động để chuẩn bị kháng chiến, tước vũ khí của tự vệ Hà Nội, trao việc duy trì trật tự an ninh của thành phố cho Pháp.

2) Thư này Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho ông Hoàng Minh Giám để chuyển cho J.Xanhtơny ngay chiều hôm đó. Viên Cao uỷ khước từ và nói phải đợi đến ngày hôm sau mới nhận.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)