Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Chú thích và bản chỉ dẫn tên người)

CHÚ THÍCH

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bảnTuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong văn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tày trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Tr.8.

Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

2. Chính phủ lâm thời: Tức Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam, được thành lập theo quyết định của Quốc dân đại hội Tân Trào họp trong các ngày 16, 17, 18-8-1945.

Nghị quyết của Quốc dân đại hội ghi rõ: “Để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc giải phóng của chúng ta cho thắng lợi, Quốc dân đại hội quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam. Uỷ ban này cũng như Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam trước khi thành lập một Chính phủ chính thức. Uỷ ban này thay mặt quốc dân mà giao thiệp với các nước ngoài và duy trì mọi công việc trong nước”.

Về tổ chức, Uỷ ban giải phóng có một Ban Thường trực gồm 5 uỷ viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 25-8-1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban giải phóng dân tộc được cải tổ thành Chính phủ lâm thời với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước, nhân sĩ tiến bộ. Nhiều uỷ viên Việt Minh trong Chính phủ tự nguyện nhường chỗ cho những người không phải Việt Minh. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá hành động cao cả đó như sau: “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân” 1)Tr.1.

3. Sau khi giành được độc lập, Nhà nước Dân chủ Cộng hoà còn non trẻ chẳng những phải giải quyết những hậu quả về kinh tế, xã hội do bọn đế quốc phong kiến để lại, mà còn phải đối phó ngay với nạn ngoại xâm. Mượn tiếng Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, quân đội Anh đã che chở cho bọn thực dân Pháp trở lại chiếm đóng Nam Bộ. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch kéo vào. Quân Tưởng đã đưa bọn Việt gian tay sai của chúng về nước, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng.

Trước tình hình đó, ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi quốc dân hãy bình tĩnh, tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ, đoàn kết nhất trí, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ nền độc lập và thống nhất của đất nước.

Trong hoàn cảnh hết sức phức tạp lúc bấy giờ, Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp nhân dân ta xác định rõ trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tr. 5.

4. “Tuần lễ Vàng“: Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng gặp những khó khăn cực kỳ nghiêm trọng về tài chính. Để giải quyết những khó khăn đó, Chính phủ lâm thời đã chủ trương thành lập Quỹ Độc lập và sau đó tổ chức Tuần lễ VàngTuần lễ Vàngđược tiến hành trong cả nước từ ngày 17-9 đến ngày 24-9-1945, nhằm động viên nhân dân quyên góp vàng ủng hộ chính quyền cách mạng. Ngày 17-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đồng bào cả nước, nêu rõ ý nghĩa to lớn của việc tổ chức Tuần lễ Vàng và kêu gọi mọi người tích cực tham gia.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lòng nồng nàn yêu nước, nhân dân ta ở khắp nơi đã tích cực đóng góp tiền của cho chính quyền cách mạng. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kilôgam vàng. Sự hưởng ứng nhiệt liệt và tự nguyện ấy của nhân dân đã góp phần giải quyết những khó khăn về tài chính của đất nước lúc bấy giờ. Tr. 13.

5. Đoàn thể mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ở đây và trong các bài viết sau này như Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ, Thư gửi các đồng chí Trung Bộ… tức là Đảng Cộng sản Đông Dương, vì lúc này Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên bố “tự giải tán”.

Sau Cách mạng Tháng Tám, từ đầu tháng 9-1945, 20 vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc nước ta. Tuy danh nghĩa là Đồng minh vào tước vũ khí quân đội Nhật, nhưng thực chất là âm mưu tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ, đưa bọn phản động vào và lập chính phủ bù nhìn làm tay sai cho chúng. Ở miền Nam, núp dưới bóng quân Anh, thực dân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ. Cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế hết sức hiểm nghèo.

Trong tình hình gay go phức tạp đó, Đảng ta đã chủ động đề ra những chủ trương và một số biện pháp nhằm hoà hoãn với quân Tưởng và tay sai, tranh thủ thời gian giải quyết những khó khăn cấp bách và tập trung lực lượng cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Ngày 11-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và ra Nghị quyết về việc tuyên bố “tự giải tán” Đảng Cộng sản Đông Dương. Thông cáo của Hội nghị chỉ rõ việc tuyên bố Đảng “tự giải tán” là “Để phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng nước nhà“. Những người muốn nghiên cứu về chủ nghĩa Mác-Lênin “sẽ gia nhập Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương” (Văn kiện Đảng 1945-1954, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, 1978, t.I, tr. 19-20).

Đảng tuyên bố “tự giải tán” nhưng thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật. Ngay trong Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc, Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Về Đảng, phải duy trì hệ thống tổ chức bí mật hay công khai của Đảng, tuyển thêm đảng viên… Các tổ chức Đảng phải sinh hoạt cho đều và không vì lẽ gì để cho nó rời rạc, loạc choạc. Tổ chức các chi bộ trong các cơ quan hành chính hay trong các hội hợp pháp, củng cố đảng đoàn trong đó; thành lập chi bộ trong quân đội; phối hợp hoạt động bí mật với hoạt động công khai, điều hoà hai sự hoạt động ấy, coi công tác bí mật vẫn là gốc… Không để cho các cơ quan bí mật trở thành xung đột hay đối lập với các cơ quan công khai”. Ngày 5-12-1945, kế tục tờ báo Cờ giải phóng, tờ báo Sự thật – Cơ quan trung ương của Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương (tức tờ báo của Đảng Cộng sản Đông Dương lúc đó) ra đời.

Như vậy, bằng việc công khai thành lập Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác và tờ báo Sự thật cùng các chỉ thị, nghị quyết lúc đó, trên thực tế Đảng ta vẫn tiếp tục tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, giữ vững được mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Tháng 2-1951, căn cứ vào tình hình và sự lớn mạnh về mọi mặt của ta trong cuộc kháng chiến, Đại hội lần thứ II của Đảng đã quyết định Đảng ra hoạt động công khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.Tr. 14.

6. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp được quân đội Anh giúp sức đã nổ súng đánh chiếm trụ sở của Uỷ ban nhân dân Nam Bộ tại Sài Gòn.

Ngay chiều hôm đó, dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ Nam Bộ (của Đảng Cộng sản Đông Dương) và Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, nhân dân Sài Gòn đã tổng đình công, không hợp tác với giặc Pháp. Một vạn rưỡi tự vệ cùng nhân dân lập vật chướng ngại trên đường phố, đánh trả quyết liệt quân xâm lược, mở đầu cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ chống thực dân Pháp xâm lược.

Việc quân Pháp đánh úp Nam Bộ đã làm cho nhân dân cả nước sôi sục căm thù. Các đội quân Nam tiến từ khắp các  địa phương ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã lên đường vào Nam đánh giặc, cứu nước.

Ngày 26-9-1945, qua Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, khẳng định quyết tâm kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước ta.

Từ đó, ngày 23-9 trở thành ngày truyền thống lịch sử – Ngày Nam Bộ kháng chiến. Tr. 23.

7. Ngày 6-9-1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban Sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ để cấp tốc xoá nạn mù chữ trong nhân dân. Ngày
4-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài Chống nạn thất học. Người kêu gọi: “Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo…”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào học chữ quốc ngữ diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Chỉ trong một năm (từ 19-8-1945 đến 19-8-1946) riêng ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã có hai triệu năm trăm nghìn người thoát nạn mù chữ. Tr. 32.

8. Việt Minh (hay Mặt trận Việt Minh): Tên gọi tắt của Việt Nam độc lập đồng minh, được thành lập tại Pác Bó (Cao Bằng) ngày 19-5-1941, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5-1941). Việt Minh gồm các thành viên là Đảng Cộng sản Đông Dương và các Hội Cứu quốc như: Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân Cứu quốc, Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Quân nhân Cứu quốc, Hội Phụ lão Cứu quốc, Hội Phật giáo Cứu quốc, Hội Nhi đồng Cứu quốc…

Việt Minh là một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị, các dân tộc, các tôn giáo yêu nước để chống kẻ thù chính của dân tộc ta lúc bấy giờ là thực dân Pháp và phát xít Nhật. Mặt trận đã áp dụng chính sách mềm dẻo để tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ được, phân hoá kẻ thù, cô lập cao độ kẻ thù chính, nhằm tiêu diệt chúng, giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Mặt trận Việt Minh đã vận động toàn dân tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Để góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến mau đến thắng lợi, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp từ ngày 3 đến ngày 7-3-1951 đã thống nhất hai tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh và Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam thành Mặt trận Liên – Việt. Tr. 45.

9. Liên hợp quốc là một tổ chức quốc tế được thành lập tại Hội nghị Xan Phranxixcô (Mỹ), từ ngày 25-4 đến ngày 26-6-1945 trên cơ sở liên minh tự nguyện của các nước có chủ quyền, nhằm giữ gìn hoà bình và phát triển sự hợp tác giữa các nước. Đại diện của 51 nước đã tham gia Hội nghị này.

Theo Hiến chương của Liên hợp quốc, nhiệm vụ của Liên hợp quốc là giữ gìn hoà bình và an ninh bằng cách áp dụng những biện pháp chung nhằm ngăn ngừa và loại trừ những mối đe doạ với hoà bình và chống lại những hành động xâm lược; phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác nhằm giải quyết những vấn đề quốc tế có tính chất kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân đạo cũng như phát triển sự tôn trọng nhân quyền và quyền tự do căn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, tiếng nói và tín ngưỡng. Liên hợp quốc thành lập theo nguyên tắc bình đẳng đối với tất cả mọi hội viên và không can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ nước nào.

Những cơ quan chủ yếu của Liên hợp quốc là: Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế và xã hội, Hội đồng quản thác, Toà án quốc tế và Ban thư ký. Trụ sở Liên hợp quốc đặt tại Niu Oóc (Mỹ).

Năm 1977, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập tổ chức quốc tế này. Việt Nam cùng các nước yêu chuộng hoà bình đã và đang đấu tranh để bảo vệ những nguyên tắc dân chủ của Liên hợp quốc. Tr. 57.

 10. Hiến chương Đại Tây Dương: Bản tuyên bố được ký kết giữa Tổng thống Mỹ Rudơven và Thủ tướngAnh Sớcsin ngày 14-8-1941, trên một chiến hạm ở Đại Tây Dương. Hiến chương Đại Tây Dương quy định một số “nguyên tắc chung về chính sách dân tộc”, trong đó nói rằng phải tiêu diệt chế độ phát xít Hítle; thừa nhận  quyền tự chủ của các dân tộc, trước hết là quyền lựa chọn chế độ chính trị và xã hội mà họ muốn; tước vũ khí của bọn xâm lược, v.v.. Trên thực tế, các Chính phủ này đều đã phản bội những điều họ cam kết… Tr. 62.

11. Hiến chương Xan Phranxixcô: Bản Hiến chương được ký tại Hội nghị đại biểu của 51 nước, do Liên Xô, Mỹ, Anh và Trung Quốc (Chính phủ Tưởng Giới Thạch) triệu tập, họp tại Xan Phranxixcô ở Mỹ từ ngày 24-4 đến ngày 26-6-1945.

Hiến chương ghi rõ mục đích của Liên hợp quốc là giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế, ngăn ngừa và loại trừ những mối đe doạ đối với hoà bình, chấm dứt chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, phát triển mối quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế; tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, tiếng nói và tín ngưỡng. Tất cả các nước hội viên trong tổ chức này đều bình đẳng, không nước nào có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Nhưng những nguyên tắc được ký kết trên đều bị các nước đế quốc vi phạm hoặc không thi hành. Tr. 62.

12. Ngày 26-10-1945, nhân “Ngày hải quân Mỹ”, Tổng thống Tơruman đã đọc một bài diễn văn nêu 12 điểm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, gồm:

1- Hoa Kỳ không nghĩ tới một sự mở mang bờ cõi nào vì những mục đích ích kỷ; 2- Hoa Kỳ tin tưởng vào sự trở lại chủ quyền của hết thảy các dân tộc đã mất chủ quyền ấy bởi cường lực; 3- Hoa Kỳ không ưng thuận một sự thay đổi lãnh thổ nào mà không được chính các dân tộc đương sự thoả thuận; 4- Tất cả các dân tộc đương chuẩn bị tự trị được chọn lấy chính thể của họ; 5- Các nước bại trận sẽ được giúp đỡ để thành lập những chính phủ hoà bình dân chủ; 6- Không một chính phủ nào thành lập bằng sự áp bức, bằng vũ lực trên một dân tộc khác, lại sẽ được Hoa Kỳ thừa nhận cả; 7- Hết thảy các nước đều được có quyền lợi ngang nhau trên những mặt bể, mặt sông khi những bể, những sông ấy đi qua nhiều nước; 8- Tất cả các nước được dự vào tổ chức Liên hợp quốc phải được bình đẳng trong việc thông thương; 9- Các nước ở Tây bán cầu sẽ được phép thảo luận về những vấn đề của họ không cần đến sự can thiệp của những nước khác; 10- Sự hợp tác kinh tế của hết thảy các nước sẽ rất cần thiết cho việc cải thiện những điều kiện sinh hoạt của thế giới; 11- Hoa Kỳ sẽ cố sức khuyến khích sự tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng trong khắp nơi trên toàn cầu; 12- Sự duy trì hoà bình bắt buộc tổ chức Liên hợp quốc phải dùng tới sức mạnh, nếu cần.

Nội dung những điểm nêu trên bộc lộ mâu thuẫn giữa các nước đế quốc trong việc phân chia lại bản đồ thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phản ánh tham vọng của đế quốc Mỹ muốn đóng vai trò sen đầm quốc tế và xác định địa vị bá chủ thế giới. Trong thực tế, Mỹ đã không thực hiện những lời cam kết của mình.

Ngay từ khi chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra, Đảng ta đã nhận định việc quân Đồng minh tiến vào nước ta là không thể tránh khỏi, và nhấn mạnh tuyệt đối đừng có ảo tưởng rằng quân Trung Quốc và quân Anh-Mỹ sẽ mang lại tự do cho ta, tuy nhiên, “trong cuộc chiến đấu giải phóng cho ta, ta phải kiếm bạn đồng minh dẫu rằng tạm thời, bấp bênh, có điều kiện”.  Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945 chủ trương “chính sách chúng ta là phải tránh cái trường hợp: một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta”, do đó, “Sự mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh – Pháp và Mỹ – Trung Quốc về vấn đề Đông Dương là một điều ta cần lợi dụng”.

Mềm dẻo, tận dụng những cơ hội ít nhiều có lợi cho chính quyền còn non trẻ, khai thác triệt để những mâu thuẫn của kẻ thù là nghệ thuật lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tr. 66.

13. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) nổ ra do hậu quả của cuộc khủng hoảng của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới và cuộc đấu tranh giữa các nước đế quốc lớn nhằm chia lại thế giới và phạm vi ảnh hưởng của chúng. Đây là cuộc chiến tranh giữa hai phe đế quốc ở châu Âu. Nó đã lôi cuốn vào vòng chiến 33 nước, với số dân 1.500 triệu người. Trong cuộc chiến tranh này, 10 triệu người chết, 20 triệu người bị thương và tàn phế. Khi cuộc chiến tranh bước vào giai đoạn kết thúc (1917) thì đế quốc Mỹ nhảy vào vòng chiến và ra những điều kiện đình chiến theo kiểu Mỹ, với tham vọng làm bá chủ thế giới.

Tháng 11-1917, cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới thắng lợi ở nước Nga. Nhà nước Xôviết đã thông qua Sắc lệnh hoà bình và đề nghị các nước tham gia ký hiệp định đình chiến nhằm tránh cho nhân loại khỏi tai họa do chiến tranh kéo dài. Song đề nghị đó không được các nước đế quốc ủng hộ.

Mùa thu năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, đã dẫn tới việc ký Hiệp ước đình chiến ở Cômpienhơ (Pháp). Sau đó, hệ thống Vécxây thành lập, một hệ thống mang tính chất đế quốc chủ nghĩa, thù địch với nước Nga Xôviết, duy trì và phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức để làm lực lượng xung kích chống Liên Xô.  Tr. 71.

14. Chính phủ Liên hiệp lâm thời: Để hạn chế những hoạt động phá hoại của bọn phản cách mạng, cô lập chúng và tập trung mũi nhọn chống thực dân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời có sự tham gia của một số phần tử trong Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội (đa số bọn này là tay sai của Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch), với điều kiện: Chính phủ này phải tổ chức tốt cuộc Tổng tuyển cử, thống nhất các lực lượng vũ trang và sẽ từ chức khi triệu tập Quốc hội.

Ngày 1-1-1946, Chính phủ Liên hiệp lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch đã làm lễ ra mắt tại Nhà hát Thành phố, trước 30.000 nhân dân Thủ đô Hà Nội.

Thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố danh sách Chính phủ mới và đường lối đối nội, đối ngoại của Chính phủ.

Chính phủ Liên hiệp lâm thời tồn tại từ ngày 1-1 đến ngày 2-3-1946. Trong thời gian đó, dưới sự lãnh đạo khéo léo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã dàn xếp ổn thoả với quân đội Tưởng Giới Thạch; lãnh đạo và chi viện tích cực cuộc kháng chiến ở miền Nam; tổ chức thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử; phát hành giấy bạc Việt Nam, động viên toàn dân tăng gia sản xuất, đẩy lùi nạn đói. Tr.115.

15. Tổng tuyển cử: Theo quyết định của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 6-1-1946, Chính phủ Liên hiệp lâm thời đã tổ chứcTổng tuyển cử trong cả nước bầu Quốc hội đầu tiên của nước ta.

Lần đầu tiên trong lịch sử, mọi người dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, đều được hưởng quyền bầu cử và ứng cử. Cuộc bầu cử được tiến hành sôi nổi trong cả nước. Hơn 90% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu.

Nhân dân cả nước đã bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Những đại biểu của Mặt trận Việt Minh ra ứng cử được nhân dân tín nhiệm tuyệt đối.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Hà Nội và đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%.

Tổng tuyển cử thắng lợi là cuộc động viên chính trị rộng lớn, sâu sắc, biểu dương sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm bảo vệ và xây dựng chế độ mới, chế độ Dân chủ Cộng hoà. Nó đẩy lùi mọi âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam và tạo cơ sở pháp lý cho đấu tranh chính trị, ngoại giao của Chính phủ ta.

Lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta có một Quốc hội dân chủ, tiến bộ. Tr.119.

16. Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc: Theo tinh thần bản Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc, thì kiến quốc là một trong hai nhiệm vụ cơ bản mà Đảng và Chính phủ ta đặc biệt quan tâm sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Đi đôi với việc tổ chức, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng và Chính phủ ta đã đề ra nhiều biện pháp quan trọng nhằm cải tạo xã hội, xây dựng xã hội mới.

Để giúp Chính phủ nghiên cứu và xây dựng một kế hoạch kiến thiết nước nhà, ngày 31-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc. Uỷ ban này gồm 41 thành viên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ. Uỷ ban có nhiệm vụ nghiên cứu một kế hoạch thiết thực để kiến thiết đất nước về mặt kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội, văn hoá và nghiên cứu những dự án kiến thiết khác.

Ngày 10-1-1946, Uỷ ban họp phiên đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nói chuyện với các thành viên của Uỷ ban trong cuộc họp này.Tr.126.

17. Cuộc vận động xây dựng đời sống mới: Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng tới công tác vận động  nhân dân xây dựng  đời sống mới và coi đó là biện pháp có hiệu quả nhằm xoá bỏ những tàn dư lạc hậu do chế độ cũ để lại. Đó cũng là biện pháp từng bước giáo dục các tầng lớp nhân dân nhận thức được tính ưu việt của chế độ mới và trách nhiệm của mình đối với xã hội, nhận thức được quyền làm chủ đất nước của nhân dân do cách mạng mang lại.

Ngày 3-4-1946, Uỷ ban Vận động đời sống mới trung ương được thành lập nhằm đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động xây dựng đời sống mới trong toàn quân và toàn dân ta. Tr.137.

18. Liên hiệp Pháp (Union Française): Do Pháp lập ra đầu năm 1946 nhằm tập hợp và duy trì ảnh hưởng của Pháp ở các nước thuộc địa cũ. Khối Liên hiệp Pháp bao gồm nước Pháp, đất thuộc Pháp ở hải ngoại, và các quốc gia liên kết với Pháp.

Để tỏ thiện chí, đầu năm 1946, ta đồng ý tham gia Khối Liên hiệp Pháp trên cơ sở Pháp công nhận nền độc lập và thống nhất của ta. Lập trường của Việt Nam trong vấn đề này là: với tư cách một nước trong khối, Việt Nam chịu ràng buộc theo quy ước chứ không phải theo hiến pháp; không cần phải có đại biểu trong Hội đồng liên bang nhưng phải có đặc sứ ở Pháp; Việt Nam có thể nhận cố vấn Pháp, nhưng không thể bị bắt buộc nhận họ ở tất cả các ngành hoạt động quốc gia; Việt Nam có quyền gửi thẳng sứ thần ra nước ngoài, cũng có thể nhờ Pháp thay mặt ngoại giao với một số nước nhất định, có quyền gia nhập Liên hiệp quốc, ký kết những hiệp ước liên minh với các nước miễn là không nhằm mục đích chống lại Pháp; về kinh tế, Việt Nam tiêu thụ hàng hoá của Pháp, cung cấp nguyên liệu cho Pháp, đồng thời Pháp phải cung cấp máy móc, dụng cụ, giúp đỡ phát triển kỹ nghệ cho Việt Nam, v.v..

Nước Pháp đã không chấp nhận Việt Nam tham gia Khối Liên hiệp Pháp. Đến năm 1958, tổ chức này cũng không còn tồn tại nữa. Tr.155.

19. Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: Sau khi thực hiện thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước, Đảng và Chính phủ ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương nhanh chóng triệu tập cuộc họp Quốc hội để đối phó kịp thời với tình hình mới.

Sáng ngày 2-3-1946, Quốc hội khoá I đã họp kỳ thứ nhất tại Nhà hát thành phố Hà Nội.

Gần 300 đại biểu Quốc hội của cả nước đã về dự kỳ họp (các đại biểu Nam Bộ vì bận công việc kháng chiến chưa ra kịp).

Kỳ họp được tiến hành một cách khẩn trương và có kết quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời khai mạc và báo cáo công tác trong 6 tháng vừa qua của Chính phủ Liên hiệp lâm thời trước Quốc hội. Người nêu rõ ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, vạch rõ những khó khăn và đề ra những nhiệm vụ trước mắt của cách mạng nước ta và khẳng định: “Quốc hội và Chính phủ còn có những gánh nặng nề, phải bước qua nhiều sự khó khăn, nhưng tôi chắc rằng quốc dân sẽ nhất trí, dựa vào sức đoàn kết mà làm việc, và như thế thì dù khó khăn đến đâu, kháng chiến sẽ thắng lợi và kiến quốc sẽ thành công“.

Để tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính là thực dân Pháp, và hạn chế những hành động phá hoại của bọn phản động tay sai của quân đội Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương mở rộng thành phần của Quốc hội khoá I. Người đề nghị Quốc hội cho phép 70 đại biểu của các đảng phái tay sai của Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch tham gia Quốc hội không qua bầu cử (gồm 20 người của Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội và 50 người của Việt Nam Quốc dân đảng).

Quốc hội đã hoàn toàn nhất trí với bản báo cáo và đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quốc hội đã trao cho Người thành lập Chính phủ mới,Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Quốc hội đã bầu ra Ban thường trực, Tiểu ban dự thảo Hiến pháp, Kháng chiến uỷ viên hội và Đoàn cố vấn tối cao.

Thành công của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và thắng lợi của Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội là thắng lợi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lãnh đạo nhân dân ta xây dựng và củng cố chính quyền, đưa đất nước ta vượt qua những thử thách to lớn ban đầu, chuẩn bị điều kiện để tiến lên giai đoạn mới. Tr.165.

20. Chính phủ kháng chiến, còn gọi là Chính phủ Liên hiệp chính thức, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, được thành lập ngày 2-3-1946 tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, theo sự giới thiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Quốc hội nhất trí thông qua.

Chính phủ kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Nguyễn Hải Thần là Phó Chủ tịch gồm 10 Bộ (Ngoại giao, Nội vụ, Kinh tế, Tài chính, Quốc phòng, Xã hội, Giáo dục, Tư pháp, Giao thông công chính, Canh nông), do đại biểu các đảng phái và không đảng phái, những trí thức và những người có danh vọng phụ trách. Tr. 166.

21. Hiệp định Sơ bộ: Ngày 28-2-1946, Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh đã ký với Pháp một bản hiệp ước, đồng ý để quân Pháp vào thay thế quân Tưởng ở miền Bắc Đông Dương. Mặc dù vậy, bọn quân phiệt Tưởng đóng ở nước ta vẫn tiếp tục âm mưu phá hoại cách mạng Việt Nam, không chịu rút lui theo Hiệp ước Hoa-Pháp, hòng ép Chính phủ ta phải cải tổ để đưa bọn tay sai của chúng vào.

Để có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng đối phó với thực dân Pháp, đồng thời loại bớt cho cách mạng một kẻ thù nguy hiểm là bọn quân phiệt Tưởng Giới Thạch, ngày 3-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị Tình hình và chủ trương. Chỉ thị đã nhận định một cách chính xác những âm mưu của thực dân Pháp và quân Tưởng trong việc ký Hiệp ước Hoa-Pháp, nhất là âm mưu che giấu bộ mặt xâm lược của thực dân Pháp. Chỉ thị nhấn mạnh “…Nếu Pháp chủ trương cho Đông Dương tự trị theo bản tuyên ngôn 24-3-1945″, nghĩa là khôi phục lại chế độ thuộc địa ở Đông Dương “Thì nhất định đánh, và có thể đánh lâu dài theo lối du kích”. Nhưng “nếu Pháp công nhận Đông Dương tự chủ”, nghĩa là công nhận quyền độc lập và hợp tác bình đẳng của ta “thì có thể hoà”.

Chỉ thị còn chỉ rõ: “Vấn đề không phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình biết người, nhận định một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng”.

Sau khi phân tích tình hình cách mạng và âm mưu của thực dân Pháp, Chỉ thị chỉ rõ: “Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta“.

Ngày 5-3-1946, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (mở rộng) đã nhất trí tán thành chủ trương Hoà để tiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Thực hiện chủ trương đó, ngày 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ.

Nội dung cơ bản của bản Hiệp định Sơ bộ là: Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Sự thống nhất đất nước sẽ do trưng cầu dân ý quyết định. Chính phủ ta đồng ý cho 15.000 quân Pháp được vào thay thế quân Tưởng rút về nước. Số quân đó phải đóng ở những nơi được quy định và phải rút khỏi Việt Nam trong 5 năm, mỗi năm rút một phần năm quân số. Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí đóng quân.

Trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó, việc ký kết Hiệp định Sơ bộ là một biện pháp đúng đắn và sáng tạo. Nhờ đó chúng ta đã đuổi nhanh quân Tưởng về nước, giành thêm thời gian hoà bình để xây dựng và củng cố lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Đồng bào Nam Bộ đã khéo lợi dụng điều kiện đó để xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến. Tr.171.

22. Hội nghị trù bị Đà Lạt: Trước sức đấu tranh kiên quyết của nhân dân và Chính phủ ta, thực dân Pháp buộc phải nhận họp hội nghị trù bị để chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức ở Pari. Hội nghị đã họp từ ngày 17-4 đến ngày 12-5-1946, tại Đà Lạt.

Đoàn đại biểu Chính phủ ta do đồng chí Võ Nguyên Giáp dẫn đầu.

Đoàn đại biểu Chính phủ Pháp do Mác Ăngđrê cầm đầu.

Hội nghị trù bị Đà Lạt đã thảo luận những vấn đề về mối liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài; về chế độ tương lai của Đông Dương và những vấn đề về quan hệ kinh tế, văn hoá giữa Pháp và Việt Nam.

Do lập trường thực dân phản động và thái độ ngoan cố hiếu chiến của phái đoàn Pháp, Hội nghị đã bế tắc ngay từ đầu. Các vấn đề cụ thể thảo luận trong Hội nghị đều không đưa đến một sự thoả thuận nào. Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn hòng lập lại nền thống trị cũ của chúng ở Việt Nam. Chúng khăng khăng đòi lập lại chế độ toàn quyền Pháp ở Đông Dương, tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam và tước bỏ quyền ngoại giao độc lập của ta.

Đoàn đại biểu ta đã tích cực đấu tranh vạch trần âm mưu của thực dân Pháp, đồng thời kiên quyết giữ vững lập trường hoà bình, độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc; thân thiện với nhân dân Pháp trên nguyên tắc bình đẳng, không xâm phạm chủ quyền của nhau. Thay mặt Đoàn đại biểu Chính phủ ta, đồng chí Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Chúng tôi tuyên bố kết liễu chế độ các vị toàn quyền”. Tr.199.

23. Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam. Để đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc và lập các xứ “tự trị” của thực dân Pháp, theo chủ trương đoàn kết dân tộc của Đảng, ngày 19-4-1946, các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội tại Plâycu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Chính phủ đã gửi thư đến Đại hội. Người nêu cao tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc và vạch rõ những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp hòng chia rẽ khối đoàn kết toàn dân của nhân dân ta. Người căn dặn đồng bào các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh đập tan những âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp, góp phần bảo vệ chính quyền, giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc. Người chỉ rõ: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta“. Tr.202.

24. Ngày Quốc tế lao động. Ngày 1-5-1886, hơn 80.000 công nhân thành phố Sicagô (Mỹ) đấu tranh bãi công đòi bọn chủ tăng tiền lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống, v.v.. Giai cấp tư sản không chịu giải quyết yêu sách đó, lại tiến hành sa thải những người lãnh đạo bãi công. Cuộc đấu tranh bùng nổ gay gắt dẫn đến những vụ xung đột đẫm máu. Mặc dù bị đàn áp, tinh thần đấu tranh của công nhân Sicagô được công nhân thế giới khâm phục. Đại hội lần thứ nhất (1889) của Quốc tế thứ hai đã quyết định lấy ngày 1-5 hàng năm làm ngày đoàn kết và biểu dương lực lượng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới – Ngày Quốc tế lao động. Tr.207.

25. Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Sau khi nhân dân ta giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập rồi Đảng Cộng sản Đông Dương tự giải tán (11-1945), Hồ Chí Minh đã chủ trương thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam – gọi tắt là Hội Liên Việt.

Như Cương lĩnh của Hội đã công bố, Hội có mục đích “Đoàn kết tất cả các đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường”. Hội đã ra bản “Tuyên ngôn”, nêu lên lý do ra đời của Hội, bốn nhiệm vụ khẩn cấp và trọng yếu của quốc dân Việt Nam và nêu rõ những nhiệm vụ thiêng liêng đối với Tổ quốc trong giờ phút lịch sử tồn vong của đất nước…, xoá bỏ những sự chia rẽ vô lý, những mâu thuẫn giữa các xu thế chính trị, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, nhường bước cho sự đại đoàn kết rộng rãi.

Ngày 29 tháng 5 năm 1946, Hội nghị thành lập Hội Liên hiệp quốc dân đã được tiến hành tại Hà Nội. Hội nghị đã bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự, Cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Hội trưởng, Cụ Tôn Đức Thắng làm Phó Hội trưởng.

Đến ngày 3 tháng 3 năm 1951, Đại hội toàn quốc của Việt Minh với Liên Việt họp tại Việt Bắc đã thống nhất hai tổ chức này thành một mặt trận duy nhất với tên là Mặt trận Liên Việt. Đại hội đã suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự và cử Cụ Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt. Tr. 228.

26. Hội Hướng đạo Việt Nam, hay còn gọi là “Hướng đạo sinh Việt Nam”. “Hướng đạo sinh” là một tổ chức có tính chất quốc tế, thu hút tầng lớp thanh thiếu niên các nước nhằm rèn luyện, phát huy những tố chất của tuổi trẻ như tháo vát, sáng tạo, tinh thần khắc phục khó khăn… vì những mục tiêu tốt đẹp của thế hệ trẻ.

Phong trào xuất hiện đầu tiên ở Anh vào những năm đầu thế kỷ XX, người sáng lập là Baden Powell, sau dần dần phát triển ra nhiều nước ở châu Âu và châu Á, hình thành Tổng hội Hướng đạo sinh quốc tế.

Phong trào Hướng đạo sinh vào Việt Nam khoảng năm 1929-1930. Hội Hướng đạo Việt Nam đã ra đời với những sáng lập viên như Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thuý, v.v.. Thành viên của Hội bao gồm ấu sinh, thiếu sinh và tráng sinh, phần lớn là con cái các gia đình trung lưu. Tôn chỉ và cũng là lời thề của Hội: Phụng sự Tổ quốc; Giúp ích mọi người… Khẩu hiệu của Hội: “Sẵn sàng”.

Đảng Cộng sản Đông Dương trong quá trình vận động cách mạng đã chủ trương tranh thủ tổ chức quần chúng này. Năm 1941, đồng chí Trần Đăng Ninh đã được Trung ương giao nhiệm vụ liên hệ với Tạ Quang Bửu, Hoàng Đạo Thuý để giữ lực lượng này cho cách mạng.

Trừ một số rất ít, đại đa số Hướng đạo sinh Việt Nam đã tham gia cách mạng, tham gia Tổng khởi nghĩa và trở thành cán bộ của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Thể theo yêu cầu của Hội Hướng đạo Việt Nam, ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho ông Hội trưởng Hội Hướng đạo Việt Nam, nhận làm HỘI TRƯỞNG DANH DỰ của Hội. Tr. 233.

27. Hội nghị Phôngtennơblô: Hội nghị giải quyết vấn đề quan hệ Việt-Pháp, họp từ tháng 6 đến tháng 9-1946 tại Phôngtennơblô (Pháp). Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Đoàn đại biểu Chính phủ Pháp do Mắc Ăngđrê cầm đầu.

Hội nghị này nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp. Song do thái độ ngoan cố của bọn thực dân Pháp muốn duy trì chế độ thực dân ở Đông Dương, bắt nhân dân các nước Đông Dương trở lại làm nô lệ cho chúng lần nữa và chia cắt đất nước Việt Nam, cho nên các vấn đề về quan hệ giữa Việt Nam và Pháp đưa ra hội nghị đã bế tắc và không đi đến kết quả.

Sau khi kịch liệt phản đối lập trường hết sức phản động của phía Pháp tại hội nghị, ngày 13-9-1946, Đoàn đại biểu ta đã lên đường về nước.

Hội nghị Phôngtennơblô bị bỏ dở, không đạt được mục đích là ký một hiệp ước chính thức giữa ta và Pháp. Nhưng hội nghị đã làm cho dư luận quốc tế chú ý đến Việt Nam và hiểu được nguyện vọng tha thiết của dân tộc Việt Nam là độc lập và thống nhất. Tr. 236.

28. Tạm ước 14-9: Sau khi Hội nghị Phôngtennơblô không đi đến kết quả, để kéo dài thêm thời gian hoà hoãn và để tỏ thiện chí của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đang có mặt ở Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã tranh thủ dàn xếp ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước. Sau này, thường gọi là Tạm ước 14-9, vì dưới các điều khoản ghi là: Làm tại Pari, ngày 14-9-1946. Tạm ước này bao gồm 11 điều khoản mà nội dung cơ bản là những thoả thuận tạm thời, có lợi cho cả phía Pháp và phía Việt Nam, như: vấn đề quyền lợi của Việt kiều tại Pháp và Pháp kiều tại Việt Nam, Chính phủ Việt Nam ưu tiên sử dụng chuyên gia người Pháp, cơ quan thuế trong Liên hiệp Pháp, đình chỉ mọi sự xung đột… Tạm ước có hiệu lực từ ngày 30-9-1946. Hai bên thoả thuận sẽ đàm phán lại, chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947.

Nội dung của Tạm ước là sự thoả thuận tạm thời giữa ta và Pháp về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ. Chính phủ ta nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam.

Tạm ước 14-9 là một sách lược ngoại giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm làm cho nhân dân ta có thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr. 326.

29. Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, họp từ ngày 28-10 đến ngày 9-11-1946 tại Nhà hát Thành phố Hà Nội. Tham dự kỳ họp có hơn 300 đại biểu các tỉnh, thành.

Quốc hội đã nghe báo cáo công tác của Chính phủ, thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta và thành lập Chính phủ mới.

Đồng chí Tôn Đức Thắng, đại biểu Nam Bộ, được bầu làm Trưởng đoàn Đoàn Chủ tịch kỳ họp.

Theo đề nghị của đoàn đại biểu Nam Bộ, toàn thể Quốc hội đã nhất trí bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối của nhân dân cả nước đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và suy tôn Người là Người công dân thứ nhất đã sáng suốt đưa nước nhà ra khỏi vòng nô lệ.

Quốc hội đã nghe đại diện Chính phủ báo cáo công tác của Chính phủ, nghe đồng chí Phạm Văn Đồng báo cáo hoạt động của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị Phôngtennơblô và việc ký kết Tạm ước 14-9.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời các câu hỏi của các đại biểu về chính sách ngoại giao của Chính phủ.

Quốc hội đã uỷ nhiệm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức một Chính phủ mới, một Chính phủ không có bọn phản động tham gia.

Quốc hội đã thảo luận một cách dân chủ bản dự thảo Hiến pháp do Uỷ ban dự thảo Hiến pháp trình bày.

Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong phiên họp bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến nêu rõ ý nghĩa trọng đại của bản Hiến pháp lịch sử này. Tr. 357.

30. Thành lập Chính phủ. Do sách lược của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối phó với quân đội Tưởng Giới Thạch, chúng ta đã cho phép bọn tay sai của Tưởng tham gia Chính phủ liên hiệp lâm thời (tháng 1-1946) và Chính phủ liên hiệp chính thức (tháng 3-1946). SauHiệp định Sơ bộ ngày 6-3, bọn phản động bỏ chạy theo quân đội Tưởng Giới Thạch sang Trung Quốc. Tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoáI nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Quốc hội đã uỷ nhiệm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập một Chính phủ mới – một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài, không phân đảng phái; một Chính phủ vì dân, kiên quyết phấn đấu cho độc lập và thống nhất của Tổ quốc; một Chính phủ mà trong đó không có các phần tử phản cách mạng tham gia.

Ngày 3-11-1946, sau khi thành lập Chính phủ mới theo đúng tinh thần mà Quốc hội đã đề ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời tuyên bố trước Quốc hội. Tr. 360.

31. Đảng Dân chủ Việt Nam: Tổ chức chính trị của giới trí thức, công chức và tư sản dân tộc Việt Nam.

Với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng được thành lập ngày 30-6-1944.

Tháng 7-1944, Đảng Dân chủ Việt Nam tự nguyện gia nhập Mặt trận Việt Minh và cùng với các Hội Cứu quốc tiến hành quá trình chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng Dân chủ Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc tăng cường và củng cố khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng và củng cố chính quyền, góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam.

Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ Việt Nam (từ ngày 18 đến ngày 20-10-1988) – Đại hội cuối cùng, Đảng đã kết thúc 44 năm hoạt động và hoàn thành vai trò lịch sử. Tr. 363.

32. Cách mạng Tháng Mười: Cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I. Lênin, ngày 7 tháng 11 (tức ngày 25 tháng Mười, theo lịch Nga) năm 1917, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã vùng dậy lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, thành lập Chính phủ Xôviết do Lênin làm Chủ tịch. Giai cấp công nhân Nga đã đập tan bộ máy thống trị của các giai cấp bóc lột, lập nên Nhà nước kiểu mới – Chính quyền Xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản. Từ đó nước Nga Xôviết vững bước tiến lên xây dựng thành một nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh.

Cách mạng Tháng Mười thắng lợi đã mở đầu một thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc bị nô dịch đi tới cách mạng giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tr. 366.

33. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta cần hoà bình để xây dựng nước nhà và củng cố lực lượng về mọi mặt, cho nên đã nhân nhượng với thực dân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946. Nhưng thực dân Pháp vẫn cố tình cướp nước ta lần nữa.

Trước những hoạt động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đêm 19-12-1946, cuộc kháng chiến từ cục bộ đã lan ra khắp cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Trong văn kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, nêu lên ý chí sắt đá, quyết kháng chiến đến cùng của dân tộc ta. Đồng thời, Người nêu lên những nét cơ bản về đường lối của cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, và khẳng định cuộc kháng chiến nhất định thắng lợi. Tr. 395.


BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI

B

BẢO ĐẠI (Nguyễn Vĩnh Thuỵ) (1913-1997), sinh tại Huế, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn; lên ngôi năm 1925, thoái vị vào ngày 30-8-1945. Từ tháng 9-1945, được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm cố vấn của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng 3-1946, được cử sang Trùng Khánh (Trung Quốc) thực hiện chính sách ngoại giao của Chính phủ ta với chính quyền Tưởng Giới Thạch. Nhân chuyến đi này, Bảo Đại ở lại Trung Quốc. Năm 1949, Bảo Đại được Pháp đưa về Việt Nam làm Quốc trưởng bù nhìn. Tháng 10-1955, bằng “trưng cầu dân ý”, Mỹ đã phế truất Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên thay. Sau đó, sang Pháp sống cuộc đời tha phương và mất tại Pari trong cảnh cô đơn.

BIĐÔN, G. (Georges Bidault) (1899-1983), Chủ tịch Hội đồng kháng chiến quốc gia Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nghị sĩ Quốc hội Pháp (1946-1962), Thủ tướng Chính  phủ Pháp (1946-1949, 1950). Trưởng đoàn Pháp tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương năm 1954.

BÔLAÉ. E. (Emile Bollaert), Cao uỷ Pháp ở Đông Dương từ tháng 3-1947 đến  tháng 9-1948. E. Bôlaéc đã gặp Bảo Đại ở Hạ Long (1947) để sắp đặt kế hoạch đưa Bảo Đại về Việt Nam làm “Quốc trưởng” chính phủ bù nhìn do thực dân Pháp lập ra sau đó.

BLUM, L. (Léon Blum) (1872-1950), đảng viên Xã hội phái hữu, nhiều năm làm chủ bút báo Le Populaire – Cơ quan Trung ương của Đảng Xã hội Pháp. Sau khi Mặt trận nhân dân giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 1936, Blum đứng đầu Chính phủ Pháp và đã thi hành chính sách làm suy yếu Mặt trận nhân dân, phá hoại việc thực hiện cương lĩnh của Mặt trận.

BÙI BẰNG ĐOÀN (1889-1955), nhân sĩ, quê Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Tây), đỗ cử nhân năm 1906. Năm 1911 làm Tri huyện, rồi Tuần phủ Ninh Bình. Năm 1933 làm Thượng thư Bộ Hình. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thành viên trong Ban Cố vấn Chính phủ, là đại biểu Quốc hội khoá I, được cử vào Ban Thường trực Quốc hội, rồi Trưởng ban Thường trực Quốc hội cho đến khi mất.

BÙI KỶ (1887-1960), nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học, quê làng Châu Cầu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Đậu cử nhân năm 1909, đậu phó bảng năm 1910, sau đó du học ở Pháp. Trở về nước, phục vụ trong ngành giáo dục, viết sách, làm báo. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làm Chủ tịch Hội Văn hoá kháng chiến Liên khu III. Hoà bình lập lại, làm Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Trung. Mất tại Hà Nội năm 1960. Ông đã để lại nhiều tác phẩm khảo cứu văn học và dịch thuật có giá trị với bút danh Ưu Thiên.

C

CHU PHÚC THÀNH, Tham mưu trưởng quân đội Tưởng Giới Thạch vào giải giáp quân đội Nhật ở Bắc Việt Nam.

D

DƯƠNG BẠCH MAI (1905-1964), nhà hoạt động chính trị, quê ở Bà Rịa, du học Pháp, sau về hoạt động ở Sài Gòn. Năm 1939, bị Pháp đầy đi Côn Đảo. Năm 1945, là một thành viên lãnh đạo giành chính quyền ở Sài Gòn. Năm 1946, là thành viên của phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị trù bị (Việt – Pháp) Đà Lạt. Ông mất tại Hà Nội.

Đ

ĐẶNG THAI MAI (1902-1984), nhà nghiên cứu văn học, quê ở Thanh Chương, Nghệ An. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ nhiều chức vụ chính quyền: Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến tỉnh Thanh Hoá, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam.

ĐÁCGIĂNGLIƠ, G.T. (Georges Thierry d’ Argenlieu) (1889-1964). Thời thanh niên làm lính thuỷ chiến đấu ở Marốc. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất tham gia đội tàu chống tàu ngầm. Năm 1920 đi tu, cho đến năm 1939, được gọi về làm thuyền trưởng hải quân. Năm 1940 bị bắt rồi vượt ngục trốn sang Anh, được Đờ Gôn bổ nhiệm làm uỷ viên Hội đồng kháng chiến Pháp, Đô đốc hải quân Pháp. Ông là Cao uỷ Pháp vùng Thái Bình Dương từ năm 1941 đến năm 1943, là Cao uỷ Pháp ở Đông Dương từ năm 1945 đến năm 1947.

Tác giả cuốn Hồi ký về Đông Dương (1945-1947), in năm 1985.

ĐINH CHƯƠNG DƯƠNG (1885-1971), chí sĩ quê ở Hậu Lộc, Thanh Hoá. Năm 1927, tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1943, được gặp Bác Hồ ở Liễu Châu, Trung Quốc. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, khoá I.

ĐỖ ĐÌNH THIỆN (1903-1972), nhà tư sản yêu nước (giàu lên nhờ buôn bán tơ lụa), có đồn điền ở Chi Nê (Hoà Bình). Sinh ở xã Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. Theo học ở Pháp những năm 1927-1931, bị Pháp bắt và trục xuất về nước vì hoạt động yêu nước. Ông là thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người đi Pháp năm 1946.

ĐỜGÔN, S. (Charles de Gaulle) (1890-1970). Tư lệnh sư đoàn. Năm 1940, sau khi Pêtanh ký hoà ước với Đức, ông đứng đầu Chính phủ kháng chiến Pháp chống phát xít Đức đóng ở Angiêri rồi Chính phủ Lâm thời Pháp ở Pari (1944-1946). Tự rút lui khỏi chính trường năm 1946. Sau sự kiện Angiêri, trở lại chính trường, làm Tổng thống Pháp (1959-1965).

E

ERIÔ, Ê. (Édouard Herriot) (1872-1957), nhà văn, nhà hoạt động chính trị Pháp, Thị trưởng Lyông (1905-1955), nhiều lần là Thủ tướng Pháp, Chủ tịch Nghị viện từ năm 1936 đến năm 1940, Chủ tịch Quốc hội Pháp từ năm 1947 đến năm 1954.

G

GALƠGƠ, E. (Philip E. Gallagher), Chuẩn tướng Mỹ, cố vấn quân đội Tưởng Giới Thạch vào giải giáp quân Nhật ở Việt Nam từ Bắc vĩ tuyến 16oN, Trưởng phái bộ Mỹ quân sự tại Hà Nội 1945-1946.

GĂNGĐI, M.K. (Mohandas Karamchand Gandhi) (1869-1948), Luật sư, triết gia, nhà văn, nhà hoạt động nổi tiếng của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ.

Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Anh, giành độc lập dân tộc, Găngđi chủ trương không dùng bạo lực và không coi bạo lực là phương thức đấu tranh chính trị.

Những năm 1924-1934, 1940-1941, ông là Chủ tịch Đảng Quốc đại (Đảng Quốc dân đại hội) của Ấn Độ, có vai trò quan trọng trong việc biến Đảng này thành một tổ chức quần chúng. Học thuyết “phi bạo lực, bất hợp tác” của Găngđi trở thành tư tưởng chủ đạo của Đảng Quốc đại trong cuộc đấu tranh cho nền độc lập Ấn Độ. Tuy nhiên, năm 1946, ông cũng tuyên bố là không nhất thiết chỉ dùng phương pháp đấu tranh “phi bạo lực”.

Găngđi có ảnh hưởng và uy tín lớn ở Ấn Độ, được nhân dân Ấn Độ suy tôn là Mahátma nghĩa là “Tâm hồn vĩ đại”. Năm 1948, ông bị bọn phản động ám sát.

GIOĂNG, A. (Alphonse Juin) (1888-1967), chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Italia năm 1943-1944, Công sứ toàn quyền Pháp ở Marốc (1947-1951), phong Thống chế năm 1952.

GIÔLIÔ QUYRI, PH. (Joliot Curie Frédéric) (1900-1958), nhà vật lý học nổi tiếng thế giới, được giải thưởng Nôben năm 1935. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, Chủ tịch Hội đồng hoà bình thế giới, nhiều lần gặp Hồ Chí Minh ở Pháp.

GƠRÂYXY, D. (Douglas Gracey), tướng Anh, chỉ huy quân đội Anh vào giải giáp quân Nhật ở Việt Nam từ Nam vĩ tuyến 160.

H

HÀ ỨNG KHÂM (1890-1987), người tỉnh Quý Châu, Trung Quốc. Năm 1908, học quân sự ở Nhật. Năm 1924, là Thiếu tướng tổng giáo quan, Đoàn trưởng đoàn huấn luyện, Chủ nhiệm Ban huấn luyện Trường quân sự Hoàng Phố. Sau năm 1930 là Bộ trưởng Bộ Quân chính. Năm 1944, làm Tổng tư lệnh Lục quân. Ngày 9-9-1945, thay mặt Tưởng Giới Thạch tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản. Năm 1949, là Viện trưởng Viện Hành chính Quốc dân đảng. Sau đó, chạy ra Đài Loan, giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn chiến lược của Chính phủ Quốc dân đảng Đài Loan.

HOÀNG ĐẠO THUÝ (1900-1994), nhà giáo dục, nhà văn hoá, nhà Hà Nội học, quê Thanh Trì, Hà Nội. Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội năm 1920. Tổng uỷ viên Hướng đạo Đông Dương (1930-1945), đại biểu dự Đại hội Quốc dân Tân Trào (8-1945), Giám đốc Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khoá I (1946), khoá III (1947), Cục trưởng Cục Quân huấn (1-1948), Tổng thư ký Ban thi đua Trung ương (8-1948), Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc (6-1949), được phong quân hàm Đại tá năm 1958, là đại biểu Quốc hội khoá I, II.

HOÀNG HỮU NAM (tức Phan Bôi) (1911-1947), quê Điện Bàn, Quảng Nam. Ông học ở Hà Nội và tham gia cách mạng. Năm 1929, vào Sài Gòn rồi tham gia Đảng Cộng sản. Năm 1930-1936 bị Pháp bắt tù khổ sai ở Côn Đảo. Năm 1939, lại bị bắt đày ở Bắc Mê rồi đưa sang Mađagátxca. Năm 1943 về Việt Bắc. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông là Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Ông mất vì tai nạn ở Tuyên Quang.

HOÀNG MINH GIÁM (1904-1995), quê ở Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Tốt nghiệp Trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương. Dạy học ở Phnôm Pênh (Campuchia), Sài Gòn rồi trở ra Hà Nội vào những năm 1930, dạy học ở Trường tư thục Thăng Long, là giáo viên, Phó hiệu trưởng rồi Hiệu trưởng.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng: Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1947), Bộ trưởng Bộ Văn Hoá (1955-1976), Phó Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam.

Là nhân chứng trong nhiều cuộc gặp gỡ lịch sử giữa đại diện của Việt Nam và Pháp những năm 1945-1946.

HOÀNG QUỐC VIỆT (1905-1992) tên thật là Hạ Bá Cang, quê ở Đáp Cầu, Võ Giàng, Bắc Ninh. Tham gia cách mạng từ năm 1925 và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1928. Năm 1930, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hội nghị hợp nhất cử ra. Năm 1937, là Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ. Từ tháng 5-1941, là Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1945, là Uỷ viên Thường vụ Trung ương. Từ năm 1951 đến năm 1957 là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và là Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1960, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1976, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1977 được bầu lại là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1983, là Chủ tịch danh dự của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

HỒ TÙNG MẬU (1896-1951), tên thật là Hồ Bá Cự, quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tham gia hoạt động cách mạng từ lúc còn trẻ và đã nhiều năm hoạt động ở Thái Lan và Trung Quốc. Năm 1923 cùng Lê Hồng Sơn lập ra nhóm Tâm Tâm xã.

Là một trong những người đầu tiên tham gia tổ chức tiền thân của Đảng và đã tham dự các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng ở Quảng Châu, do Nguyễn Ái Quốc tổ chức.

Hồ Tùng Mậu còn là người tích cực liên hệ với Hội quốc tế Cứu tế đỏ và vận động Luật sư  Lôdơbi đấu tranh về mặt pháp lý đòi chính quyền Anh ở Hồng Kông phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc khi Người bị chúng bắt giam trái phép tại Hồng Kông (1931). Cuối tháng 6-1931 bị nhà cầm quyền Anh bắt và trục xuất khỏi Hồng Công, sau đó, bị thực dân Pháp bắt đưa về nước tuyên án khổ sai chung thân giam tại nhà lao Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Mê Thuột, Trà Khê. Tháng 3-1945, vượt ngục hoạt động ở Trung Kỳ. Sau Cách mạng Tháng Tám, đã được Đảng và Nhà nước giao giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến Liên khu IV (1946), Tổng thanh tra Chính phủ (1949). Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) được bầu là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Hồ Tùng Mậu đã hy sinh trên đường đi công tác tại Thanh Hoá ngày 23-7-1951. Được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

HỒNG CHI HẰNG, quan chức ngoại giao, trợ lý cho Lăng Kỳ Hàn. Tháng 5-1946, làm ở Tổng lãnh sự Quốc dân đảng Trung Quốc tại Hà Nội.

HUỲNH THÚC KHÁNG (1876-1947), quê Thạnh Bình, tổng Tiên Phước Thượng (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam. Đỗ giải nguyên năm 1900 và hoàng giáp năm 1904. Ông cùng các ông Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp tham gia phong trào Duy tân nên bị Pháp bắt và đầy đi Côn Đảo 13 năm (1908-1921). Năm 1926, được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, nhưng do bất đồng ý kiến với Khâm sứ Pháp nên ông từ chức và sáng lập báo Tiếng Dân ở Huế (1927-1943). Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông tham gia Chính phủ Liên hiệp kháng chiến với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Pháp (1946), ông được trao quyền Chủ tịch nước. Ông là một sáng lập viên và là Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt). Năm 1947, ông lâm bệnh mất tại Quảng Ngãi khi đang làm Đại diện Chính phủ ở miền Trung.

L

LĂNG KỲ HÀN, quan chức Bộ Ngoại giao Trung Hoa dân quốc, là thành viên trong Đoàn Cố vấn sang Hà Nội giúp Lư Hán. Tháng 10-1950, khi đang làm công sứ Đại sứ quán Trung Hoa dân quốc tại Pháp đã bỏ về với Chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và được bầu vào Ban Thường vụ Hội nghị chính trị hiệp thương toàn quốc.

LÊ ĐÌNH THÁM (1897-1969), quê Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau khi học hết bậc thành chung ở Huế, ông ra Hà Nội học và tốt nghiệp Trường Y, rồi lại về làm việc tại bệnh viện thành phố Huế. Là một trong những người thành lập Hội Phật giáo ở Huế.

Năm 1948, ông được cử giữ chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ. Năm 1949, được điều động lên Việt Bắc, lần lượt giữ các chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam; Uỷ viên đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam.

LÊ HỮU TỪ, Giám mục địa phận Phát Diệm (Ninh Bình). Sau Cách mạng Tháng Tám, được cử vào Ban Cố vấn Chính phủ. Tháng 9-1948, trước âm mưu quân Pháp nhảy dù xuống Bùi Chu – Phát Diệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Việt Bắc đã gửi điện thăm hỏi và thư cho Giám mục nhân Phái đoàn Chính phủ về công tác tại vùng này với mong muốn Giám mục với tư cách Cố vấn Chính phủ, góp phần hạn chế âm mưu của giặc Pháp. Tuy nhiên, tháng 9-1949, Pháp vẫn nhảy dù xuống Phát Diệm và đổ bộ lên Bùi Chu, chiếm đóng trung tâm công giáo lớn ở Bắc Bộ. Năm 1954, Giám mục Lê Hữu Từ di tản vào Nam cùng nhiều giáo dân.

LÊ VĂN HIẾN (1904-1997), người xã Phước Ninh, thành phố Đà Nẵng, xuất thân trong một gia đình lao động.

Học xong trung học, năm 1922 trúng tuyển vào làm nhân viên bưu điện Đà Nẵng. Năm 1927, ông cùng một số đồng chí thành lập Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1929 bị bắt, sau được tha, phải đổi vào làm việc ở Nha Trang (Khánh Hoà). Tại đây, ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1930, lại bị bắt, chịu án 5 năm tù khổ sai, giam ở ngục Kon Tum.

Năm 1935, mãn hạn tù ông về Đà Nẵng, được phân công làm công tác tài chính của Đảng. Tháng 5-1940 bị bắt lần nữa. Tháng 5-1945, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa ở Đà Nẵng.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông được giao nhiều trọng trách: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Đà Nẵng rồi Bộ trưởng Bộ Lao động (1945), Bộ trưởng Bộ Tài chính (1946-1959), Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao (1948), Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (1958).

Từ năm 1962, ông được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Vương quốc Lào trong suốt 15 năm liên tục.

LƠCLÉC, P.M. (tức Philippe Marie de Hautecloque) (1902-1947). Đại tướng Pháp, tham gia phong trào kháng chiến Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1944, cùng với quân Đồng minh, Lơcléc đổ bộ lên Noócmăngđi và chỉ huy Sư đoàn cơ giới 2 giải phóng Pari. Năm 1945, là Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương (8-1945 – 6-1946), nhân danh nước Pháp ký văn bản đầu hàng của Nhật. Năm 1946, chỉ huy quân Pháp ra Bắc Bộ thay thế quân Tưởng Giới Thạch (sau Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946), chết năm 1947 vì tai nạn máy bay. Năm 1952, được truy phong Thống chế.

LƯ HÁN (1895-1974), người Thiệu Thông, tỉnh Vân Nam, tự là Vĩnh Hành, người dân tộc Di. Tốt nghiệp Vân Nam giảng võ đường (Trường võ bị Vân Nam), nguyên là Sư đoàn trưởng của Long Vân. Đã từng là Tổng tư lệnh Tập đoàn quân số 1, Tổng tư lệnh Phương diện quân số 1 của Quốc dân đảng, Tỉnh trưởng Vân Nam, kiêm Tổng tư lệnh Quân bảo an (Công an) tỉnh, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng. Tháng 12 năm 1949 đã dấy binh khởi nghĩa. Sau đó giữ nhiều chức vụ trong chính quyền Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa: Chủ tịch Uỷ ban quân chính tỉnh Vân Nam, Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu Tây Nam, Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng, Uỷ viên thường vụ Đại hội Nhân dân toàn quốc (Quốc hội), Phó chủ nhiệm Uỷ ban thể dục thể thao quốc gia…

M

MÁC CLƠRƠ, R.B. (Robert B. Mc Clure), tướng Mỹ, chỉ huy quân đội Mỹ ở Trung Quốc trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

MOÓCLIE, L. (L. Morlière), tướng Pháp, Tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Việt Nam năm 1946, người chủ trương lợi dụng đàm phán để lấn dần từng bước, tiến tới tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta bằng vũ lực. Theo lệnh của Chính phủ Pháp, Moóclie đã nhiều lần gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta với những yêu sách ngang ngược hòng khuất phục nhân dân ta, buộc chúng ta phải đầu hàng.

MUTÊ, M. (Marius Moutet) (1902-1969), đảng viên Đảng Xã hội Pháp. Năm 1946 là Bộ trưởng Bộ nước Pháp hải ngoại (Bộ Thuộc địa Pháp). Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp (từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1946), Mutê đã có nhiều cuộc tiếp xúc, là người ký Tạm ước 14-9-1946 với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

MUÝT, P. (Paul Mus) (1902-1967). Học ở Hà Nội, thành viên Trường Viễn Đông Bác Cổ từ năm 1926 đến đầu những năm 1940. Về Pháp, tham gia phong trào kháng chiến Pháp chống phát xít Đức. Năm 1945, là phái viên của Đờ Gôn đến Việt Nam. Từ năm 1945 đến năm 1947 là Cố vấn chính trị của tướng P.M.Lơcléc và nhận nhiệm vụ bên cạnh Đô đốc Đácgiăngliơ và Cao uỷ Pháp Bôlaéc ở Đông Dương. P. Muýt là đặc phái viên của Cao uỷ Pháp Bôlae trong cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Nguyên tháng 5-1947.

N

NÊRU, J. (Nehru Jawaharlal) (1889-1964), nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ. Gia nhập Đảng Quốc đại (1912), là Tổng thư ký (1929) rồi trở thành Chủ tịch Đảng. Năm 1946, ông tham gia thành lập Chính phủ lâm thời Ấn Độ, giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Từ năm 1947, Ấn Độ tuyên bố độc lập, ông giữ chức Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Ông là người có nhiều đóng góp vào sự nghiệp hoà bình thế giới, là một trong những người đề xướng Năm nguyên tắc chung sống hoà bình, và là một trong những người sáng lập Phong trào không liên kết, là người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tác giả của nhiều tác phẩm nghiên cứu về phong trào dân tộc.

NGUYỄN HẢI THẦN (1878-1959), tên thật là Vũ Hải Thu, quê ở Đại Từ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Năm 1905 theo Phan Bội Châu sang Trung Quốc, đã theo học các trường võ bị Hoàng Phố, Hồ Nam, Thiều Quang, vốn là thành viên Việt Nam Quang phục hội sau là đảng viên Đại Việt, tham gia quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa. Sau khi Phan Bội Châu bị bắt, đưa về nước, Nguyễn Hải Thần tự coi mình là người kế tục của Phan Bội Châu ở Quảng Châu.

Năm 1931, Nguyễn Hải Thần về Quảng Châu mở cửa hàng xem số tử vi. Sau đó được Tưởng tập hợp cùng Vũ Hồng Khanh và một số người có tư tưởng chống Cộng lập ra Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Năm 1945, Nguyễn Hải Thần theo đoàn quân của Tiêu Văn về Việt Nam.

Để thực hiện sách lược tạm hoà hoãn với quân Tưởng nhằm tập trung lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ, ngày 1-1-1946, Nguyễn Hải Thần được cử giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và sau đó được bổ sung vào Quốc hội không qua bầu cử và giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ liên hiệp chính thức.

Sau khi quân Tưởng rút về Trung Quốc, Nguyễn Hải Thần bỏ trốn theo quân Tưởng về Nam Kinh. Năm 1947, Nguyễn Hải Thần lại về Quảng Châu tiếp tục mở cửa hàng tử vi và sống ở Trung Quốc cho đến lúc chết (1959).

NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (1904-1979), tức Sao Đỏ. Quê ở xã Thanh Tùng, Thanh Miện, Hải Dương. Khi lớn lên, làm công nhân tàu biển. Năm 1925, được gặp Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) và bắt đầu hoạt động cách mạng, được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cử về nước hoạt động. Năm 1928, từ Hải Phòng, được tổ chức phái đi công tác tại Hồng Kông, Quảng Châu, Thượng Hải. Ông gia nhập nhóm cộng sản đầu tiên của người Việt Nam ở Trung Quốc.

Năm 1931, ông bị mật thám Pháp bắt đưa về nước và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Năm 1932, vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1933, lại bị thực dân Pháp bắt, bị kết án tù chung thân và đày đi Sơn La. Năm 1943, lại vượt ngục và trở về hoạt động cách mạng. Năm 1944, được Đảng chỉ định làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và binh vận. Năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, được bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Sau Cách mạng Tháng Tám, liên tục là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ Đại hội lần thứ III đến Đại hội lần thứ IV, là Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Ông đã lần lượt giữ các chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Liên Xô; Tổng thanh tra của Chính phủ. Tại Quốc hội khoá III, kỳ họp thứ năm, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI đã bầu ông làm Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

NGUYỄN TƯỜNG TAM (1905-1963) tức Nhất Linh, quê gốc ở Quảng Nam. Nguyễn Tường Tam là người cầm đầu nhóm Tự lực văn đoàn, chủ nhiệm báo Phong hoá và Ngày nay. Năm 1940, đứng ra lập đảng Đại Việt thân Nhật. Do sách lược của Chính phủ ta tạm thời hoà hoãn với Tưởng, tháng 3-1946, được bổ sung vào Quốc hội không thông qua bầu cử và giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ đi dự Hội nghị Đà Lạt (5-1946) và thành viên trong đoàn đại biểu Chính phủ ta dự Hội nghị Phôngtennơblô. Nhưng Nguyễn Tường Tam đã bỏ nhiệm vụ. Sau đó theo Vũ Hồng Khanh đi Vân Nam (Trung Quốc) rồi tiếp tục làm tay sai cho thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ. Chết năm 1963 tại Đà Lạt.

NGUYỄN SINH KHIÊM (Nguyễn Tất Đạt) (1888-1950), quê ở Nam Đàn, Nghệ An, anh ruột Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông tham gia hoạt động chống Pháp trong tổ chức của Đội Quyên, Đội Phấn và bị Pháp bắt giam năm 1914, lĩnh án tù khổ sai 3 năm, sau tăng lên 9 năm. Năm 1920, thực dân Pháp chuyển ông về giam lỏng ở Huế. Ở đây, ông vẫn tiếp tục hoạt động yêu nước. Năm 1940, ông về quê, chính quyền thực dân lại bắt giam ông đến năm 1941 mới được tha. Cuối năm 1946, ông từ Nghệ An ra Hà Nội thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NGUYỄN THỊ THANH (1884-1954), biệt danh Bạch Liên, là chị ruột của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà tham gia tích cực trong tổ chức chống Pháp của Đội Quyên, Đội Phấn. Cuối năm 1910, bị Pháp bắt và được tha đầu năm 1911. Do hoạt động yêu nước, năm 1918, lại bị Pháp bắt chịu án tù khổ sai 9 năm ở Quảng Ngãi. Năm 1922, bị đưa ra Huế an trí. Năm 1940, về ở xã Chung Cự, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Năm 1945, về ở xã Kim Liên, Nam Đàn. Cuối năm 1946, bà ra Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NGUYỄN VĂN TỐ (1889-1947), quê ở Hà Đông (Hà Tây). Thuở nhỏ theo Hán học, sau chuyển sang Tây học, đỗ bằng Thành chung, làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội.

Trước năm 1945, làm Hội trưởng Hội Truyền bá quốc ngữ. Tháng 8-1945, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ Lâm thời, là đại biểu Quốc hội khoá I, Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông được cử làm Phó Chủ tịch Uỷ ban tản cư di cư, rồi cùng Chính phủ rút lên Việt Bắc tiếp tục tham gia kháng chiến. Mùa đông năm 1947, quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, ông bị bắt và bị giặc sát hại.

NÓTLINGƠ, S. (Stéphen Nordlinger), đại tá Mỹ, chỉ huy đội quân G5 hoạt động giải thoát tù nhân chiến tranh trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai.

O

ÔBƠRẮC, R. (Raymon Aubrac), cựu Uỷ viên Cộng hoà ở Mácxây, nghị sĩ Quốc hội Pháp. Ông là một người bạn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ÔRIÔN, V. (Vincent Auriol) (1884-1966), đảng viên Đảng Xã hội Pháp, nhà hoạt động chính trị, Bộ trưởng trong Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp (1936-1938). Năm 1943, tham gia phong trào “Nước Pháp chiến đấu” ở Luân Đôn (Anh). Từ tháng 1-1947 đến tháng 1-1954 là Tổng thống nước Pháp. Tháng 1-1947, ra sắc luật loại trừ các Bộ trưởng cộng sản khỏi Chính phủ, ủng hộ nước Pháp gia nhập khối NATO. Tháng 12-1958, ra khỏi Đảng Xã hội Pháp.

P

PÁTTI, A. (Archimedes Patti), sinh năm 1913 ở Niu Oóc, học ở Mỹ và Italia. Pátti tham gia trong quân đội Mỹ từ năm 1936 đến năm 1957, làm việc với cơ quan tình báo Anh từ năm 1942 đến năm 1944, là Trưởng phòng Đông Dương của Cơ quan Tình báo chiến lược OSS của Mỹ ở Hoa Nam từ tháng 10-1944 đến tháng 10-1945. Làm việc ở Bộ Quốc phòng Mỹ từ năm 1958 đến năm 1959 và sau đó làm ở Văn phòng Tư pháp của Tổng thống Mỹ từ năm 1959 đến năm 1971.

PHẠM NGỌC THẠCH (1909-1968), quê Quảng Nam, con nhà giáo yêu nước Phạm Ngọc Thọ.

Trước Cách mạng Tháng Tám, vừa làm nghề bác sĩ, vừa tham gia hoạt động cách mạng, một trong những sáng lập viên của tổ chức Thanh niên Tiền phong Nam Bộ, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (3-1945).

Sau cách mạng, ông được giữ nhiều chức vụ quan trọng: Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ Lâm thời, Thứ trưởng Phủ Chủ tịch (1949); Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính Sài Gòn – Chợ Lớn (1950-1953), Bộ trưởng Bộ Y tế kiêm Viện trưởng Viện Chống lao trung ương (1958), Chủ tịch Uỷ ban Điều tra tội ác của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Ông còn là người có nhiều hoạt động trong lĩnh vực y học quốc tế.

Ông được Chính phủ phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, là đại biểu Quốc hội khoá II và III.

Ngày 7-11-1968, ông đã hy sinh ở chiến trường miền Nam trong khi làm nhiệm vụ.

PHẠM VĂN ĐỒNG (1906-2000), quê xã Đức Tây, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tham gia phong trào học sinh sinh viên để tang chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Năm 1926, dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu. Năm 1927, về hoạt động ở Nam Kỳ và được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, bị bắt và bị kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo. Năm 1936, được trả lại tự do, ra hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940-1941, hoạt động tại miền Nam Trung Quốc, sau đó trở về nước tham gia tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao – Bắc – Lạng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được cử vào Chính phủ Lâm thời làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, được bầu vào Quốc hội liên tục từ khóa I đến khoá VII.

Từ năm 1947, được cử giữ nhiều trọng trách: Đại diện Chính phủ tại Nam Trung Bộ, Phó Thủ tướng Chính  phủ (1949), rồi Thủ tướng Chính  phủ (1955), sau đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến năm 1987. Ông là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tham gia các Hội nghị Phôngtennơblô (1946), Hội nghị Giơnevơ (1954), Hội nghị Băng Đung (1955) và nhiều Hội nghị quốc tế khác.

Ông là Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng (1947), Uỷ viên chính thức (1949). Từ năm 1951, ông liên tục được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, cho đến năm 1986. Từ năm 1987 là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

PHAN ANH (1912-1990), người xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông là Chủ tịch Tổng hội sinh viên, tốt nghiệp khoa Luật Đại học Đông Dương, Luật sư và Giáo sư Trường tư thục Thăng Long (Hà Nội), thành viên tích cực của cuộc vận động truyền bá quốc ngữ và phong trào thanh niên.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, là Chủ tịch Uỷ ban kiến thiết quốc gia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ kháng chiến, Tổng thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đi dự Hội nghị Phôngtennơblô (Pháp). Trong kháng chiến chống Pháp, từng là Bộ trưởng Kinh tế, Bộ trưởng Công thương, Bộ trưởng Thương nghiệp, Bộ trưởng Ngoại thương. Ông được cử làm Uỷ viên đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa I và khoá II, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV. Là đại biểu Quốc hội từ khoá II tới khoá VIII. Luật sư Phan Anh còn là một trong những người sáng lập Hội Luật gia Việt Nam, Uỷ viên Ban Thường vụ Hội Luật gia quốc tế, Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Hoà bình thế giới.

PINHÔNG, L. (Léon Pignon), sinh năm 1908, cố vấn chính trị cho đại diện Chính phủ Pháp ở Đông Dương. Từ năm 1948 đến năm 1950, là Cao uỷ Pháp tại Đông Dương.

R

RIVÊ, P. (Paul Rivet) (1876-1958), nhà nhân chủng học, đảng viên Đảng Xã hội Pháp, là thành viên trong đoàn đàm phán Pháp ở Phôngtennơblô nhưng ủng hộ Việt Nam. Ông đã nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946, là người tham gia thành lập Hội Pháp – Việt và là thành viên trong Ban lãnh đạo Hội.

T

TẠ QUANG BỬU (1910-1986), quê ở Nam Đàn, Nghệ An, thuở nhỏ học ở Quảng Nam, Huế, được cấp học bổng du học ở Pháp.

Sau khi tốt nghiệp Trường Điện cao cấp Pari (Pháp), Trường Đại học Oxford (Anh), năm 1940 trở về dạy học ở Huế. Là Uỷ viên trưởng Hướng đạo sinh Trung Kỳ, đóng góp nhiều công sức vào việc giáo dục lực lượng thanh niên yêu nước. Tháng 4-1945, tham gia thành lập Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến ở Huế – chuẩn bị cán bộ quân sự cho cách mạng.

Sau cách mạng, ông được giao nhiều chức vụ quan trọng: Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thành viên của Phái đoàn Việt Nam tại các Hội nghị Phôngtennơblô (1946) và Hội nghị Giơnevơ (1954). Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp… Ông là đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VI, Phó Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Xô.

Giáo sư Tạ Quang Bửu là tác giả của nhiều công trình khoa học có giá trị.

TIÊU VĂN, người tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Năm 1943 là Trung tướng trong quân đội Tưởng Giới Thạch và Trưởng ban Ngoại sự xứ, chuyên trách phòng chỉ đạo Việt Nam (Việt Nam chỉ đạo thất). Vào Việt Nam tháng 9-1945, được giao phụ trách cơ quan của Hoa kiều vụ và Trưởng ban chính trị của quân đội Tưởng Giới Thạch. Khi Hồng quân tiến xuống Hoa Nam, Tiêu Văn đã chạy sang hàng ngũ Giải phóng quân Trung Hoa. Sau năm 1930, được cử làm tư vấn cho chính quyền Quảng Đông dưới sự chỉ đạo của Diệp Kiến Anh.

TÔN ĐỨC THẮNG (1888-1980), người xã Mỹ Hoà Hưng, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc tỉnh An Giang). Năm 1910, ông làm thợ trong xưởng Ba Son của Hải quân Pháp tại Sài Gòn. Năm 1912, ông tổ chức cuộc bãi công của công nhân nhà máy, bị lùng bắt, phải trốn sang Pháp, làm thợ máy trong Hải quân Pháp.

Năm 1919, ông tham gia cuộc binh biến của công nhân và thuỷ thủ Pháp tại Biển Đen nhằm chống lại cuộc chiến tranh can thiệp phản cách mạng của bọn đế quốc vào nước Cộng hoà Xô viết Nga.

Năm 1920, ông trở về nước, xây dựng công hội bí mật tại Sài Gòn – Chợ Lớn và lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son tháng 12-1925 thắng lợi. Năm 1926, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, được cử vào Ban Chấp hành Kỳ Bộ Nam Kỳ của tổ chức cách mạng này. Cuối năm 1929, bị thực dân Pháp bắt trong vụ án đường Bácbiê, kết án 20 năm tù khổ sai, đầy ra Côn Đảo.

Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, được chính quyền cách mạng đón về, ông tham gia ngay vào cuộc chiến đấu của đồng bào Nam Bộ chống thực dân Pháp.

Từ năm 1955, ông là Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ năm 1960, ông là Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tạ thế, ông được cử làm Chủ tịch nước và giữ chức vụ đó cho tới khi qua đời. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều Huân chương cao quý khác.

TÔN TRUNG SƠN (1866-1925), còn có tên là Tôn Văn, Tôn Dật Tiên, người huyện Hương Sơn (Trung Sơn), Quảng Đông. Ông là nhà cách mạng dân chủ vĩ đại của Trung Quốc.

Sau khi tốt nghiệp Trường Y khoa Bắc Tế (Quảng Châu), năm 1894 ông thành lập Hưng Trung hội ở Đàn Hương Sơn (Hồ nô lu lu), nêu khẩu hiệu “Đánh đuổi Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa”. Khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, ông lưu vong ra nước ngoài. Năm 1905, ông thành lập Trung Quốc Đồng minh hội ở Nhật Bản, được bầu làm Tổng lý, đề xuất chủ nghĩa Tam dân (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc). Sau khi thành lập Đồng minh hội, Tôn Trung Sơn đã lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang. Cách mạng Tân Hợi (1911) thắng lợi, nền thống trị chuyên chế phong kiến Trung Quốc bị lật đổ, nước Trung Hoa dân quốc thành lập, ông được bầu làm Lâm thời Đại Tổng thống, định ra “Lâm thời ước pháp”. Nhưng sau đó, lực lượng phản động do Viên Thế Khải cầm đầu đã cướp thành quả cách mạng, khôi phục lại nền thống trị chuyên chế.

Năm 1914, tại Nhật Bản, ông lại tổ chức ra Trung Hoa cách mạng đảng. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga có ảnh hưởng rất lớn đối với ông. Ông đã từ bỏ tư tưởng cải lương, tiếp thu đề nghị của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cải tổ lại Quốc dân đảng, cùng với Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập Mặt trận thống nhất cách mạng, xác lập ba chính sách lớn: liên Nga, liên Cộng, giúp đỡ nông công (1923), triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc của Quốc dân đảng (1-1924), xác định lại nội dung của chủ nghĩa Tam dân, đề ra cương lĩnh chính trị phản đế phản phong, chủ trương xoá bỏ các điều ước bất bình đẳng, triệu tập Quốc dân hội nghị. Sau đó, ông thành lập Trường quân sự Hoàng Phố nhằm đào tạo cán bộ chỉ huy chuẩn bị Bắc phạt. Để tranh thủ khả năng thống nhất đất nước, ông đã nhận lời mời của Đoàn Kỳ Thuỵ lên Bắc Kinh để đàm phán. Sau khi tới Bắc Kinh, biết rõ cánh quân phiệt phương Bắc không có ý định thực hiện chủ trương phản đế phản phong mà ông đã nêu trong “Tuyên ngôn Bắc thượng” trước khi đi. Ông lâm bệnh rồi mất tại Bắc Kinh ngày 12-3-1925.

TÔN TỬ, tên thật là Tôn Vũ, nhà lý luận quân sự lớn của Trung Quốc, sống vào cuối thế kỷ VI trước công nguyên, tướng nước Ngô dưới triều Vua Hạp Lư thời Xuân Thu (722-481 trước công nguyên), là tác giả Tôn Tử binh pháp, một trong những bộ binh thư sớm nhất trên thế giới. Nội dung bộ sách này rất phong phú, bàn đến các phương diện, các giai đoạn, các chiến lược, chiến thuật, v.v. của chiến tranh. Binh pháp Tôn Tử không chỉ có giá trị đối với chiến tranh thời cổ đại, mà còn rất giá trị đối với chiến tranh thời hiện đại, vì thế được thế giới đánh giá cao và dịch ra nhiều thứ tiếng. Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu rất sâu sắc về binh pháp Tôn Tử và đã nhiều lần giới thiệu với nhân dân ta.

TÔRÊ, M. (Maurice Thorez) (1900-1964), nhà hoạt động chính trị Pháp và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tháng 3-1919, tham gia Đảng Xã hội Pháp và tích cực hoạt động đấu tranh để thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp (1924), Uỷ viên Bộ Chính trị và Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1925), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp (1930-1964), Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (1928-1943).

TƠRUMAN, H. (Harry Truman) (1884-1972), đảng viên Đảng Dân chủ Mỹ, là Tổng thống thứ 33 của nước Mỹ (1945-1953), người hạ lệnh ném bom nguyên tử xuống Hirôsima và Nagadaki (Nhật Bản). H. Tơruman là một trong những người khởi xướng đường lối “Chiến tranh lạnh” sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

TRẦN HUY LIỆU (1901-1969), nhà báo, nhà sử học và nhà hoạt động chính trị. Quê Vân Cát, huyện Vụ Bản, Nam Định. Tham gia hoạt động yêu nước từ rất sớm, là một trong những yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng ở Nam Kỳ, sau gia nhập Đảng Cộng sản. Tháng 8-1945, dự Đại hội Quốc dân Tân Trào và được cử làm Phó Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc giải phóng. Sau Cách mạng Tháng Tám, lần lượt giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước: Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền; Chủ tịch Hội Văn hoá cứu quốc, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Viện trưởng Viện Sử học, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học xã hội…

TRẦN TU HOÀ, chuyên viên nghiên cứu tại Sở Công binh của quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc, sang Việt Nam với chức vụ Thiếu tướng phụ trách vận chuyển quân giới.

TRƯƠNG PHÁT KHUÊ (1896-1980), tự là Hướng Hoa, người Thuỷ Hưng, tỉnh Quảng Đông, tốt nghiệp Học viện quân sự Hà Bắc, đã từng làm Quân đoàn trưởng Quảng Đông. Trong thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác (1924 – 1927), là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 12 Quân cách mạng Quốc dân, rồi Quân đoàn trưởng. Là tư lệnh Quân đoàn 4, Trương đã làm cho quân đoàn này nổi tiếng là “Quân đoàn thép” trong thời kỳ chiến tranh Bắc phạt. Nhiều tướng lĩnh sau này của Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc như Diệp Kiến Anh, Diệp Đĩnh, Lâm Bưu… đã từng phục vụ trong Quân đoàn 4 của Trương. Những năm 40 của thế kỷ XX, Trương là Tư lệnh của Đệ tứ chiến khu của Quốc dân đảng, ráo riết hoạt động trong các tổ chức của người Việt Nam tại Trung Quốc như cánh Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần… nhằm chuẩn bị lực lượng đưa về Việt Nam khi “Hoa quân nhập Việt”. Từ cuối năm 1943, trong quá trình chỉ đạo cải tổ Việt Nam Cách mạng đồng minh hội, Trương Phát Khuê thấy rõ ảnh hưởng và sức mạnh của Việt Minh do Hồ Chí Minh là lãnh tụ, nên đã “tranh thủ” Hồ Chí Minh bằng cách trả lại tự do và uỷ thác cho Người chuẩn bị kế hoạch triệu tập Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại của Việt Nam Cách mạng đồng minh hội tại Bộ tư lệnh Đệ tứ chiến khu từ ngày 25 đến ngày 28-3-1944.

Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Nhật, Trương Phát Khuê nhậm chức Chủ nhiệm hành chính tỉnh Quảng Đông. Năm 1949, quyền Tổng thống Lý Tôn Nhân cử ông làm Tổng tư lệnh lục quân. Tháng 7 – 1949, ông từ chức về Hồng Kông cư trú.

TRƯỜNG CHINH (1907-1988), tên thật là Đặng Xuân Khu, nhà hoạt động cách mạng, nhà thơ (bút danh Sóng Hồng), nhà báo, quê Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925, gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1927. Từ năm 1936 đến năm 1939, là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương trong Uỷ ban Mặt trận dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, là quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương và năm 1951 được bầu lại làm Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1958, là Phó Thủ tướng Chính  phủ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Tại Đại hội III (1960), Đại hội IV (1978), Đại hội V (1982) được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là Uỷ viên Bộ Chính trị. Từ năm 1960 đến năm 1981 là Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Năm 1981 được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tháng 7-1986 đến trước Đại hội VI của Đảng, lần thứ ba ông được bầu vào cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

TƯỞNG GIỚI THẠCH (1887-1975), người tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Từng học quân sự ở Nhật. Năm 1923, giữ chức Tham mưu trưởng Tổng hành dinh Chính phủ quân sự Quảng Đông. Được Tôn Trung Sơn cử đi khảo sát về quân sự ở Liên Xô, rồi về nước giữ chức Hiệu trưởng Trường quân sự Hoàng Phố (1924). Sau khi Tôn Trung Sơn mất, Tưởng Giới Thạch giữ chức Chủ tịch Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng, Tổng tư lệnh quân đội Chính phủ Quốc dân. Năm 1943, tái nhiệm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân đảng. Năm 1948, làm Tổng thống. Tháng 1-1949, Tưởng Giới Thạch từ chức; cùng năm rút ra Đài Loan tiếp tục giữ chức Tổng tài Quốc dân đảng và Tổng thống Trung Hoa dân quốc ở Đài Loan.

V

VALUY, G. (Georges Valluy) (1899-1970), tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương (6-1946 – 2-1948), chỉ huy quân đội Khối Bắc Đại Tây Dương ở Trung Âu (1956-1960).

VIÔLÍT, A. (Andrée Viollis) (1879-1950), nhà văn, nhà báo Pháp, đã sang Việt Nam năm 1931 và là tác giả cuốn Đông Dương kêu cứu. Là người ủng hộ Việt Nam và nhiều lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc Người ở Pháp, năm 1946.

VÕ NGUYÊN GIÁP, sinh ngày 25-8-1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Sớm tham gia phong trào yêu nước và gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng. Thời kỳ 1936-1939, hoạt động công khai tại Hà Nội. Năm 1940, sang Trung Quốc, được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau đó cùng Người trở về tham gia xây dựng căn cứ địa ở Cao – Bắc – Lạng. Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Hội nghị toàn quốc của Đảng năm 1945 ở Tân Trào, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được cử giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân sự Uỷ viên Hội, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị trù bị Đà Lạt. Năm 1948 được phong quân hàm Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy quân đội qua nhiều chiến dịch từ Việt Bắc Thu Đông 1947 đến Biên giới 1950, Điện Biên Phủ 1954, và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975.

Từ Đại hội II (1951) đến Đại hội IV (1976) liên tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Đại hội V (1982) được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khoá VII. Từ năm 1955 đến năm 1980 được cử làm Phó Thủ tướng Chính  phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, (sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng liên tục cho đến năm 1992). Hiện là Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công hạng Nhất và nhiều huân chương cao quý khác.

VŨ ĐÌNH TỤNG (1895-1973), người huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Là một nhà trí thức Công giáo yêu nước, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), ông đã tích cực tham gia nhiều công tác cách mạng và được cử làm Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ.

Trong kháng chiến chống Pháp và sau ngày miền Bắc giải phóng, là Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh. Năm 1958, là Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Ông còn là Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban liên lạc toàn quốc những người Công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu hoà bình.

VŨ HỒNG KHANH, tên thật là Vũ Văn Giản, người làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1928, Vũ Hồng Khanh tham gia Việt Nam Quốc dân đảng. Sau vụ bạo động của Quốc dân đảng ở Yên Bái (đầu năm 1930) thất bại, chạy sang Trung Quốc lợi dụng danh nghĩa Quốc dân đảng để đầu cơ cách mạng. Năm 1945, theo chân quân đội Tưởng về nước. Cuối tháng 6-1946, lại theo chân quân đội Tưởng chạy sang Trung Quốc.

Năm 1949 khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Vũ Hồng Khanh theo tàn quân của Bạch Sùng Hy chạy về Cao Bằng và ra làm cho Pháp. Năm 1954, Vũ Hồng Khanh chạy vào miền Nam. Năm 1979, Vũ Hồng Khanh được Chính phủ ta khoan hồng cho về quê Thổ Tang và mất tại đây năm 1993.

X

XANHTƠNY, J. (Jean Sainteny) (1907-1978), chính khách Pháp, nhân viên Nhà băng Đông Dương từ năm 1929-1931. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phục vụ trong phong trào kháng chiến Pháp. Từ cuối 1945-1947, là đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội, nhiều lần tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuối năm 1954, Xanhtơny là Tổng đại diện Cộng hoà Pháp tại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1969, thay mặt Chính phủ Pháp dự tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

XTALIN, I. V. (1879-1953), một trong những nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô. Năm 1898, gia nhập Đảng Công nhân dân chủ-xã hội Nga rồi trở thành đảng viên bônsêvích sau Đại hội lần thứ II của Đảng.

Thời kỳ chuẩn bị tiến hành cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Xtalin là Uỷ viên trong Trung tâm quân sự cách mạng.

Thời kỳ nước ngoài vũ trang can thiệp và nội chiến, Xtalin là Uỷ viên Hội đồng Quân sự cách mạng. Năm 1922, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (b) Nga.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1941-1945) là Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng và là Uỷ viên nhân dân Bộ Quốc phòng Liên Xô, Tổng Tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô. Ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm lý luận.

 1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.6, tr. 160.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)