Tháng 4, ngày 1
8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo và bàn về vấn đề đàm phán giữa hai bộ tham mưu Việt – Pháp; việc binh sĩ Việt Nam ở Thượng Hải yêu cầu về nước, việc phản đối Pháp và Mỹ đặt đường hàng không Niu Oóc – Hà Nội, Pari – Hà Nội mà không hỏi ý kiến Chính phủ ta.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 3
8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về vấn đề Ngân hàng Đông Dương phát hành giấy bạc 100 đồng và đình chỉ việc đổi giấy bạc 500 đồng. Hội đồng quyết định nếu phát hành giấy bạc 500 đồng phải được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam. Hội đồng không tán thành việc ký khoản ước tạm thời về thư tín và hàng không giữa Trung Hoa và Việt Nam.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 42 quy định quyền bất khả xâm phạm đối với những người giữ chức Bộ trưởng hay Thứ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính, đại biểu Quốc hội, nếu không được phép của các cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Nhà nước. Trong trường hợp có đơn tố giác thì chuyển về cho các cơ quan có thẩm quyền cao nhất và sẽ đưa ra Toà Thượng thẩm nơi phát giác và Toà Thượng thẩm xử chung thẩm.
– Sắc lệnh số 43 về việc lập tại Hà Nội, Thuận Hoá, Sài Gòn, một “Hội đồng phân định thẩm quyền giữa Toà án Quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường”.
– Sắc lệnh số 44 cử bà Đoàn Tâm Đan và các ông Nguyễn Quang Oánh, Trần Huy Liệu, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Nguyễn Huy Tưởng, Đỗ Đức Dục, Phạm Biểu Tâm vào Ban Trung ương vận động đời sống mới.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 4
8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội đồng Chính phủ họp bất thường để thông báo việc Người gặp Đô đốc Đácgiăngliơ và sau hai lần sửa chữa, phía Pháp đã chịu thảo một thông báo gần đúng với ý của ta; việc đại diện Chính phủ Pháp J.Xanhtơny yêu cầu mở cuộc thương thuyết trù bị giữa Việt Nam và Pháp ở Đà Lạt.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 5
8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo và bàn về việc thống nhất quân đội, đào tạo quân đội, tiếp tế quân nhu, việc ra Sắc lệnh cấm dùng giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương phát hành sau ngày 6 tháng 3, việc tổ chức ngày Đại hội Thanh niên, v.v..
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 45, quy định các cuộc lạc quyên, xổ số lấy tiền hay lấy đồ vật đều cấm hẳn, trừ khi được Chính phủ Trung ương cho phép. Các quy định cụ thể được ghi trong các điều 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 trong Sắc lệnh này.
– Sắc lệnh số 46, về việc cấm lưu hành các loại giấy bạc phát hành sau ngày 6-3-1946, nếu không được Chính phủ thừa nhận. Các loại giấy bạc lưu hành trái phép sẽ bị tịch thu. Các loại giấy bạc bị cấm lưu hành sẽ được quy định trong nghị định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 7
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 47 về việc Bộ Ngoại giao ta tách ra làm Nội bộ và Ngoại bộ. Nội bộ gồm những cơ quan ở trụ sở của Bộ. Ngoại bộ gồm các sứ bộ và lãnh sứ bộ. Cách tổ chức và nhiệm vụ của các cơ quan Nội bộ được quy định trong các điều 2,3,4 của Sắc lệnh này. Chế độ Ngoại bộ sẽ do một Sắc lệnh riêng quy định.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 8
8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe thư của ông J.Xanhtơny yêu cầu cho lập nhiều trụ sở để giải quyết các vấn đề liên quan tới Pháp; bàn việc thương thuyết với Pháp để bảo vệ tính mệnh, tài sản của người Việt Nam ở Lào và tình hình quân sự.
Cuối buổi họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc giấy mời của tỉnh Phú Thọ mời Chính phủ lên dự Lễ giỗ Tổ Hùng Vương.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 9
8 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các khu tự vệ thành Hà Nội. Người khen ngợi anh em tự vệ đã hăng hái tham gia nhiều công việc giúp đỡ nhân dân và Chính phủ, đồng thời nêu một số nhược điểm trong công tác của các đội tự vệ, nhắc nhở anh em cẩn thận trong việc dùng súng, kiên trì và không được chán nản, cần ôn hoà và có kỷ luật. Người nhấn mạnh câu: “Một sự nhịn là chín sự lành”, và nêu rõ ba nhiệm vụ của tự vệ lúc này là:
1. Củng cố và phát triển tổ chức.
2. Nghiên cứu chính trị để nhận rõ đường lối. “Hiểu rõ đường lối chính trị thì công tác đúng”.
3. Quân sự hoá sinh hoạt đoàn thể tự vệ, nghĩa là hoạt động phải có quy củ.
14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đến Trường Thể dục ở đường Cột Cờ để viếng các binh sĩ và Trưởng quan Trung Quốc tử trận hay vì bệnh tật, tai nạn mà bỏ mình. Buổi lễ do tướng Lư Hán chủ trì. Vòng hoa của Người mang dòng chữ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Chính phủ kính hiếu”.
– Báo Cứu quốc, số 211, ngày 10-4-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 213.
Tháng 4, ngày 10
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thơ tặng các cháu nhi đồng toàn quốc:
“Bác mong các cháu cho ngoan,
Mai sau gìn giữ giang san Lạc – Hồng.
Sao cho nổi tiếng Tiên – Rồng,
Sao cho tỏ mặt nhi đồng Việt Nam”.
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 48, về việc thiết lập trong toàn cõi Việt Nam một Đảm phụ đặc biệt gọi là Đảm phụ Quốc phòng thu trong niên khoá 1946. Đảm phụ Quốc phòng thu của các công dân Việt Nam từ đúng 18 tuổi trở lên đến đúng 65 tuổi, bất phân nam nữ, trừ những trường hợp được miễn (như người nghèo khổ hoặc tàn tật không kế sinh nhai; các chiến sĩ tại ngũ trong quân đội Việt Nam; cha mẹ, vợ chồng các liệt sĩ hoặc tử sĩ, các thương binh).
– Báo Cứu quốc, số 239, ngày 14-5-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 214.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 11
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Điền chủ Nông gia Việt Nam, kêu gọi nên lập các Hợp tác xã nông nghiệp vì đó “là một tổ chức có lợi to cho nhà nông”, “là một cách làm cho nhà nông đoàn kết, làm cho nhà nông thịnh vượng”, “giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân”. Bức thư có đoạn:
“Việt Nam ta là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.
Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”.
16 giờ, tại Việt Nam học xá, Người dự Lễ giỗ Tổ Hùng Vương.
– Báo Cứu quốc, số 229, ngày 1-5-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 215-216.
– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, 1985, tr.12.
Tháng 4, ngày 13
20 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm lớp Bình dân học vụ tại khu 21 Trường Hoài Đức, phố Hàng Trống (Hà Nội). Người xem sách vở, ân cần hỏi thăm anh chị em giáo viên và học viên. Sau đó, Người gặp Trưởng khu 21, hỏi về tình hình Bình dân học vụ và khen ngợi giáo viên đã tận tâm dạy học không lương và nói: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ là những người vô danh anh hùng, anh hùng không tên tuổi, không ai biết đến”.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 50 về tổ chức các cơ quan Bộ và thuộc Bộ Giao thông công chính, được quy định cụ thể trong 23 điều của Sắc lệnh này.
– Báo Cứu quốc, số 217, ngày 17-4-1946.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 15
10 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ để tiếp phái đoàn Quốc hội Việt Nam được cử sang Pari chào Quốc hội Pháp; nghe báo cáo về quân sự; về phái đoàn ta đi Trùng Khánh và vấn đề cho các hợp tác xã vay tiền để sản xuất nông nghiệp.
16 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Phái đoàn đi dự Hội nghị trù bị Việt – Pháp tại Đà Lạt22, dặn dò mọi việc trước khi Đoàn lên đường vào ngày 16-4-1946.
Người dặn phải chuẩn bị thận trọng về mọi mặt vì hội nghị này sẽ có ảnh hưởng lớn về sau.
Người nêu những nguyên tắc của Chính phủ đề ra:
1. Hết sức đoàn kết từ ý kiến đến hành động.
2. Hết sức cẩn thận.
3. Giữ bí mật.
4. Trước lúc tuyên ngôn gì với đại biểu Pháp, phải thảo luận trước.
5. Sau khi thảo luận với đại biểu Pháp một vấn đề gì, lúc về phải cùng nhau kiểm thảo lại để xem lẽ mình thắng hay bại ở chỗ nào.
6. Mỗi khi thảo luận nên chia làm ba nhóm: xung phong, hậu thuẫn và trù bị. “Phải có người đấm, người xoa”.
7. Mình chỉ xướng ra những vấn đề quan trọng. Ngoài ra để đại biểu Pháp nêu vấn đề.
8. Khi gặp vấn đề gì hai bên chưa thoả thuận được với nhau thì để nó tách ra, chứ đừng nói để hỏi ý kiến Chính phủ, vì nếu làm như vậy thì sẽ thắt Chính phủ vào việc đàm phán này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: “Cần căn cứ vào Hiệp định sơ bộ để đi đến cộng tác thực thà với Pháp”.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Phạm Khắc Hoè: Những bài học tôi đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy bảo. Báo Đại đoàn kết, số Đặc biệt, tháng 5-1990.
– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), tháng 10-1971.
– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Pari, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 46-47.
Tháng 4, ngày 16
5 giờ 30 sáng, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông Huỳnh Thúc Kháng tiễn phái đoàn đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt. Sau đó, Người gặp phái đoàn Quốc hội Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, chuẩn bị sang Pháp. Người căn dặn: “… phái đoàn có ba việc cần phải làm là đoàn kết, cẩn thận, làm cho người Pháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc”.
– Báo Sự thật, số 32, ngày 20-4-1946.
– Hoàng Xuân Hãn: Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, Tập san Sử Địa (Sài Gòn), tháng 10-1971.
– Bảo tàng Cách mạng Việt Nam: Từ Đà Lạt đến Pari, Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 49.
Tháng 4, ngày 17
8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về việc 600 quân Pháp từ Hải Phòng kéo lên Hà Nội đêm 15 tháng 4 mà không cho phía Việt Nam biết trước và việc lính Pháp gây rối ở Ga Hà Nội làm cho nhiều người bị thương. Sau đó Hội đồng bàn về vấn đề quản lý việc nấu rượu, vấn đề giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương và vấn đề ngoại giao với Pháp.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 51-SL về thẩm quyền của các toà án Việt Nam đối với mọi người, bất cứ quốc tịch nào trên toàn cõi Việt Nam. Thẩm quyền của các toà án và sự phân công giữa các nhân viên của toà án được ấn định trong 3 chương, 43 điều trong Sắc lệnh này.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 19
8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án Ngân sách lương thực của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc thiểu số và vấn đề tài chính.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Plâycu23. Thư có đoạn:
“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xêđăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 217-218.
Tháng 4, ngày 22
8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ thông báo một số tin thu thập được qua các báo, trong đó báo Trung Hoa nói về việc nghiên cứu một Hiệp định Thương mại Hoa – Việt – Pháp, báo của ta đính chính lại là Hiệp định Thương mại Hoa – Việt và đề nghị Bộ Kinh tế sẽ chuẩn bị việc này, Bộ Canh nông sẽ lập ngay Nha Kiều vụ. Hội đồng còn nghe báo cáo về việc xung đột giữa quân đội Trung Hoa và quân đội Pháp chiều ngày 21 tháng 4, công việc của Phái bộ Đà Lạt đã làm và bàn về dự án Sắc lệnh tổ chức Quân sự Uỷ viên hội.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 52 quy định về việc những công dân Việt Nam muốn thành lập các hội hoặc đoàn thể mà mục đích không phải để chia lợi tức, không làm đồi bại phong tục, hại đến trật tự chung, hoặc đến sự an toàn của quốc gia. Sắc lệnh quy định thể thức xin lập hội (hoặc đoàn thể) trong 15 điều.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 24
8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe thông báo về tin phía Pháp bắt ông Phạm Ngọc Thạch trong phái đoàn ta ở Hội nghị trù bị Đà Lạt, việc quân đội Pháp định đóng ở Điện Biên Phủ, việc quân đội Trung Hoa thoả thuận tỷ giá giữa tiền Quan Kim và tiền Đông Dương và thông qua danh sách các thẩm phán do Bộ Tư pháp đề cử.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:
– Sắc lệnh số 53-QP, về việc bổ nhiệm người giữ chức Chính trị Cục trưởng thay ông Hoàng Đạo Thuý đi giữ công vụ khác.
– Sắc lệnh số 54, về việc cho phép in các tem bưu điện có chân dung Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu, ngoài chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, có hai chữ Dân sinh và số phụ thu 3 đồng. Số phụ thu này sẽ nộp vào Quỹ “Cứu tế quốc gia”.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, trước ngày 25
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phóng viên Hãng Thông tấn Pháp AFP. Người kêu gọi người Pháp phải thi hành đúng Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3 và tuyên bố: “Nước Việt Nam, một quốc gia không thể nhận những quyết nghị của một Chính phủ chỉ huy như chế độ toàn quyền Đông Dương cũ”.
– Báo Cứu quốc, số 224, ngày 25-4-1946.
Tháng 4, ngày 25
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thị xã Sơn Tây.
Cùng ngày, Người tiếp tướng Gioăng tới thăm.
– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội, Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, 1985, tr.13.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 26
8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo cho Hội đồng biết tướng Gioăng đi công cán ở Trung Hoa, ngày 25 tới Hà Nội, có đến thăm Người và Chính phủ Việt Nam. Sau đó, Hội đồng nghe báo cáo về tình hình phái đoàn ta ở Đà Lạt, tình hình nhân sự của Bộ Giáo dục, tình hình kinh tế, xã hội, ngoại giao, về tổ chức văn phòng các bộ.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 27
Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hai phái viên Hãng Vô tuyến điện Pari đến xin thu thanh ý kiến của Người và ba bài hát: Tiến quân ca, Diệt phát xít, Hồ Chí Minh muôn năm để gửi về Pháp. Người nói: “Tôi gửi lời chào thân ái dân tộc Pháp. Mặc dầu có những trở lực hiện thời, tôi tin rằng sự hợp tác dân tộc Pháp và Việt sẽ đi đến kết quả vì hai dân tộc cùng theo đuổi lý tưởng chung: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.
– Báo Cứu quốc, số 227, ngày 29-4-1946.
Tháng 4, ngày 28
10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông Huỳnh Thúc Kháng, ông Lê Văn Hiến và một số vị khác về Thái Bình sự Lễ khánh thành đê Mỹ Lộc và Hưng Nhân.
– Báo Cứu quốc, số 228, ngày 30-4-1946.
Tháng 4, ngày 29
8 giờ 30, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo việc Hội giúp binh sĩ bị nạn ở Huế mời Người ra làm Hội trưởng danh dự và các Bộ trưởng làm Hội viên danh dự của Hội. Hội đồng tán thành. Người đề nghị Chính phủ thông tư cho các địa phương nên tỏ lòng biết ơn đối với các chiến sĩ. Sau đó, Hội đồng bàn vấn đề tha chính trị phạm, vấn đề gặt chiêm và chống phá rừng và đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi công nhân Việt Nam nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5.
Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 56, về việc bãi bỏ Đạo dụ số 69 ngày 31-10-1941 và quy định công nhân các công sở, tư sở, xí nghiệp trong toàn quốc đều được nghỉ việc ngày Quốc tế Lao động 1-5 và được hưởng lương như ngày làm việc. Những quy định cụ thể về cách trả lương những trường hợp không thể ngừng nghỉ ngày đó được ghi rõ trong các điều 3,4,5 của Sắc lệnh này.
– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 5, đầu tháng
Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm thị xã Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh), thị xã Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang).
– Hồ Chí Minh với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr.18.
Tháng 5, đầu tháng
Hàng ngày, từ 6 giờ đến 8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi đọc báo tại một phòng làm việc trong Bắc Bộ phủ để các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Thị Kim vẽ ảnh chân dung và nặn tượng Người. Trong lúc làm việc, các nghệ sĩ đã trao đổi với Người về nghề nghiệp.
– Nguyễn Thị Kim kể, Lê Hoàng ghi: Người nặn tượng, in trong cuốn Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985, tr.61-65.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)