Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 3 (Năm 1946 – Tháng 3)

Tháng 3, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp ông J.Xanhtơny để trao đổi về vấn đề quân Pháp ở miền Bắc, vấn đề Nam Bộ và vấn đề thành phần Chính phủ mới của Việt Nam.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.182.

Tháng 3, ngày 2

9 giờ, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội Khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà19 đã long trọng khai mạc.

Đọc diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật ý nghĩa lịch sử của Quốc hội lần này, sau đó, thay mặt Chính phủ liên hiệp lâm thời, Người đề nghị Quốc hội mở rộng số đại biểu thêm 70 người là đại diện của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội vì “trong lúc toàn thể đồng bào đương tranh đấu thì những đồng chí cách mạng Việt Nam ở hải ngoại không có thì giờ tham gia vào cuộc Tổng tuyển cử của nhân dân ta” và để Quốc hội ta “tỏ cho thế giới, cho toàn dân biết là chúng ta đoàn kết nhất trí” (Quốc hội biểu quyết tán thành).

Sau khi nghe báo cáo công việc Chính phủ đã làm trong sáu tháng qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trao quyền lại cho Quốc hội để tổ chức Chính phủ mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch Chính phủ kháng chiến và giao nhiệm vụ đứng ra tổ chức Chính phủ mới.

10 giờ, đọc báo cáo trước Quốc hội về việc thành lập Chính phủ kháng chiến20, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ sở dĩ việc tổ chức Chính phủ mới được nhanh chóng như vậy là vì “Chính phủ này ra mắt gồm có các đại biểu các đảng phái và các anh em không đảng phái, trước đây đã thương lượng và thoả thuận với nhau”. Tiếp đó, Người giới thiệu thành phần của Chính phủ kháng chiến 1), Tối cao Cố vấn đoàn và Kháng chiến uỷ viên hội.

Được Quốc hội thông qua, Chính phủ kháng chiến, Tối cao Cố vấn đoàn và Kháng chiến uỷ viên hội tuyên thệ nhậm chức: “Trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ”.

Trước khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu cảm ơn các đại biểu, “chúng ta cùng hứa với nhau rằng: Quốc hội họp lần này là Quốc hội kháng chiến, mà Chính phủ cử ra là Chính phủ kháng chiến. Tôi mong rằng Quốc hội họp lần sau sẽ là Quốc hội thắng lợi, mà Chính phủ cũng sẽ là Chính phủ thắng lợi”.

– Báo Cứu quốc, số Đặc biệt, ngày 3-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 189-196.

– Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 68-80.

Tháng 3, ngày 4

8 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp đầu tiên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến bàn về các vấn đề: Nguyên tắc họp của Hội đồng Chính phủ; Tuyên ngôn của Chính phủ liên hiệp kháng chiến; Chính sách đối với Pháp; Quyền hạn của Bộ Quốc phòng và Uỷ ban kháng chiến. Hội đồng Chính phủ quyết định Chính phủ chuẩn bị kháng chiến, đồng thời đàm phán với Pháp trên nguyên tắc Việt Nam độc lập và cử một tiểu ban nghiên cứu những điều kiện của ta trong đàm phán. Tiểu ban này gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến.

14 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập họp bất thường Hội đồng Chính phủ thông báo về việc Người cùng với Nguyễn Tường Tam gặp các vị trong quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa và Mỹ để đảm bảo sự ủng hộ của họ nếu Chính phủ ta ký kết gì với Pháp. Người Trung Hoa đồng ý. Người Mỹ nói họ cũng đồng ý nếu Pháp bằng lòng, nhưng còn phải hỏi ý kiến Chính phủ Mỹ. Trong phiên họp này, Hội đồng quyết định sẽ gửi một công điện cho Chính phủ Trung Hoa và công bố trên báo thái độ của Việt Nam đối với Hiệp ước Pháp – Hoa, đối với nhân dân Trung Quốc và Hoa kiều. Sau đó, Hội đồng đã cử một số vị phụ trách ứng phó với công việc trong lúc tình hình khẩn trương theo những nguyên tắc mà Chính phủ đã định, gồm: Hồ Chí Minh, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh. Việc đàm phán với đại diện của Pháp, Chính phủ cử Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phụ trách.

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp báo với các phóng viên Việt Nam bác bỏ những tin bịa đặt, đồn đại về cuộc đàm phán Việt – Pháp nhằm gây hoang mang, kích động quần chúng. Người cũng nhắc nhở dân chúng không nên nghe những tin đồn đó, mà phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và kháng chiến đến cùng.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với ông J.Xanhtơny về vấn đề Nam Bộ và một số vấn đề khác trong quan hệ Việt – Pháp.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 177, ngày 5-3-1946.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.183.

Tháng 3, ngày 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh về làng Hậu Ái (nay thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Tây) dự Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn về chủ trương thương lượng với Pháp.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thiệu Bách Xương (sĩ quan trong quân đội Tưởng Giới Thạch) một bản kiến nghị nhờ chuyển cho phía Pháp 2).

Bản kiến nghị nêu rõ: Nếu ký Hiệp định giữa Pháp và Việt Nam thì cần phải có đại biểu của Đồng minh chứng kiến và thông báo những yêu cầu của phía Việt Nam như sau:

1. Yêu cầu Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do, có Chính phủ, Quốc hội, tài chính, quân đội riêng, tất cả trong phạm vi của Liên bang Đông Dương.

2. Chính phủ Pháp yêu cầu Chính phủ Việt Nam chấp nhận một đội quân Pháp (gồm một vạn năm nghìn lính Pháp và một vạn lính Việt Nam, số lính Việt Nam do Chính phủ Việt Nam cung cấp), tổng số quân đội là hai vạn năm nghìn người.

3. Số phận của Nam Kỳ do nhân dân Việt Nam bỏ phiếu quyết định.

4. Nhà đương cục Pháp nên chủ động ký một Hiệp định ngừng chiến tạm thời giữa Pháp và Việt Nam.

5. Mọi vấn đề (thứ yếu) khác sẽ được thảo luận và giải quyết trong cuộc đàm phán chính thức.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các nhà thương lượng người Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc rất khuya với ông J. Xanhtơny. Người muốn Việt Nam độc lập và có quan hệ thân thiện với Liên hiệp Pháp. Hai người có bất đồng lớn về vấn đề Nam Bộ.

– Lịch sử Cảnh vệ công an nhân dân Việt Nam (1941-1954), Nxb. Công an nhân dân, 2002, tr.76.

– Lăng Kỳ Hàn: Tại Hà Nội tiếp thụ Nhật Bản đầu hàng nội mạc, tr.106 (bản Trung văn).

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.372.

– David Halberstam: Ho, Randan House/Alfred A.Knopf, New York, 1987, p.85.

Tháng 3, ngày 6

8 giờ 30, tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo về công tác ngoại giao với Pháp và vấn đề Dự thảo nội dung Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3. Hội đồng đã ký vào một biên bản đặc biệt tán thành ký Hiệp định đình chiến và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp với điều kiện Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do và Chính phủ Việt Nam bằng lòng để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa. Hội đồng uỷ quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh thay mặt Chính phủ ký Hiệp định trên với đại biểu Pháp.

12 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Hoàng Minh Giám gặp J.Xanhtơny và L.Pinhông tiếp tục tranh luận về những điều khoản của Hiệp định Việt-Pháp. Đến 13 giờ 30 những điều khoản của Hiệp định đã đạt được. Hai bên hẹn gặp lại nhau hồi 16 giờ 30 cùng ngày để ký kết chính thức.

16 giờ 30, tại số nhà 38 phố Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cùng với J.Xanhtơny đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp ký vào bản Hiệp định Việt – Pháp (Hiệp định Sơ bộ 6-3)21. Hiệp định khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình; việc hợp nhất ba Kỳ do nhân dân Việt Nam trực tiếp giải quyết. Phát biểu với những người dự Lễ ký kết, Người nói: “Chúng tôi không thoả mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn..”..

18 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Người tuyên bố với một số đại diện các báo hàng ngày về Hiệp định Việt – Pháp vừa được ký.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 181 và 182, ngày 7 và ngày 8-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.376-379.

– Philippe Devillers: Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, Seuil, Paris, 1952, p.220.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 246-247.

Tháng 3, sau ngày 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện đến Thủ tướng Anh báo tin: Ngày 6 tháng 3, một Hiệp định tạm thời đã được ký kết giữa Pháp và Việt Nam. Theo Hiệp định này, nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do có Chính phủ, quân đội, tài chính của mình và đề nghị Chính phủ Anh cũng công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do…

– Amiral d’Argenlieu: Chronique d’Indochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.258.

Tháng 3, ngày 7

Sáng, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Cố vấn Vĩnh Thuỵ tiếp ông uỷ viên Cộng hoà Pháp J.Xanhtơny, thay mặt Chính phủ Pháp, đến thăm 3). Người đề nghị địa điểm đàm phán Việt – Pháp sắp tới là Pari và tỏ ý muốn sớm được gặp ông Đácgiăngliơ tại Sài Gòn, trước khi sang Pháp.

15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Cố vấn Vĩnh Thuỵ đến thăm uỷ viên Cộng hoà Pháp J. Xanhtơny tại trụ sở của ông ta.

16 giờ, tại cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân Thủ đô trước Nhà hát thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Hiệp định Sơ bộ 6-3. Người nói:

 “Nước ta đã độc lập thực sự từ Tháng Tám năm 1945. Nhưng tới nay, chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó sẽ dẫn ta đến một vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế. Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào hãy nên bình tĩnh, đoàn kết, trọng kỷ luật..”..

Cuối cùng, Người im lặng giây lát rồi tuyên bố:

“Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Giấy uỷ nhiệm cho hai ông Hoàng Quốc Việt và Huỳnh Văn Tiểng vào Nam Bộ với đoàn đại biểu Pháp để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.197.

– Báo Cứu quốc,  số 180 và 181, ngày 8 và ngày 9-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.385-388.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 197.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 254.

Tháng 3, ngày 8

8 giờ 15, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo về việc quân đội Trung Hoa xung đột với quân đội Pháp ở Hải Phòng; việc cử ông Phạm Văn Đồng thay mặt Chính phủ đáp máy bay vào Sài Gòn; việc yêu cầu quân đội Trung Hoa chậm rút ở Hà Nội và không cho lính Pháp mang khí giới ở trong thành ra; việc người Pháp chở vũ khí từ trong Nam ra. Sau đó, Hội đồng bàn tiếp các vấn đề thống nhất hành chính quân đội, việc tiếp phòng quân đội Trung Hoa và quân đội Pháp, đàm phán với Pháp ở Pari…

14 giờ, tại phòng Hội đồng Toà thị chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập gần 50 cán bộ chỉ huy tự vệ thành Hà Nội nhắc nhở về nhiệm vụ tuyên truyền để dân chúng hiểu và bình tĩnh đối phó với tình hình. Người căn dặn: dù có Hiệp định đình chiến nhưng không phải là đã hết chiến tranh, vì thế phải nhã nhặn với Pháp nhưng không phải là nhu nhược, thụ động, mà trái lại, phải chủ động chuẩn bị bồi dưỡng lực lượng. Sự chuẩn bị đó phải liên tục, nếu không phải kháng chiến thì để kiến quốc.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Công hàm cho nhà cầm quyền Pháp ở Nam Kỳ về việc phái đoàn đại biểu Việt Nam vào Nam Kỳ để giám sát việc thi hành Hiệp định Sơ bộ 6-3. Đồng thời, Người gửi thư cho Đô đốc Đácgiăngliơ, thông báo về đoàn đại biểu của Việt Nam giám sát ngừng bắn đã lên đường vào Nam công tác và “hy vọng rằng quan hệ Pháp – Việt nhờ có tinh thần hiểu biết rộng rãi và chức vụ cao cả của Ngài mà ngày một cải thiện vì hạnh phúc tối thượng của hai dân tộc chúng ta”.

Nghiêm lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 181, “hạ lệnh cho toàn thể nhân dân và bộ đội phải giúp đỡ cho quân đội Trung Hoa, trong lúc quân đội Trung Hoa thoái triệt. Ai xâm phạm đến tính mạng, tài sản của quân đội Trung Hoa sẽ bị nghiêm trị”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Công hàm và Bức thư bằng tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 181, ngày 9-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 198.

Tháng 3, ngày 9

Bản Tuyên cáo cùng dân chúng Pháp và Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Lơcléc, đăng trên báo Cứu quốc, số 181. Sau khi nêu rõ lý do việc quân Pháp trở lại đóng từ vĩ tuyến 160N trở ra Bắc, Tuyên cáo kêu gọi “người Pháp và người Việt Nam hãy tuân lệnh những người lãnh đạo của hai nước, thi hành các mệnh lệnh một cách triệt để để cùng xây dựng kinh tế và kiến thiết”.

– Báo Cứu quốc, số 181, ngày 9-3-1946.

Tháng 3, ngày 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến và Uỷ ban hành chính Nam Bộ, giải thích về việc ký kết Hiệp định Sơ bộ 6-3 và kêu gọi mọi người đoàn kết, tôn trọng Hiệp định.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 199-200.

Tháng 3, ngày 11

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề ngoại giao để công bố hai điều trong Hiệp định Sơ bộ 6-3 cho thế giới biết:

1. Pháp thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nước tự do.

2. Cuộc đàm phán chính thức Việt – Pháp sẽ tiến hành sau khi Hiệp định Sơ bộ 6-3 được ký kết.

Hội đồng quyết định sẽ cử một phái đoàn đi Trung Hoa để tỏ rõ thiện chí của ta nhờ Trung Hoa giúp Việt Nam, v.v.. Sau đó, Hội đồng bàn về vấn đề nội chính và quân chính.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3 gửi Chính phủ và nhân dân thế giới, cùng đồng bào toàn quốc. Lời kêu gọi nêu rõ thiện chí của Chính phủ, đồng thời tố cáo phía Pháp đã có những hành động vi phạm Hiệp định. Người kêu gọi đồng bào trong nước hãy bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh Chính phủ và “thiết tha kêu gọi nhân dân và Chính phủ cả thế giới, nhất là nhân dân Pháp, hãy ủng hộ chính nghĩa làm sao cho bên phía Pháp thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ, để đi đến kết quả hoà hảo cho hai dân tộc và bảo vệ nền hoà bình thế giới”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 201-202.

Tháng 3, ngày 13

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quan hệ với Pháp, bàn về việc thi hành Hiệp định Sơ bộ 6-3, vấn đề cử người đi Trung Hoa và đi Pháp (theo đề nghị của Chủ tịch và ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao phải được 2/3 Hội đồng Chính phủ tán thành). Hội đồng quyết định Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ ra một bản tuyên bố nói rõ Pháp đã không theo đúng bản Hiệp định Sơ bộ 6-3 và phải chịu trách nhiệm nếu tình hình xấu xảy ra.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 15

Bài viết Phải đình chỉ ngay những cuộc đánh úp tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ (ký bút danh Q.T) của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báoCứu quốc, số 187, lên án những luận điệu và hành động vi phạm Hiệp định sơ bộ của thực dân Pháp, kêu gọi binh lính Pháp hãy ngừng bắn vào đồng bào, bộ đội Việt Nam, đồng thời kêu gọi các chiến sĩ Việt Nam luôn luôn sẵn sàng và quyết tâm chiến đấu cho giang sơn Tổ quốc, nếu người Pháp định lừa bịp và không thành thực ký kết với ta theo nguyên tắc bình đẳng.

Kết luận, bài báo viết: “Tóm lại, muốn Việt – Pháp đi tới chỗ thoả thuận có lợi cho cả đôi bên, người Pháp phải thành thực từ lời nói cho chí hành động, theo đúng bản Hiệp định đã ký mà đình chỉ ngay những cuộc xung đột ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ”.

9 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ thảo luận vấn đề quan hệ với Pháp. Hội đồng quyết định cần lập Hội đồng tham mưu Việt – Pháp để định rõ thời gian, địa điểm, số lượng và đường đi của quân đội Pháp để tránh những cuộc xung đột.

Tại Bắc Bộ phủ, họp mặt với các uỷ viên tuyên truyền các tỉnh Bắc Bộ, Người nêu rõ nhiệm vụ của các báo và các ban tuyên truyền hiện nay là “hướng dẫn lòng yêu nước và chí cương quyết cố giành độc lập hoàn toàn của đồng bào một cách ôn hoà, bình tĩnh, có lợi cho ngoại giao…, cần phải giải thích cho toàn dân hiểu rõ con đường đi của Chính phủ khi ký với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ” và nhấn mạnh “Bình tĩnh không phải là nhu nhược, cũng không phải là nhượng bộ, nhưng để tỏ ra rằng dân chúng có kỷ luật, dân chúng cũng như một đội quân. Binh sĩ không biết trọng kỷ luật, tất nhiên đội quân không thành; dân chúng không có kỷ luật, việc làm khó thành công.

Muốn đi đúng thời cuộc, chúng ta nên đặt lý trí lên trên tình cảm. Và muốn nhận định thời cuộc, chúng ta không thể không đứng ở địa vị khách quan”.

Cùng ngày, Người gặp J.Xanhtơny và tỏ ý lấy làm tiếc vì có sự căng thẳng hiện thời. Người đề nghị, để làm dịu tình hình cần nhanh chóng thông báo chính thức ngày lên đường của phái đoàn Việt Nam.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 28 về việc cử ông Tạ Quang Bửu làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 187 và 188, ngày 15 và ngày 16-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 203-205.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.155, 171.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi nhân dân thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp. Người nhắc nhở “trong lúc hai bên sắp đàm phán, thì cần gây nên một không khí thuận tiện cho sự đàm phán. Vậy tôi mong rằng quốc dân giữ lòng kiên quyết nhưng bình tĩnh, các báo thì bình luận một cách chính đáng, những lời lẽ nên cân nhắc… tuyệt đối phải bảo vệ tính mệnh, tài sản của người Pháp cũng như người Trung Hoa, để tỏ rằng dân ta là một dân tiên tiến, một dân có kỷ luật”… “Chúng ta phải làm đúng bản Hiệp định. Đối với họ tuyệt đối không được xung đột, đồng thời phải gây thiện cảm. Chúng ta phải tỏ cho họ biết rằng dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hoà bình, tín nghĩa”.

Cùng ngày, báo Dân Thanh đăng NGHIÊM LỆNH của Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sau đây:

“Trong Hiệp định Sơ bộ, Chính phủ Pháp đã công nhận nước ta là một nước Cộng hoà tự do trong Liên bang Pháp quốc. Chính phủ ta nhận để quân đội Pháp đến thay thế cho quân đội Trung Quốc đóng lại những nơi do Chính phủ ta và đại biểu Pháp đã thoả thuận. Cuộc đàm phán chính thức sắp mở với Chính phủ Pháp. Muốn cuộc đàm phán thi hành cần phải giữ lấy một không khí ôn hoà giữa người Việt với người Pháp. Vì vậy, Chính phủ hạ nghiêm lệnh sau đây:

1. Tuyệt đối cấm chỉ mọi sự khiêu khích đối với những kiều dân và quân đội Pháp.

2. Ai làm tổn hại đến tính mạng và tay sai của kiều dân và quân nhân Pháp sẽ bị nghiêm trị.

Hà Nội, ngày 16-3-1946

Chủ tịch Hồ Chí Minh (đã ký)”.

– Báo Cứu quốc, số 188, ngày 16-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 206-207.

– Báo Dân Thanh (94 Hàng Gai, Hà Nội), ngày 16-3-1946.

Tháng 3, ngày 18

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quân đội Pháp lên Hà Nội vào ngày 18 tháng 3 4); việc liên lạc với bộ đội của các chính đảng ở địa phương để thống nhất quân đội, bàn về vấn đề tiền cho phái đoàn đi Trung Hoa và giải quyết việc biểu tình bất hợp pháp chiều ngày 16 tháng 3, v.v..

17 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tướng Lơcléc dẫn đầu phái đoàn Pháp, đến chào Người. Tại buổi tiếp, Chủ tịch nghe Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Việt Nam J.Xanhtơny giới thiệu về tướng Lơcléc. Trong tiệc rượu, Người nói: … “Trong cuộc bang giao giữa chúng ta, nếu Anh, Mỹ đã đi trước chúng ta vì đã hứa cho Ấn Độ và Phi Luật Tân (Philíppin) được độc lập, thì chúng tôi cũng có thể tự hào rằng Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 đã cùng ký kết theo một tinh thần đó. Thực vậy, việc mà nước Pháp mới đã thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tự do là một dấu đầu tiên để đưa nước chúng tôi tới độc lập hoàn toàn một cách chắc chắn (…). Tôi hết lòng hy vọng rằng toàn thể nước Pháp mới và nước Việt Nam mới sẽ nêu ra trước hoàn cầu một cái gương sáng: cái gương hai nước biết cùng nhau giải quyết được hết các vấn đề khó khăn gai góc ngay sau cuộc tổng đảo lộn của hoàn cầu, bằng cách liên hiệp với nhau và hiểu biết lẫn nhau… để mưu hạnh phúc cho cả hai dân tộc và để mưu hoà bình cho thế giới”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Daniel Hemery: Ho Chi Minh de lIndochine au Vietnam, Decouvertes Gallimard, Paris, 1990, p.95.

– Báo Cứu quốc, số 192, ngày 20-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 208-209.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr.404-406.

– J. Xanhtơny: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 258.

Tháng 3, ngày 19

8 giờ 30, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Bỉ Hótsen (Houtschen). Người hỏi thăm về tình hình chính trị ở Bỉ và trả lời nhà báo về Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp, việc quân Pháp đến Hà Nội, việc cuộc đàm phán chính thức sắp tới ở Pari và tinh thần dân chúng miền Nam Việt Nam…

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29, về việc trích hai triệu đồng (2.000.000đ.00) ở ngân sách toàn quốc để Bộ Ngoại giao chi tiêu về những công việc đặc biệt.

– Báo Cứu quốc, số 193, ngày 21-3-1946.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 20

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo tình hình quân Pháp tới Hà Nội không xảy ra điều gì đáng tiếc. Về tin quân đội Việt Minh và Việt Nam Quốc dân Đảng xung đột, Người nêu ý kiến: Quân uỷ và Bộ Quốc phòng phụ trách dàn xếp các công việc ấy, không bàn chi tiết ở Hội đồng, “miễn là dàn xếp sao cho đại sự thì thành tiểu sự và tiểu sự thì thành vô sự”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông báo về việc Pháp muốn mời ta tham gia cuộc duyệt binh ngày 22 tháng 3 tại Hà Nội. Hội đồng quyết nghị Việt Nam sẽ tham gia nhưng sắp xếp để cuộc duyệt binh quy mô nhỏ chừng nào hay chừng ấy và nhất định không để quân Pháp đi qua các phố đông người Việt Nam ở.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được bức Công hàm của Đácgiăngliơ đề ngày 17-3-1946 do J.Xanhtơny trao lại. Người chấp thuận về thể thức cuộc gặp do Đácgiăngliơ đề nghị trong Công hàm 5).

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Đông, cảm ơn đồng bào đã gửi thư thăm Người. Thư có đoạn: “Tôi luôn nhớ đến những lúc tôi đau ốm, anh chị em săn sóc ân cần như ruột thịt. Vì vậy, người tôi tuy có xa cách nhưng lòng tôi vẫn luôn luôn gần gũi anh em. Tôi chắc rằng cái tình thân ái ấy không bao giờ phai lạt”.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.223.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.172.

– Báo Cứu quốc, số 192, ngày 20-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 210.

Tháng 3, ngày 22

8 giờ, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo về việc liên lạc giữa Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội, về việc tổ chức kỷ niệm ngày mất của cụ Phan Chu Trinh (ngày 24 tháng 3), và nghe báo cáo về việc duyệt binh, về các địa điểm cho quân Pháp đóng và về tình hình tài chính.

19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Lơcléc cùng các đại biểu quân đội Mỹ, Anh; quân đội và đoàn ngoại giao Trung Quốc dự tiệc chiêu đãi do tướng Lư Hán mời trước khi ông ta về nước. Người đã ký tên (bằng chữ Hán) vào tờ thực đơn.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 30, về việc bổ nhiệm chức Giám đốc Việt Nam công an vụ.

– Sắc lệnh số 31 NV/CC, cử ông Phạm Khắc Hoè giữ chức Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ thay ông Hoàng Minh Giám.

– Sắc lệnh số 32, quy định sửa đổi Sắc lệnh số 17 ngày 31-1-1946, ấn định lại việc phân chia các ngân sách và mục đề ngoài ngân sách của Bình dân Ngân Quỹ tổng cục cho hai cơ quan Nông nghiệp tín dụng và Kinh tế tín dụng.

– Sắc lệnh số 33/QĐ, quy định cấp, bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho lục quân của toàn quốc, và sử dụng từ ngày Sắc lệnh này được ký.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 197, ngày 25-3-1946.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc (sách ảnh), Nxb. Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, Bắc Kinh, 1995, tr. 41.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Giám mục Lê Hữu Từ, nhờ Giám mục giúp Chính phủ chọn cho một vị linh mục để cùng đi với các đại biểu của Chính phủ vào miền Nam Trung Bộ uý lạo đồng bào.

– Bức thư đăng trên Tập san của Thiên Chúa giáo Sài Gòn, bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 211.

Tháng 3, ngày 24

10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hội kiến với Cao uỷ Pháp Đácgiăngliơ trên tuần dương hạm Êmin Béctanh, đậu tại vịnh Hạ Long, theo lời mời của Cao uỷ. Tham dự, về phía Việt Nam có Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Minh Giám. Về phía Pháp có tướng Lơcléc, Raun Xalăng. Cuộc tiếp đón rất long trọng. Tại tiệc rượu trên tàu, sau khi Đácgiăngliơ tỏ ý hài lòng về mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Pháp và Việt Nam được lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Vâng, thưa Ngài Cao uỷ, đúng là những quan hệ hữu nghị, nhưng quan hệ ấy phải trở thành quan hệ anh em”.

Trong cuộc hội đàm, hai bên thoả thuận:

1. Vào trung tuần tháng 4, một phái bộ đại biểu Quốc hội Việt Nam sẽ đi Pháp để tỏ tình thân thiện.

2. Một phái bộ Pháp (khoảng 10 người) sẽ sang Việt Nam, cùng phái bộ Việt Nam chuẩn bị những tài liệu cần thiết.

3. Hạ tuần tháng 5, phái bộ Việt Nam sẽ qua Pháp mở đàm phán chính thức tại Pari.

Sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh duyệt hạm đội theo lời mời của viên Cao uỷ.

Trên máy bay trở về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với tướng Raun Xalăng: “Nếu Đô đốc muốn đem tàu bè ra để lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể nào đi ngược các dòng sông của chúng tôi”.

– Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.

– Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 414-417.

– Amiral d’Argenlieu: Chronique dIndochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.229-234.

– Philippe Devillers: Paris – Saigon – Hanoi, Gallimard/Julliard, Paris, 1988, p.173.

Tháng 3, ngày 25

8 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ. Hội đồng nghe ông Nguyễn Tường Tam báo cáo cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đácgiăngliơ ở vịnh Hạ Long ngày 24 tháng 3 và thoả thuận về việc đoàn Việt Nam sang Pháp đàm phán. Sau đó, Hội đồng bàn về vấn đề tổ chức hành chính ở những nơi Pháp đóng quân tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ, về việc lập Kinh tế uỷ viên Hội ở Bộ Kinh tế.

Cùng ngày, Người tiếp các nhà báo và phát biểu ý kiến về cuộc tranh luận về vấn đề Việt Nam tại Quốc hội Pháp và gửi thư cảm ơn Đô đốc Đácgiăngliơ về cuộc đón tiếp trên tuần dương hạm Êmin Béctanh.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 34, quy định tổ chức của Bộ Quốc phòng gồm: một văn phòng (có bốn phòng sự vụ) và 10 cục chuyên môn (như chính trị, tình báo, quân nhu, quân giới, quân y…). Đồng thời quy định nhiệm vụ của văn phòng, phòng sự vụ, cục, v.v..

– Sắc lệnh số 35, về việc cử các ông: Nguyễn Ngọc Minh, giữ chức Chủ nhiệm Bộ Quốc phòng; Hoàng Đạo Thuý, giữ chức Chính trị Cục trưởng; Vũ Anh, giữ chức Chế tạo Cục trưởng; Vũ Văn Cẩn, giữ chức Quân y Cục trưởng,…

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 26

Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở tiệc chiêu đãi những người có quan hệ trong Bộ Tư lệnh quân đội Trung Hoa dân quốc tại Việt Nam.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc (sách ảnh), Nxb. Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, Bắc Kinh, 1995, tr. 41.

– Bảo tàng Hồ Chí Minh: Biên niên sự kiện Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Hà Nội, 2004, tr. 139.

Tháng 3, ngày 27

8 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về bộ máy tổ chức Bộ Xã hội, Bộ Ngoại giao; Sắc lệnh bảo đảm tự do cá nhân; Sắc lệnh tạm thời về chế độ báo chí; tình hình tài chính; việc Trung Hoa muốn mua và mượn đường sắt. Vì thấy mỗi bộ tổ chức mỗi khác, Người nêu ý kiến về bộ máy nên có một sơ đồ tổ chức chung cho các Bộ.

Cùng ngày, bài viết Sức khoẻ và thể dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc, số 199, kêu gọi đồng bào tập thể dục vì: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ.

Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người yêu nước”. Người mong “đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 36, quy định tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Xã hội gồm một Văn phòng Bộ và ba Nha chuyên môn (Y tế trung ương, Cứu tế trung ương và Lao động trung ương). Quy định mỗi Nha có một giám đốc điều khiển và nhiệm vụ của mỗi Nha.

– Sắc lệnh số 37 về việc cử các ông: Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Nha Y tế  trung ương; bác sĩ Đỗ Xuân Hợp, Chủ tịch cơ quan Cứu tế xã hội Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Nha Cứu tế trung ương; và bổ nhiệm Giám đốc Nha Lao động trung ương và Chánh Văn phòng Bộ Xã hội.

– Sắc lệnh số 38, về việc thiết lập trong Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục gồm một Phòng Thanh niên và một Phòng Thể dục trung ương.

– Sắc lệnh số 39, về việc bổ nhiệm Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng.

Cũng trong ngày, Người căn dặn đồng chí Nguyễn Triệu phụ trách công tác bảo vệ tại Bắc Bộ phủ: Một là, tổ chức ngay một lực lượng gồm những anh em trung kiên vừa ở chiến khu về lập thành một tiểu đội, quần áo như dân thường. Khi nào Bác có việc, hoặc ra ngoại thành thì đi theo giúp đỡ. Hai là, cháu là người chỉ huy phải thuộc kỹ lưỡng đường đi lối lại, ngõ ngách ra vào để bố trí kế hoạch tác chiến và hành động lúc có sự cố và phải chủ động đề phòng mọi bất trắc từ bên ngoài cũng như từ trong Bắc Bộ phủ.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Báo Cứu quốc, số 199, ngày 27-3-1946.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 212.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Nguyễn Triệu: Những ngày đầu ở Bắc Bộ phủ, in trong cuốn Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 36-37.

Tháng 3, ngày 29

8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về vấn đề xin đăng ký thầu những công việc cho phép, vấn đề phản kháng quân Pháp chiếm đóng Sở Tài chính, vấn đề thuế, vấn đề bổ nhiệm nhân viên cao cấp Bộ Canh nông.

Trong ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký:

– Sắc lệnh số 40 về những quy định, luật lệ tạm thời cho phép bắt giam những công dân có hành vi phạm pháp để điều tra, nghiên cứu, truy tố và xét xử; quy định hình phạt và trách nhiệm các cơ quan địa phương. Sắc lệnh gồm 4 tiết với 24 điều.

– Sắc lệnh số 41 về những quy định tạm thời cho chế độ báo chí và xuất bản, gồm 3 mục với 14 điều.

– Bản sao Biên bản Hội đồng Chính phủ, lư­u tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Bản chụp Sắc lệnh, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một số tài liệu thông qua ông S. L. Nótlingơ trong Đoàn cứu trợ nhân đạo Mỹ, nhân dịp kết thúc công việc ở Việt Nam trở về Mỹ.

– Thư của ông S. L. Nótlingơ gửi Hồ Chí Minh đề ngày 24-8-1968, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

 _________________________________

1) Thành phần của Chính phủ kháng chiến gồm:

1.  Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.  Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần
3.  Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam
4.  Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng
5.  Bộ trưởng Bộ Kinh tế Chu Bá Phượng
6.  Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến
7.  Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh
8.  Bộ trưởng Bộ Xã hội, kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động Trương Đình Tri
9.  Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đặng Thai Mai
10.                 Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hoè
11.                 Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Trần Đăng Khoa
12.                 Bộ trưởng Bộ Canh nông Bồ Xuân Luật

2) Bản kiến nghị đó được chuyển cho tướng R. Xalăng vào 21 giờ hôm đó.

3) Phía Pháp còn có các ông R. Xalăng và L. Pinhông.

4) Theo thoả ước Pháp – Tưởng, từ ngày 15 đến ngày 31-3-1946, 20 vạn quân Tưởng sẽ rút khỏi miền Bắc Đông Dương, thay vào đó là binh lính Pháp. Ngày 18-3 là ngày 200 xe nhà binh Pháp chở 1.200 binh lính Pháp từ Hải Phòng lên Hà Nội.

5) Đácgiăngliơ đề nghị gặp riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 24-3 tại tuần dương hạm Êmin Béctanh gần Hải Phòng với những nghi lễ trọng thể xứng đáng với cương vị Chủ tịch nước. Trong Công hàm, Đácgiăngliơ còn thông báo Chính phủ Pháp cũng mong muốn chính thức mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp để đặt quan hệ hữu nghị trên những cơ sở vững chắc giữa hai Chính phủ.

Đácgiăngliơ đề nghị J.Xanhtơny trao ngay Công hàm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng vì nhận thấy chưa có thời điểm thuận lợi nên J.Xanhtơny và Lơcléc để đến ngày 20 mới trao.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)