Tháng 10, ngày 4
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu về Binh pháp Tôn Tử với nhan đề Phương pháp đánh giữ và tiến thoái, ký tên Q.Th., đăng trên báo Cứu quốc, số 365. Người phân tích những quan điểm của Tôn Tử trong cách tiến công và thoái lui, và rút ra kết luận: “Phương pháp dụng binh là phương pháp thiên biến vạn hoá. Tuỳ theo thời cơ, theo địa điểm, theo tình hình bên địch, người làm tướng lúc bày thế trận này, lúc bày thế trận khác”, “muốn được thắng trận, phương pháp đánh giữ và tiến thoái phải luôn luôn biến đổi hợp với thời cơ, hợp với tình hình trên mặt trận. Nhanh như chớp, biến hoá như thần, đó là bí quyết của phép dụng binh”.
– Báo Cứu quốc, số 365, ngày 4-10-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 316, 318.
Tháng 10, đầu tháng
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai bức điện từ chiến hạm Đuymông Đuyếcvin. Nội dung các bức điện như sau:
1– “Gửi tướng Gioăng,
Thưa tướng quân, người bạn thân mến,
Chúng tôi vừa rời Cảng Xtơranhpôli ngày hôm nay. Còn chừng mươi ngày nữa là tôi sẽ về đến nước tôi.
Tôi vẫn rất khoẻ trên chiến hạm Đuymông Đuyếcvin. Tôi thành thật cảm ơn Ngài về điều đó.
Trung tá Tuytănggiơ (Tutenges), đã cùng tôi lượt đi, bây giờ lại cùng về với tôi, là một người can đảm. Nhân dịp này tôi phải báo cáo để Ngài quan tâm tới trung tá.
Ngay khi về nước, tôi sẽ làm hết sức mình để củng cố tình hữu nghị và hợp tác giữa hai dân tộc chúng ta.
Tôi gửi Ngài những tình cảm hữu nghị quý báu nhất và nhờ Ngài chuyển lời chúc mừng của tôi tới tướng quân phu nhân và hôn các cháu”.
2- “Gửi ông Hêtơrích thân mến 1),
Tôi vừa đọc lướt cuốn sách “Độc lập” của ông. Ngoài một vài điều cân nhắc, tôi phải nói rằng cuốn sách đó là khách quan và chân thật.
Khi nói về Việt Minh và sự hợp tác Pháp – Việt, ông viết:
“Dù muốn hay không, dù có những sai sót… Việt Minh đang đại diện cho tâm hồn hiện tại của Đông Dương, của Việt Nam. Ngọn gió độc lập đang thổi trên toàn châu Á…
“…Một nhân dân như nhân dân Việt Nam, nếu họ có phải học tất cả để có thể tự quản lý mình, họ cũng sẽ không bao giờ chịu rơi vào sự thác quản nữa…
“Và cuối cùng, lý tưởng của Việt Nam trước hết là sự thống nhất của Việt Nam, sự thống nhất của cả ba xứ Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ mà dân chúng ở đây đều cùng chung một nòi giống và nói chung một thứ tiếng…
“Chỉ có một cuộc trưng cầu ý kiến trung thực mới có thể giải quyết được vấn đề. Nếu việc thống nhất của Việt Nam được thực hiện, thì với sự thoả thuận, một sự thoả thuận thẳng thắn với họ, nền hoà bình ở Đông Dương sẽ có chỉ trong vài tuần lễ. Đó là sự hợp tác để tái thiết…
“Nếu bằng những thủ đoạn ít nhiều ranh mãnh, chúng ta định xoá bỏ và tách Nam Kỳ ra khỏi khối Việt Nam, chắc chắn chúng ta không bao giờ có được sự hợp tác của nhân dân Việt Nam. Điều đó có nghĩa rằng Hồ Chí Minh dù có cúi mình trước bạo lực, tình trạng mất ổn định vẫn sẽ xảy ra cho đến ngày mà những sự nổi dậy mới dẫn đến những hy sinh mới”.
(Thưa tác giả thân mến, tôi phải nói với ông rằng, tôi phải nói với nhân dân Pháp và nhân dân Việt Nam rằng Hồ Chí Minh không bao giờ chịu cúi mình trước bạo lực vì Hồ Chí Minh là một phần không thể chia cắt của nhân dân ông ta, ông ta mong muốn những gì mà nhân dân mong muốn, ông ta hành động điều mà cả nhân dân ông hành động).
“Là những kẻ chiến thắng hay mãi mãi là những người bạn, nước Pháp chọn điều nào?”.
Về điểm này, ông đã tiếp cận được chân lý. Và tôi tin chắc rằng chân lý sẽ chiến thắng.
Rất thân ái
HỒ CHÍ MINH”
– Bản bút tích bức điện bằng tiếng Pháp, lưu tại Bảo tàng Cách mạng.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 311-312.
Tháng 10, ngày 11
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Chiến tranh tư tưởng, ký tên Q.Th., đăng trên báo Cứu quốc, số 372.
Tác giả nêu rõ, trong chiến tranh ngày nay, chiến tranh tư tưởng so với các hình thức chiến tranh khác không kém phần quan trọng. Và mục đích của nó là làm ly gián quân địch, làm nhụt chí chiến đấu của bên địch.
Tổng kết những thủ đoạn về chiến tranh tư tưởng trong Binh pháp Tôn Tử, kết hợp với việc phân tích những kinh nghiệm trong chiến tranh hiện đại, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến công tác tuyên truyền nhằm vào ba đối tượng: với nước địch, với các nước trung lập và với dân chúng nước mình.
– Với nước địch, thì “tuyên truyền cho dân chúng hoang mang, rối loạn, mất hẳn nhuệ khí, không tin tưởng ở sự thắng trận.”
– Với các nước trung lập, “làm cho họ có thiện cảm với mình mà ác cảm với nước địch để nếu họ không về phe với mình đánh lại quân địch thì ít ra họ cũng đứng trung lập.”
– Với dân chúng nước mình, “làm cho họ nổi lòng căm hờn quân địch, quyết tâm chiến đấu, tin tưởng ở thắng lợi và trên dưới một lòng thề không đội giời chung với quân địch.”
Công việc tuyên truyền vận động ba đối tượng trên phải làm bằng rất nhiều cách, “không từ một thủ đoạn nào là không làm miễn là có lợi cho mình là được.”.
– Báo Cứu quốc, số 372, ngày 11-10-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 319-321.
Tháng 10, ngày 18
Chiến hạm Đuymông Đuyếcvin đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh vào vịnh Cam Ranh. Trên hạm tàu Suffren, Đô đốc Đácgiăngliơ và tướng Moóclie đón chào Người. Nhiều nhà báo cũng được mời đến dự.
Sau nghi lễ, Người dự tiệc chiêu đãi, trao đổi với viên Cao uỷ về việc thi hành Tạm ước 14-9.
Người đề nghị các nhà báo hãy góp phần tuyên truyền cho việc thi hành các điều khoản đã được thoả thuận trong Tạm ước.
– Báo Cứu quốc, số 380, ngày 19-10-1946.
– Amiral d’Argenlieu: Chronique d’Indochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, p.335.
Tháng 10, ngày 20
16 giờ 17, chiến hạm Đuymông Đuyếcvin đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn công tác cập Bến Ngự (Hải Phòng).
Tiếng đại bác chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh nổ vang trời cùng với tiếng hoan hô kéo dài khi Người xuất hiện trên boong tầu. Cùng lúc, còi Nhà hát thành phố cất lên báo tin vui Người đã đặt chân lên đất cảng. Trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Chưa bao giờ bến cảng này lại có một hồi còi làm rung động trái tim của hàng chục vạn con người như chiều hôm ấy.”
Tiếp đó, đoàn đại biểu Quốc hội, Chính phủ từ Hà Nội xuống cùng đại biểu Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng lên tận tầu đón chào Người.
17 giờ 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời con tầu đã đưa Người từ Pháp về, qua cầu tầu vào trong cảng. Quân nhạc cử hành quốc ca hai nước Việt – Pháp. Lễ duyệt binh bắt đầu với sự tham gia của hàng quân danh dự Vệ quốc đoàn và đơn vị danh dự của Sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp có quân kỳ, quân nhạc theo đúng nghi lễ trọng thể đón một vị nguyên thủ quốc gia.
Duyệt binh xong, Người bước tới máy phóng thanh cảm ơn các đại biểu và đồng bào ra đón, nhận bó hoa tươi thắm của vị đại biểu Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng rồi tặng lại đại tá Lami đại diện cho phía Pháp. Sau đó, Người lên xe về trụ sở Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng đang tạm đóng trong trường nữ học Minh Khai (quận Lê Chân) và nghỉ qua đêm tại đây.
Tối, Người dự tiệc chiêu đãi do Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng tổ chức. Cùng dự có Hạm trưởng Chiến hạm Đuymông Đuyếcvin và một số người Pháp. Phát biểu trong bữa tiệc, Người nói đến lợi ích của hai dân tộc Việt-Pháp vì một nền hoà bình, thịnh vượng chung.
Cho đến tận khuya, nhân dân vẫn nô nức kéo đến chào mừng Người. Người ra gặp bà con, bày tỏ lòng cảm ơn nhân dân và nói rằng Người vừa ở Pháp về, sức khoẻ tốt, bình yên, khuyên mọi người về nghỉ sớm.
– Báo Cứu quốc, số 382, ngày 21-10-1946.
– Trần Đương: Hai chuyến đi lịch sử của Bác Hồ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 173-174.
Tháng 10, ngày 21
5 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dậy sớm như thường lệ. Vừa lúc đó, một hồi còi rúc lên. Người hỏi còi gì và được ông Vũ Quốc Uy lúc đó là Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính thành phố trả lời rằng “đó là còi báo nhân dân xuống đường tập thể dục theo nếp sống mới”. Người yêu cầu cho đi xem nhân dân tập thể dục, chỉ thấy lèo tèo có vài người tập, Người hỏi ông Uy:
– Những người tập thể dục của chú đâu?
Ông Uy lúng túng, chưa kịp trả lời, Người nói tiếp:
– Kéo còi cho nhân dân tập mà không có người tập, như thế là mắc bệnh hình thức. Vả lại, kéo còi sớm quá trong lúc mọi người còn ngủ lại làm phiền cho nhân dân. Những điều này chú nên tránh.
Người đi một vòng quanh thành phố, muốn tận mắt chứng kiến quang cảnh đồng bào và chiến sĩ Hải Phòng trong những ngày nước sôi lửa bỏng này.
8 giờ, Người tiếp đại biểu nhân dân Hải Phòng – Kiến An, các tỉnh miền duyên hải, đồng bằng và các đại biểu từ Hà Nội xuống. Một cụ phụ lão tặng Người bức trướng thêu bốn chữ NHẤT NGÔN HƯNG BANG 2). Một cụ khác tặng Người cây gậy làm bằng một trăm đốt xương của con trăn.
Trong buổi tiếp, Người ân cần căn dặn đại biểu Hải Phòng-Kiến An: “Các cụ đi trước làm gương, anh chị em đồng tâm hiệp lực thì chắc chắn thành phố Hải Phòng sẽ trở nên thành phố gương mẫu của nước ta.” Người ghi vào cuốn Sổ vàng của Trường huấn luyện thanh niên Tô Hiệu (Hải Phòng) dòng chữ:
“Thanh niên đoàn kết
Gắng học tập
Gắng công tác
Tiến lên!
Tiến lên!”
Sau đó, Người còn tiếp chuyện riêng với ông Thuyết, người bạn thuỷ thủ cũ, lúc đó sống tại Hải Phòng; và yêu cầu cho gặp chủ bút tờ báoDân chủ (cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh và duyên hải, trụ sở đặt tại Hải Phòng). Người căn dặn chủ bút Bùi Huy Thục: “… Báo không nên viết những lời lẽ cứng rắn quá, không có lợi cho việc ngoại giao, mà nên viết mềm mỏng để tranh thủ thời gian hoà hoãn… Đừng hạ thấp mình, cũng đừng nên chọc tức kẻ thù. Báo chí phải dựa vào những cơ sở pháp lý để làm lợi khí đấu tranh…”.
Trước khi rời Hải Phòng về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc nói chuyện với nhân dân toàn thành phố. Hàng chục vạn đồng bào Hải Phòng – Kiến An đứng chật bãi Sông Lấp, lắng nghe tiếng nói ấm áp của Người “… Lúc tôi ra đi, tất cả đồng bào đều áy náy, không biết tôi đi thì công việc và sức khoẻ của tôi ra sao! Trong bốn tháng hai mươi ngày, đồng bào nhớ tôi, và tôi cũng bốn tháng hai mươi ngày nhớ đồng bào. Bây giờ tôi về thì rất sung sướng được thấy Tổ quốc thân yêu, thấy đồng bào quý mến, tôi rất vui lòng…” Người biểu dương những cố gắng của mọi tầng lớp trong công tác chuẩn bị kháng chiến và căn dặn những việc làm cụ thể để hoàn thành được “nhiệm vụ bao trùm nhất hiện nay là kiên quyết giữ vững độc lập, tự do!”.
10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại biểu Trung ương đi đón Người lên chuyến xe lửa đặc biệt về Hà Nội.
Suốt dọc đường xe lửa từ Hải Phòng về Hà Nội, hàng vạn đồng bào mang cờ hoa, khẩu hiệu đứng đón chào Người. Qua khung cửa sổ tầu, Người vẫy tay chào, đáp lại tấm lòng của đồng bào đối với Người.
15 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Chưa bao giờ ga Hàng Cỏ tấp nập như vậy. Hàng nghìn hàng vạn nhân dân Hà Nội tập trung tại đây hân hoan vui đón Người về. Cờ, hoa, khẩu hiệu đỏ rợp trời.
Tầu dừng bánh, Người bước ra từ cửa số 3. Người ôm hôn Cụ Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng – đại diện Chính phủ ra đón, rồi hai người cùng với Chủ tịch Quân uỷ Hội Võ Nguyên Giáp và tướng Pháp Moóclie đi duyệt binh.
Trên thềm nhà ga, Người nói chuyện cùng đồng bào và bộ đội. Thoạt đầu, Người nói tiếng Việt về nhiệm vụ của đoàn đại biểu Chính phủ ta, về bản Tạm ước 14-9. Rồi quay về phía binh lính Pháp, Người nói bằng tiếng Pháp, đại ý: Tôi vừa sang Pháp để thương lượng với Chính phủ Pháp về vấn đề độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam. Vấn đề này sẽ còn tiếp tục bàn đến vào đầu năm sau. Ở Pháp, tôi đã tiếp xúc nhiều với nhân dân Pháp và bạn bè quốc tế. Nhân dân Pháp cũng vừa trải qua cuộc kháng chiến chống phát xít Đức để giải phóng đất nước mình và đã giành được độc lập, tự do. Nhân dân Pháp rất yêu chuộng hoà bình, quý trọng tự do, không muốn chiến tranh, cũng như nhân dân Việt Nam rất yêu hoà bình, tự do, không muốn chiến tranh, chỉ muốn tình hữu nghị tốt đẹp giữa các dân tộc… Chúng tôi mong các bạn sớm hoàn thành nhiệm vụ để được trở về Tổ quốc của mình. Tin chắc những người thân của các bạn cũng đang mong chờ các bạn. Có lẽ đó cũng là ước muốn của các bạn…”
Cuộc đón tiếp kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên xe về Bắc Bộ phủ. Dọc đường, xe của Người đi giữa những tiếng hò reo, giữa sắc cờ, hoa lộng lẫy của hàng vạn đồng bào Thủ đô đã trông chờ từng ngày từng giờ ngày trở về của Người.
– Báo Cứu quốc, số 383, ngày 22-10-1946.
– Hồi ký của Bùi Huy Thục, tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Trần Đương: Hai chuyến đi lịch sử của Bác Hồ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 175-188.
Tháng 10, ngày 22
Buổi sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến phòng bá âm Đài Tiếng nói Việt Nam (lúc đó đặt tại số 4, phố Phạm Ngũ Lão), giải thích bản Tạm ước 14-9 với nhân dân cả nước.
15 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của các nhà báo Việt Nam, Pháp và Trung Hoa về những cảm nghĩ của Người trong thời gian ở Pháp và khi về đến Tổ quốc. Trả lời câu hỏi: Ngoại giao và quốc sách Việt Nam từ đây về sau có gì biến đổi không?, Người tuyên bố: “Có thể trả lời là không biến đổi gì hết. Về nội chính, Chính phủ từ trước tới giờ vẫn chủ trương đoàn kết để xây dựng nước Việt Nam mới. Về ngoại giao, Chính phủ quyết đòi độc lập, quyết đòi thống nhất, nhưng quyết định ở trong khối Liên hiệp Pháp; đối với các hữu bang, từ trước đến giờ vẫn theo một con đường thân thiện. Trước thế thì nay vẫn thế, không thay đổi.”.
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và dự Lễ bế giảng của Trường cán bộ tự vệ mang tên Hồ Chí Minh tại khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hoá hữu nghị).
Người tiếp đại uý Pháp L. Valoa (Louis Valloir) và các sĩ quan, thuỷ thủ Pháp của chiến hạm Đuymông Đuyếcvin. Người tặng L. Valoa bức tranh và mỗi thuỷ thủ một chiếc huy hiệu.
– Báo Cứu quốc, số 384 và 385, ngày 23 và 24-10-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 412-415.
Tháng 10, ngày 23
6 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nha Công an Bắc Bộ (phố Trần Hưng Đạo), thăm nhà riêng của ông Hoàng Mỹ, Phó giám đốc Nha, và thăm Ty Công an Quận Nhất (phố Hàng Trống).
Tại khu giam giữ phạm nhân của Ty Công an Quận Nhất, Người cặn dặn cán bộ: “Nên săn sóc những người bị giam và xét ngay, xét kỹ cho người ta khỏi oan uổng”. Người tặng ông Quận trưởng một huy hiệu in hình lá cờ đỏ sao vàng mà Người mang từ Pháp về.
Trong ngày, Người còn đi thăm Phòng Nam Bộ ở đường Gia Định (nay là phố Trần Nhật Duật, Hà Nội), thăm Trường trung cấp Huấn luyện công an và tặng ảnh chân dung của Người cho nhà trường.
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời tuyên bố với quốc dân sau khi ở Pháp về. Sau khi nêu rõ mục đích, ý nghĩa và kết quả của chuyến đi Pháp, Người đề ra những nhiệm vụ cấp bách trước mắt và kêu gọi toàn dân đồng tâm nhất trí với Chính phủ, ra sức tổ chức, ra sức công tác, tăng cường đoàn kết, mở mang kinh tế, xây dựng nước nhà, thực hành đời sống mới, để “làm cho Chính phủ và nhân dân Pháp trông thấy, làm cho toàn thế giới trông thấy rằng: dân Việt Nam ta đã đủ tư cách độc lập, tự do, không thừa nhận ta tự do độc lập thì không được”. Người kêu gọi mọi người cần tỏ thái độ thân thiện với người Pháp: lịch sự đối với quân đội Pháp, ôn hoà đối với kiều dân Pháp, thật thà cộng tác với những người Pháp muốn thật thà cộng tác, “Để tỏ cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh. Để cho số người Pháp ủng hộ ta càng thêm đông, sức ủng hộ càng thêm mạnh. Để cho những kẻ khiêu khích muốn chia rẽ, không có thể và không có cớ mà chia rẽ. Để cho công cuộc thống nhất và độc lập của chúng ta chóng thành công.”.
Riêng với đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, Người tuyên bố: “Trung, Nam, Bắc đều là đất nước Việt Nam. Chúng ta đều chung một tổ tiên dòng họ, đều là ruột thịt anh em. Nước có Trung, Nam, Bắc, cũng như một nhà có ba anh em… Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Pháp, thì cũng không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta”. (…) “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi trân trọng hứa với đồng bào rằng: Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc.”. Và Người căn dặn những việc mà đồng bào Nam Bộ phải làm ngay để “gây một không khí hoà bình và xây đắp con đường dân chủ để đi tới sự nghiệp Việt Nam thống nhất của chúng ta”.
– Báo Cứu quốc, số 384 và 385, ngày 23 và 24-10-1946.
– Báo Công an mới, số 1, 11-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 416-420.
Tháng 10, ngày 24
Chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở tiệc trà chiêu đãi đại biểu các cơ quan, các giới ở Thủ đô sau chuyến đi công tác dài ngày ở Pháp, Người nói: “Từ trước tới giờ, chúng ta đã đồng tâm hiệp lực chịu khó làm việc, nên chúng ta đã thu được ít nhiều thành công. Bây giờ chúng ta càng phải đồng tâm hiệp lực gánh vác việc nước, việc công hơn nữa”.
18 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì buổi nói chuyện của ông Lampuê (Lampoué), Giáo sư luật học người Pháp về đề tài Cá nhân và quốc gia, tại phòng kính nhà hát thành phố. Người chỉ vào hai quốc kỳ Pháp và Việt Nam và nói: “Đó là biểu hiện của một sự cộng tác khăng khít”. Cùng dự buổi nói chuyện có tướng Moóclie.
Cùng ngày, Người còn gửi thư cho các cháu thiếu nhi, bày tỏ tình cảm yêu thương, nhớ mong các cháu trong thời gian làm việc tại Pháp và vui mừng khi thấy rất nhiều cháu đã biết chữ. Người căn dặn các cháu phải siêng học, giữ sạch sẽ, giữ kỷ luật, làm theo đời sống mới và thương yêu, giúp đỡ cha mẹ, anh em.
– Báo Cứu quốc, số 385, 386, 387, ngày 24, 25 và 26-10-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 421-422.
Tháng 10, ngày 25
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Bàn về địa hình, ký tên Q.T., đăng trên báo Cứu quốc, số 386. Người dựa theo Binh pháp Tôn Tử nói về địa hình, kết hợp với tình hình thực tế, mà chia ra sáu loại địa hình thường gặp trong tác chiến, phân tích ưu điểm và nhược điểm của từng loại địa hình và đưa ra những chiến thuật chiến đấu trên các địa hình ấy.
Kết luận, Người viết: “Về quân sự đành rằng phải có binh mạnh, tướng giỏi, nhưng không nghiên cứu địa hình một cách tường tận, không thể xuất trận thành công được. Trên mặt trận, biết lợi dụng địa hình, đánh trận không hao tổn công sức mà được thắng lợi dễ dàng… Gặp địa hình nào phải tuỳ cơ ứng biến để có thể lợi dụng một cách có hiệu quả trong cuộc chiến đấu với quân địch.”.
– Báo Cứu quốc, số 386, ngày 25-10-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 423-425.
Tháng 10, ngày 26
7 giờ 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nha Dân tộc thiểu số và Trường Nùng Trí Cao tại đường Nguyễn Du. Sau đó, Người thăm nơi ăn, ở, sinh hoạt của các đại biểu về dự họp Quốc hội.
7 giờ 45, Người thăm Đoàn báo chí Việt Nam họp mặt tại nhà Thuỷ Tạ Bờ Hồ, đến trụ sở Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội gặp gỡ và thăm bốn Uỷ viên Trung ương của tổ chức này.
Sau đó, Người đến thăm Trường trung học nữ Hai Bà Trưng, dự lễ chào cờ rồi đi thăm các lớp học. Người đặc biệt chú ý đến việc học ngoại ngữ của học sinh nhà trường.
Cùng ngày, Người tiếp đại biểu Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam.
19 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở tiệc chiêu đãi các lãnh sự Anh, Mỹ, Trung Quốc và tướng Moóclie tại Hà Nội. Cùng dự buổi chiêu đãi có các ông Huỳnh Thúc Kháng, Võ Nguyên Giáp, Phan Anh, Nguyễn Xiển, Nghiêm Kế Tổ, Trần Duy Hưng…
– Báo Cứu quốc, số 388 và 389, ngày 27 và 28-10-1946.
Tháng 10, ngày 27
10 giờ, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại diện Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Trong hơn 1 giờ, Người đã giải đáp những thắc mắc của các đại biểu về tổ chức công đoàn thế giới, nhiệm vụ của công đoàn Việt Nam hiện nay và ký tên vào Sổ Vàng của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.
11 giờ 30, tại một căn phòng trong Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đón bà Nguyễn Thị Thanh – chị ruột của Người từ quê Nghệ An ra thăm.
Trước sự tủi mừng khôn xiết, bà Thanh hỏi Người về sức khoẻ, về nỗi nhớ quê hương, về bài hát ru “Non nước” thời thơ ấu. Người xúc động, lấy khăn chấm chấm đôi mắt và nói: “Chị có khoẻ không, em biết chị chờ lâu, nhưng vì em đang bận tiếp các đồng chí Nam Bộ ra.
Chị ơi, quê hương nghĩa nặng ơn sâu, mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình, những chiến sĩ cách mạng chân chính đều là những người con chí hiếu…”.
Tiếp đó, Người hỏi về quê hương thay đổi ra sao, về Bác Khiêm (Anh ruột Người), và một số thân nhân, người cao tuổi ở quê nhà. Người còn hỏi về hai người đi cùng bà Thanh 3) và dặn họ gắng học tập, đoàn kết, toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng, đừng quan liêu hủ hoá.
Biết bà Thanh mang quà quê biếu, Người nói: “Cảm ơn chị và hai cháu, tương thì để thỉnh thoảng mời Cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng) cùng ăn cho vui, gà để nuôi cho nó đẻ trứng” và Người mời bà Thanh cùng hai cháu đến chiều ở lại ăn cơm với Người, có Cụ Huỳnh cùng dự.
Sau đó, xe của Văn phòng đưa bà Thanh về nghỉ tại nhà người quen trong Thành phố Hà Nội.
– Báo Cứu quốc, số 390, ngày 29-10-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 426.
– Hồ Quang Chính: Bác Hồ gặp chị và anh ruột (Hồi ký), Nxb. Nghệ An, 1997, tr. 11-20.
Tháng 10, ngày 28
Chủ tịch Hồ Chí Minh dự lễ khai mạc kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà29 tổ chức tại Hà Nội.
– Báo Cứu quốc, số 390, ngày 29-10-1946.
Tháng 10, ngày 31
Được Quốc hội uỷ quyền thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến xin nhận nhiệm vụ và hứa trước Quốc hội Chính phủ sắp tới do Người tổ chức ra “phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái”, “phải là một Chính phủ liêm khiết”, “phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà”. “Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho”.
Cũng tại phiên họp Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xung phong trả lời các câu hỏi của các đại biểu Quốc hội. Người nói:
Sáng hôm nay Chính phủ nhận được của Quốc hội 62 câu hỏi chất vấn, sau đó là 26 câu nữa. Chính phủ xin cảm ơn các đại biểu đã tỏ ra hết sức quan tâm đến công việc của Chính phủ. Có nhiều câu hỏi cùng một ý, Chính phủ chia ra hai loại để tiện trả lời: nội chính và ngoại giao. Theo xếp đặt thì tất cả những câu hỏi thuộc về quân sự, quốc phòng nhiều nhất; tài chính thứ nhì; tư pháp thứ ba, rồi đến các việc về nội vụ và các việc khác.
1- Về những câu hỏi chất vấn của mấy đại biểu Nam Bộ, Hà Nam, Ninh Bình, Kiến An, Quảng Bình hỏi: cụ nguyên Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, nguyên Phó Chủ tịch Quân uỷ Hội Vũ Hồng Khanh và việc ông Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Kinh tế, cụ Nguyễn và hai ông Khánh, Tam hiện không ở đây… Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trong nước nhà ở vào giai đoạn khó khăn, Quốc hội giao cho trách nhiệm mà không gánh vác, những người ấy tự hỏi lương tâm đối với nhân dân, với Tổ quốc thế nào? Các đại biểu chất vấn chắc cũng nghĩ như thế nào rồi. Còn tin ông Chu Bá Phượng, một vài báo Pháp nói một vài tin, tin ấy đã qua rồi… Những người Quốc hội giao cho công việc mà không gánh vác, chúng ta ở đây vẫn gánh vác lấy được. Nếu những anh em ấy nghĩ lại, trở về, chúng ta vẫn hoan nghênh.
2- Về mấy đại biểu Hà Nam, Nam Định, Hải Dương… hỏi về ngoại giao và Bản Thoả hiệp tạm thời 4), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Chiều hôm trước, trong lúc báo cáo công việc của Chính phủ, ông Vũ Đình Hoè đã nói rõ chính sách ngoại giao của Chính phủ là thiện cảm với tất cả các nước dân chủ…”
– Báo Cứu quốc, số 394, ngày 3-11-1946.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 427-428.
– Báo Dân Thanh (94 Hàng Gai, Hà Nội), ngày 31-10-1946.
Cuối tháng
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho các ông: Gioócgiơ Biđôn, Mariuýt Mutê và Ph.Bi-u thông báo về cuộc gặp của Người với Đô đốc Đácgiăngliơ tại vịnh Cam Ranh vừa qua và thái độ phản ứng của Đácgiăngliơ đối với Tạm ước 14-9.
– Stein Tonnesson: 1946: Déclenchement de la guerre d’Indochine, L’Harmattan, Paris 1987, p. 66.
___________________________________
1) Giăng Misen Hêtơrích (Jean Michel Hertrich), nhà báo Pháp, một trong những phóng viên có mặt rất sớm ở Sài Gòn trong những ngày Cách mạng Tháng Tám, sau đó ra Hà Nội. Có dịp quan sát tình hình ở miền Nam, ở Hà Nội, trực tiếp tiếp xúc với người Việt Nam đủ các tầng lớp giai cấp, ông đã viết cuốn “Độc lập hay là chết. Những điều mắt thấy ở Đông Dương” (L’indépendance ou la mort. Choses vues en Indochine) và xuất bản tại Pari tháng 7-1946 đúng vào dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Phôngtennơblô.
2) Một câu nói (mà) làm rạng danh Tổ quốc.
3) Cả hai người đang học lớp mật mã ở Hà Nội. Đó là đồng chí Nguyễn Sinh Thọ, cháu gọi Người bằng ông và đồng chí Hồ Quang Chính – con nuôi cụ Hồ Tùng Mậu, tác giả tập Hồi ký “Bác Hồ gặp chị và anh ruột“.
4) Bản thoả hiệp tạm thời: Tạm ước 14-9-1946.
Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)