Tháng 1, đầu tháng
Hồ Chí Minh bị giải đến nhà ngục Quế Lâm, Người viết các bài thơ: bài 105: Đáo Quế Lâm (Đến Quế Lâm); bài 106: Nhập lung tiền (Tiền vào nhà giam).
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 37. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 390-392.
Tháng 2, đầu tháng
Tại nhà ngục Quế Lâm, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 107:?! và bài 108: ?.
Vì bị Biện công sảnh Quế Lâm của Uỷ ban quân sự1) tình nghi là chính trị phạm, nên Hồ Chí Minh lại bị giải từ Quế Lâm về Liễu Châu để giao cho Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu tra xét.
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 38. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 393-394.
– Điện báo của Lý Tế Thâm, Chủ nhiệm Biện công sảnh Quế Lâm của Uỷ ban quân sự gửi Ngô Thiết Thành ngày 29-11-1942. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984.
Cuối tháng 1, đầu tháng 2
Hồ Chí Minh bị giải đến Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu Quốc dân Đảng Trung Quốc (ở Liễu Châu) và bị giam tại nhà giam của Cục này. Ở đây, Người được đối xử tử tế hơn, theo chế độ “quản lý chính trị”: có đủ cơm ăn, không bị gông, không bị xích, buổi sáng và buổi chiều đều có mười lăm phút đi ra nhà vệ sinh có lính gác và thỉnh thoảng được đọc báo hoặc đọc sách2).
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 38-39. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện, Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 123.
Từ tháng 2 đến tháng 4
Tại nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu Quốc dân Đảng Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 109: Đáo Đệ tứ chiến khu Chính trị bộ (Đến Cục Chính trị Chiến khu IV3)); bài 110: Chính trị bộ cấm bế thất (Nhà giam của Cục Chính trị); bài 111: Mông ưu đãi(Được ưu đãi); bài 112: Triêu cảnh (Cảnh buổi sớm).
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 38-39. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 395-399.
Tháng 4
Trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 113: Thanh minh (Tiết thanh minh); bài 114: Vãn cảnh(Cảnh chiều hôm); bài 115: Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên (Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng); bài 116: Hạn chế (Bị hạn chế); bài 117: Dương Đào bệnh trọng (Dương Đào ốm nặng); bài 118: Bất miên dạ (Đêm không ngủ); bài 119: Cửu vũ (Mưa lâu); bài 120: Tích quang âm (Tiếc ngày giờ).
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 40-42. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 400-409.
Tháng 5
Từ trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh bí mật gửi được một lá thư về cho các đồng chí trong nước4) báo tin vắn tắt về tình hình của mình ở trong tù.
– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 64.
Tháng 5 đến tháng 7
Trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: bài 121: Độc Tưởng công huấn từ (Đọc lời giáo huấn của ông Tưởng5)); bài 122: Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm phó tư lệnh (Tướng quân Lương Hoa Thịnh6) thăng chức Phó tư lệnh); bài 123: Tặng tiểu Hầu (Hải) (Tặng chú Hầu (Hải)).
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 42 – 43. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 410-413.
Tháng 5 đến tháng 8
Hồ Chí Minh chưa được tự do nhưng không còn phải chịu đói và bị ngược đãi nữa. Người được phép đọc sách báo và thỉnh thoảng gửi về Việt Nam những tờ báo trong đó Người lồng một vài tin tức. Đối với người Trung Quốc, Người có vẻ một học giả cao tuổi, lễ độ và trầm lặng. Người dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên và Trung Quốc đích mệnh vận (Vận mệnh của Trung Quốc) của Tưởng Giới Thạch ra tiếng Việt.
– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949.
– King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 60.
Khoảng từ giữa tháng 7 đến tháng 8
Trong lần đón Hồ Mộ La (13 tuổi), con gái của ông Hồ Học Lãm đến thăm tại Văn phòng Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh tặng cô bé một món tiền dành dụm được đủ may một bộ đồng phục học sinh.
Người từ chối không nhận các thứ quà bà Lãm mang đến biếu Người.
– King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 58-60.
– Mộ La: Đời đời nhớ ơn Bác, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số tháng 10-1969, tr. 127-128.
Tháng 8
Trong nhà giam Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 124-125: Thu cảm, I-II (Cảm thu, I-II); bài 126: Nhân đỗ ngã (Nhân lúc đói bụng); bài 127: Trần khoa viên lai thám (Khoa viên họ Trần tới thăm); bài 128: Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư (Chủ nhiệm họ Hầu7) tặng một bộ sách); bài 129: Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động (Được lệnh trên cho đi lại ngoài buồng giam); bài 130: Thu dạ (Đêm thu).
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 44-45. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 414-421.
Tháng 9, đầu tháng
Trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 131: Tình thiên (Trời hửng); bài 132: Khán “Thiên gia thi” hữu cảm (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”); bài 133: Tức cảnh (Tức cảnh).
Trong những ngày này, được phép đọc sách báo, Người đã có những trang bút ký “Mục đọc sách”, “Mục đọc báo” ghi chen vào những trang thơ8).
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 46-53. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 422-425.
Tháng 9, trước ngày 10
Trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh nghĩ ra một lối ghi tốc ký chữ quốc ngữ.
– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949.
Tháng 9, ngày 10
Hồ Chí Minh được trả lại tự do. Người viết bài thơ 134: Kết luận (Kết luận), khép lại tập Ngục trung nhật ký.
– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 53. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 426-427.
Tháng 9, sau ngày 10
Hồ Chí Minh được trả lại tự do nhưng vẫn bị quản chế. Sức khoẻ Người giảm sút: mắt bị mờ, chân đi không vững. Người vừa tự tập luyện để phục hồi sức khoẻ, vừa tìm cách liên hệ với những tổ chức chống phát xít Nhật và thực dân Pháp của người Việt Nam ở Liễu Châu, đồng thời tìm cách chắp nối liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước.
Cách rèn luyện của Người là ra sức tập leo núi, tập nhìn vào bóng tối… để cho chân được vững, mắt được sáng. Người tự nhủ “Một chiến sĩ bị bệnh tê thấp thì còn làm gì được”.
– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 88-90.
Tháng 9, khoảng giữa tháng
Ở Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), Hồ Chí Minh viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán:
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
Giang tâm như kính tịnh vô trần;
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân9).
Kèm mấy dòng chữ Hán với nội dung:
“Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác. Ở bên này bình yên”.
Người gửi được tờ báo cùng với một bức thư về nước10).
– Võ Nguyên Giáp: Từ Pác Bó đến Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 33.
– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 65.
Tháng 10, khoảng cuối tháng
Hồ Chí Minh bắt đầu tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội11)
– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 98-99.
Tháng 11, khoảng giữa tháng
Theo yêu cầu của Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh nhận chức Phó chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Chủ tịch là Nguyễn Hải Thần).
– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 98.
Tháng 11, ngày 23
Hồ Chí Minh rời khỏi Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đến ở trong nhà Tổng bộ Việt Nam cách mạng đồng minh hội12) đặt tại đường Ngư Phong trong thành phố Liễu Châu.
– Trả lời phỏng vấn của Diệp Thuỵ Đình. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 99-100.
Khoảng tháng 11
Từ Liễu Châu, Hồ Chí Minh viết thư cho Từ Vĩ Tam, Vương Tích Cơ… (những người Trung Quốc kết nghĩa anh em với Người ở Ba Mông, Tĩnh Tây) báo tin Dương Đào đã chết. Người viết: “Dương Đào là người em thân thiết của chúng ta, chúng ta sẽ mãi mãi không quên chú ấy”13).
– Trả lời phỏng vấn của Vương Tích Cơ. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 98.
Mùa đông, một ngày chủ nhật
Sáng sớm, Hồ Chí Minh ra sông tắm.
Một lát sau, Trương Phát Khuê mặc áo lông đắt tiền, cưỡi con ngựa hồng cao lớn đi ngang qua, nhận ra người tắm dưới sông liền dừng ngựa lại chào.
Tướng Trương Phát Khuê nói: “Hồ tiên sinh là người An Nam. An Nam ở về nhiệt đới, sang đất Liễu Châu chúng tôi chịu đựng được cái rét mùa đông đã là không đơn giản. Thế mà nay Hồ tiên sinh còn bơi được dưới dòng nước lạnh giá này, thật là kỳ tài! Thật là kỳ tài!”
Người đáp lại rất tự nhiên: “Đâu dám! Đâu dám!”.
– Vũ Trường Khuê: Cùng sinh hoạt với Bác Hồ. Báo Tân Việt Hoa, ngày 18-5-1961.
Khoảng tháng 12
Tại Liễu Châu, Hồ Chí Minh dự một bữa tiệc do Hầu Chí Minh, Chủ nhiệm Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu chiêu đãi. Trong bữa tiệc, Nguyễn Hải Thần đọc một vế thách đối: “Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh”. Mọi người còn đang suy nghĩ thì Hồ Chí Minh ung dung đối lại:
“Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách”14).
Mọi người vỗ tay tán thưởng. Hầu Chí Minh ca ngợi không ngớt: “Đối hay lắm!”. Nguyễn Hải Thần cũng cung kính nói: “Hồ tiên sinh tài trí mẫn tiệp. Bội phục! Bội phục!”.
– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 100-101.
Trong năm
Tại Liễu Châu, Hồ Chí Minh viết bài thơ Tặng cụ Đinh Chương Dương15).
“Quan san muôn dặm gặp nhau đây,
Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây.
Dân bị hai tròng vào một cổ,
Ta liều trăm đắng với ngàn cay.
Già dù yếu sức mang mang nhẹ,
Trẻ cố ra công gánh gánh đầy.
Non nước của ta ta lấy lại,
Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây”.
– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 46.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 441.
Tháng 12
Bài Libăng đăng trên báo Đồng minh16) số 18, tháng 12-1943, giới thiệu về cuộc đấu tranh của nhân dân Libăng chống thực dân Pháp để giành được độc lập, tự do thực sự. Qua cuộc đấu tranh của nhân dân Libăng và sự đàn áp của thực dân Pháp, tác giả bài viết rút ra hai kết luận:
1- Bọn thực dân, dù là phe phái nào đều “mang tâm lang sói”, đàn áp cuộc đấu tranh của nhân dân bị áp bức.
2- Nhân dân Việt Nam “đang chuẩn bị đánh Nhật, đuổi Pháp để giành lấy sự độc lập tự do”, nên “rất đồng tình và mong cho công cuộc cách mạng của dân tộc Libăng được thắng lợi”.
– Báo Đồng minh, số 18, tháng 12-1943.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 442-444.
Cuối năm
Hồ Chí Minh đến nói chuyện với lớp huấn luyện cán bộ đặc biệt của thanh niên Việt Nam do Đoàn huấn luyện cán bộ Đệ tứ chiến khu tổ chức tại Đại Kiều (Liễu Châu, Quảng Tây, Trung Quốc).
Cũng vào cuối năm, Hồ Chí Minh đến dự lễ khai mạc lớp huấn luyện cán bộ Việt Nam tại ngoại thành Liễu Châu. Người nói bằng tiếng Việt. Hai người Việt Nam là Lê Dũng Thịnh và Nguyễn Thị Anh dịch sang tiếng Trung. Một sĩ quan của Quốc dân Đảng là Thiếu tá Diệp Thuỵ Đình đã ghi lại bài nói này.
Trong bài nói, Người cảm ơn Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã ủng hộ chân thành, mạnh mẽ và lâu dài cho cách mạng Việt Nam: “mong mỏi” sống chết dựa vào nhau, đắng cay ngọt bùi cùng chia xẻ. Cuối bài nói, Người khẳng định: “Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi. Ngày mà thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam không còn xa nữa!”.
– Tăng Thiên Tiết: Những mẩu hồi ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Trung Quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 102.
– Tạp chí Vòng quanh Đông Nam Á, Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, Trung Quốc, số tháng 3-2000.
– Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 12-2001.
_________________________________
1) Được Lê Quảng Ba báo tin, Trung ương Đảng ta cử đồng chí Cáp đi Quảng Tây nghe ngóng thêm. Đồng chí Cáp nghe nhầm tưởng Hồ Chí Minh đã chết, về báo lại. Tổ chức lại cử người đi thăm dò tiếp, được biết Người còn sống và bị giải đi nơi khác. Hạ tuần tháng 10-1942, Trung ương Đảng ta nhân danh “Phân hội Việt Nam Hội Quốc tế chống xâm lược” gửi điện cho Tôn Khoa, Viện trưởng Viện Lập pháp của Quốc dân Đảng Trung Quốc tại Trùng Khánh yêu cầu thả Hồ Chí Minh. Tôn Khoa chuyển đến Ngô Thiết Thành, Chánh Văn phòng Trung ương Quốc dân Đảng. Ngô Thiết Thành điện cho chính quyền Quảng Tây yêu cầu “xét rõ và phóng thích”. Nhưng lúc này Hồ Chí Minh đang bị giải đi trên đường. Ngày 9-11-1942, Ngô Thiết Thành điện cho Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu, yêu cầu xét tha Hồ Chí Minh. Nhưng lúc này Hồ Chí Minh vẫn chưa bị giải đến Liễu Châu.
Ngày 15-11-1942, Đảng ta lại nhân danh “Phân hội Việt Nam Hội Quốc tế chống xâm lược” gửi đến cơ quan Thông tấn xã Liên Xô TASS ở Trùng Khánh một bản tin điện yêu cầu can thiệp. Những bức điện tương tự cũng được đồng thời gửi đến các hãng UPI, Reuter, AFP.
Bị giải đến Quế Lâm và trong thời gian bị giam ở đó, Hồ Chí Minh trước sau chỉ nhận mình là cán bộ Việt Nam không có liên quan gì với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Biện công sảnh Quế Lâm chỉ có cách xử lý như trên (B.T).
2) Hồi ức của Bành Đức lúc đó là trung uý khoa viên tại Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu cho biết:
“Một buổi sáng mưa dầm đầu năm 1943, một nhân viên đặc công áp giải một ông già râu tóc lốm đốm bạc đến Cục Chính trị. Người đặc công ra lệnh cho ông già ngồi xổm dưới cây khuynh điệp ở bên phải cổng Văn phòng rồi vào Văn phòng trình giấy, đoạn quay ra canh giữ ông già. Sau đó ông già được giao cho trung đội cảnh vệ coi giữ. Ông già này là người thế nào? Không ai rõ. Trung đội cảnh vệ giam ông già vào trong một gian phòng nhỏ bốn phía tường gạch và có lưới dây thép gai bao quanh ở gần Cục Chính trị. Cửa phòng trông ra trung đội cảnh vệ có một dãy hàng rào bằng gỗ. Hằng ngày ông già ngồi tựa vào hàng rào, trầm tư hoặc xem sách. Sáng sáng, vệ binh mở khoá sắt, để cho ông già ra ngoài đi bách bộ một lúc”.
(Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 92, 93) (B.T).
3) Như nội dung nêu trong bài thơ, tính từ ngày bị bắt (cuối tháng 8-1942) đến khi làm bài thơ này (tháng 2-1943), Hồ Chí Minh đã trải qua 13 huyện, thị: Thiên Bảo (nay là Đức Bảo), Tĩnh Tây, Điền Đông, Quả Đức (nay là Bình Quả), Long An, Đồng Chính (nay thuộc Phù Tuy), Ung Ninh, Nam Ninh, Vũ Minh, Tân Dương, Lai Tân, Liễu Châu, Quế Lâm; và đã bị giam ở 18 nhà giam gồm 13 nhà tù, nhà giam của 13 huyện, thị kể trên và những nhà giam trên đường bị giải đi, như Túc Vinh, Thiên Giang, v.v.. (B.T).
4) Đến tháng 8-1943, các đồng chí trong nước mới nhận được lá thư này (B.T).
5) Tức Tưởng Giới Thạch (B.T).
6) Lương Hoa Thịnh lúc bấy giờ là Trung tướng, Chủ nhiệm Cục Chính trị, tháng 5-1943 được thăng chức Phó tư lệnh Đệ tứ chiến khu(B.T).
7) Hầu chủ nhiệm, tức Thiếu tướng Hầu Chí Minh. Sau khi Trung tướng Lương Hoa Thịnh, nguyên Chủ nhiệm Cục Chính trị được thăng chức Phó tư lệnh Đệ tứ chiến khu (tháng 5-1943), Hầu Chí Minh được giữ chức Chủ nhiệm Cục này. Ông là người có phần đóng góp vào việc trả lại tự do cho Hồ Chí Minh sau này (B.T).
8) Đó là những trang ghi chép bằng chữ Hán từ trang 47 đến hết trang 52 trong cuốn sổ chép Ngục trung nhật ký (B.T).
9) Dịch nghĩa:
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ;
Bồi hồi dạo bước Tây phong lĩnh,
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.
10) Tờ báo và bức thư đến tay các đồng chí Phạm Văn Đồng, Vũ Anh… khoảng tháng 10. Thư báo tin Người đã được tha, nhưng bọn Quốc dân Đảng Trung Quốc vẫn giữ làm cố vấn, ở nhà cần có những văn kiện vận động mạnh mẽ hơn để chúng tha thật sự. Ngoài ra, Người còn dặn dò một số công tác cụ thể phải làm trước mắt (B.T).
11) Việt Nam cách mạng đồng minh hội là một tổ chức của người Việt Nam ở Trung Quốc thuộc nhiều đảng phái, được sự hiệp trợ của Đệ tứ chiến khu. Tháng 7-1942, đã có một uỷ ban trù bị gồm 28 đại biểu của các đoàn thể, do Nguyễn Hải Thần làm Chủ nhiệm. Đại hội thành lập, lúc đầu định vào ngày 10-8-1942, sau hoãn đến ngày 1-10-1942. Quốc dân Đảng Trung Quốc muốn nắm chặt tổ chức này, giao cho Chủ nhiệm Cục Chính trị Lương Hoa Thịnh làm đại diện chỉ đạo. Tháng 5-1943, Lương được điều đi, Chủ nhiệm mới của Cục Chính trị là Hầu Chí Minh thay. Đến tháng 12-1943, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê kiêm chức đại diện, Hầu Chí Minh làm phó đại diện. Đại diện chỉ đạo có văn phòng giúp việc, do Tiêu Văn – Trưởng phòng ngoại vụ của Đệ tứ chiến khu – phụ trách.
Sau ngày thành lập, Đồng minh hội vẫn năm bè bảy mối, rời rạc bê bối. Trương Phát Khuê quyết định cải tổ Đồng minh hội để Hồ Chí Minh tham gia công tác lãnh đạo. Trước khi chính thức cải tổ, Trương yêu cầu Hồ Chí Minh hợp tác với Nguyễn Hải Thần với cương vị Phó chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội (B.T).
12) Không dám trái ý Trương Phát Khuê, Nguyễn Hải Thần cử Diệp Thuỵ Đình và Trung Tú Nghị là uỷ viên quân sự đặc biệt của Việt Nam cách mạng đồng minh hội đến Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đón Hồ Chí Minh ra “công tác” (B.T).
13) Ngày 10-9-1962, Từ Vĩ Tam nhận được một lá thư của một đồng chí lãnh đạo Việt Nam, chuyển lời thăm hỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến gia đình liệt sĩ Dương Đào, người đã hiến thân cho cách mạng Việt Nam năm xưa.
Tháng 8-1963, Đảng và Chính phủ Việt Nam mời một đoàn gồm bảy cán bộ và quần chúng có công với cách mạng Việt Nam ở hai huyện Tĩnh Tây, Na Pha (Quảng Tây) sang thăm Việt Nam, mừng Quốc khánh. Trong đoàn có em trai Dương Đào là Dương Thắng Cương. Tiếp các vị khách Quảng Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại việc Dương Đào hy sinh ở Liễu Châu, thân thiết bắt tay hỏi chuyện Dương Thắng Cương và tỏ lòng thương tiếc người thanh niên đầy nhiệt huyết năm nào (B.T).
14) Với tư cách là Phó chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội, từ ngày 23-11-1943, Hồ Chí Minh đến ở trong trụ sở của Hội này tại đường phố Ngư Phong (Liễu Châu). Tại đây, Người khá tự do tiếp xúc với các đại biểu của nhiều lực lượng cách mạng Việt Nam và Trung Quốc.
Trong bữa tiệc này, Chủ tịch “Việt Nam cách mạng đồng minh hội” Nguyễn Hải Thần vốn tự phụ về trình độ Hán học, lại có ý tự đắc vì được dịp trổ tài để nịnh nọt quan trên họ Hầu, nên đã buông ra vế đối có ý so sánh Hầu Chí Minh – Hồ Chí Minh… như trên (Dịch: Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, hai vị đồng chí, chí đều sáng). Chỗ hóc hiểm đến thú vị của vế đối này là hai chữ “chí” và “minh” vốn là tên của hai nhân vật chính trong bữa tiệc.
Cái tài tình của Hồ Chí Minh đã làm cho Hầu Chí Minh và Nguyễn Hải Thần phải thốt lên “Hay lắm!” “Bội phục!”… không chỉ ở chỗ Người nhanh nhạy đối đáp kịp thời, rất thích ứng với hoàn cảnh, mà còn ở chỗ vế đối của Người rất chỉnh cả ý lẫn ngôn từ, với tầm tư tưởng cao hơn, cách mạng hơn (Dịch: Anh cách mạng, tôi cách mạng, mọi người cách mạng, mạng phải cách) (B.T).
15) Đinh Chương Dương, người xã Lộc Liêm (nay là xã Hải Lộc), huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Là một nhà yêu nước, cụ xuất dương và hoạt động ở nước ngoài từ thời trẻ. Trong quá trình hoạt động, cụ nhiều lần bị địch bắt giam. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cụ về nước và được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I. Sau năm 1954, vì già yếu, cụ về an dưỡng tại Hà Đông và mất năm 1972 (B.T).
16) Báo Đồng minh do Việt Nam cách mạng đồng minh hội phát hành ở Liễu Châu (Trung Quốc), số ra đầu tiên ngày 1-1-1943. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trụ sở báo chuyển về Hà Nội, đến tháng 6-1946 thì tự đóng cửa (B.T).