Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1942)

Tháng 1, ngày 1

– Bài thơ Chúc năm mới của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập:

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,

Năm cũ qua rồi, chúc năm mới:

Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi!

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!

Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!

Chúc toàn quốc ta trong năm này,

Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!

Năm này là năm rất vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới.

Cùng trong số báo trên, qua bài Năm mới, công việc mới, Người nêu tình hình thế giới và nước ta trong năm qua (1941), dự đoán tình hình thế giới năm nay (1942) và khẳng định rằng: “Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh – Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua”. Đó là thời cơ nước ta giành được độc lập, tự do. Vì vậy, mọi người phải chuẩn bị và “mau đoàn kết lại!”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 114, ngày 1-1-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 210, 212.

Tháng 1

Nguyễn Ái Quốc với bí danh Thu Sơn trong bộ quần áo Nùng bạc màu, đầu đội mũ vải, lưng đeo túi vải, chân đi đôi hài bằng rơm, tay chống gậy, chuyển đến ở nhà đồng chí Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) tại châu Nguyên Bình trong một số ngày.

– Dương Mạc Thạch: Đi đón cụ Thu Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 208.

– Bằng Giang: Dự hai lớp huấn luyện, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 98.

Khoảng đầu năm

Nguyễn Ái Quốc mở lớp chính trị tại hang Kéo Quản1) (xã Gia Bằng) thuộc châu Nguyên Bình (Cao Bằng) là châu “Việt minh hoàn toàn”.

Sau mỗi bài giảng, Nguyễn Ái Quốc thường giải đáp những thắc mắc do học viên nêu ra. Người nói: “…Đánh giặc phải có căn cứ địa… Sau này khởi nghĩa đánh đế quốc Pháp – Nhật, ta cũng phải lấy núi rừng làm căn cứ địa. Không có sức mạnh nào bằng sức mạnh đoàn kết toàn dân. Toàn dân đoàn kết, cả miền xuôi, miền núi đoàn kết, thì ta nhất định thắng”.

– Bằng Giang: Dự hai lớp huấn luyện, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 99.

Tháng 1, ngày 21

Bài 10 điều nên của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập, Người yêu cầu mỗi một hội viên Việt Minh cần thực hiện:

1. Nên giữ bí mật cho Hội.

2. Nên hết sức trung thành với Hội.

3. Nên tuyên truyền mục đích của Hội.

4. Nên ra sức tìm hội viên mới.

5. Nên ra sức làm việc cho Hội.

6. Nên nộp hội phí cho đúng kỳ.

7. Nên giúp đỡ lẫn nhau.

8. Nên gắng sức học hành.

9. Nên đọc sách báo của Hội.

10. Nên ủng hộ báo của Hội.

– Báo Việt Nam độc lập, số 116, ngày 21-1-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 213.

Tháng 2, ngày 1

Bài Ca đội tự vệ của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập, kèm theo lời hướng dẫn “cách hát” của Người. Bài ca gồm hai đoạn:

          I

          II

Gươm dao ta

Sắp hàng ra

Đem mài đi

Xung phong lên!

Mài cho bén

Người ta đông.

Mài cho sắc

Chí ta bền

Nhật ta đâm

Việc giải phóng

Tây ta chặt.

Nhất định nên.

Cách hát:

– Chia người làm hai tổ: bốn câu trên, tổ A hát trước, hát giọng cao (nếu có phụ nữ thì phụ nữ là tổ A); tổ B hát giọng thấp theo sau. Những chữ BÉN, SẮC, ĐÔNG, BỀN, phải hát dài như BE-ÉN, SA-ẮC, ĐÔ-ÔNG, BÊ-ỀN.

– Hai câu sau cùng thì cả hai tổ đều hát với nhau, chữ CHẶT và chữ NÊN thì phải hát rất mạnh.

Ví dụ: Tổ A hát: Gươm dao ta

           Tổ B hát: Gườm dào tà.

Cùng số báo trên còn đăng bài viết của Người nhan đề Nên học sử ta. Mở đầu bài viết, Người chỉ rõ:

“Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Bài viết còn khái quát trang sử vẻ vang của dân tộc đối với những chiến công và gương các anh hùng dân tộc. Phần kết của bài viết, Người nêu bài học: “Sử ta dạy cho ta bài học này:

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do.

Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 117, ngày 1-2-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 214-215, 216-217.

Tháng 2, khoảng ngày 10

Nguyễn Ái Quốc gặp cán bộ địa phương hỏi về tình hình kinh tế của nhân dân, về phong tục ngày Tết ở địa phương và dặn dò phải bố trí bảo vệ chu đáo cho dân làng ăn Tết.

– Dương Đại Lâm: Bác Hồ đến bản tôi, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 132.

Tháng 2, giữa tháng 2)

Nguyễn Ái Quốc “ăn Tết” ở Khuổi Nậm.

Người tiếp một số nam nữ thanh niên ở địa phương lên chơi, chúc Tết.

Người gửi lời chúc Tết người già và dân làng, và trao những đồng trinh có phong giấy hồng điều gửi mừng tuổi các cháu nhỏ. Người căn dặn: “Đồng chí Vũ Anh sẽ xuống làng chúc Tết các gia đình. Đại Lâm nhớ dẫn đi từng nhà, nếu thiếu nhà nào, Đại Lâm chịu trách nhiệm”.

– Dương Đại Lâm: Bác Hồ đến bản tôi, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 133.

Tháng 2, sau ngày 15

Nguyễn Ái Quốc tặng quà cho nữ đồng chí Nông Thị Trưng – cán bộ mới hoạt động thoát ly nhân Tết đầu tiên xa gia đình: một chiếc khăn mùi xoa có hoa đỏ và một chiếc còng gà luộc (theo phong tục Tày).

– Nông Thị Trưng: Chú Thu, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 57.

Tháng 2

Tác phẩm Lịch sử nước ta của Nguyễn Ái Quốc xuất bản lần đầu tiê3).

Bản diễn ca lịch sử này gồm 208 câu lục bát, trình bày lịch sử nước ta từ thời vua Hùng dựng nước (năm Nhâm Ngọ 2879 trước Công nguyên) đến năm 1945, tập trung chủ yếu vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, nêu bật truyền thống yêu nước, bất khuất và đoàn kết của dân tộc.

Mở đầu tác phẩm, Người viết:

“Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Kể năm hơn bốn ngàn năm,

Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà”.

Người rút ra một kết luận có tính nguyên tắc, một bài học rất lớn, bài học đoàn kết:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng:

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”.

Cuối tác phẩm là mục: “Những năm quan trọng”, ghi những sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc “Trước Tây lịch”, “Sau Tây lịch”, kết thúc bằng mốc lịch sử:

1945: Việt Nam độc lập.

– Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 221-230.

Khoảng tháng 2

Nguyễn Ái Quốc cho gọi các đồng chí Lê Quảng Ba, Đức Thanh và Thế An đến chỉ cho đọc một đoạn nói về chống khủng bố cá nhân trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga (do Người vừa dịch xong).

Đọc xong, Người bảo phải thảo luận, kiểm điểm xem việc Đức Thanh và Thế An giết tên mật thám Lều đúng hay sai, rồi cho phép ba đồng chí ra về.

Hôm sau, Người phê bình Lê Quảng Ba về việc cho các đồng chí Đức Thanh và Thế An giết tên Lều mà không báo cáo xin phép cấp trên.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ với đội vũ trang Cao Bằng, Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 10-1987, tr. 85.

Tháng 3

Tại Lũng Hoài, Nguyễn Ái Quốc ở nhà một gia đình cơ sở 4). Mỗi khi gia đình sửa soạn nấu cháo ngô, Người thường đến ngồi bên cối giúp gia đình xay bột.

Ít ngày sau, Người đến hang Bó Thúng trong khu di tích thành nhà Mạc.

– Thúy Bạch: Trong vùng núi đá Lam Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr.192.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 60.

Khoảng tháng 3

Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho Tỉnh uỷ Cao Bằng phải mở rộng căn cứ địa, nối liền Cao Bằng với căn cứ địa Bắc Sơn, Vũ Nhai; xây dựng một hành lang chính trị vững chắc từ Cao Bằng về miền xuôi để giữ vững liên lạc trong mọi tình huống. Người nói: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi”. Từ chỉ thị này, “phong trào Nam tiến” đã ra đời và nhanh chóng phát triển mạnh mẽ.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Một mảnh đất tự do, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 78.

Tháng 4, ngày 1

Bài Ca sợi chỉ của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bài ca gồm 20 câu lục bát, nội dung kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết hợp lực trong Mặt trận Việt Minh.

“Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,

Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.

Yêu nhau xin nhớ lời nhau,

Việt Minh hội ấy mau mau phải vào”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 122, ngày 1-4-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 231.

Tháng 4, ngày 21

Bài thơ Hòn đá 5) của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bằng thể thơ ba chữ, dùng hình ảnh chung sức vần hòn đá, Nguyễn Ái Quốc nhắc nhở mọi người phải bền sức, đồng lòng đánh đuổi Pháp, Nhật.

Đánh Nhật, Pháp.

Giành tự do,

Là việc khó,

Là việc to.

Nếu chúng ta

Biết đồng lòng

Thì việc đó

Quyết thành công.

– Báo Việt Nam độc lập, số 123, ngày 21-4-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 232-233.

Tháng 5

Tại hang Kéo Quản6), sau khi nghe cán bộ báo cáo về bệnh đậu mùa đang hoành hành ở địa phương, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu một bài thuốc chữa đậu mùa của người Trung Quốc và căn dặn cán bộ khi đi công tác nhớ phổ biến cho dân biết để chữa bệnh. Người nói: “Đây là một bệnh nguy hiểm không khác gì bọn Tây. Cần phải phòng ngừa ngay”.

– Trương Nam Hiến: Vào núi gặp lãnh tụ, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 217.

Tháng 6, ngày 24

Dọc lên vùng núi Lũng Dẻ, thuộc khu núi đá Lam Sơn, Nguyễn Ái Quốc tức cảnh đọc bài thơ chữ Hán: Thướng Sơn.

Lục nguyệt nhị thập tứ,

Thướng đáo thử sơn lai.

Cử đầu hồng nhật cận,

Đối ngạn nhất chi mai. 7)

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 63.

– Thơ chữ Hán, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1990, tr. 14.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 234-235.

Khoảng tháng 6

Ở một địa điểm gần Lũng Lừa, vào những buổi tối, Nguyễn Ái Quốc hướng dẫn cho các đồng chí cán bộ 8) học tập Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga.

– Trương Nam Hiến: Vào núi gặp lãnh tụ, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 224.

Khoảng tháng 6

Sau đợt công tác ở Hoà An, Nguyên Bình (Cao Bằng), Nguyễn Ái Quốc trở lại Pác Bó. Người cải trang thành một thầy lang, kiêm thầy cúng: mặc bộ quần áo chàm địa phương, chân đi giày vải, cuốn trên đầu một chiếc khăn to che lấp cả vầng trán cao, sau lưng đeo lủng lẳng một cái nón kiểu địa phương, tay chống gậy đi theo đồng chí liên lạc trong vai người đi đón thầy cúng, gánh sách cúng, hộp ấn gỗ, hộp bút lông, một cái thanh la nhỏ, mấy bó hương, một con gà nhỏ và một chai rượu. Người đã qua trạm gác của địch ở ngã ba Đôn Chươn9) (gần Nà Mạ) an toàn.

– Lê Quảng Ba: Bác về thăm lại Pác Bó, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 153.

Khoảng tháng 6

Nguyễn Ái Quốc ở Nà Mạ một buổi. Người hỏi chuyện Kim Đồng, khuyên Kim Đồng cố gắng hơn nữa… Tối hôm đó, Kim Đồng hoàn thành nhiệm vụ đưa Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó.

– Theo tài liệu của Nhà lưu niệm Kim Đồng, Hà Quảng, Cao Bằng.

Tháng 7, ngày 1

Bài thơ Con cáo và tổ ong của Nguyễn Ái Quốc, gồm 14 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bài thơ nói về chuyện con cáo định lấy tổ ong ăn, song bầy ong đã túm lại đốt, “Cáo già đau quá phải sa xuống rồi”. Trong đoạn kết bài thơ, Người kêu gọi:

“Bây giờ ta thử so bì,

Ong còn đoàn kết, huống chi là người!

Nhật, Tây áp bức giống nòi,

Ta nên đoàn kết để đòi tự do”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 130, ngày 1-7-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 236.

Tháng 7, ngày 11

Bài thơ Tặng thống chế Pêtan10) của Nguyễn Ái Quốc gồm 8 câu thơ Đường luật, đăng trên báo Việt Nam độc lập, lên án Pêtanh phản bội đất nước, đầu hàng phát xít Đức:

… Bán nước lại còn khoe cứu nước,

Ô danh mà muốn được thơm danh.

– Báo Việt Nam độc lập, số 131, ngày 11-7-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 237.

Tháng 7, cuối tháng

Trong thời gian chờ liên lạc để đi công tác Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã dạy cho một cán bộ 11) ở Pác Bó biết chữ trong vòng 20 ngày. Người nói: “Ta đi làm cách mạng thì phải làm cho đến thành công, sau đó còn phải bắt tay vào xây dựng đất nước. Muốn thế phải biết chữ, phải học văn hoá”.

– Dương Đại Lâm: Bác Hồ đến bản tôi, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 144.

Khoảng tháng 7

Nguyễn Ái Quốc chủ trương “Nam tiến” mở thêm đường liên lạc tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn và tuyến Cao Bằng – Bắc Cạn – Thái Nguyên để liên lạc thuận tiện với Thường vụ Trung ương Đảng và tạo điều kiện phát triển cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang.

– Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng (1920-1945), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, t. 1, tr. 552-553.

Tháng 8, ngày 1

Bài thơ Nhóm lửa của Nguyễn Ái Quốc, gồm 26 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bài thơ ví sự nghiệp cách mạng với việc nhóm lửa, phải trải qua “bước gian nan” để phát triển phong trào, bùng cháy khắp nơi. Lúc bấy giờ:

Lửa cách mạng sáng choang bờ cõi,

Chiếu lá cờ độc lập, tự do!

– Báo Việt Nam độc lập, số 133, ngày 1-8-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 238-239.

Tháng 8, đầu tháng

Bài thơ Bài ca du kích của Nguyễn Ái Quốc, gồm 28 câu, kêu gọi các tầng lớp già, trẻ, lính, dân, đàn ông, đàn bà tham gia du kích, để cùng nhau đánh Tây, đánh Nhật:

Kẻ có súng dùng súng,

Kẻ có dao dùng dao;

Kẻ có cuốc dùng cuốc,

Người có cào dùng cào,

Thấy Tây cứ chém phứa,

Thấy Nhật cứ chặt nhào..

… Chúng nhất định thất bại

Mình sức càng dồi dào.

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 42-43.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 244-245.

Tháng 8, ngày 11

Bài thơ Tặng Toàn quyền Đờc12) của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập:

Non nước Rồng Tiên rõ mịt mù,

Lợi quyền phó mặc bố thằng Cu.

Đối dân Nam Việt thì lên mặt,

Gặp bọn Phù Tan13) chỉ đội khu 14)!

Về Pháp, không cơm e chết đói,

Ở đây, hút máu béo ni-nu.

Cũng như thống chế Pêtanh vậy,

Chú cứ cu cù được mãi ru!

– Báo Việt Nam độc lập, số 134, ngày 11-8-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 240.

Tháng 8, ngày 13

Buổi tối, với tên mới Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc lên đường đi Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam và lực lượng Đồng minh17.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 86.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 120.

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 21

Bài Chơi giăng của Nguyễn Ái Quốc, gồm 16 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 1315).

Bài thơ gồm hai thiên bát cú Đường luật, viết dưới hình thức “nhân nguyệt vấn đáp”. Thiên 1 là lời “Người hỏi trăng” vì sao “non nước tơi bời”, “nhân dân cực khổ” và “Nam Việt bao giờ thì giải phóng”. Thiên 2 là lời đáp của trăng:

“… Nước nhà giành lại nhờ tài sắt,

Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng.

Tổ chức, tuyên truyền càng rộng rãi,

Tức là cách mệnh chóng thành công”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 135, ngày 21-8-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 241.

Tháng 8, từ ngày 19 đến ngày 24

Hồ Chí Minh đi bộ trên đất Quảng Tây (Trung Quốc), vùng gần biên giới Việt – Trung, ngày nghỉ, đêm đi. Cùng đi có Lê Quảng Ba.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 120.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 81.

Tháng 8, ngày 25

Hồ Chí Minh đến Ba Mông thuộc huyện Tĩnh Tây và trú chân ở nhà Từ Vĩ Tam 16), một nông dân nghèo kết nghĩa anh em. Vì chỉ còn hai ngày nữa đến Tết Trung nguyên (14-7 âm lịch) là tết lớn của địa phương, gia đình Từ Vĩ Tam tha thiết lưu giữ, Người nán lại ở đây hai ngày.

– Trả lời phỏng vấn của Từ Vĩ Tam, ngày 15-6-1981. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 82.

Tháng 8, ngày 26

Buổi tối, Hồ Chí Minh ăn Tết Trung nguyên với những người nông dân Trung Quốc quen biết tại nhà Từ Vĩ Tam 17). Bàn đến việc ai sẽ đưa đường cho Hồ Chí Minh đến Bình Mã18), Dương Đào19) đã hăng hái nhận trách nhiệm.

– Trả lời phỏng vấn của Từ Vĩ Tam, ngày 15-6-1981. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 82.

Tháng 8, ngày 27

Sáng sớm, Hồ Chí Minh lên đường đi Bình Mã, có Dương Đào cùng đi để dẫn đường (Lê Quảng Ba ở lại nhà Từ Vĩ Tam). Hai người đến phố Túc Vinh20) (huyện Thiên Bảo, Quảng Tây) thì bị quân tuần cảnh ở trụ sở của Quốc dân Đảng bắt giữ21).

– Báo cáo của Trương Phát Khuê ngày 23-1-1944. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 82-83.

– Cục Công an huyện Đức Bảo22), Quảng Tây: Báo cáo điều tra tình hình Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh bị bắt năm 1942 ở phố Túc Vinh huyện chúng tôi, ngày 10-5-1964. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 83.

Tháng 8, ngày 28

Từ Túc Vinh, Hồ Chí Minh cùng Dương Đào bị áp giải đến huyện Thiên Bảo.

– Cục Công an huyện Đức Bảo, Quảng Tây: Báo cáo điều tra tình hình Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh bị bắt năm 1942 ở phố Túc Vinh huyện chúng tôi, ngày 10-5-1964. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 83.

Tháng 8, ngày 29

Hồ Chí Minh bị giải từ Thiên Bảo đến huyện lỵ Tĩnh Tây23) và bị Quốc dân Đảng Trung Quốc giam trong nhà giam C.H.S.24) hơn hai tuần, ngày mang gông, đêm cùm chân.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 83.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 86.

Tháng 8, ngày 30

Trong nhà giam C.H.S., Hồ Chí Minh được Vương Tích Cơ25) đến thăm, đem cơm. Qua Vương Tích Cơ, Người gửi được một lá thư (tiếng Việt) viết bằng bút chì cho Lê Quảng Ba để báo tin.

– Trả lời phỏng vấn của Vương Tích Cơ, ngày 24-6-1981. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 83-84.

Tháng 8, ngày 29 đến tháng 9, ngày 24

Hồ Chí Minh bị giam tại nhà lao huyện Tĩnh Tây. Người viết 22 bài thơ: Bài 1:

“Thân thể ở trong lao,

Tinh thần ở ngoài lao;

Muốn nên sự nghiệp lớn,

Tinh thần càng phải cao” a).

Bài 2: Khai quyển; bài 3: Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu (Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh); bài 4: Nhập Tĩnh Tây huyện ngục (Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây); bài 5 – 6 – 7: Thế lộ nan (Đường đời hiểm trở, 3 bài); bài 8 – 9: Tảo (Buổi sớm, 2 bài); bài 10: Ngọ (Buổi trưa); bài 11: Vấn thoại(Lời hỏi); bài 12: Ngọ hậu (Quá trưa); bài 13: Vãn (Chiều hôm); bài 14: Tù lương (Cơm tù); bài 15: Nạn hữu xuy địch (Người bạn tù thổi sáo); bài 16 – 17: Cước áp (Cái cùm, 2 bài); bài 18 – 19 – 20: Học dịch kỳ (Học đánh cờ, 3 bài); bài 21: Vọng nguyệt (Ngắm trăng); bài 22:Phân thuỷ (Chia nước).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký18. Bản chụp bút tích, tr. 1-8. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.265-289.

Tháng 9, ngày 25 (Tết Trung thu)

Tại nhà giam Tĩnh Tây, Hồ Chí Minh viết hai bài thơ: Bài 23 – 24: Trung thu (Trung thu).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 8. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 290.

Tháng 9, ngày 26 đến tháng 10, ngày 9

Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 25: Đổ (Đánh bạc); bài 26: Đổ phạm (Tù cờ bạc); bài 27: Nạn hữu Mạc mỗ (Bạn tù họ Mạc); bài 28: Nạn hữu nguyên chủ nhiệm L. (Bạn tù L. nguyên là chủ nhiệm).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 9-10. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 292-296.

Tháng 10, ngày 10

Hồ Chí Minh bị bọn Quốc dân Đảng Trung Quốc giải từ Tĩnh Tây sang Thiên Bảo26). Ngày này cũng chính là ngày Quốc khánh của Trung Hoa dân quốc. Nhân đó, Người viết bài thơ 29: Song thập nhật giải vãng Thiên Bảo (Tết Song thập bị giải đi Thiên Bảo).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 10. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 297.

Tháng 10, ngày 11 đến tháng 11, ngày 1

Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 30: Tẩu lộ (Đi đường); bài 31: Mộ (Chiều tối); bài 32: Dạ túc Long Tuyền27) (Đêm ngủ ở Long Tuyền); bài 33: Điền Đông (Điền Đông); bài 34: Sơ đáo Thiên Bảo ngục (Mới đến nhà lao Thiên Bảo); bài 35: Nạn hữu chi thê thám giam (Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng); bài 36: Các báo: Hoan nghênh Uyki28) đại hội (Các báo đăng tin: Hội họp lớn hoan nghênh Uyki); bài 37:Tự miễn (Tự khuyên mình); bài 38: Dã cảnh (Cảnh đồng nội); bài 39: Chúc than (Hàng cháo); bài 40: Quả Đức29) ngục (Nhà lao Quả Đức); bài 41: Long An Lưu sở trưởng (Sở trưởng Long An b)  họ Lưu); bài 42 – 43: Tảo giải (Giải đi sớm, 2 bài).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 10-15. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 298-315.

Tháng 11, ngày 2

Hồ Chí Minh bị giải đến nhà ngục Đồng Chính. Người viết bài thơ 44: Đồng Chính (Thập nhất nguyệt nhị nhật) (Đồng Chínhc) (ngày 2 tháng 11)).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 16. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 316.

Tháng 11, từ ngày 3 đến ngày 10

Bị giam ở nhà ngục Đồng Chính, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 45: Nạn hữu đích chỉ bị (Chiếc chăn giấy của người bạn tù); bài 46: Dạ lãnh (Đêm lạnh); bài 47: Bang (Dây trói); bài 48: Lạc liễu nhất chích nha (Rụng mất một chiếc răng); bài 49: Long An – Đồng Chính (Long An – Đồng Chính); bài 50: Nhai thượng (Trên đường phố); bài 51: Lộ thượng (Trên đường); bài 52: Trưng binh gia quyến (Gia quyến người bị bắt lính); bài 53: Giải trào (Pha trò).

Sau đó, từ khi bị giải đi Nam Ninh cho đến trước ngày 11-11, Người viết các bài thơ: Bài 54: Vãng Nam Ninh30) (Đi Nam Ninh); bài 55 – 56:Cảnh binh đảm trư đồng hành (Cảnh binh khiêng lợn cùng đi, 2 bài); bài 57: Điệt lạc (Hụt chân ngã); bài 58: Bán lộ tháp thuyền phó Ung31)(Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh); bài 59: Nam Ninh ngục (Nhà ngục Nam Ninh); bài 60: Nạp muộn (Buồn bực); bài 61: Thính kê minh(Nghe gà gáy); bài 62: Nhất cá đổ phạm ngạnh liễu (Một người tù cờ bạc “chết cứng”); bài  63: Hựu nhất cá… (Lại một người nữa…); bài 64: Cấm yên (Chỉ yên đích) (Cấm hút thuốc (thuốc lá)); bài 65: Dạ bán văn khốc phu (Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng); bài 66: Hoàng hôn(Hoàng hôn); bài 67: Công kim (Tiền công); bài 68: Thuỵ bất trước (Ngủ không được); bài 69: Ức hữu (Nhớ bạn); bài 70: Thế nạn hữu mẫn tả báo cáo (Viết hộ báo cáo cho các bạn tù); bài 71: Lại sang (Ghẻ lở); bài 72: Văn thung mễ thanh (Nghe tiếng giã gạo).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 16-25. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 317-350.

Tháng 11, ngày 11

Hồ Chí Minh viết các bài thơ 73-74-75: Song thập nhất, I-II-III (Ngày 11 tháng 1132), I-II-III).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 25-26. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 351-353.

Tháng 11, ngày 12

Tại nhà ngục Nam Ninh, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 76: Cảnh báo33) (Thập nhất nguyệt thập nhị nhật) (Báo động (Ngày 12 tháng 11)); bài 77: Chiết tự (Chiết tự34)); bài 78: “Lữ quán” (“Quán trọ”).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 26. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 354-357.

Tháng 11, ngày 13

Trong nhà ngục Nam Ninh, Hồ Chí Minh viết bài thơ 79: Tảo tình (Nắng sớm)35).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 27. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 358.

Tháng 11, ngày 14

Tại nhà ngục Nam Ninh, Hồ Chí Minh viết bài thơ 80: “Việt hữu tao động. Ung báo, Xích đạo tấn 14-11 (“Việt Nam có bạo động”. Tin Xích đạo, trên báo Ung Ninh 14-11).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 28. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 359.

Tháng 11, từ ngày 15 đến ngày 17

Tại nhà ngục Nam Ninh, Hồ Chí Minh viết bài thơ 81: Anh phỏng Hoa đoàn (Đoàn đại biểu Anh sang thăm Trung Hoa).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 28. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 360.

Tháng 11, ngày 18

Hồ Chí Minh bị giải từ Nam Ninh đi Vũ Minh36). Người viết bài thơ 82: Giải vãng Vũ Minh 18-11 (Giải đi Vũ Minh 18-11).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 28. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 361-362.

Tháng 11, ngày 19 đến ngày 21

Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 83: Bào Hương cẩu nhục (Thịt chó ở Bào Hương37)); bài 84: Trúc lộ phu (Phu làm đường); bài 85: Ngục đinh thiết ngã chi sĩ đích38) (Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta); bài 86: Công lý bi (Cột cây số).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 29. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 363-367.

Tháng 11, ngày 21

Bài thơ Trẻ chăn trâu, in trên báo Việt Nam độc lập, gồm 24 câu lục bát nói về cảnh khổ cực của trẻ em chăn trâu, do Nhật, Tây “Ra tay vơ vét, đọa đày chúng ta”. Người kêu gọi mọi người lớn, bé “Cùng nhau đánh đuổi Nhật, Tây”, các em vào Hội nhi đồng cứu quốc – một tổ chức của Mặt trận Việt Minh.

– Báo Việt Nam độc lập, số 144, ngày 21-11-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 242-243.

Tháng 11, ngày 22

Tại nhà ngục Tân Dương39), Hồ Chí Minh viết bài thơ 87: Tân Dương ngục trung hài 22-11 (Cháu bé trong ngục Tân Dương 22-11).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 30. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 368-369.

Tháng 11, từ ngày 23 đến ngày 30

Trước khi bị giải từ nhà ngục Tân Dương đến nhà ngục Thiên Giang40), Hồ Chí Minh viết các bài thơ 88-89: Ký Ni Lỗ (Gửi Nêru, 2 bài); bài 90: Đăng quang phí (Tiền đèn); bài 91: Ngục trung sinh hoạt (Sinh hoạt trong tù); bài 92: Quách tiên sinh (Tiên sinh họ Quách); bài 93: Mạc ban trưởng (Trưởng ban họ Mạc).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 31-32. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 370-376.

Tháng 12, ngày 1

Hồ Chí Minh bị giải đến nhà ngục Thiên Giang. Tại đây, Người viết bài thơ 94: Thiên Giang ngục 1-12 (Nhà lao Thiên Giang 1-12).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 33. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 377.

Tháng 12, từ ngày 2 đến ngày 8

Từ nhà ngục Thiên Giang, Hồ Chí Minh bị giải đi Liễu Châu41). Chặng đường Thiên Giang – Lai Tân42), sau một đoạn đường bị giải đi bộ, từ Hợp Sơn đến Lai Tân, Người bị giải đi trên một toa xe lửa chở than.

Trong những ngày này, Người viết các bài thơ: Bài 95: Tháp hoả xa vãng Lai Tân (Đáp xe lửa đi Lai Tân); bài 96: Tha tưởng đào (Anh ấy muốn trốn); bài 97: Lai Tân (Lai Tân).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 33. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 378-380.

Tháng 12, ngày 9

Hồ Chí Minh bị giải đến Liễu Châu. Người viết bài thơ 98: Đáo Liễu Châu 9-12 (Đến Liễu Châu 9-12).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 34. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 381.

Tháng 12, từ ngày 10 đến cuối tháng

Tại Liễu Châu, sau một thời gian chờ đợi, Hồ Chí Minh bị giải đến một cơ quan chỉ huy của Quốc dân Đảng Trung Quốc và được biết phải đến Quế Lâm. Trong những ngày này, Người viết các bài thơ: bài 99: Cửu bất đệ giải (Giam lâu không được chuyển); bài 100: Dạ bán(Nửa đêm); bài 101: Liễu Châu ngục (Nhà ngục Liễu Châu); bài 102: Đáo trưởng quan bộ (Đến dinh trưởng quan); bài 103: Tứ cá nguyệt liễu (Bốn tháng rồi); bài 104: Bệnh trọng (Ốm nặng).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 34-35. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 382-389.

Trong năm

Sách Chiến thuật du kích19, quyển II do Nguyễn Ái Quốc biên soạn được Việt Minh xuất bản. Sách gồm hai phần: Mục đích của chiến thuật du kích; sự chiến đấu của đội du kích. Sách mô tả khái quát về những nguyên tắc chiến đấu, cách thức chiến đấu của du kích để đánh thắng địch.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 247-262

___________________________

1)  Học viên hầu hết là cán bộ lãnh đạo của Tỉnh uỷ Cao Bằng, như: Hoàng Đức Thạc (tức Lã), Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba, Bình Dương, Quảng Hưng, Lý Công (tức Nông Văn Quang), Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) và Bằng Giang. Để giữ bí mật, lớp học được tiến hành về ban đêm, không có đèn đóm, sách vở.

Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn bài và giảng dạy (đồng chí Vũ Anh làm trợ lý giảng dạy). Nội dung học tập gồm ba vấn đề: Sơ lược về chủ nghĩa cộng sản; Điều lệ Đảng và Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga.

Ngoài ra còn có bài giảng về chiến thuật du kích. Lớp huấn luyện kéo dài khoảng một tuần lễ (B.T).

2) Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ vào ngày 15-2-1942 (B.T).

3) Theo Hồi ký của các đồng chí cùng làm việc với đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở Pác Bó, Người viết cuốn Lịch sử nước ta vào khoảng nửa sau năm 1941. Tác phẩm này do Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản lần thứ nhất tháng 2-1942 (B.T).

4) Nhà cụ Mã Sơn, bố đồng chí Lén, một đồng chí cốt cán lúc đó. Vùng này có dãy núi đá chạy dài, địa thế khá hiểm trở, có nhiều hang động có thể dùng làm nơi trú ẩn của cán bộ cách mạng. Sau khi tới đây, Nguyễn Ái Quốc đặt tên vùng này là Lam Sơn, gợi nhớ đến khu căn cứ của nghĩa quân Lê Lợi khi xưa (B.T).

5)  Bài thơ này đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 123, ra ngày 21-4-1942, không có đầu đề (B.T).

6) Hang Kéo Quảng bấy giờ thuộc tổng Ngần, xã Gia Bằng, nay là xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, còn gọi là hang Các Mác (B.T).

7) Dịch thơ: Lên núi:

Hai mươi tư tháng sáu,

Lên ngọn núi này chơi.

Ngẩng đầu: mặt trời đỏ,

Bên suối một nhành mai.

(Bản dịch thơ của Tố Hữu) (B.T).

8) Các đồng chí Vũ Anh, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc, Vân Trình, Bình Dương (tức Khoa), Hồng My (tức Trương Nam Hiến), Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) (B.T).

9) Đôn Chương là địa danh thuộc huyện Hà Quảng, nằm ở phía bắc thị xã Cao Bằng, trên đường đi Pác Bó, cách Cao Bằng 45 km. Từ Đôn Chương đi lên hướng bắc là Nà Mạ, rồi mới đến Pác Bó (B.T).

10)  Pêtanh (Pétain) (1856-1951), Thống chế Pháp (1918), trong Chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ huy quân đội Pháp chống Đức ở mặt trận Đông Bắc. Từ năm 1940 đến năm 1944, đứng đầu chính phủ Visi (Vichy), đầu hàng và hợp tác với Đức. Năm 1945, bị toà án Pháp tuyên án tử hình về tội phản quốc, sau giảm xuống tù chung thân (B.T).

11) Đồng chí Dương Đại Phong (là anh đồng chí Dương Đại Lâm) (B.T).

12)  Đờcu (Jean Decoux), Thuỷ sư đô đốc, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương từ ngày 30-8-1940. Theo chủ trương của chính phủ Pháp, do Pêtanh cầm đầu, Đờcu thi hành chính sách đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật. Y bị Nhật tống giam trong cuộc đảo chính ngày 9-3-1945(B.T).

13)  Phù Tang: nước Nhật (B.T).

14)  Đội khu: đội đít, chỉ việc Toàn quyền Đờcu khuất phục, bợ đỡ quân phiệt Nhật (B.T).

15) Trước khi đi, Người đã viết sẵn nhiều bài, giao lại cho đồng chí Phạm Văn Đồng đăng dần trên báo Việt Nam độc lập (B.T).

16) Đầu những năm 40 của thế kỷ XX, nhà Từ Vĩ Tam là nơi trú chân tin cậy của những người cách mạng Việt Nam thường qua lại vùng này, cũng như nhà bố con Trương Đình Duy, Trương Kỳ Siêu ở Long Lâm, nhà Nông Hữu Phong ở Cừ Dương, nhà Trương Quốc Thuỵ ở Mạch Ma, nhà bố con Lâm Bích Phong – Lâm Đại Phàm ở Vĩnh Lao… Theo Từ Vĩ Tam, khoảng hơn 4 giờ chiều, Hồ Chí Minh đến, lưng đeo một túi lưới, tay cầm gậy, mình mặc chiếc áo nâu chéo vạt, đã để râu, thoáng trông có vẻ như một thầy địa lý phong thuỷ ở nông thôn. Người cho biết sẽ đi bộ đến Bình Mã rồi đáp ô tô đi Trùng Khánh để gặp một yếu nhân Trung Quốc (B.T).

17) Ngoài Từ Vĩ Tam còn có Vương Tích Cơ, Hoàng Đạt Hán, Hoàng Đức Quyền và Dương Đào (B.T).

18)  Bình Mã, tức trấn Bình Mã, huyện lỵ huyện Điền Đông (Quảng Tây) (B.T).

19) Dương Đào, còn có tên khác là Dương Thuần Cương, một thanh niên nông dân người dân tộc Choang, lúc này chưa đầy 20 tuổi. Khi dẫn đường cho Hồ Chí Minh từ Tĩnh Tây đi Bình Mã, Dương Đào bị bắt giữ cùng với Hồ Chí Minh ở Túc Vinh, sau đó cũng bị giải theo Người qua các nhà tù Quảng Tây. Trong Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh dành riêng một bài nói về Dương Đào (B.T).

20) Túc Vinh, cách huyện lỵ Đức Bảo 20 km về phía đông (B.T).

21) Nguyên nhân bị bắt giữ, theo báo cáo của Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu của Quốc dân Đảng lúc đó, là:

Khi kiểm tra căn cước, tuần cảnh phát hiện ra rằng ngoài Chứng minh thư của “Quốc tế phản xâm lược hiệp hội Việt Nam phân hội” ra, Hồ Chí Minh còn mang theo Thẻ hội viên đặc biệt của “Quốc tế tân văn xã”, và Giấy thông hành của quân dụng của Văn phòng tư lệnh Đệ tứ chiến khu cấp, v.v.. Tất cả giấy tờ đều cấp năm 1940, đã quá thời hạn sử dụng. Chúng nghi là gián điệp nên đã bắt giữ (B.T).

22) Huyện Đức Bảo, trước năm 1951, là hai huyện Thiên Bảo và Kính Đức. Đường từ Tĩnh Tây đến Điền Đông để đi Trùng Khánh phải qua đất Thiên Bảo. Huyện lỵ Đức Bảo đặt tại huyện lỵ Thiên Bảo cũ (B.T).

23)  Chị gái của Từ Vĩ Tam trên đường đi từ Ba Mông đến Đỗ An tình cờ gặp Hồ Chí Minh và Dương Đào bị giải đi như vậy, liền quay về báo tin. Vương Tích Cơ được cử đi lên huyện lỵ ngay ngày hôm sau để nghe ngóng tin tức và tìm cách giúp đỡ. Huyện trưởng Tĩnh Tây với Hồ Chí Minh có biết nhau từ trước, từng gặp nhau ở Quế Lâm, nhưng y từ chối gặp Người, mà chỉ gửi điện báo lên cấp trên và không được trả lời (B.T).

24) Nhà giam C.H.S. trong tiếng Hán có tên là “Chuyên viên công thự câu lưu sở” (B.T).

25) Vương Tích Cơ là một nông dân ở Ba Mông, một trong những người kết nghĩa anh em với những người cách mạng Việt Nam. Vương có người quen làm cai ngục nên vào thăm dễ dàng. Vương còn dặn Hồ Chí Minh nếu cần gì, có thể nhắn ra qua người ấy (B.T).

a) Trong nguyên bản, bốn câu thơ này không có đầu đề, chép ở ngoài bìa tập Ngục trung nhật ký cùng hình vẽ hai tay bị xiềng, có lẽ được tác giả coi như một lời đề từ cho toàn tập (B.T).

26)  Thiên Bảo, tên một huyện cũ ở Quảng Tây, ở giữa hai huyện Tĩnh Tây và Điền Đông. Năm 1951, huyện Thiên Bảo hợp nhất với huyện Kính Đức thành huyện Đức Bảo (B.T).

27)  Long Tuyền, theo nhà sử học Hoàng Tranh (Trung Quốc) viết trong cuốn Hồ Chí Minh ngục trung thi chú giải (Quảng Tây Giáo dục xuất bản xã, tháng 10-1992), thì địa danh này chính tên là Long Xuyến, một thôn của xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo. Để hài âm, nên tác giả bài thơ đã viết thành Long Tuyền. Thôn này nằm bên đường cái đi huyện Điền Đông, cách huyện lỵ Đức Bảo (lúc bấy giờ là huyện lỵ Thiên Bảo) 36 km, cách huyện lỵ Điền Đông 49 km. Ngày trước, đi bộ từ Thiên Bảo đến Điền Đông, khách bộ hành thường phải nghỉ qua đêm ở đây (B.T).

28)  Uyki (Wendell Willkie), đại biểu Mỹ trong Đồng minh chống phát xít, đến thăm Trùng Khánh, nơi Chính phủ Quốc dân Đảng (Trung Quốc) đóng. Lúc Uyki đi qua Đệ tứ chiến khu, nhà đương cục đã tổ chức hội họp chiêu đãi. Bác Hồ bấy giờ cũng là thành viên của Phân hội Việt Nam Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, cũng là đồng minh của Trung Quốc, cũng tới Trùng Khánh. Nhưng giới cầm quyền Trùng Khánh lại bắt giam Người (B.T).

29)  Quả Đức, tên huyện. Từ năm 1951, huyện Quả Đức hợp nhất với huyện Bình Trị thành huyện Bình Quả. Huyện lỵ Quả Đức cách huyện lỵ Điền Đông 60 km, cách Nam Ninh 137 km (B.T).

b)  Long An: tên một huyện ở lưu vực sông Hữu Giang (Quảng Tây). Huyện lỵ Long An cách huyện lỵ Bình Quả 37 km, cách Nam Ninh 100 km (B.T).

c) Đồng Chính: tên một huyện cũ của Quảng Tây. Huyện lỵ Đồng Chính cách huyện lỵ Long An 30 km và cách Nam Ninh 50 km. Năm 1951, huyện Đồng Chính hợp nhất với hai huyện Phù Nam và Tuy Lộc thành huyện Phù Tuy. Huyện lỵ Đồng Chính trước kia nay là thị trấn Trung Đông của huyện Phù Tuy (B.T).

30)  Nam Ninh: tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Tây (B.T).

31) Ung, một biệt danh của Nam Ninh. Hai sông Tả giang và Hữu giang hội lưu tại phía tây Nam Ninh thành sông Úc giang. Đoạn Úc giang chảy ngang qua thành phố Nam Ninh gọi là Ung giang, cho nên Nam Ninh còn có tên là Ung châu, gọi tắt là Ung (B.T).

32)  Ngày 11 tháng 11 (Song thập nhất): ngày kỷ niệm chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918 (B.T).

33)  Báo động có máy bay giặc Nhật (B.T).

34)  Chiết tự, một lối chơi chữ khá phổ biến ở Trung Quốc. Người ta phân giải hay tổ hợp các bộ thủ trong một chữ để thành chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Trình độ Hán học của Hồ Chí Minh rất cao, nên cũng rất thạo trò chơi chiết tự này (B.T).

35)  Trong nguyên tác, bài thơ này không ghi ngày tháng cụ thể nhưng đặt giữa hai bài thơ được ghi rõ ngày tháng sáng tác là ngày 12-11 và ngày 14-11. Căn cứ vào nội dung và trình tự của các bài, có thể phỏng đoán rằng bài thơ Tảo tình (Nắng sớm) viết trong buổi sáng ngày 13, còn hai bài Chiết tự và “Lữ quán” thuộc ngày hôm trước 12-11. Nay tạm ghi như trên (B.T).

36) Vũ Minh, tên huyện. Huyện lỵ Vũ Minh cách Nam Ninh 43 km về phía bắc (B.T).

37) Bào Hương, tên một thôn trấn nằm bên đường cái từ huyện Vũ Minh đi huyện Tân Dương, nơi có món thịt chó khá nổi tiếng (B.T).

38)  Sĩ – đích, phiên âm tiếng Anh “stick” có nghĩa là cái gậy (B.T).

39) Tân Dương, tên huyện (Quảng Tây). Đường đi bộ từ Nam Ninh đến Quế Lâm phải qua Tân Dương (B.T).

40) Thiên Giang, một thị trấn nhỏ của huyện Lai Tân (Quảng Tây), cách huyện lỵ Tân Dương 49 km về phía bắc, cách huyện lỵ Lai Tân 42km (B.T).

41)  Liễu Châu, một thành phố ở phía bắc của Quảng Tây, nơi đặt Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu (B.T).

42) Lai Tân, tên một huyện của Quảng Tây, cách Thiên Giang 49 km, cách Liễu Châu 80 km (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)