Tháng 1, ngày 24
Nguyễn Ái Quốc viết tài liệu Phong trào cách mạng ở Đông Dương (bằng tiếng Anh), ký tên Vícto. Bài viết tổng kết tình hình năm 1930 bằng những số liệu cụ thể, trong đó Người thống kê, phân tích, phân loại các cuộc đấu tranh liên tiếp của các tầng lớp nông dân, công nhân, học sinh, phụ nữ… Đông Dương.
Người tố cáo những tội ác của đế quốc Pháp trong “Khủng bố trắng” như: bắt giết hàng loạt người, đốt phá, huỷ diệt nhiều làng mạc và cả những thủ đoạn gây hỏa hoạn, bỏ thuốc độc xuống giếng nước để khủng bố những địa phương có phong trào cách mạng.
Người kết luận:
“Tình hình Đông Dương là như thế.
Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới – đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp – là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ, Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!”.
– Bản chụp bút tích, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 55-60.
Tháng 1, ngày 27
Nguyễn Ái Quốc gửi thư báo cáo Quốc tế Cộng sản về việc đón nhận 11 đồng chí bị Chính phủ Xiêm trục xuất về Sơn Đầu (Trung Quốc), việc bồi dưỡng sức khoẻ, huấn luyện thêm về chính trị và giao công tác cho họ.
Người viết:
“Tôi là người chịu trách nhiệm ở đây, nên không thể để mặc họ chết đói hoặc chết rét…”.
– Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
Tháng 2, ngày 8
Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Ban Phương Đông về một số vấn đề.
– “Số 1. Tin tức đấu tranh ở Trung Kỳ” (10.000 nông dân, nam nữ và trẻ em, đã tổ chức những cuộc biểu tình kỷ niệm Quảng Châu bạo động).
– “Số 2. Ở Nhà máy xi măng Hải Phòng” (3.000 công nhân Nhà máy xi măng đã bãi công và đấu tranh).
– “Số 3. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương gửi các Xứ uỷ” về củng cố các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ và các Uỷ ban đặc biệt, bổ sung cán bộ, tuyên truyền về việc thay đổi tên Đảng, tổ chức Công hội…
– “Việc kết nạp hội viên mới vào Công hội”.
– Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 61- 63.
Tháng 2, ngày 12
Ký tên Vícto, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông dưới hình thức trao đổi giữa một khách hàng với một công ty. Trong thư có đoạn: “Tôi đã gửi cho ông ba lần mẫu hàng trong nước, qua người giao dịch Trung Quốc của ông, lần gửi cuối cùng vào ngày 8 tháng 2, tôi mong ông đã nhận được cả.
… Ông xem, 9 hay 10 người ở một nhà, chúng ta sẽ ăn Tết thật là vui vẻ. Các em và cháu tôi nhân cơ hội này sẽ đi Thượng Hải…
Ông đã tìm hiểu về việc “Công ty xe hoả tốc hành Mỹ” chưa? Tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để gửi tiền cho hành khách.
Hôm nay, tôi gửi thêm cho ông những mẫu hàng khác của các thương cục Mã Lai và Nam Kỳ cũng qua người bạn Trung Quốc của ông. Nhờ ông chú ý khi mẫu hàng đến”.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 64.
Tháng 2, ngày 16
Ký tên Vícto, Nguyễn Ái Quốc viết tiếp Thư gửi Ban Phương Đông, dưới hình thức trao đổi của một khách hàng với một công ty buôn bán. Trong thư có đoạn:
“Tôi mong ông đã nhận được tất cả thư của tôi cùng với những mẫu hàng mà tôi đã gửi qua nhân viên Trung Quốc của ông. Nay tôi gửi thêm những mẫu hàng khác qua người bạn Thượng Hải của tôi. Yêu cầu ông trả lời cho bạn tôi biết.
Tôi vừa nhận được hai tập sách rao hàng tiếng Anh của hãng “Inpơrétcơ và công ty”. Tôi còn phải nhận thêm ở bạn Thượng Hải của tôi nhiều tập sách ấy nữa (tiếng Pháp), để gửi cho các nhà buôn Đông Dương…”
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 65.
Tháng 2, ngày 19
Nguyễn Ái Quốc viết bài Nghệ Tĩnh đỏ (bằng tiếng Pháp), ký tên V. Bài viết có ba phần, đánh dấu I, II, III.
Phần I, giới thiệu sơ qua về tình hình địa lý, nhân văn, kinh tế và truyền thống cách mạng của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Kết thúc phần I, Người viết: “Nghệ – Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ””!
Phần II, trình bày những hình thức đấu tranh cách mạng của nhân dân Nghệ – Tĩnh những ngày cuối năm 1930 đầu năm 1931, đặc biệt là cuộc lễ “đỏ” tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh 2 km.
Phần III, vạch rõ những thủ đoạn nham hiểm của đế quốc Pháp trong việc bắt ép nhân dân tham gia các cuộc biểu tình phản cách mạng nhằm lừa bịp dư luận.
Cùng ngày, Người viết bài Khủng bố trắng ở Đông Dương, ký tên V., trình bày việc đế quốc Pháp bắt giam, xử án những người hoạt động cách mạng ở Thái Bình, Hà Nội, Nam Định và thái độ hiên ngang, dũng cảm của họ trước phiên toà.
– Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 70-72; 66-69.
Tháng 2, ngày 21
Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông, ký tên K. Trong thư Người thông báo tin Lý Tự Trọng bắn chết tên mật thám Lơ Grăng và đã bị bắt. Người viết: “Đồng chí thanh niên chắc chắn sẽ bị chúng xử bắn” và yêu cầu Ban Phương Đông liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp “tổ chức biểu tình đòi thả đồng chí ấy ra”.
Người còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Công hội đỏ lên tiếng đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương.
Cuối thư, Người yêu cầu Ban Phương Đông “chuyển tôi về Thượng Hải” và “Hỏi Tổng liên đoàn Lao động thống nhất Pháp xem có đồng chí ở trên các tàu của Công ty hàng hải không” để liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp và Tổng liên đoàn Lao động thống nhất Pháp.
– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
Tháng 3, ngày 5
Với bí danh Quac. E. Wan, Nguyễn Ái Quốc viết bài Uy quyền của đế quốc Pháp ở Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản, tố cáo sự khủng bố dã man của đế quốc Pháp đối với nhân dân Đông Dương, ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân và khẳng định: “tinh thần đó sẽ đưa cách mạng đến thành công”, “không có lưỡi lê, bom đạn và súng máy nào có thể dập tắt được tinh thần đó”.
– Bản chụp tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
Tháng 4, ngày 20
Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, ký tên Nguyễn Ái Quốc.
Trong thư, Người phê bình về cuộc Hội nghị Xứ uỷ Trung và Bắc trong “Cách khai hội”, “Cách thảo luận”, trong “Vấn đề công tác”, “Vấn đề tên Đảng”, “Lực lượng của Đảng”.
Người đề nghị Đảng phải sửa chữa những thiếu sót đó, phải có chương trình hành động cụ thể cho từng huyện và từng tỉnh, cho mỗi đồng chí trong mỗi tổ chức, và yêu cầu “Tất cả mọi đảng viên và tất cả các chi bộ phải thảo luận Chỉ thị của Quốc tế thứ ba và Nghị quyết của Trung ương”.
Thư có kèm theo một bảng thống kê số lượng đảng viên, chi bộ, thanh niên, công hội, nông hội, phụ nữ trong 13 tỉnh và huyện. Qua bảng thống kê này, Người chỉ ra “năm nơi có Nông hội rất yếu”, ở Trung (tức Trung Kỳ – B.T) chưa có chỗ nào tổ chức được công nhân nông nghiệp, ở Bắc (tức Bắc Kỳ – B.T) “chỉ có hai tỉnh là có Công hội”…
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 73-76.
Tháng 4, ngày 23
Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (đầu thư đề ngày 23-4-1931, cuối thư đề ngày 24-4-1931 và không ký tên người viết).
Trong thư, Người thông báo về những cán bộ được cử về nước theo đường dây liên lạc, nhắc nhở công tác bảo vệ Đảng, giữ gìn bí mật, duy trì chế độ báo cáo giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và đề nghị Trung ương ghi nhận nhiệm vụ của mình đã được Ban Phương Đông xác định.
Kèm theo thư là một “miếng giấy nhỏ” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Quốc tế5.
– Ảnh bút tích tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 77-80.
Tháng 6, ngày 6
Sáng sớm, Nguyễn Ái Quốc – tên trong thẻ căn cước là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Hồng Kông, dưới sự chỉ đạo của thanh tra cảnh sát Carây (A.E. Carey) bất ngờ vây bắt tại ngôi nhà số 168, đường Tam Lung 1), Cửu Long mà không có lệnh bắt. Cùng bị bắt với Nguyễn Ái Quốc còn có Lý Phương Thuận (Lý Sâm). Cảnh sát thu được một số giấy tờ do Người ghi những địa danh mà cảnh sát Anh và mật thám Pháp không xác định được.
– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 37-38.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 67 – 68.
– Tự thuật của Lý Phương Thuận ngày 8-9-1969. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
Tháng 6, từ ngày 6 đến ngày 11
Nguyễn Ái Quốc bị giam trong nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông. Được một người Việt Nam báo tin Người bị bắt và nhờ giúp đỡ, F.H.Lôdơbi (Francis Henry Loseby) 2) một luật sư người Anh đến thăm Người. Khi Nguyễn Ái Quốc nói không có tiền để nhờ cãi, ông Lôdơbi đã hứa sẽ giúp “vì danh dự chứ không nhất thiết vì tiền”.
Người đã cung cấp những thông tin cần thiết cho luật sư và cùng luật sư thống nhất về phương hướng bào chữa.
– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 106.
– Lời kể của luật sư Lôdơbi, Trịnh Ngọc Thái ghi.
Tháng 6, ngày 11
Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ nhất).
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118.
Tháng 6, từ ngày 12 đến ngày 18
Nguyễn Ái Quốc bị đưa từ Nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông đến giam tại ngục Víchtôria.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118.
Tháng 6, ngày 15
Nhiều tài liệu do Nguyễn Ái Quốc viết bị cảnh sát tìm thấy ở Văn phòng của Hile Nulen (Hilaire Noulens) – Thư ký Chi nhánh Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản khi ông này bị bắt ở Thượng Hải.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.
Tháng 6, ngày 24
Nguyễn Ái Quốc được luật sư người Anh F.H. Lôdơbi đến gặp tại ngục Víchtôria.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 263-271, 279.
Tháng 6, ngày 25
Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ hai).
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.
Tháng 7, ngày 2
Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ ba).
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.
Tháng 7, ngày 10
Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ nhất.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.
Tháng 7, ngày 14
Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ hai.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.
Tháng 7, ngày 20
Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ ba.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 280.
Tháng 7, ngày 30
Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ tư).
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 280.
Tháng 7, ngày 31
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử -Phiên toà thứ nhất. Tại toà, luật sư Ph. C. Gienkin (F.C. Jenkin) theo sự uỷ nhiệm của luật sư Lôdơbi (F.H. Loseby), thuộc “Văn phòng luật sư Rớtxơ” (Russ & Co) thay mặt Nguyễn Ái Quốc (Tống Văn Sơ) và Lý Phương Thuận (Lý Sâm) nêu rõ: Việc bắt Nguyễn Ái Quốc và Lý Phương Thuận ngày 6 tháng 6 mà không có lệnh bắt là bất hợp pháp và việc thẩm vấn họ sau 1 tháng (ngày 10 tháng 7) mới tiến hành là phạm luật. Nội dung thẩm vấn vượt ra ngoài những quy định của Luật là không hợp lệ 3). Thêm nữa, sự vắng mặt của Nguyễn Ái Quốc và Lý Phương Thuận tại phiên toà là vi phạm Luật Bảo thân (Habeas Corpus) 4).
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118-119, 280.
Tháng 8, ngày 14
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ hai, nhưng bị can không có mặt tại phiên toà. Luật sư Gienkin yêu cầu cho hai bị can có mặt để có thêm thông tin cần thiết, nếu cần, nhưng bị viên công tố Alabaxtơ phản đối. Ông ta đọc Lệnh trục xuất nguyên đơn trong 10 năm và kèm theo là Lệnh của Thống đốc yêu cầu nguyên đơn “phải rời Nhượng địa bằng một tàu biển được chỉ định rời Hồng Kông ngày 18 tháng 8, tàu Angiê”.
Tiếp đó, viên công tố đọc lời khai có tuyên thệ của nguyên đơn, trong đó chỉ rõ sự vi phạm luật của việc bắt và thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc. Theo luật, người thẩm vấn chỉ có quyền hỏi một số câu hỏi nhất định, được in sẵn, nhưng cuộc thẩm vấn ở đây mang đầy tính đối chất về qúa khứ nhằm ép Nguyễn Ái Quốc phạm các tội tuyên truyền cách mạng và có những hành động sai trái khác. Cuối lời khai có tuyên thệ, Nguyễn Ái Quốc tố cáo có nhân viên của chính quyền Đông Dương theo dõi Người ở trong tù, và nói thêm: “Nếu tôi bị trục xuất đến Đông Dương, tôi sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử”.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 130-131, 280.
Tháng 8, ngày 15
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ ba. Tại toà, công tố viên Alabaxtơ đọc lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc): “Tống Văn Sơ đã phủ nhận lời khai có tuyên thệ của ông do Trợ lý Thư ký Trung Hoa vụ đưa ra, bởi vì lời khai đó làm người ta hiểu rằng chỉ có duy nhất một cuộc thẩm vấn, trong khi đó ông bị thẩm vấn ba lần. Bị cáo cũng tố cáo rằng ông bị bắt ngày 6 tháng 6 chứ không phải ngày 12 tháng 6”. Tiếp theo, Alabaxtơ đọc các câu hỏi và các câu trả lời khi thẩm vấn Tống Văn Sơ do Thư ký Trung Hoa vụ biên soạn, đã cố tình làm lệch lời khai; trong đó có đoạn: “Tôi phủ nhận lời buộc tội đó. Tôi không phải là một người cộng sản, nhưng tôi là người theo chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc, theo tất cả những gì mà chúng tôi biết, có nghĩa là chiến đấu vì nhà vua và vì đất nước… Chúng tôi là một dân tộc đang chiến đấu và có khả năng tự đứng vững trên chính đôi chân của mình, nhưng cũng cần phải tìm sự viện trợ từ bên ngoài… Vì tổ chức của tôi và tôi trông cậy vào sự giúp đỡ của nước Anh nên tôi không hiểu vì sao tôi lại bị bắt…”. Trong thẩm vấn, khi viên Thư ký Trung Hoa vụ đưa ảnh của Nguyễn Ái Quốc ra hỏi: đây có phải là ảnh của Tống Văn Sơ không, Người đã trả lời: “Tôi thừa nhận rằng bức ảnh trông giống tôi và có thể là tôi, nhưng tôi không bao giờ đội cái mũ như vậy. Tôi thừa nhận bức ảnh trong hộ chiếu là của tôi (hộ chiếu này mang tên Tống Văn Sơ)… Tôi thừa nhận là tôi đã thuê căn hộ trong ngôi nhà số 186 đường Tam Kung. Tôi muốn nói rằng bạn tôi tên là Vương đã thuê căn hộ đó.
Ông Vương đã rời Hồng Kông vào tháng 4 và tôi đã tiếp quản từ ông ấy và trả tiền thuê nhà. Người bạn tên là Vương này là nhà buôn và là một người bạn cũ của tôi. Tôi biết ông ấy đã từ rất lâu. Ông ấy không phải là nhà cách mạng.
Tôi thừa nhận rằng tôi đã từng ở Thượng Hải nhưng đã cách đây nhiều năm rồi. Gần đây tôi không liên lạc gì với Thượng Hải. Không có đảng bộ nào của Đảng An Nam ở Thượng Hải…
Tôi không muốn bị trục xuất. Tôi muốn được tự do…
Tôi tha thiết đề nghị cho tôi được tự do hai hoặc ba tuần nếu tôi bị trục xuất, cốt để cho tôi có thì giờ kiến nghị tới Ngài Bộ trưởng rằng tôi muốn được phép sang Anh quốc” 5).
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 133-136, 280.
Tháng 8, ngày 20
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ tư. Viên công tố Alabaxtơ tuyên bố thừa nhận lệnh trục xuất đối với Tống Văn Sơ lần thứ nhất là sai, do nội dung thẩm vấn sai; nhưng ngay sau đó lại tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa mới được ban hành vào chiều 15-8-1931, riêng với bị cáo nam và cho phép Lý Phương Thuận được rời ghế bị cáo.
Luật sư Ph. Gienkin phản đối vì: Nếu việc giam giữ là bất hợp pháp thì không thể biến thành hợp pháp bằng cách ban hành một lệnh trục xuất mới giữa hai phiên toà.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 142-143, 280.
Tháng 8, ngày 24
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên tòa thứ năm.
Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bảo vệ bằng cách vạch rõ sự giả dối và lừa bịp, đội lốt trục xuất để giao bị cáo cho nhà cầm quyền Pháp. Ông nói: “Cả hai lệnh trục xuất trên đây đều bất hợp pháp…
Giả sử lệnh thứ nhất đã được thực hiện, thì Hội đồng Thống đốc cũng không thể bắt giữ theo lệnh thứ hai vì nó hoàn toàn trái với luật hiện hành, quy định không được bắt giữ lại một người vừa mới được phóng thích theo Luật Bảo thân (Habeas Corpus) vì cùng một nguyên nhân, một vấn đề, hay một lý do”.
Sau đó, ông đọc lời khai mới có tuyên thệ của bị cáo Tống Văn Sơ trước toà: “Tôi 36 tuổi. Tôi sinh ở thành phố Đông Hưng thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
Tôi đã gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng ở Việt Nam và Đông Dương nói chung, phong trào có mục đích cao nhất là lật đổ toàn bộ quyền lực của Chính phủ Pháp ở đó và thay thế bằng một chính phủ dân tộc dưới sự lãnh đạo của người bản xứ. Tôi đã tham gia tích cực vào phong trào này trong một thời gian trước ngày tôi bị bắt ở Hồng Kông ngày 6-6-1931.
Theo những người cầm quyền của Chính phủ Pháp thì tham gia vào một phong trào như vậy là phạm tội và kẻ phạm tội phải nhận án tử hình.
… Mục đích thực sự của Chính quyền Hồng Kông khi tiến hành các thủ tục trục xuất tôi là nhằm khẳng định việc giao tôi cho Pháp ở Đông Dương để Chính phủ Pháp xử lý tôi theo tội trạng đã nói trên”.
Tiếp theo, luật sư Gienkin chất vấn: Hội đồng Hành pháp có họp được đông đủ vào thứ bảy ngày 15 tháng 8 hay không, và có cuộc họp vào ngày đó hay không, vì theo thông lệ chỉ họp vào thứ năm hàng tuần?
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 144-147, 280.
Tháng 8, ngày 25
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ sáu.
Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bênh vực bằng cách yêu cầu viên công tố phải thừa nhận rằng: tài liệu đánh máy do Ban Thư ký Trung Hoa vụ đưa ra nói rằng nguyên đơn (tức Tống Văn Sơ – T.G) khi thẩm vấn đã khai có bí danh thứ ba là Nguyễn Ái Quốc, là tài liệu giả. Cuối cùng, Công tố viên Alabaxtơ phải thừa nhận trước toà rằng: Cuộc họp của Hội đồng Hành pháp được tiến hành vào thứ năm ngày 13 tháng 8, còn lệnh trục xuất (Nguyễn Ái Quốc) đề ngày thứ bảy 15 tháng 8 (!).
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 148-149, 281.
Tháng 8, trước ngày 28
Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Thái tử Cường Để đang sống ở Nhật Bản nhờ Lý Phương Thuận (Lý Sâm) chuyển sau khi được trả tự do và rời khỏi Hồng Kông.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.
Tháng 9, ngày 2
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ bảy.
Công tố viên Phitroi thừa nhận việc bắt giam Tống Văn Sơ là bất hợp pháp, nhưng lệnh trục xuất thứ hai ngày 15 tháng 8 và việc giam giữ sau đó là hợp pháp.
Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bênh vực bằng một lập luận: Không thể làm cho việc giam giữ bất hợp pháp được hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp pháp, ngay cả khi luật pháp cho phép. Ý kiến về điều này vẫn được bảo lưu.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 150-151, 281.
Tháng 9, ngày 11
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ tám.
Toà án đọc phán quyết: Trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương theo lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông ngày 15 tháng 8. Bảo vệ cho quyền lợi của Nguyễn Ái Quốc, luật sư Ph. Gienkin phản đối lệnh trục xuất này: “Luật Bảo thân (Habeas Corpus) cấm bắt lại một người vì cùng một lý do hoặc cùng một sự việc, sau khi người đó đã được phóng thích theo Luật Bảo thân và ở đây nguyên đơn phải được xem như đã được trắng án vì lệnh trục xuất thứ nhất là bất hợp pháp. Việc bắt giữ một người đang bị giam giữ bất hợp pháp là một việc làm bất hợp pháp, dù cho lệnh bắt giữ là hợp pháp”. Lệnh trục xuất có kèm theo lệnh chỉ định tàu biển đi về hướng Đông Dương thực chất là một thủ đoạn dẫn độ, là sai luật.
Luật sư Ph. Gienkin tuyên bố sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 152-154, 281.
Tháng 9, ngày 12
Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ chín.
Tại toà, luật sư của Nguyễn Ái Quốc phát biểu chống lại phán quyết của Toà án thực chất là muốn giao Người cho nhà đương cục Pháp, là trái với Luật Dẫn độ. Luật sư yêu cầu cho Tống Văn Sơ được tự lựa chọn nơi đến, yêu cầu hưởng quyền tự do công dân mà ông đã bị tước đoạt từ ngày 6 tháng 6 và phải trả cho ông số tiền là trên 5000 đôla.
Sau khi Toà nghe bản kháng án tám điểm của luật sư Ph. Gienkin và nghe lời phản đối của ông công tố Alabaxtơ, Toà án chấp nhận cho phép Tống Văn Sơ kháng án lên Hội đồng Cơ mật với điều kiện phải nộp hồ sơ trong thời hạn ba tháng.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 155- 156, 281.
Tháng 9, ngày 13
Ngay sau Phiên toà thứ chín kết thúc một ngày, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Thống đốc Hồng Kông xin được đi Anh mà không yêu cầu điều kiện gì, miễn là được bảo đảm an toàn. Sau đó, Thống đốc Hồng Kông đã gửi điện cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh biết về yêu cầu này, hỏi ý kiến có đồng ý giải quyết như thế không, và nếu đồng ý thì có muốn đặt điều kiện đặc biệt nào không?
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh trong thư trả lời, gợi ý: Chỉ cần phóng thích, cho ông ta tự thu xếp rời Nhượng địa trong thời hạn ấn định, và làm thế nào để tránh được sự phản đối của Pháp.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 167, 168.
Tháng 10, đầu tháng
Nguyễn Ái Quốc tiếp bà Xtenla Benxơn 6). – một nhà hoạt động văn học và sân khấu ở Hồng Kông, vào thăm Người trong nhà tù Hồng Kông.
Người nói chuyện với bà Xtenla Benxơn bằng tiếng Anh với một thái độ rất lịch thiệp. Với thiện cảm đặc biệt, bà Benxơn đã yêu cầu chồng mình – ông Tômát Xaothonơ, lúc đó là Phó thống đốc Hồng Kông – giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc.
– F. H. Lôdơbi: Băng ghi âm buổi toạ đàm tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tháng 2-1960, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 273.
Tháng 11, đầu tháng
Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao phổi ở dạng tái phát. Nhờ sự can thiệp của luật sư Lôdơbi, Người được chuyển từ ngục Víchtôria sang bệnh xá của nhà tù.
Những ngày nằm ở bệnh viện, Nguyễn Ái Quốc được mọi người kính trọng. Một lần, cô y tá Trung Quốc thường ngày chăm sóc Người, hỏi: “Cộng sản là thế nào? Chú làm cộng sản làm gì để bị bắt bớ khổ thân?”. Nguyễn Ái Quốc đã giải thích tóm tắt cho cô hiểu và khêu gợi ở cô tinh thần dân tộc chống đế quốc.
– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1994, tr. 46.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 201, 281.
Tháng 12, ngày 1
Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc gửi lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh được Toà án tối cao Hồng Kông chấp thuận.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.
Tháng 12, ngày 17
Nguyễn Ái Quốc nhận được thư kèm theo 300 yên và thuốc men của Thái tử Cường Để từ Nhật Bản gửi khi biết Người bị ốm nặng trong nhà ngục ở Hồng Kông.
– Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr.170, 281.
_____________________________
1) Có tài liệu ghi là Tam Tung hoặc Tam Kung (chưa xác minh được). Bản thảo bút tích của T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện viết là Tam Tung (B.T).
2) F.H. Lôdơbi là luật gia dân chủ tiến bộ người Anh, lúc đó là Giám đốc Công ty luật sư RUSS (của người Anh) ở Hồng Kông (B.T).
3) Theo luật pháp Anh quốc, khi thẩm vấn chỉ được hỏi bảy câu hỏi: 1. Tên, 2. Tuổi, 3. Nơi sinh, 4. Người ta tố cáo rằng…. và chứng minh về sự vô tội của bị cáo, 5. Đã ở đây bao lâu, 6. Có người nào quen ở đây? Tên gì? Ở đâu? 7. Người làm chứng, địa chỉ của họ. Nhưng khi thẩm vấn, người thẩm vấn đã hỏi Nguyễn Ái Quốc có phải là cộng sản hay thành viên của Quốc tế thứ ba, hay người cách mạng không? Khi thẩm vấn Lý Phương Thuận lại hỏi: Có chồng hay chưa? (Trong khi Lý Phương Thuận mới 16 tuổi) (B.T).
4) Luật Bảo thân có nghĩa là “bị cáo phải có mặt” tại phiên toà nhằm giám sát các toà án cấp dưới, kiểm tra tính hợp pháp của việc giam giữ một người nào đó và bị cáo phải có mặt tại phiên toà (B.T).
5) Những nội dung trên đây được báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, ngày 17-8-1931 đưa tin (B.T).
6) Bà Xtenla Benxơn là bạn thân của bà Lôdơbi. Bà đã cùng chồng vào thăm Nguyễn Ái Quốc trong nhà tù Hồng Kông (B.T).
Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)