Bàn thêm về vấn đề nhân quyền

1. Nhân quyền – theo dòng lịch sử

Con người với bản năng và những “tính rất người”, luôn hướng tới những cái thật, cái đúng (chân), cái tốt lành (thiện) và cái đẹp (mỹ). Trong quá trình chung sống với cộng đồng, quan hệ giữa người với người, khát vọng có “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” trở thành điểm tương đồng của tất cả mọi người. Song khát vọng chung nhất ấy đã bị chà đạp, kìm nén khi xã hội loài người phân chia thành những giai cấp khác nhau; có tập đoàn người này áp bức, thống trị tập đoàn người khác, thông qua những quy định, sắc lệnh (luật pháp) của nhà nước do giai cấp thống trị nắm giữ và điều hành. Cũng từ đó mới xuất hiện cuộc đấu tranh cho khát vọng chung, mới xuất hiện “nhân quyền” và cuộc đấu tranh cho nhân quyền. Thời điểm đó là năm nào còn là “ẩn số” song chỉ biết rằng “khi đồ đồng chiếm ưu thế thì ở Ai Cập đã xảy ra quá trình hình thành của xã hội giai cấp và nhà nước chủ nô”1. Còn trên lưu vực Lưỡng Hà (phía Nam I-rắc ngày nay) thì “đầu thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên, những nhà nước đầu tiên ra đời làm công cụ cần thiết để cưỡng bức nô lệ phải phục tùng và bảo đảm địa vị thống trị trong xã hội của bọn quyền quý chủ nô xuất thân từ quý tộc của bộ lạc”2. Trong xã hội đó, địa vị của nô lệ hết sức thấp hèn. Nô lệ được gọi là “igu-nu-đu” (“không ngước mắt”); tức là luôn luôn phải cụp mắt xuống trước mặt chủ nô. Họ bị coi như hàng hóa khác để đem bán, làm vật tế thần và vua quá cố. Về kinh tế, những đóng góp tự nguyện của họ vào kho chung của toàn bộ lạc trước kia, nay đã biến thành sưu nặng nề, thành lao động phục vụ cho tầng lớp trên của xã hội. Sự mất nhân quyền đã dẫn đến các cuộc đấu tranh liên tiếp của nô lệ, trong đó tuyên bố của Spác-ta-quýt về quyền của nô lệ chống áp bức bóc lột của chủ nô là tuyên bố nhân quyền đầu tiên, có dấu ấn lớn nhất dưới chế độ chiếm hữu nô lệ.

Sau khi các nhà nước chiếm hữu nô lệ tan rã, người nô lệ vừa được giải phóng – nông dân lại rơi vào chế độ áp bức bóc lột mới – chế độ phong kiến. Nhân quyền và đấu tranh cho nhân quyền trở nên gay gắt hơn.

Mãi đến giữa thế kỷ thứ XVIII, giai cấp tư sản giải phóng tiểu nông khỏi sự bóc lột và thống trị của các lãnh chúa phong kiến. Đây là ngọn cờ nhân quyền lớn nhất của thời đại cách mạng tư sản. Không phải ngẫu nhiên mà nhân loại hân hoan chào đón “Tuyên ngôn Độc lập” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp.

Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ được một ủy ban gồm 5 người, đứng đầu là Giéc-phéc-xơn soạn thảo và được Hội nghị Lục địa lần thứ 2 long trọng công bố ngày 4 tháng 7 năm 1776. Nội dung cơ bản của Tuyên ngôn là lời tuyên bố các quyền tự do dân chủ tư sản và khẳng định nền độc lập của các bang ở Bắc Mỹ. Bản Tuyên ngôn nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp được Hội đồng lập hiến thông qua ngày 26 tháng 8 năm 1789 gồm 17 điều khoản. Đó là một Cương lĩnh thấm nhuần tư tưởng của các nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII, kết tinh lại trong khẩu hiệu nổi tiếng “Tự do, bình đẳng, bác ái”. Lần đầu tiên trong lịch sử nước Pháp và châu Âu, chủ quyền tối cao được tuyên bố thuộc về nhân dân cùng với những quyền tự do dân chủ khác. Quyền lực của nhà vua cùng chế độ đẳng cấp bất bình đẳng trong xã hội phong kiến bị bãi bỏ.

Một cách khách quan, các bản Tuyên ngôn trên là những văn kiện có tính chất dân chủ tự do cao, là một tiến bộ lớn lao, ghi nhận những mong muốn của dân chúng. Tuy nhiên, cả hai bản tuyên ngôn đó đều có những hạn chế đáng kể. Trong bản Tuyên ngôn của Mỹ không có điều khoản thủ tiêu chế độ nô lệ, không nghiêm cấm việc buôn bán nô lệ nên các chủ nô vẫn mặc sức tự do buôn bán nô lệ, nô lệ vẫn chỉ là một “công cụ”, một thứ “hàng hóa biết nói” mà thôi. Trong bản Tuyên ngôn của Pháp và cả của Mỹ mặc dầu những quyền tự do và bình đẳng đã được ghi trong văn bản, nhưng các tuyên ngôn đều xác lập dứt khoát cơ sở của chế độ mới là chế độ tư bản, duy trì công khai quan hệ bóc lột của tập đoàn thống trị đối với quần chúng nhân dân. Rõ ràng rằng, về thực chất, cuộc cách mạng tư sản hoàn toàn không có ý định xóa bỏ bóc lột mà chỉ thay đổi giai cấp và phương thức bóc lột phong kiến sang tư sản, tư bản chủ nghĩa mà thôi. Như vậy, đại bộ phận quần chúng nhân dân và giai cấp công nhân lại rơi vào một chế độ áp bức bóc lột mới rất văn minh mà không kém dã man – chế độ tư bản chủ nghĩa; nghĩa là sự vi phạm nhân quyền lại tiếp tục gia tăng. Theo quy luật lịch sử, tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng mới chống lại các chính sách mất dân chủ, nhân quyền trong các nhà nước tư sản.

Ngày 7-11-1917, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, mở đầu thời đại mới của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Mục tiêu chính của cách mạng là xóa bỏ ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động; thủ tiêu chế độ người bóc lột người, giải phóng con người một cách triệt để. Cuộc đấu tranh cho tương lai tươi sáng đó đã mở ra một triển vọng vô cùng sán lạn cho loài người, đưa cuộc đấu tranh nhân quyền lên một đỉnh cao mới, đến mức vấn đề nhân quyền tưởng chừng sẽ không còn phải đặt ra đối với chế độ chính trị mới – chế độ XHCN nói chung và các nước XHCN nói riêng. Tiếc thay, do sự quanh co của lịch sử, nhiều nước XHCN ở Đông Âu và cả Liên Xô – quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga bị tan rã, hệ thống XHCN lâm vào khủng hoảng, thoái trào. Điều đó đã phần nào làm giảm đi niềm tin của nhiều người vào CNXH, CNCS, song không có nghĩa là bản chất tốt đẹp, tính dân chủ, nhân quyền cao của nó bị phủ định. Hy vọng rằng, từ những bài học đau lòng ấy, các Đảng Cộng sản, các nước XHCN còn lại sẽ thực hiện thành công mục tiêu, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười, xây dựng thành công CNCS trên toàn thế giới và lúc đó hiển nhiên vấn đề nhân quyền không còn phải đặt ra trong mọi chương trình nghị sự của nhân loại.

2. Nhân quyền và chủ quyền quốc gia

Là niềm mơ ước, là giá trị chung của toàn nhân loại, nhưng nhân quyền là vấn đề của quốc gia, thuộc quyền xử lý của quốc gia gắn chặt với lợi ích quốc gia và độc lập chủ quyền của từng quốc gia-dân tộc. Một quốc gia không có hoặc chưa có chủ quyền dân tộc thì không thể nói đến nhân quyền, đến “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của người dân. Ngược lại, nếu “nước độc lập mà dân không hạnh phúc, tự do, thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì”; hơn nữa nền độc lập đó không thể bền vững. Như vậy, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và nhân quyền có mối quan hệ biện chứng, trong đó độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là vấn đề trước hết, là điều kiện tiên quyết và làm tiền đề cơ bản để thực hiện đầy đủ quyền con người – nhân quyền.

Chúng ta thừa nhận rằng, ngày nay hòa bình và hội nhập quốc tế đang là xu thế chung của nhân loại. Nhiều vấn đề không thể còn giải quyết ở từng quốc gia-dân tộc. Sự phụ thuộc và mối quan hệ mật thiết giữa các quốc gia, dân tộc, các giai cấp ngày càng gia tăng, do thành tựu của hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ, của đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh với các nạn dịch và tham gia giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, nên thấy rằng đó là một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh. Nói theo triết học đó là sự thống nhất của mâu thuẫn, thống nhất trong mâu thuẫn, trong đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc, trong rất nhiều sự khác biệt phức tạp về trình độ phát triển, về văn hóa, về tôn giáo… Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại và có bước phát triển mới, dưới hình thức mới, thậm chí cả nội dung mới, tiềm ẩn những nguy cơ khó lường đối với toàn cầu. Trong từng khu vực, từng quốc gia khác nhau lại nổi lên những vấn đề rất khác nhau hoặc là xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ, xung đột tôn giáo, sắc tộc… Sự đa dạng đó cộng với những đặc thù riêng biệt về văn hóa, lịch sử, truyền thống, kinh tế, đặc biệt là đường lối chính trị và lợi ích quốc gia, dân tộc khác nhau nên chủ trương và phương pháp xử lý mọi vấn đề trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội… và cả vấn đề nhân quyền sẽ rất khác nhau. Xét cho cùng việc thực hiện quyền con người sẽ được thông qua sự bảo đảm của quốc gia-dân tộc, tựu trung là ở Hiến pháp, pháp luật và các chính sách của quốc gia đó. Vì lẽ đó, không thể có một thứ “nhân quyền toàn cầu”, “nhân quyền không biên giới” và càng không thể có cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, “nhân quyền đặt trên tổ quốc” được.

Đã rõ như ban ngày, ấy vậy mà vẫn còn nhiều người không thừa nhận, đặc biệt là các nước phương Tây, trong đó Mỹ là số một. Thực chất ý đồ của họ là gì? Đó chính là Mỹ muốn dùng chiêu bài này làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Muốn thông qua “nhân quyền” để rũ tung, phá nát an ninh chính trị của các nước có chủ quyền; để áp đặt “nhân quyền kiểu Mỹ” lên nước khác, tiến tới “Mỹ hóa toàn cầu”. Thực chất đây là “con chủ bài”; một mũi tiến công rất nguy hiểm của Mỹ trên mặt trận chính trị, tư tưởng, văn hóa…; là công cụ để thực hiện chủ nghĩa bá quyền; là “vũ khí hòa bình” kết hợp với răn đe bằng quân sự để tiến tới thôn tính, “xâm lược” các quốc gia có chủ quyền.

Từ năm 1990 lại đây, dưới ngọn cờ “nhân đạo” “hòa bình và thiện chí” Mỹ đã hơn 40 lần sử dụng vũ lực ở ngoài nước Mỹ. Năm 1999, NATO do Mỹ cầm đầu đã phớt lờ luật pháp quốc tế, ngang nhiên bỏ qua Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, oanh tạc Liên bang Nam Tư – một quốc gia có chủ quyền suốt 78 ngày, với số bom đạn 21000 tấn. Tệ hơn Mỹ còn sử dụng cả vũ khí mà luật pháp quốc tế cấm sử dụng như “bom ngạt”, “bom uranium” và các loại vũ khí mới có sức công phá cực mạnh như “bom từ”, “bom chì”… Đây là thảm họa “nhân đạo” lớn nhất châu Âu kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Chưa dứt làn sóng phê phán, chì trích, thì 4 năm sau (3-2003) một lần nữa, Mỹ-Anh lại bất chấp Liên hợp quốc, tiến công I-rắc với cái cớ “I-rắc có vũ khí hủy diệt hàng loạt”. Oái oăm thay đến nay, sau hơn 2 tháng đào bới các hang cùng, ngõ hẻm trên khắp nước I-rắc mà chưa tìm được một chứng cớ nào, tướng Mỹ G.Conuây – người trực tiếp chỉ huy lực lượng săn lùng vũ khí hủy diệt ở I-rắc của liên quân Mỹ- Anh đã phải mỉa mai rằng “Thật là nực cười! người ta buộc chúng tôi phải làm một công việc mà họ biết chắc là không có kết quả. Đơn giản là ở đây chẳng có thứ vũ khí hủy diệt nào”. Chuyện Mỹ- Anh tiến công I-rắc và “hậu I-rắc” còn là vấn đề “dài dài” tiếp tục còn nhiều lời bàn đi, nói lại song dù gì thì Mỹ cũng đã chiếm được một nước có trữ lượng dầu mỏ nhất nhì thế giới. Cho dù cái cớ khác xa với mục đích thì cũng đã trở thành “chuyện đã rồi”. Theo các nhà quan sát, sau “cú lừa ngoạn mục” ở I-rắc Mỹ sẽ chưa dừng “bài ca truyền thống” này đâu. Nhìn bản đồ quân sự thế giới đương thời, hầu hết nhân dân thế giới, kể cả dân Mỹ đều ngạc nhiên vì số nước có quân Mỹ chiếm đóng quá nhiều (hơn 140 nước) và càng ngạc nhiên hơn khi Mỹ yêu cầu các nước sở tại không được đưa lính Mỹ ra tòa, không xét xử lính Mỹ theo luật pháp của các nước đó dù họ có giết người, cướp của, hãm hiếp dân lành. Thế mới biết cái “nhân quyền kiểu Mỹ” khó hiểu làm sao! Cái thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “nhân quyền không biên giới” của Mỹ là thế đấy.

3. Xoay quanh những dự luật gọi là “nhân quyền Việt Nam” của Mỹ

Tháng 9 năm 2001, chính vào thời điểm quan hệ Việt – Mỹ có bước phát triển quan trọng – Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) được ký thì ông C.Xmít và một số người thiếu thiện chí với Việt Nam trong ủy ban đối ngoại Hạ viện Mỹ đưa ra dự luật “Nhân quyền Việt Nam”. Dự luật này đã được Hạ viện Mỹ tán đồng nhưng sau đó đã không được Thượng viện Mỹ xem xét. Chưa đầy 2 năm sau, ngày 3-4-2003 ông C.Xmít cùng các ông E.Royce, Z.Lofgren đã tổ chức họp báo về việc nhóm này trình dự luật “Nhân quyền Việt Nam 2003” lên Hạ viện Mỹ để xem xét và thông qua. Tuy chưa chính thức thông qua dự luật, song ngày 15-7 Hạ viện Mỹ đã thông qua điều luật bổ sung Dự luật chi tiêu đối ngoại của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong năm tài chính 2004- 2005 (HR1950), trong đó lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp thô bạo công việc nội bộ của Việt Nam, phá hoại quan hệ hợp tác bình đẳng giữa hai nước. Việc thông qua một văn bản pháp quy liên quan tới công việc nội bộ của nước khác là một hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, trong đó có nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng chủ quyền quốc gia. Việc làm này phá hoại quan hệ với một số nước thành viên ASEAN là đối tác đối thoại của Hoa Kỳ. Điều luật HR1950 làm sống lại tiền lệ xấu trong quan hệ quốc tế của thời kỳ “chiến tranh lạnh” là gắn viện trợ quốc tế với công việc nội bộ nước liên quan. Những nội dung, yêu cầu trong HR1950 cũng như các dự luật “Nhân quyền Việt Nam” của Mỹ tập trung chủ yếu đến cái gọi là “dân chủ” và “nhân quyền” ở Việt Nam, đã xuyên tạc tình hình của Việt Nam, hoàn toàn phủ định chính sách phát triển xã hội đúng đắn của Việt Nam là lấy con người làm trung tâm và kết hợp lợi ích chung của cộng đồng với quyền lợi của từng công dân. Những thành quả và chủ trương nhất quán của Nhà nước Việt Nam đã được nhân dân Việt Nam thuộc mọi tầng lớp, mọi dân tộc và tôn giáo đồng tình; được chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và khách nước ngoài, kể cả các nghị sĩ, doanh nhân, học giả, cựu chiến binh và du khách Mỹ thừa nhận và hoan nghênh.

Theo Báo cáo năm 2003 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thì chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam vượt thêm 21 nước trong mấy năm gần đây. Nếu HDI của Việt Nam năm 1985 mới là 0,583, năm 1990 là 0,605 thì năm 2002, 2003 đã tăng lên 0,688. Cũng theo Báo cáo này, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 70% (giữa thập niên thế kỷ XX) xuống còn khoảng 29% (vào đầu năm 2002). Đây là một trong những mức giảm nhiều nhất trong các nước đang phát triển. Còn ông Đa-vít Pay-nơ, đồng Giám đốc Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ Việt Nam thì nói: “Bản thân tôi, từ khi đến Việt Nam cách đây 3 năm, tôi được chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của Việt Nam. Đời sống của người Việt Nam thay đổi rõ rệt, số lượng phương tiện tham gia giao thông tăng lên nhanh chóng, chất lượng sản phẩm xuất khẩu ngày một nâng cao, hàng nhập khẩu cũng nhiều lên rõ rệt… Có thể nói, so với các nước cùng trình độ phát triển, Việt Nam là một trong những đất nước phát triển năng động nhất với nhiều thay đổi tích cực”. Tổ chức quốc tế và người nước ngoài nhận xét Việt Nam tích cực là thế, còn những người trong cuộc – các công dân Việt Nam nói về sự tốt đẹp của đất nước, của chế độ ở Việt Nam ra sao? Xin đi vào 2 đối tượng chủ yếu mà các dự luật nhân quyền của Mỹ tố cáo Việt Nam, là người dân tộc và tôn giáo để ông C.Xmít và các Nghị sĩ Mỹ tham khảo.

Vấn đề dân tộc, ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã đề ra và luôn thực hiện nhất quán chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hiến pháp 1992 của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tiếp tục khẳng định “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, gìn giữ bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”. Trên thực tế, những năm qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chính sách rất hợp lòng dân.

Cụ Nay Phin, một nhân sĩ có uy tín lớn trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói: “Người Gia Rai cũng như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thật sự biết mình có Tổ quốc. Hết Pháp đến Nhật, hết Nhật lại đến Pháp và Mỹ, tất cả đều dùng chính sách nô dịch với đồng bào các dân tộc. Đói ăn, đói mặc, đói chữ là đặc điểm chung của đồng bào các dân tộc dưới chế độ cũ. Không kể một số ít người làm trong bộ máy cai trị, hầu hết người dân đặc biệt là ở nông thôn đều mù chữ, có “anh” làm tới xã trưởng, quận trưởng cũng chỉ biết chữ ký. Còn bây giờ, dưới chính quyền cách mạng, có xã nào, thôn nào không có lớp học, trường học? Trẻ nhỏ bây giờ sáu, bảy tuổi cũng biết đọc, biết viết, sau đó cứ thế học lên tới đại học. Trường Đại học Tây Nguyên đấy, mỗi năm có tới hàng nghìn sinh viên, trong đó phần lớn là con em đồng bào các dân tộc Tây Nguyên theo học. Các dân tộc Tây Nguyên luôn nhớ ơn Đảng, Bác Hồ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam – Nhà nước của dân, do dân và vì dân”.

Ngay những người đã có một thời lầm lỗi như ông Ya Đác, người dân tộc Cơ Ho, đã từng giữ chức “Phó Thủ tướng đặc trách chính trị và ngoại giao” của FULRO, sau khi tỉnh ngộ về với nhân dân, khi là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lâm Đồng đã phát biểu tại cuộc gặp mặt các đại biểu, nhân kỷ niệm 70 năm Mặt trận dân tộc thống nhất, tổ chức tại Hà Nội tháng 11 năm 2000: “Năm 1983 đánh dấu bước ngoặt quan trọng của đời tôi cả về nhận thức và hành động. Tôi càng thấm thía hơn về tư tưởng hòa hợp dân tộc, về chủ trương đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam, về tính ưu việt của chế độ ta, đất nước ta… Sự nghiệp đổi mới của đất nước 15 năm qua, với kết quả hiển nhiên qua thử thách theo thời gian và không gian đã đủ chứng minh là một đường lối phù hợp đặc điểm, trình độ thực tế của ta, được lòng dân và phù hợp với các xu thế mới. Hơn 70 triệu người Việt Nam có cuộc sống phong phú, đa dạng và có chung niềm tự hào là một dân tộc có nghìn năm văn hiến, chung một cội nguồn là con Lạc cháu Hồng, đang hướng về ngọn cờ đại nghĩa, chấp nhận điểm còn khác nhau để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng Tổ quốc Việt Nam”.

Một thực tế là, trong hệ thống chính trị của Việt Nam, đội ngũ cán bộ và trí thức người dân tộc thiểu số ngày càng tăng. Nhiều cán bộ là con em đồng bào dân tộc thiểu số trở thành những cán bộ giữ trọng trách trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng và quân đội. Số đại biểu người dân tộc thiểu số trong Quốc hội chiếm 17,3%, là đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh 14%, huyện 17%, xã là 19%… Nhìn chung vị trí chính trị-xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số đã không ngừng được nâng cao, các vùng đồng bào dân tộc sinh sống đã được “thay da, đổi thịt” ngày một tốt đẹp hơn. Lấy Tây Nguyên làm ví dụ: Nếu trước đây người Gia Rai, Ba Na hàng năm thường thiếu gạo ăn, thậm chí có năm phải ăn củ rừng 4-5 tháng, thì nay đã chấm dứt tình trạng đói kinh niên. Tỷ lệ đói nghèo của tỉnh Gia Lai giảm từ 28% (năm 1998) xuống 16,8% (năm 2000). ở Tây Nguyên hiện nay, đường ô tô, điện lưới quốc gia đến trung tâm nhiều xã, có nhiều nơi đến tận buôn làng ở vùng sâu, vùng xa; nhiều gia đình có máy xay xát, xe máy, phương tiện nghe nhìn hiện đại. Tây Nguyên, một địa bàn hơn 3 triệu dân nhưng đã có tới gần hai chục trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề, cùng hệ thống trường phổ thông rộng khắp, cơ bản xóa buôn làng “trắng” về giáo dục. Tại nhiều trường phổ thông, đặc biệt là các trường dân tộc nội trú, ngoài học chữ và tiếng phổ thông, các em còn được học tiếng và chữ viết của dân tộc mình.

Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Có thể nghe một số ý kiến của bà con giáo dân nói về họ thực hư ra sao.

Phối sư Thương Tam Thanh, Hội trưởng Hội đồng Chưởng quản Tòa Thánh Cao đài Tây Ninh viết trên báo Nhân dân 23-7-2003: “Từ trước đến nay, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của mọi người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho tôn giáo nói chung, đạo Cao đài nói riêng, hoạt động. Chức sắc, chức việc, giáo dân được tự do hành đạo. Hằng năm, hai ngày lễ chính của đạo Cao đài: mồng 9 tháng Giêng Âm lịch và ngày rằm (15) tháng 8 Âm lịch luôn có hàng vạn tín đồ từ khắp nơi hành hương về Tòa thánh dự lễ. Mới đây, tháng 11-2002, Tòa thánh Cao đài Tây Ninh đã tổ chức thành công Đại hội Nhơn Sanh với hơn 3.000 đại biểu đại diện các họ đạo Cao đài tại 34 tỉnh, thành phố về dự. Tháng 10-2002, Đại hội Hội thánh Cao đài nhiệm kỳ 2002-2007 cũng được tổ chức thành công, bầu ra ban lãnh đạo mới.

Đời sống tinh thần, vật chất của tín đồ không ngừng được nâng lên. Hàng loạt cơ sở thờ tự được sửa chữa, xây mới khang trang. Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đầu tư nhiều tiền của, công sức xây dựng các công trình điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, hệ thống thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và đời sống dân sinh. Chương trình xóa đói, giảm nghèo, trợ vốn, cho vay vốn của Nhà nước đã và đang tạo điều kiện cho nhiều hộ đồng bào có đạo phát triển sản xuất, mở rộng chăn nuôi, có việc làm, ngành nghề mới, giúp nhiều hộ thoát đói, nghèo, không ít hộ vươn lên khá và giàu. Nhiều con em giáo dân Cao đài được học hành đến nơi đến chốn. Huyện Hòa Thành với hơn 90% số dân có đạo, là nơi có số bác sĩ, kỹ sư, giáo viên… cao nhất so với các huyện trong tỉnh, là điều minh chứng cho điều đó.

Nước nào cũng có luật pháp của mình. Pháp luật nước ta chỉ xử phạt, trừng trị những kẻ phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, gây mất đoàn kết trong cộng đồng, ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. ở Việt Nam không hề có cái gọi là tù nhân tôn giáo. Chỉ có những người tuy có đạo, cũng là công dân nhưng vi phạm pháp luật thì mới bị xử phạt. Đạo Cao đài không có tín đồ bỏ ra nước ngoài vì không được hoạt động tôn giáo.

Năm 1998, báo cáo viên đặc biệt của ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc lên thăm Tòa thánh Cao đài Tây Ninh cũng phải thừa nhận ở Việt Nam không hề có sự bài xích, ngăn cản, đàn áp tôn giáo Cao đài. Gần đây ngày 28-2-2003, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ngài Ray-mơn Bớc-hát và Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh lên thăm Tòa thánh, tiếp xúc với tín đồ Cao đài, tận mắt chứng kiến sự đổi thay đi lên của xứ đạo, đã ghi vào sổ lưu niệm: “… Thật tuyệt vời khi tôi thấy những tín đồ hoạt động trong niềm tin của họ…”. Nếu không phải là hiện thực rõ ràng như vậy, hẳn các vị đó đã không thừa nhận và nhận xét như thế”.

Mục sư Siu Kim, thành phố Plei Ku trả lời phỏng vấn trên báo Hà Nội Mới ngày 20-2-2002 như sau: “Chuyện cấm theo đạo Tin lành ở Gia Lai là hoàn toàn không có. Nếu như trước những năm 80, số người theo đạo Tin lành ở Gia Lai mới chỉ có khoảng 3 nghìn người thì nay cả tỉnh có tới hàng chục nghìn người. Nếu nói chính quyền địa phương cấm thì làm sao có thực tế số người theo đạo lại tăng? Chi hội của tôi có 370 tín đồ, trung bình một tuần chúng tôi cầu nguyện 3 lần vào sáng chủ nhật, tối thứ tư và thứ sáu, mỗi lần có gần 200 tín đồ. Việc kẻ xấu đưa tin: người theo đạo bị chính quyền ép buộc từ bỏ đạo, bị đốt nhà thờ là bịa đặt, hoàn toàn không có. Tôi thấy đa phần số người theo đạo Tin lành vượt biên vừa rồi là bị kẻ xấu dụ dỗ, xúi giục. Những người theo đạo thuần khiết và có đức tin thì sẽ không bao giờ bỏ đi. Với những tín đồ lầm lỡ khi quay về, chúng tôi vẫn đối xử bình thường như những người ở nhà. Chính quyền luôn tạo điều kiện cho những người theo đạo tin lành, bình đẳng như các đạo khác trong tỉnh”.

“Bức tranh” về dân tộc thiểu số và tôn giáo ở Việt Nam là thế đấy. Nào đâu nó có giống cái cảnh “ảm đạm” mà ông C.Xmít và cộng sự của ông ngồi tít tận bên kia bờ đại dương tự nghĩ và tự vẽ ra đâu. Có lẽ ông C.Xmít và cả các nghị sĩ Mỹ khác nên nghe nhận xét và lời khuyên của ông đồng Giám đốc Trung tâm dữ liệu tổ chức phi chính phủ Việt Nam Đa-vít Pay-nơ: “Thời gian gần đây, một số nghị sĩ Mỹ đã đến Việt Nam và đã có cái nhìn khác về Việt Nam. Tôi nghĩ rằng, cần có thêm nhiều nghị sĩ khác đến Việt Nam để có cái nhìn khách quan hơn nữa đối với Việt Nam”./.

Trần Mô
cpv.org.vn