Archive | 2012

Cách mạng tháng Tám ở nhà tù Côn Đảo

Vào một buổi trưa mùa đông cuối năm 1944, ở nhà tù Côn Đảo. Sau khi ăn cơm xong, đồng chí Tám không nằm nghỉ như thường lệ. Anh đi “khều” một số đồng chí đến hội ý nho nhỏ, trong đó có Huỳnh Thủ (sau này là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng). Sau đó, mọi người chia nhau đi “khều” anh em ngồi dậy, dồn lại một chỗ để nghe báo tin quan trọng, tin mừng.

Thiếu tướng Huỳnh Thủ

Các đồng chí đau nặng cũng được dìu đến. Những đồng chí kiệt sức cũng ráng ngồi dậy tại chỗ. Sau khi liếc mắt nhìn ra ngoài khám để phòng bọn cai ngục rình mò, đồng chí Tám bắt đầu nói:- Hồng quân Liên Xô phản công khắp các mặt trận và giành thắng lợi lớn lắm. Quân Đức rút chạy tán loạn, đã chạy rất xa Stalingrát và Thủ đô Mạc Tư Khoa!

Đồng chí Tám chưa dứt lời, đã có tiếng vỗ tay nhè nhẹ, đều và kéo dài. Rồi tiếng bàn tán vui mừng mỗi lúc càng xôn xao. Chen vào đó có tiếng nói nho nhỏ của các đồng chí đã kiệt sức: “Hồng quân Liên Xô thắng, chúng ta nhất định thắng, tôi sẽ sống cho đến ngày chiến thắng!”.

Đồng chí Tám nói tiếp:

– Tin Hồng quân thắng lớn đến với chúng ta chậm, nhưng nó cổ vũ động viên rất lớn, củng cố lòng tin của chúng ta vào thắng lợi của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam. Chắc đến lúc này, nhiều diễn biến lớn đã và đang xảy ra. Những sự kiện kỳ diệu sẽ đến với chúng ta.

Lại vỗ tay, lại cười, gật đầu, bàn tán náo nhiệt. Khó có thể nói hết niềm hân hoan của những chiến sĩ bao năm bị tù đày, cầm cố trong “địa ngục trần gian”, đêm ngày canh cánh ngóng trông đến lúc tung cánh xổ lồng. Liên Xô thắng lợi, dấu hiệu của một giai đoạn lịch sử mới đã hiện ra.

Tên gác giam người Pháp đứng trước cửa khám từ lúc nào, hắn hỏi:

– Tụi bay họp bàn chính trị phải không? Nó nhìn lại tên mã tà người Việt đứng cạnh, hỏi nhỏ: – Chắc tụi nó biết tin Nga Xô thắng trận, quân Đức đang rút chạy?

Tên mã tà gật gật cái đầu rồi cả hai bỏ đi.

Chiều đó, chúng tôi ngồi lại bàn việc thực hiện lời dặn của trên: Chuẩn bị mọi mặt đón nhận những sự kiện lớn, sẵn sàng đối phó với bọn Nhật và lũ tay sai, đề phòng bọn phản động phá hoại. Sau đó, chúng tôi chia nhau đi giải thích, hướng dẫn, động viên anh em tù, đồng thời thăm dò thái độ số tù nhân đảng phái thân Nhật, Trốtskít; kiên trì giải thích, động viên số anh em bị bọn phản động lừa phỉnh, bị địch lợi dụng…

Vào lúc nửa đêm 8-3-1945, chúng tôi đều nằm trần, bởi nóng nực của cái khám chật hẹp nhốt quá đông người. Chẳng ai ngủ được, trừ một số anh em đang bị cơn sốt mê man. Chúng tôi bỗng nghe từng loạt súng nổ kéo dài, sau đó thỉnh thoảng nổ một hai tiếng ở hướng bọn chúa đảo người Pháp và bọn lính Pháp đang ở. Chúng tôi ngồi dậy nhìn và hỏi nhau nho nhỏ trong đêm tối việc gì đã xảy ra.

– Bọn Nhật lại bắn chết bọn Pháp như những lần trước đây!

– Không phải!

– Chỉ có bọn Nhật bắn bọn Pháp thôi!

Lại súng nổ nhiều và kéo dài. Một số chúng tôi ngồi dậy, “khều” nhau trao đổi, rồi chia nhau đi từng người nhắc họ nhớ lại lời căn dặn của trên, động viên nhau bình tĩnh, vững vàng.

Sáng ngày 9-3-1945. Khác những buổi sáng trước, bọn mã tà mở hết các cửa khám trong banh, bắt tù nhân tập trung theo từng khám trước sân: Tên thư ký Tòng của Pháp, lưng đeo hai khẩu súng ngắn, tay chống nạnh đứng với tên bộ hạ. Tên gác giam người Pháp cũng có mặt đeo dùi cui thay súng ngắn. Mấy tên mã tà, tay cầm một khúc gỗ, mặt buồn xo. Tên Tòng đứng lên một chỗ cao nói:

– Từ hôm nay, chủ Côn Đảo là người Việt Nam, là chúng tôi. Tôi là sếp banh này, các anh ai muốn qua banh 4 sẽ được đi. (Banh 4 giành cho tù thân Nhật).

Tất cả chúng tôi đều im lặng. Tên Tòng nói tiếp:

– Các anh vẫn phải đi lao động. Người gác giam Pháp và người mã tà thường ngày dẫn giải các anh, nay vẫn tiếp tục.

Sau đó, chúng tôi được biết, Nhật đã đảo chính Pháp, nắm quyền cai trị trên ba nước Đông Dương. Từ đó, chúng tôi tranh thủ thời cơ củng cố đội ngũ, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với sự khủng bố của bọn thân Nhật và tay sai, đồng thời cũng chuẩn bị chào đón những sự kiện lớn. Trước thái độ, hành động bình tĩnh thống nhất của các đồng chí ta và quần chúng khắp đảo, bọn Nhật và tay sai có phần chùn tay…

Chiều ngày 28-5-1945, cơn giông bỗng nổi lên, mây đen kéo đến âm u cả một vùng. Bọn Nhật bày trò giao chủ quyền đảo cho người Việt Nam. Theo lệnh của tên quan ba Nhật Xe-tô, lễ phải làm nhanh gọn, đề phòng “bất trắc”. Một số công chức, công nhân viên mã tà, gia đình họ và một số tù thân Nhật kẻ trước người sau lai rai đến tập hợp tại sân banh (bãi đá bóng). Một lũ lính Nhật chia nhau canh gác lễ đài và cuộc lễ.

Chúng kéo cờ quẻ ly (cờ của Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim được quân Nhật giao). Tên quan ba Nhật Xe-tô đọc diễn văn, ba hoa về “công lao quân Nhật theo lệnh Nhật hoàng giúp Việt Nam giành độc lập” và theo lệnh trên, nó “giao” quyền làm chủ Côn Đảo cho tên Lê Văn Trà kể từ ngày 28-5-1945. Tên Lê Văn Trà lắm lời ca tụng công đức của quân Nhật và quay người về hướng Đông tỏ lòng tôn kính Nhật hoàng.

Tối đó, anh em chúng tôi trao đổi, nhận thấy: Bọn làm lễ qua loa, không huy động đông người đến dự, nhất là những người tù Cộng sản. Vì không chỉ chúng ngại hàng ngũ chúng tôi chặt chẽ, thái độ bình tĩnh, mà cái chính là vì chúng đang thua to khắp nơi. Chúng làm cho có cớ dọn đường để rút chạy sau này của chúng. Qua cuộc lễ, anh em chúng tôi hiểu thêm sự lúng túng của quân Nhật, thấy được sự chỉ đạo của các đồng chí cấp trên là đúng. Chúng tôi hứa với nhau thực hiện tốt việc đoàn kết nội bộ giữ nghiêm quy định đẩy mạnh việc vận động giải thích rộng rãi trong anh em tù, trong công chức và gia đình họ, thẳng thắn đấu tranh với những người tù thân Nhật và bọn phản động làm tay sai cho địch.

Tối hôm trước anh em chúng tôi ăn mừng Hồng quân Liên Xô thắng trận buộc phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, quân phát xít Nhật thua to ở Thái Binh Dương. Sáng hôm qua, được tin quân Nhật hoảng hốt đập điện đài, bình ắc quy, ném súng, đạn xuống biển. Sĩ quan, binh sĩ, kẻ trước đứa sau kéo nhau xuống tàu chạy, bỏ lại bọn chúa đảo và cả những tên tay sai đắc lực như tên Phan Khắc Sửu, Đào Duy Phiện… Sáng nay lại nhận được tin Lê Văn Trà long trọng mời mấy anh em mình đến văn phòng nó họp bàn chuyện sinh sống, trật tự, trị an. Bắt đầu họp, tên Trà quen thói xấc xược, nói:

– Dù sao các vị còn là tội phạm, chưa thể bàn chuyện quốc gia!

Lập tức một tiếng đập mạnh xuống bàn, kèm theo tiếng thét của một đồng chí ta:

– Chủ nhân đất nước chính là chúng tôi!

Tên Trà mặt tái, run run nói:

– Xin mời các vị muốn gì cứ nói!

– Trước hết, cửa banh, cửa khám không phải khóa, bỏ việc khám xét, kiểm tra. Ăn uống, trật tự, chúng tôi tự lo!

Tên Trà riu ríu xuôi theo và nói:

– Xin mời các vị về nghỉ!

Từ đó trở đi, các khám lớn nhỏ, các banh đều mở cửa cả ngày đêm. Việc nấu ăn, anh em mình tự lo liệu. Các khám đi lại thăm hỏi lẫn nhau. Anh em tổ chức tuyên truyền giải thích tình hình cho công nhân viên chức và tù thường phạm, tổ chức biểu diễn văn nghệ kiên trì thuyết phục số tù nhân các đảng phái phản động. Anh em đau yếu được săn sóc chu đáo. Chúng tôi còn đi thăm mồ mả các đồng chí đã hy sinh.

Tuy tinh thần, khí thế của anh em ngày càng lên, bọn chủ đảo và tay sai hoang mang, nhưng các đồng chí cấp trên dặn: Phải tuân thủ các qui định, nhắc nhau giữ thái độ bình tĩnh, không khiêu khích, cảnh giác, sẵn sàng ứng phó mọi bất trắc.

Một số đồng chí được giao nhiệm vụ chữa điện đài và bình ắc quy. Đó là phương tiện duy nhất, để nghe tình hình từ đất liền. Các đồng chí miệt mài sửa chữa và cuối cùng điện đài và bình ắc quy đã sửa xong.

Sáng 2-9-1945, vẫn như những buổi sáng mọi ngày, anh em chúng tôi đang ngồi bàn luận tình hình chiến sự. Một đồng chí bước vào, nói to:

– Tin mừng, tin mừng lắm, vĩ đại lắm! Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa!

Mọi người đứng lên, ngồi dậy ôm lấy nhau, nhảy lên, thét to:

– Tổ quốc Việt Nam độc lập, độc lập rồi!

– Bọn phát xít đã diệt vong!

Khắp các khám trong banh mọi người chạy đến ôm lấy nhau, cùng nhảy lên, cùng hô vang. Những đồng chí đang đau nặng cũng gắng ngồi dậy:

– Tổ quốc Việt Nam đã được giải phóng, tôi nhất định sống về với đồng bào, với Đảng, với gia đình!

Tên sếp banh và mấy tên mã tà chẳng rõ đầu đuôi thế nào. Khi được anh em báo tin, tên sếp banh mặt xịu xuống, còn mấy người mã tà vỗ tay chúc mừng chúng tôi. Lại vỗ tay, lại chạy, lại hô. Vui mừng biết bao, sung sướng biết bao! Đồng chí báo tin nói tiếp:

– Đài trục trặc, không nghe được liên tục, mới nghe được bấy nhiêu.

Đồng chí ấy định đi ra, anh em giữ lại hỏi:

– Nhờ các anh trên cho biết Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai, nhé!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai?

– Có phải là đồng chí Nguyễn Ái Quốc không?

– Chắc phải rồi, phải rồi! Chỉ có đồng chí Nguyễn Ái Quốc mới được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không ai khác được!

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai?” chỗ nào, ở đâu cũng hỏi nhau. Nhiều đồng chí tự trả lời: “Hồ Chí Minh – Nguyễn Ái Quốc là một”. Nhiều đồng chí quên cả ăn. Mừng mà khóc. Nhớ các đồng chí đã mất mà khóc. Khó diễn tả hết tâm trạng vui mừng của chúng tôi. Đêm không ngủ. Mừng quá, phấn khởi quá. Tổ quốc Việt Nam độc lập! Những gì tủi nhục sẽ mất, những gì ước mơ sẽ đến!

Cái mơ ước đầu tiên chúng tôi đã gặp là nhìn thấy lá cờ Tổ quốc trên Đoàn tàu từ đất liền ra Côn Đảo đón tù chính trị trở về. Nửa buổi sáng hôm ấy, anh em rủ nhau ra ngồi dọc bãi biển, mặc trời nắng, người trông ra biển về hướng tàu sẽ vào.

– Tàu đến rồi! Cờ đỏ sao vàng năm cánh tung bay trên cột tàu kia rồi! Sướng quá trời đất ơi! Sướng quá! Lá cờ Tổ quốc đấy rồi.

Chúng tôi reo lên, tranh nhau nhìn, nhảy lên ôm chầm lấy nhau. Rồi nước mắt lại chảy và chúng tôi cứ để chảy, không ai muốn lau, tay cứ chỉ, mắt cứ nhìn theo lá quốc kỳ khi con tàu chuyển hướng dần dần vào bến.

Chúng tôi nhớ lại lời của đồng chí Đại – người đã tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ – nói với đồng chí Nguyễn Hữu Tiến bị án tử hình ở cùng chung một khám về lá cờ đỏ sao vàng năm cánh trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23-11-1940. Hôm ấy, nghe xong, đồng chí Tiến thủ thỉ nói với đồng chí Đại: “Mình đã khóc Đại à! Mình khóc vì mừng đất nước đã có cờ đỏ sao vàng bay lên, dù chỉ mới bay trên bầu trời Tổ quốc trong thời gian rất ngắn. Ước chi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ hải ngoại cũng biết được trong cuộc khởi nghĩa của dân chúng Nam Kỳ đã có cờ đỏ sao vàng bay lên với cờ Đảng”. Cái ước mơ từ nhỏ về một bóng cờ thiêng liêng của Tổ quốc này đã trở thành hiện thực.

Anh em chúng tôi vẫn theo dõi lá cờ Tổ quốc phấp phới bay trên đỉnh cột tàu, nói với nhau:

– Cờ đỏ sao vàng, cờ Tổ quốc đã bay lên và mãi mãi bay trên bầu trời Tổ quốc Việt Nam thân yêu!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh là đồng chí Nguyễn Ái Quốc thì không phải ở hải ngoại nghe nói về lá cờ Tổ quốc cùng bay với cờ Đảng nữa mà đã đứng trước quốc kỳ đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Sung sướng quá, phấn khởi quá, nhiều anh em đồng thanh hô vang:

– Tổ quốc Việt Nam độc lập muôn năm! Muôn năm!

Lê Vũ (Theo hồi ký của Thiếu tướng Huỳnh Thủ)
bienphong.com.vn

Tự hào về quyền và nghĩa vụ công dân

Vào những ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2- 9 này, hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam chúng ta càng tự hào về lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, càng ý thức về quyền, nghĩa vụ công dân để cùng chung tay bảo vệ, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh.

Chỉ trong mấy năm, từ một dân tộc đa số mù chữ,
đến đa số đã biết đọc, biết viết – Ảnh: TL

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây cũng là Tuyên ngôn khai sinh ra những công dân, con người của một thời đại mới, chấm dứt “đêm trường nô lệ”. Những lời của Tuyên ngôn đã khắc ghi, thấm đẫm vào tâm khảm mỗi công dân: “Tất cả mọi người sinh ra đều, có quyền bình đẳng”; có “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngày 6-1-1946 các công dân của nước Việt Nam độc lập đã hết sức tự hào cầm lá phiếu đi bầu cử, chọn lựa người đại diện cho mình.

Quốc hội Việt Nam ra đời và ngay sau đó, ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp, khẳng định địa vị pháp lý của nước Việt Nam, của chính quyền Nhà nước Việt Nam, đặc biệt khẳng định, chế định rõ quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam vừa giành được độc lập ra đời chỉ có 3.385 từ, nhưng đã có tới 541 từ nói về Quyền và nghĩa vụ công dân. Những năm đầu của một nước Việt Nam độc lập, dựa trên Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành một số sắc lệnh, điều chỉnh các hoạt động quản lý trong các lĩnh vực từ giáo dục cho đến kinh tế, văn hoá, an ninh…Và mặc dù chỉ với những sắc lệnh ngắn gọn, nhưng đã thực sự đi vào lòng dân, hoà vào máu thịt của mỗi công dân, để rồi mọi người dân đồng cam cộng khổ, kháng chiến, kiến quốc.

Chưa bao giờ tinh thần xoá đói, giảm nghèo mạnh như hồi ấy. Chưa bao giờ tinh thần học tập, giáo dục mạnh như lúc bấy giờ. Từ chỗ hàng chục triệu người đói khổ, kho tàng rỗng không, chỉ trong hơn một năm, cả dân tộc đã có thể khẳng định vượt qua nạn đói. Cũng chỉ trong mấy năm, từ một dân tộc đa số mù chữ, đến đa số đã biết đọc, biết viết. Cũng chưa bao giờ, tinh thần yêu thương đùm bọc lẫn nhau thể hiện cao như hồi ấy. Nhường cơm xẻ áo, nuôi giấu cán bộ, bộ đội, dân quân…Xóm thôn dù nghèo cũng không xảy ra trộm cắp, mất trật tự an ninh. Con người biết trân trọng nhau. Đặc biệt, quan hệ, tình thân cán bộ với dân như người trong một nhà. Người làm cán bộ thực sự nể dân, thương dân, trân trọng dân. Cán bộ, bộ đội với dân, như cá với nước, thực sự là công bộc của dân, được dân chở che, cưu mang, cùng đồng tâm hiệp lực, vượt qua khó khăn, thử thách. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng đất nước đạt được thành tựu như ngày nay đã thể hiện sự kết tinh từ những tinh thần ấy. Trong đó, cũng là sự thể hiện trách nhiệm cụ thể của mỗi công dân đối với Tổ quốc.

Ngay từ khi ra đời, Nhà nước ta đã thể hiện là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Tất cả mọi công dân, mọi người dân đều bình đẳng. Mọi người đều có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm như nhau, ưu tiên những người yếu thế. Nhân dân là người quyết định tất cả. Điều 1 Hiến pháp 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Nghĩa vụ của “Mỗi công dân Việt Nam phải: Bảo vệ Tổ quốc; Tôn trọng Hiến pháp; Tuân theo pháp luật” (Điều 4). Hiến pháp đã có đến 16 điều quy định về quyền lợi của công dân. Ví như “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá” (Điều 6); “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”(Điều 7)…

Trải qua hơn nửa thế kỷ, cùng với công cuộc bảo vệ, xây dựng, đổi mới, hiện đại hoá, đất nước ta đã lớn mạnh vượt trội, có vị thế vững vàng trên trường quốc tế. Sau Hiến pháp đầu tiên, chúng ta đã có 3 Hiến pháp và có cả một hệ thống luật, các văn bản dưới luật. Nhưng những nguyên tắc cốt lõi vẫn thế, vẫn như ngày Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, cho đến nay, đã có bao thói hư, tật xấu như quan liêu, tham nhũng, tha hoá đạo đức, lối sống, tha hoá quyền lực…phát sinh, phát triển. Nhiều người lãnh đạo đang nắm quyền, quản lý, nhiều cán bộ được giao nhiệm vụ bỗng quên mình chỉ là người được nhân dân trao quyền, được nhân dân tín nhiệm đảm trách nhiệm vụ chung. Họ nhầm tưởng họ mới là người “ăn trên, ngồi trốc”, được quyền ban phát, ơn huệ cho cấp dưới, cho người dân, nhìn người dân như người đến để “cầu cạnh”, để ” xin xỏ”. Có cán bộ chỉ làm nhiệm vụ tiếp nhận công văn, giấy tờ cũng có thể lên mặt hạch sách, thậm chí sách nhiễu, cố tình gây khó khăn. Tệ tham nhũng vặt nảy sinh với nạn phong bì, hầu bao bôi trơn. Tham nhũng lớn với những liên minh ma quỷ chia chác, phần trăm, độc quyền, lợi ích nhóm, thu vén cho cá nhân. Những người lãnh đạo, cán bộ nói trên đã thiếu trách nhiệm công dân, chưa làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, thiếu hiểu biết pháp luật, vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Thực tế, cho đến nay, nhiều người dân cũng chưa thực sự hiểu hết quyền, nghĩa vụ của mình. Nhiều người cầm lá phiếu, đi bầu cũng là để “cho xong”. Chủ trương, chính sách, thông tin, pháp luật, nhiều khi ít được quan tâm. Nhiều cuộc họp quan trọng quyết định vấn đề của địa phương, đất nước vẫn có không ít người đứng ngoài cuộc, không có ý kiến, chính kiến. Khi vào các công việc liên quan đến lợi ích cá nhân nhiều khi họ lại tiếp tay cho tham nhũng với việc đưa phong bao, chạy chọt. Tình trạng người dân vô tình vi phạm pháp luật, thậm chí cố tình vi phạm pháp luật cũng khá nhiều. Chỉ đơn cử như trong lĩnh vực tham gia giao thông, có người ngày nào cũng vi phạm luật: đi xe máy không mang giấy tờ, không đội mũ bảo hiểm, đi không đúng làn đường, vượt đèn đỏ… Chưa nói đến hiện tượng công dân không làm chủ được bản thân, thực hiện những hành vi mất tính người.

Xã hội chỉ thực sự phát triển vững bền, trở nên văn minh khi mọi người dân từ cán bộ cao cấp cho đến dân thường ý thức sâu sắc về quyền, trách nhiệm công dân của mình, thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình.

Những ngày kỷ niệm, hướng về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 này cũng là những ngày Đảng ta cùng toàn dân đang quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là những cán bộ cấp cao, những người có trách nhiệm đang tiến hành kiểm điểm, soi lại mình từ ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân cho đến những hoạt động, hành vi mà mình đã làm được cho Tổ quốc, cho nhân dân…để tự làm trong sạch mình, làm trong sạch đội ngũ Đảng, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo. Mỗi người dân cũng cần ý thức, tự kiểm điểm lại mình, những việc gì mình đã làm đúng, làm sai, những việc gì cần làm để làm tròn trách nhiệm công dân của mình.

Nhận thức sâu sắc về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, Kết luận về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 mới đây của Đảng cũng đã chỉ rõ một trong những nội dung quan trọng cơ bản được định hướng, sửa đổi, nâng cao hơn nữa Hiến pháp mới là phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Kiên Long
daidoanket.vn

Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Ðảng ta từ khi ra đời bị khủng bố dã man, đã trở thành đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội.

Từ cuối thế kỷ 19, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.

Khi phát-xít Nhật xâm lăng Ðông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu hai tầng áp bức: quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói thảm thương.

Tiếp nối truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao bậc trung nghĩa đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin – lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại – đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

BH_doc_tuyen_ngondl.jpgHình ảnh Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập – Đỉnh cao thắng lợi cách mạng tháng Tám 1945
(Ảnh: Tuấn Anh)

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân chủ lực công – nông làm nòng cốt; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cùng nhiều bài học khác.

60 năm qua, tiếp nối truyền thống và phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại những thắng lợi đã qua, chúng ta càng thấy tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1).

Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi suốt 60 năm qua. Tiếp bước con đường của Cách mạng Tháng Tám, trước yêu cầu phát triển đất nước và trước những thời cơ và nguy cơ, Ðảng ta và nhân dân ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhiệm vụ trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, ngăn ngừa mọi sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HÐH được Ðảng xác định là nhiệm vụ trung tâm.

60 năm trước đây, Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng các tầng lớp nhân dân khỏi ách thống trị, bóc lột của chế độ thực dân phong kiến, đem lại cho mọi người dân Việt Nam quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Ðộc lập, tự do, hạnh phúc luôn là mục tiêu nhất quán của chế độ mới. Ngày nay, Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng đang tiếp tục phấn đấu theo mục tiêu nhân văn cao cả đó.

Phát huy bản sắc truyền thống “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc, Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật khởi của cả dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm đại đoàn kết dân tộc của Cách mạng Tháng Tám, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài, hướng sức mạnh đó vào mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Vào thời điểm Cách mạng Tháng Tám 1945, vị thế nước ta trên trường quốc tế còn thấp, nhưng Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc và dự đoán đúng tình hình thế giới, tận dụng thời cơ, phối hợp hành động, làm chuyển hóa so sánh thế và lực giữa ta và địch, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù. Ngày nay, chúng ta có thời cơ hơn để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lấy tự lập tự cường, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ tối đa những điều kiện quốc tế thuận lợi để bồi bổ sức mạnh dân tộc và kết hợp với sức mạnh quốc tế thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lãnh đạo toàn dân làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Ðảng ta lúc đó chỉ có 5.000 đảng viên và phải hoạt động bí mật, điều kiện thông tin liên lạc để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào toàn quốc hết sức khó khăn. Nhưng nhờ có đường lối đúng đắn của Ðảng và Bác Hồ, sự chủ động, sáng tạo của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và nhân dân ở các địa phương nên khởi nghĩa đã nổ ra đồng loạt và có sự phối hợp từng vùng, từng miền và trên phạm vi cả nước. Ðó là một bài học hết sức quý báu về sự lãnh đạo của Ðảng và xây dựng Ðảng trong bất cứ thời kỳ cách mạng nào.

Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện có kết quả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nước ta hiện nay. Chúng ta vững tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng một dân tộc đã rửa được nỗi nhục mất nước, một dân tộc đi tiên phong chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, thì dân tộc ấy nhất định có đủ nghị lực và sức mạnh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới.

Nguồn hochiminhhoc.com (BT)
thanhnienxungphongbd.com.vn

Nhân đức của Pháp (24-10-1926)

Mưa to gió lớn. Nước chảy tràn trề. Sông Hồng (Hồng Hà) (1) mênh mông. Đường đê tràn ngập. Vì thành Hà Nội có nhiều Tây ở cho nên nó hết sức giữ gìn. Còn các nơi dân xã An Nam thì nó không nhìn đến.

Khi nước lấp le vào Hà Nội, Tây nó sai một người lính ta qua phá cái đê bên kia sông, để cho nước tràn qua phía dân ta ở. Tây nó vẫn biết khi đê lở thì nước sẽ ào vào, nếu người lính kia không dự bị trước thì chắc chết trôi. Nó cũng biết rằng nếu nước ào vào thì dân xã ta bên kia chắc chìm hết. Thế mà nó không bảo cho người lính biết. Cũng không bảo cho làng xóm dọn đi.

Quả nhiên, người lính phá đê rồi thì chết đuối ngay. Và 20.000 dân ta bất thình lình bị nước ùa vào làm cho chết trôi hết.

Thương ôi! Dân ta bị Tây nó giết mòn, giết mỏi. Giết cách này không chết hết, thì nó giết cách khác. Nó lấy rượu và a phiến làm cho dân ta chết nhiều. Nó bắt đi đào sông, đào đường, bị nước độc mà chết. Nó bắt đi lính đi làm nô lệ bên các xứ đen 2 mà chết. Nay nó lại nhận chìm cả xứ!

Đồng bào ơi! Mau mau dậy cứu lấy nòi!
Kẻo mà Nam Việt đi đời nhà ma!

——————————

Báo Thanh niên, số 66, ngày 24-l0-1926.
cpv.org.vn

Khổng Tử (20-2-1927)

Quảng Châu, 20-2- 1927

Ngày 15-2, Chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành quyết định: từ nay về sau, xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử và những khoản dự chi cho những cuộc nghi lễ ấy cũng như những đền thờ Khổng Tử sẽ được sử dụng làm các trường học công.

Khổng Tử sống trước chúng ta 2478 nǎm. Từ 2400 nǎm nay, ông đã được nhân dân Trung Hoa tôn thờ. Tất cả các hoàng đế Trung Hoa đều gọi Khổng Tử là vị đứng đầu các nhà hiền triết và tặng những danh hiệu tôn vinh cho những người kế nghiệp ông.

Từ rất xa xưa, người An Nam và các vua chúa An Nam rất tôn kính nhà hiền triết này. Thế mà Chính phủ Trung Hoa vừa mới quyết định từ nay về sau không còn sự tôn thờ chính thức nào nữa đối với Khổng Tử. Xem đó có phải là một hành vi thật sự cách mạng không?

Nhưng hãy xem Khổng Tử là người thế nào? Tại sao các hoàng đế lại tôn sùng đến thế? Tại sao được tôn sùng như thế mà Chính phủ Trung Hoa lại vứt bỏ đi?

Khổng Tử sống ở thời Chiến quốc 1 . Đạo đức của ông, học vấn của ông và những kiến thức của ông làm cho những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục. Ông nghiên cứu và học tập không mệt mỏi, ông không cảm thấy xấu hổ tí nào khi học hỏi người bề dưới, còn việc không được mọi người biết đến, đối với ông chẳng quan trọng gì. Công thức nổi tiếng của ông “Nhìn ngoài, nhìn vào việc từ chỗ nào đi đến như thế, xem cái người ta đi tới chỗ đó, xét cái người ta hoà lòng, thì người ta giấu làm sao được mình” 1 biểu hiện chiều sâu về trí tuệ của ông.

Nhưng cách đây 20 thế kỷ, chưa có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên bộ óc Khổng Tử không bao giờ bị khuấy động vì các học thuyết cách mạng. Đạo đức của ông là hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư tưởng hiện đại, giống như một cái nắp tròn làm thế nào để có thể đậy kín được cái hộp vuông?

Những ông vua tôn sùng Khổng Tử không phải chỉ vì ông không phải là người cách mạng, mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ. Họ khai thác Khổng giáo như bọn đế quốc đang khai thác Kitô giáo.

Khổng giáo dựa trên ba sự phục tùng: quân – thần; phụ – tử, phu- phụ và nǎm đức chủ yếu: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Khổng Tử đã viết Kinh Xuân Thu để chỉ trích “những thần dân nổi loạn” và “những đứa con hư hỏng”, nhưng ông không viết gì để lên án những tội ác của “những người cha tai ác” và “những hoàng tử thiển cận”. Nói tóm lại, ông rõ ràng là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức.

Theo Khổng giáo thì các nước Nga, Pháp, Trung Quốc, Mỹ và các nước dân chủ là những quốc gia ở đó thiếu quy tắc về đạo đức và những thần dân nổi dậy chống nhà vua đều là những tên phản loạn. Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khǎng khǎng giữ những quan điểm ấy thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng. Cũng có khả nǎng là siêu nhân này chịu thích ứng với hoàn cảnh và nhanh chóng trở thành người kế tục trung thành của Lênin.

Với việc xoá bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin.

—————————–

Báo Thanh niên, số 80,
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Người An Nam ở Xiêm (28-11-1926)

Từ khi Tây cướp nước An Nam, dân An Nam lưu ly thất sở, tan cửa tan nhà, phải bỏ quê cha đất tổ, dạt ra đất khách quê người. Cứ vòng duyên biên An Nam mà xem thì Tàu, Diến Điện, Xiêm La đều là có người dạt qua cả. Bây giờ đem tình cảnh người An Nam ở Xiêm điều tra như sau nầy để cho các đồng bào tham khảo:

1. Người An Nam ở Xiêm có đến hơn 3 vạn người, có chỗ tự lập ra thành làng, thành chợ, có chỗ thì ở lẫn với người Xiêm. Những người ở tụm lại với nhau thì nhân tình, phong tục vẫn còn giữ thói cũ cúng tế lễ, cúng tang ma, đường ǎn nói thì không thay đổi chút nào cả. Còn những người ở lẫn với dân Xiêm thì bọn người cũ, nhiều người quên mất cả tiếng An Nam mà học thói ǎn bốc, mặc vấn như dân Xiêm vậy.

2. Trong 3 vạn có người tin Phật, kẻ tin thần, có người tin Thiên chúa, cứ kể ra thì đều bị ngược chính1) áp bức mà chạy cả. Nhưng đến đất Xiêm vì làm ǎn dễ dãi, trí thức đổi dần, được chỗ yên thân, quên mất sỉ nhục nên bây giờ nhiều người chỉ biết nước Xiêm mà quên mất Tổ quốc.

3. Chức nghiệp người An Nam ở Xiêm có người làm ruộng, có người đánh cá, người làm thợ mộc, người làm thợ cưa, thợ may, làm ǎn rất dễ kiếm tiền nhưng vì đất Xiêm hay cờ bạc, thuốc phiện, đĩ thoã nên làm được đồng nào thì phung phá đồng ấy.

4. Chính phủ Xiêm đối đãi người An Nam về đường đóng góp

cũng như Xiêm vậy. Mỗi nǎm phải nộp thuế thân 6 bạt (bạc Xiêm) và các tiền phụ cấp, ruộng thì mỗi rày (mẫu Xiêm) 80 xa tang (xu Xiêm). Nhưng chỉ khi cách giáo dục và Tuất phủ thì nó coi người nó hơn người An Nam. Thế là nhẽ đóng góp thì có phần, mà quyền lợi thì không được. Thương thay! Dân mất nước đi đến đâu thì bị người ta hà hiếp đấy.

5. Tình cảnh người mình như vậy đều là lưu lạc quê người, cứ kể bình thường thì người An Nam ở Xiêm trông thấy nhau nên thương yêu nhau, giúp nhau là phải, nào ngờ vẫn giữ lấy thói dã man nào lương giáo giết nhau, lợi hại tranh nhau, lừa đảo nhau, chém giết nhau đến nỗi đem nhau đi kiện cáo cho Xiêm Lào sỉ nhục. Vì một tính không biết đoàn thể, đã đến nỗi bỏ nước mà đi, lại còn vẫn không giác ngộ thế thì còn trách người Xiêm nó khinh, nó chửi. Nói ra thật đau lòng.

———————————–

Báo Thanh niên, số 71, ngày 28-11-1926
cpv.org.vn

Bà Trưng Trắc (12-12-1926)

Bà Trưng Trắc người nước ta sinh ra thế kỷ đầu hết 1 là nǎm 23 ở huyện Mê Linh, tỉnh Phúc Yên, xứ Bắc Kỳ. Nǎm thứ 40 bà vừa 17 tuổi. Lúc ấy nước ta bị quân Tàu cai trị, chính sách rất bạo ngược như Pháp cai trị bây giờ. Bà thấy cảnh nước suy vi, đồng bào khốn khổ, bèn quên thân bồ liễu phận hèn, liền ra cứu nước, cứu dân. Lúc bấy giờ cùng với em là Trưng Nhì khởi binh lên đánh giặc. Dân Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều ảnh hưởng nổi lên cả. Chẳng bao lâu đánh đuổi ngay Tô Định, lấy được 65 thành, dựng lên cờ độc lập. Đến nǎm 44, nhà Hán sai Mã Viện sang đánh, đánh đã nhiều trận, quân hai Bà vẫn không thua. Đến trận ở Cấm Khê, tỉnh Vĩnh Yên, thế quân ít quá, phải thua, hai Bà đều gieo mình xuống sông Đáy tự tận. Can đảm thay! Phận thuyền quyên vì nước quên mình! Tuy chỉ trong 3, 4 nǎm nhưng cũng đủ làm cho bọn tu mi quân giặc mất vía.

Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết K.m . Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới , chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!

H.T.

———————

Báo Thanh niên, số 73, ngày 12-12-1926.
cpv.org.vn

Các sự biến ở Trung Quốc (13-11-1926)

Của đặc phái viên chúng tôi

Quảng Châu, ngày 13-11-1926

Tình hình chung

Những thắng lợi mới đây chống các lực lượng phản quốc gia của các quân đoàn do tổng tư lệnh lực lượng quốc gia Tưởng Giới Thạch chỉ huy chỉ rõ sự tấn công mạnh mẽ hơn lên phương Bắc. Việc chiếm Khúc Giang, trung tâm công nghiệp và thương mại, quan trọng bậc nhất của thung lũng sông Dương Tử, và Nam Xương -, thủ phủ của Giang Tây, chứng tỏ thống chế Tôn Truyền Phương bị loại khỏi tỉnh này. Thủ lĩnh quân sự này có định bảo vệ Triết Giang không? Các trận xảy ra ở vùng lân cận Vô Tích không thể đánh giá tốt sức chiến đấu của quân ông ta, một đội quân hỗn loạn khi rút lui bỏ lại vũ khí và hành lý. Sự giúp đỡ của thống chế Trương Tác Lâm chưa chắc chắn, vì ông không muốn một lần nữa cố gắng mở rộng quyền lực của mình ở thung lũng Dương Tử. Như thế, người ta có thể kết luận rằng, nếu bị bỏ lại với lực lượng của riêng mình, thống chế Tôn Truyền Phương chẳng bao lâu sẽ bị bỏ rơi, chỉ là một nhân tố phụ không mấy quan trọng. Sự phân công của Ngô Bội Phu mà báo chí nước ngoài ở Thượng Hải và Hán Khẩu coi rất trọng, đã không xảy ra. Cũng không xảy ra cuộc tấn công nào của các trung đoàn do một trong các tướng của ông ta, Nguyên Sâm, về phía Hồ Nam, xuất phát từ Tứ Xuyên và phát triển ra phía nam Hồ Bắc nhằm Ngô Châu và Vũ Xương. Không xảy ra một cuộc tấn công của phe phản quốc gia vào con đường Võ Dương Quan, cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Hồ Bắc. Người ta cũng chẳng biết hiện nay thống chế Ngô Bội Phu ở đâu. Rất có thể ông ta sẽ chịu số phận giống Trương Tác Lâm, kẻ thù cũ của ông, sau trở thành đồng minh trong cuộc đấu tranh chống lại Quốc dân quân. Tóm lại, Ngô Bội Phu và Tôn Truyền Phương đều bị coi là bị loại khỏi vòng chiến đấu về mặt chính trị và quân sự vì họ không nhận được sự giúp đỡ nào của thống chế Trương Tác Lâm, lại bị các lực lượng quốc gia đánh bại nhiều lần và bị các phụ tá bỏ rơi.

Chính phủ quốc dân, được tất cả các thủ lĩnh quân sự thừa nhận quyền lực trên thực tế đã quyết định thực thi một kế hoạch nhằm thành lập một tổ chức trung ương, để phối hợp các chính quyền địa phương theo một chương trình duy nhất. Trụ sở của Chính phủ quốc dân, tạm thời ở Quảng Châu, sẽ dời về Vũ Xương khi tình hình quân sự được giải quyết trong các tỉnh ở miền Trung. Những hội nghị được chuẩn bị trước sẽ diễn ra giữa những quan chức cai trị các tỉnh này và những thành viên của Chính phủ quốc dân để quyết định một kế hoạch thực hiện mà thành công được bảo đảm bằng sự thoả thuận giữa các bên và những cố gắng của các nhân viên thừa hành.

Việc cải tổ ở tỉnh Quảng Đông đã xong. Hệ thống các uỷ ban vẫn còn hiệu lực, nhưng phân giới vùng thì bị xoá bỏ.

Cố gắng của Chính phủ trung ương là nhằm thống nhất trước hết các Bộ Tài chính, Giao thông và Quốc phòng. Bộ Giao thông đã được thiết lập. Bộ tái thiết quốc gia, mà Bộ này thay thế, trở thành một cơ quan cấp tỉnh. Cơ quan tư pháp cũng trở thành một Bộ chứ không phải một uỷ ban, tuy rằng hệ thống uỷ ban vẫn còn hiệu lực trong Bộ mới.

Do những nguyện vọng chung của các thủ lĩnh quân sự và dân sự đều muốn cộng tác để thiết lập một chính phủ dân chủ theo những nghị quyết được thông qua ở Đại hội gần đây của Quốc dân đảng, nên việc thực hiện kế hoạch của Quốc dân đảng cho một thiết chế như vậy đã được bảo đảm.

Các cường quốc nước ngoài và Quảng Châu

Báo chí nước ngoài ở Trung Quốc đã dành một sự quan tâm

đặc biệt đến một thông tin của hãng thông tấn United Press ở Luân Đôn nói rằng vấn đề là thừa nhận Chính phủ quốc dân ở Quảng Châu, khi mà quyền lực của nó đang lan rộng ra nhiều tỉnh. ở đây không phải như người ta tưởng là chính thức thừa nhận Chính phủ quốc dân ở Quảng Châu, mà là thực hiện kế hoạch của Anh nhằm làm suy yếu Trung Quốc và đặt nước này dưới sự thống trị hoàn toàn của ngoại bang. Những người theo chủ nghĩa yêu nước và Chính phủ quốc dân Trung Quốc nói rằng, sự thừa nhận mà Chính phủ Luân Đôn có thể nêu ra và thậm chí cả bàn luận nữa, cũng sẽ được áp dụng cho mọi thủ lĩnh quân sự như Trương Tác Lâm, là người tỏ ra chống quốc gia (chống cộng). Mưu mô này nhất định đã được Chính phủ quốc dân nhận thấy, và những biện pháp thỏa đáng đã được áp dụng để ngǎn chặn việc thực thi này.

Một sự kiện quan trọng là việc Trưởng đoàn lãnh sự ở Quảng Châu đã kháng nghị Chính phủ quốc dân phản đối “phụ thu không hợp pháp” đánh vào “thương mại của nước ngoài” theo những chỉ thị nhận được từ Trưởng đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh. Chính phủ quốc dân không thừa nhận tư cách Trưởng đoàn của Đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh và muốn chấm dứt sự can thiệp liên tục của giới ngoại giao nước ngoài vào các công việc nội bộ của Trung Quốc, nên đã trả lại khiếu nại cho người đưa đơn, đồng thời còn cẩn thận nêu rõ Chính phủ quốc dân sẵn sàng bàn luận mọi vấn đề dính đến những quan hệ với các cường quốc nước ngoài.

Một sự kiện khác cho thấy sự rối loạn đang ngự trị trong giới ngoại giao ở Trung Quốc và những biểu hiện chính sách ngoại giao của nước này cũng chứng minh điều đó.

Một lãnh sự nước ngoài bị giết ở Long Châu – Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây), gần biên giới Trung Quốc – Đông Dương. Đại diện của nước ấy ở Quảng Châu đã phản kháng với Chính phủ quốc dân. Tiếp theo cuộc thǎm của ông là một bức thư nêu rõ những yêu cầu của Chính phủ mình. Sau đó, người ta được biết chính quyền cấp huyện ở Quảng Tây, thuộc Chính phủ quốc dân, nhận được một bức thư của vị lãnh sự đến thay thế người đã chết đòi bồi thường và định ra thời hạn trả số tiền yêu cầu. Thật lạ lùng là cuộc thương lượng đã diễn ra giữa lãnh sự của nước này với Chính phủ quốc dân, song vị lãnh sự đó lại không được thông báo về những người đồng nghiệp của ông đã làm trong thành phố, nơi diễn ra sự kiện khốn khổ trên.

Viên lãnh sự bị giết trên đường trở về Bắc Kỳ thuộc Pháp. Ông ta không báo cho chính quyền địa phương biết việc ra đi của mình, cũng không yêu cầu được bảo vệ trong chuyến đi này, điều đó trái với những thủ tục ngoại giao. Mặc dù thế, Chính phủ quốc dân hoàn toàn không phản đối một giải pháp thân thiện, dù rằng những trách nhiệm về vụ ám sát này phải được tìm ra từ phía Hồng Công hơn là từ phía Quảng Châu.

Kỷ niệm ngày sinh của Tôn Dật Tiên

Chúng tôi không thể không nêu nhiệt tình của dân chúng Quảng Châu và cả tỉnh Quảng Đông khi họ kỷ niệm ngày sinh của Tôn Dật Tiên. Sự nồng nhiệt của nhân dân chứng tỏ người Trung Quốc biết ơn dường nào vị lãnh tụ vĩ đại quá cố đã khơi dậy nơi họ ý chí tự giải phóng khỏi ách áp bức về ngoại giao mà bây giờ không gì có thể biện hộ được.

Tình hình ở miền Bắc

Chuyến đi của Trương Tác Lâm đến Bắc Kinh chưa xảy ra lúc chúng tôi viết những dòng này. Ngày nay, người ta bảo rằng ông ta ở Thiên Tân, trên đường tiến về thủ đô phương bắc. Ông ta có đến đó không ? Liệu ông ta có nhận đứng đầu cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh không, ngay cả khi Đoàn ngoại giao động viên, khuyến khích. Cùng với việc Trương Tác Lâm đến Thiên Tân, người ta báo tin rằng thủ tướng Wellington Kou xin từ chức với tất cả các thủ lĩnh quân sự, các quan thầy của ông. Trương Tác Lâm đã không hành động, thái độ không vồn vã khi cứu trợ khẩn cấp cho Ngô Bội Phu hay cho Tôn Truyền Phương chứng tỏ rằng ông không chịu cộng tác với hai thủ lĩnh quân sự này. Hoạt động của Quốc dân quân ở Sơn Tây và Cam Túc là đáng chú ý và dường như là khúc dạo đầu của trận chiến mà nay mai họ sẽ đánh vào kẻ thù của mình. Cũng cần lưu ý đến hoạt động của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa ở các tỉnh phía Bắc.

X.

————————————

Báo L’Annam, số 118, ngày 2-12-1926 (tiếng Pháp).
cpv.org.vn

Chính phủ đoàn kết, vì lợi ích dân tộc

Ngày 27-8-1945, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Ủy ban Dân tộc giải phóng.

Trong bối cảnh Cách mạng Tháng Tám thành công, để củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng, ngày 27-8-1945, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Ủy ban Dân tộc giải phóng. Người đưa ra đề nghị cụ thể về chính sách đại đoàn kết dân tộc để thành lập Chính phủ thống nhất quốc gia, bao gồm cả những đại diện các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ không đảng phái, những nhân vật có danh vọng trong xã hội.

Tuân theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ mà quốc dân giao phó. Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Độc lập Đồng minh… Nó là một chính phủ thống nhất quốc gia giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ cộng hòa chính thức. Hồ Chí Minh đã được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đánh giá toàn bộ sự kiện trọng đại này, Bác Hồ viết: “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân”.

Có thể nói, trong nhiều cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, không có nhiều nước trên thế giới làm được việc thành lập Chính phủ trước khi giành được chính quyền. Nước ta, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ đã làm được điều đó. Đình Tân Trào là nơi Đại hội đại biểu Quốc dân tán thành chủ trương của Đảng và Tổng bộ Việt Minh về Tổng khởi nghĩa và quyết định lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ít ai có thể hình dung, chỉ mấy ngày sau đó, ngày 19-8-1945, Chính phủ non trẻ ấy đã lãnh đạo thành công cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ hơn một tuần sau đó, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Chính phủ được kiện toàn sau Cách mạng Tháng Tám là một Chính phủ gọn nhẹ và hiệu quả, một Chính phủ mang bản chất giai cấp công nhân, có tính dân tộc và nhân dân. Cùng với những người cộng sản, Bác Hồ đã chú ý mời các nhân sĩ, trí thức, những người yêu nước, thực sự có tài, có đức tiêu biểu cho nhân dân vào tham gia Chính phủ. Cái tài của Bác là tập hợp được tất cả những người dù không thích nhau về tình cảm, về tư tưởng, về chính kiến… nhưng thống nhất ở chỗ đặt lợi ích của nhân dân, của độc lập dân tộc lên trên hết, cùng đoàn kết xây dựng một chính quyền mạnh.

Sự ra đời và từng bước cải tổ cho phù hợp với điều kiện thực tế của Chính phủ Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng và đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời khẳng định sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc và khát vọng tự do của một dân tộc anh hùng.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới

LTS: Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đồng chí TRƯƠNG TẤN SANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bài viết với tựa đề Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới. Bài viết khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ, quật cường của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, thách thức, khuyết điểm trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ những ngày đầu đến nay; qua đó khẳng định, bằng những bài học kinh nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến và vượt qua thử thách. Bài viết cũng nêu bật, vấn đề đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp đất nước vượt qua khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau… Báo SGGP xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri quận 4, TPHCM tháng 6-2012. Ảnh: Việt Dũng

Ngày Quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt.

Tôi nhớ lại cảm xúc của mình vào những ngày kỷ niệm này trong nhiều năm đã qua, cho dù lúc đó tôi đang ở thành phố hay nông thôn, vào buổi trưa hay vào lúc nửa đêm khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ. Tràn ngập trong tâm khảm tôi lúc đó là cảm xúc thiêng liêng và lắng đọng về ý nghĩa vĩ đại của Ngày Độc lập với non sông và dân tộc Việt Nam ta. Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng, hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm, sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập ấy?

Đã có rất nhiều cuốn sách, những bài diễn văn của các học giả, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, trong suốt 67 năm qua, đề cập từng khía cạnh, thậm chí nhỏ nhất về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, không chỉ với đất nước và nhân dân Việt Nam, mà với sự tiến bộ của nhân loại nói chung. Trong thời đại thông tin ngày nay, việc kiếm tìm những thông tin như vậy trở nên thật dễ dàng…

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta với hình ảnh biểu tượng cách đây 67 năm, ngày 2-9 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Ngày 2-9 đã trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Việt Nam từ một nước nô lệ bị sự thống trị hà khắc của chính quyền thực dân – phong kiến, đã xuất hiện trên bản đồ thế giới với tư cách là một nước tự do và độc lập. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình… Hơn ai hết, mỗi một người dân Việt Nam – những hậu duệ của rất nhiều thế hệ trước đó từng trải qua biết bao thiên tai, binh lửa, bao biến cố thăng trầm, những tiếp biến “vật đổi sao dời” ngàn năm, hết đời này sang đời khác – bằng máu huyết, thanh danh, vận mệnh của dân tộc và của chính mình, đều ý thức rõ ràng giá trị sâu sắc thiêng liêng và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Ngày Độc lập này. Không ai có thể phủ nhận điều đó!

Cũng không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử: thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Với những giá trị lịch sử to lớn và những bài học thực tiễn phong phú, suốt 67 năm qua kể từ ngày thành lập nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ, đến thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối; đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN…

Đến bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam hôm nay, ta cũng bắt gặp những đổi thay theo hướng tiến bộ, khắp nơi đều là những công trường xây dựng, diện mạo thành thị, nông thôn bao trùm một sức sống mới… Những vật dụng quen thuộc xưa kia trong đời sống lam lũ của người dân như cái khố rách, cái cối xay, đôi guốc mộc, hay là chiếc xe đạp Thống Nhất mới chỉ vài chục năm trước còn là một phương tiện “sang trọng” thời bao cấp… thì nay chỉ còn là ký ức hay vật trưng bày trong các viện bảo tàng.

Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước đã bao giờ đẹp như hôm nay?

*

Nhưng phải chăng không còn điều gì bất cập, không có vấn nạn gì mà mỗi khi nghĩ đến ta thấy nhức nhối trong lòng?

Hàng ngày lật giở các trang báo, gặp gỡ các cán bộ, đảng viên và nhân dân, ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó động chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện. Thậm chí, nhiều khi ta bắt gặp sự phản ứng đến mức phẫn nộ. Đã có những chính sách được về mặt chính trị, an ninh thì lại chưa ổn về mặt xã hội, dẫn đến những tranh luận nhiều khi gay gắt, thậm chí xung đột. Giá cả các mặt hàng leo thang kéo theo nhiều hệ lụy; chuẩn mực giá trị bị đảo lộn và xem thường dẫn đến pháp luật kỷ cương, đạo đức xã hội bị xói mòn nghiêm trọng. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mặt trái tiêu cực của nó càng có môi trường nảy sinh. Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…

Nhìn nhận những khó khăn, thách thức này phải bằng con mắt biện chứng lịch sử. Trên thực tế, cách mạng Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới, chưa bao giờ hết khó khăn, thử thách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam lúc đó lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, hậu quả của chế độ phong kiến – thuộc địa để lại rất nặng nề. Khó khăn chồng chất, nhưng Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu, tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để Nhà nước Việt Nam vượt qua vô vàn gian khổ, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Cũng như vậy, giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khó khăn nào bằng? Nhưng cả nước đều ra trận, quyết chiến, quyết thắng, và đã chiến thắng vang dội, Việt Nam trở thành “lương tâm của thời đại” như nhiều người trên thế giới đã tôn vinh. Sau khi đất nước thống nhất, khó khăn chồng chất, hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục thì lại vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa phải chống lại sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, phải tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cũng có không ít những sai lầm, khuyết điểm, phải sửa sai như trong cải cách ruộng đất, sửa sai những khuyết điểm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế chính sách khiến cho kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng thời điểm trước Đại hội VI (1986).

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm công trình xử lý nước thải thuộc dự án cải thiện vệ sinh môi trường nước lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Ảnh: GIẢN THANH SƠN

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn hai thập kỷ qua, giống như một cỗ xe còn chưa hoàn thiện nhưng đang chạy với tốc độ nhanh, thành công nhiều mà khó khăn cũng lắm. Hiện nay, những khó khăn mà chúng ta phải đối mặt là việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn nhiều hạn chế, có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Nền kinh tế đất nước phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu còn dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm đi vào chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường bị ô nhiễm. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện, những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng là những nhân tố cản trở sự phát triển. Vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia…

Ngoài xã hội và trong bộ máy Nhà nước, cái tích cực với cái tiêu cực xen lẫn, nhiều vấn đề giải quyết chậm, để lỡ mất cơ hội. Phải làm sao đây để phát triển đất nước giữa một thế giới cạnh tranh không chấp nhận sự trì trệ? Nếu chỉ cố gắng như những năm vừa qua không còn đủ nữa, mà phải đổi mới quyết liệt để theo kịp bước tiến thời đại, phải tiến hành những giải pháp đồng bộ trong mọi lĩnh vực. Trước những bất cập về quản trị kinh tế, chúng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng đó đâu phải việc ngày một ngày hai. Thậm chí có những việc như chống lạm phát đã hé lộ khả năng giải quyết được cơ bản, nhưng nếu không cẩn thận thì có nguy cơ chuyển sang căn bệnh mới tác hại không kém đó là giảm phát. Sốt ruột thật, nhưng công việc đòi hỏi chúng ta phải điềm tĩnh, tỉnh táo, kiên trì tìm giải pháp giải quyết căn cơ, không chỉ nhất thời. Trong khi tìm tòi, tháo gỡ, xã hội chúng ta vẫn phải đối mặt với những áp lực mới, gay gắt…

Mới đây thôi, những vấn đề đặt ra từ Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên, Vụ Bản – Nam Định… đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại các cơ sở pháp lý về đất đai. Hoặc, những đổ vỡ, kém hiệu quả của DNNN; những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân, đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực đòi hỏi phải rút ngắn; những mục tiêu đòi hỏi phải đạt được nếu không muốn dẫn đến tụt hậu và bất ổn; ngân sách Nhà nước thì còn rất eo hẹp, nợ công tăng lên, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng hóa tồn đọng nhiều, lạm phát đang ăn vào thu nhập của phần đông người lao động… Đó thực sự là những áp lực không nhỏ, không chỉ với bộ máy Đảng, Nhà nước mà với toàn xã hội. Khó có thể nói những khó khăn thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và những khó khăn hiện nay thì cái nào lớn hơn, khốc liệt hơn?

*

Nhưng, Việt Nam là một đất nước, một dân tộc luôn vượt qua được mọi khó khăn và thực hiện được những mục tiêu tưởng như là không thể.

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, cần nhắc lại những bài học kinh nghiệm đã giúp Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Đó là bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bài học về sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử, cội nguồn sức mạnh của Đảng chính là từ sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Đó là bài học về tăng cường củng cố đoàn kết – đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đó là bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam… Những bài học này, nếu được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, ai cũng quán triệt thực hiện trên thực tế, không phải chỉ là những khẩu hiệu suông, thì bất cứ khó khăn nào chúng ta đều có thể vượt qua!

Niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi” trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm xưa, phải được thể hiện bằng niềm tin mới “sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nhất định thành công” trong giai đoạn hiện nay!

Suốt 67 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cố kết chặt chẽ, như cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến, cùng vượt qua thử thách hay nguy cơ chìm thuyền. Đảng, Nhà nước thì cũng từ nhân dân mà ra. Trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, trong muôn mặt của đời sống, dân tộc và cách mạng có hòa nhập với nhau, chính trị và xã hội có ổn định thì mới tồn tại và phát triển. Đó là đặc trưng của Việt Nam. Đối lập và chia rẽ, định kiến và bất ổn là con đường ngắn nhất phá hoại mọi thành tựu, đưa đất nước đến bờ vực thẳm hoặc sẽ bị các thế lực không muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển lôi kéo và lợi dụng.

Làm sao để chính trị xã hội ổn định? Mỗi người chúng ta đang sống trong cơ chế kinh tế thị trường, sử dụng có hiệu quả những mặt tích cực và hạn chế những mặt trái của nó không hề dễ dàng, nhất là với nước ta, vốn xuất phát từ một trình độ thấp, thu nhập quốc dân trên đầu người mới chỉ bắt đầu bước vào mức thấp của ngưỡng trung bình, với biết bao những khó khăn, thách thức và mâu thuẫn nhiều khi không lường hết được. Tôi xin nhấn mạnh: Đứng trước chúng ta là những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mới phức tạp hơn trước kia rất nhiều.

Đoàn kết, hòa hợp, thống nhất từng là bài học và nguyên nhân thắng lợi trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, tiếp tục phải là một trong những giải pháp quan trọng nhất của đất nước để vượt lên những khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau. Trong giai đoạn mới, đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy và bổ sung thêm những giá trị mới nhằm thu hẹp những khác biệt, tất cả phải nhằm vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”…

Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, tất cả những ai nỗ lực học tập, làm việc, cố gắng làm việc trong khả năng của mình phải có được cơ hội, cuộc sống và thu nhập tốt hơn, chỉ như thế mới khuyến khích và tạo môi trường, khát vọng cho mọi người nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn. Chúng ta không khuyến khích bình quân chủ nghĩa. Chúng ta chấp nhận sự cạnh tranh, lên án lòng ganh ghét đố kỵ bởi nó kìm hãm phát triển. Không có đất nước nào có thể lớn lên được từ lòng đố kỵ. Đồng thời, chúng ta tôn vinh lòng nhân ái, chia sẻ, yêu thương và cùng đấu tranh để chấm dứt nghèo đói, dốt nát và bệnh tật… Tôi tin, bất cứ ai, nếu có một nhu cầu tự thân như vậy và với tinh thần xây dựng, sẽ đều có trách nhiệm với đất nước và phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đối diện với những khó khăn trong kháng chiến, mọi cán bộ, đảng viên đều biết phải làm tốt công tác dân vận và phải làm gương ra sao, và mỗi người dân từng đem cả nhà mình lót đường cho xe ra trận, kể cả tính mạng của mình khi cần, sẽ biết phải thể hiện lòng yêu nước thế nào khi đối chiếu vào hoàn cảnh mới hiện nay… Những kinh nghiệm ấy vẫn còn nguyên giá trị và phải được phát huy trong lúc này. Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải hình thành các điều kiện để làm xuất hiện những hành vi tích cực của toàn Đảng, toàn dân cho đất nước, cho việc củng cố và xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.

Việt Nam đã chứng tỏ không chỉ một lần về khả năng có thể vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể, chúng ta sẽ tiếp tục vượt qua mọi thử thách để thực hiện những mục tiêu lớn lao. Để làm được như vậy, đoàn kết, đồng thuận là một yêu cầu không thể thiếu.

Những gì đi ngược lại yêu cầu ấy phải dần bị triệt tiêu!

Chúng ta phấn đấu để trong một tương lai gần, năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có trình độ phát triển trung bình; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn, nhanh hơn, vững chắc hơn trong các giai đoạn sau.

Tiếp tục con đường của Cách mạng Tháng Tám trong giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải thực hiện bằng được mục tiêu đó! Nếu đất nước, dân tộc đã từng hun đúc ngọn lửa để chúng ta hy sinh xương máu, vượt qua biết bao “bão giông”, “nắng lửa” trong thiên tai và địch họa của “một thời đạn bom”, chúng ta phải làm mọi cách để giữ gìn những giá trị đó và làm cho đất nước trở nên tươi đẹp trong “một thời hòa bình”. Chúng ta hãy chứng tỏ niềm tin và tình yêu đất nước của mình bằng cách làm việc để xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước. Không có gì chưa hoàn thiện mà chúng ta lại không có thể làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn bằng lòng yêu nước chân chính…

Đoàn viên thanh niên TPHCM tham gia chiến dịch tình nguyện Hoa phượng đỏ. Ảnh: Việt Dũng

*

Dù còn những khiếm khuyết, chưa hoàn thiện trên cơ thể đất nước, nhưng phải khẳng định rằng: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tất cả những điều đó đã được chúng ta cùng nhau thực hiện và là bằng chứng về khát khao vươn lên của chúng ta. Đất nước chưa có bao giờ đẹp như hôm nay. Nhiều vùng của đất nước còn chậm phát triển, nhưng cũng đã có rất nhiều nơi công trình mới mọc lên to lớn, tráng lệ; còn đó những bộ phận dân cư đời sống rất khó khăn, cực nhọc, nhưng đại bộ phận đã vượt qua sự đói khổ, bần cùng, rất nhiều gia đình đã trở nên khá giả, giàu có, và chúng ta đang phấn đấu rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; đất nước đang ngày càng được thế giới chú ý, trân trọng, đang tiếp tục vươn lên với sức mạnh Phù Đổng…

Hôm nay, chúng ta không thể quên rằng chúng ta là những thế hệ đang kế thừa thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Vào thời điểm này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại và nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã dẫn dắt chúng ta đi theo con đường cách mạng đúng đắn, làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam – một dân tộc Anh hùng, thông minh, hòa hiếu, đầy lòng nhân ái, cần cù, sáng tạo, yêu nước nồng nàn, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ, luôn đoàn kết nhất trí một lòng đi theo Đảng, xây dựng quốc gia độc lập, tự do, phồn vinh, tiến bộ. Chúng ta đời đời khắc ghi công ơn to lớn của hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, biết ơn các bậc lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân các liệt sĩ và những người đã hiến dâng tất cả tuổi xuân, xương máu, tài năng và của cải cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Biết ơn những thế hệ đi trước, chúng ta phải làm mọi điều có thể để đất nước phát triển. Tự hào với những gì đã làm được, nhưng chúng ta cũng cần phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí, mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.

Tương lai đang vẫy gọi và thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới!

Trương Tấn Sang (Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam)
sggp.org.vn

Nhiều bài học của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có giá trị vĩnh hằng

Trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã viết nên nhiều trang sử vẻ vang với những chiến công chói lọi chống giặc ngoại xâm, trong đó có thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là chiến công chói lọi trong lịch sử dân tộc.

Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” (1).

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân ta giành lại được độc lập dân tộc trong tay phát xít Nhật và thực dân Pháp, đưa đất nước thoát khỏi cảnh mất nước, lầm than, chìm đắm trong vòng nô lệ hơn 80 năm; đồng thời đây cũng là phát súng lệnh mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc trên toàn thế giới, tạo điều kiện cho hàng loạt nước Á – Phi giành được độc lập dân tộc dưới các mức độ khác nhau, chấm dứt về cơ bản chủ nghĩa thực dân cũ thống trị hơn 300 năm ở nhiều dân tộc trên thế giới.

Bác Hồ thăm lớp Bình dân học vụ. Ảnh: T.LBác Hồ thăm lớp Bình dân học vụ. Ảnh: T.L

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài học lớn mang tính nguyên lý có giá trị vĩnh hằng cho nhân dân ta và nhiều dân tộc khác cùng cảnh ngộ tương đồng trên thế giới:

Đó là bài học “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (Nguyễn Ái Quốc). Nhờ vậy mà một dân tộc không đông, diện tích không rộng, nhưng dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ với trên 6.000 đảng viên cộng sản đã động viên, tổ chức được sức mạnh phi thường của hơn 20 triệu nhân dân giác ngộ, cả nước nhất tề đứng lên, chỉ sau một tuần lễ đã đập tan bộ máy cai trị của bọn thực dân, phong kiến từ làng, xã đến triều đình phong kiến, giành được chính quyền về tay nhân dân.

Đó là bài học giành độc lập dân tộc phải đi đôi với đem lại tự do và ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngay sau khi chính quyền cách mạng mới được thành lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phát động đồng thời thực hiện 3 cuộc vận động lớn “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt”, “diệt giặc ngoại xâm” và chủ trương “tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” (2).

Đó là bài học giành chính quyền phải đi đôi với bảo vệ chính quyền. Bài học này không chỉ khi chính quyền cách mạng còn non trẻ như “ngàn cân treo sợi tóc”, mà cả khi phải liên tục tiến hành 2 cuộc kháng chiến trường kỳ vô cùng gian khổ, không nề hy sinh để bảo vệ, phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám và hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là giải phóng hoàn toàn dân tộc, thống nhất đất nước, thu giang sơn gấm vóc Việt Nam về một mối, chấm dứt vĩnh viễn ách nô lệ ngoại bang và họa chia cắt đất nước.

Đó là bài học về xây dựng, đổi mới thượng tầng kiến trúc xã hội phải đi đôi, được xây dựng trên nền tảng xã hội vững mạnh và cơ sở vật chất – kỹ thuật hùng cường. Trong chiến tranh, đó là xây dựng và phát triển nền kinh tế thời chiến, làm cơ sở hậu phương vững chắc cho tiền tuyến và bồi dưỡng sức dân cho chiến đấu lâu dài.

Khi đất nước sạch bóng quân thù, kịp thời chuyển nền kinh tế thời chiến sang thời bình; quan trọng hơn là kịp thời đổi mới toàn diện nền kinh tế – thực chất là xây dựng mới nền kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong thời kỳ mới phù hợp với sự phát triển bứt phá của nền kinh tế thế giới được thúc đẩy bằng sự bùng nổ về khoa học – công nghệ của kỷ nguyên kinh tế tri thức.

Sự đổi mới và phát triển kinh tế theo tinh thần “đem sức ta mà làm nên sự nghiệp của ta” và “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân” – (Hồ Chí Minh ngày 15-10-1949).

Những bài học bất hủ của Cách mạng Tháng Tám có giá trị vĩnh hằng được Đảng ta kế tục và vận dụng sáng tạo, là tiền đề nhận thức tư tưởng và quan điểm phát triển, đã và đang là động lực to lớn đưa nước ta tiếp tục phát triển toàn diện theo con đường Xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nay càng thêm hoàn thiện bằng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Trong những ngày hân hoan này, chúng ta tưởng nhớ, biết ơn sâu sắc những tấm gương kiên trung, bất khuất đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh để làm nên Cách mạng Tháng Tám và nguyện ra sức đóng góp tài năng, sức lực vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời cảnh giác, ngăn ngừa và chống lại mọi luận điệu xằng bậy chống lại sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và tiền đồ tươi sáng của nhân dân ta.

NGUYỄN VĂN THANH
baoapbac.vn

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia – năm 2002, tập 6, trang 159.
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, trang 56.

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, vượt mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi lên!

Trong chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là mốc son chói lọi, là bước ngoặt vĩ đại. Cách mạng Tháng Tám đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân, phong kiến, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, lầm than trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là biểu hiện rực rỡ của tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ và khát vọng tự do, hòa bình, ấm no, hạnh phúc của toàn dân tộc ta đã được tôi luyện, hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử và trưởng thành trong 15 năm dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðó cũng là thắng lợi vĩ đại của ý chí, bản lĩnh, trí tuệ… của nền văn hiến Việt Nam, được phát huy cao độ, trở thành sức mạnh vật chất hùng mạnh hơn bao giờ hết. Sức mạnh ấy là hành trang cho cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, đạp bằng mọi trở ngại, chông gai trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thời gian càng lùi xa bao nhiêu, tầm vóc thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám càng tỏa sáng bấy nhiêu. Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Ðảng ta do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Chỉ 15 năm sau ngày thành lập, Ðảng ta đã vận dụng sáng tạo, tài tình những nguyên lý cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh thực tiễn của nước ta, đề ra đường lối cách mạng giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tập hợp hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa. Với tầm nhìn sáng suốt, từ việc đề ra và kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, chuẩn bị đội ngũ, rèn luyện tinh thần và lực lượng bằng các cao trào cách mạng; đến việc tạo dựng và nắm bắt thời cơ giành thắng lợi, sự lãnh đạo của Ðảng đã trở thành nghệ thuật của chiến tranh cách mạng.

Thành quả và những bài học lịch sử quý báu của Cách mạng Tháng Tám là khởi nguồn của những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được trong các cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ 1954, Ðại thắng Mùa Xuân 1975. Mang tinh thần Cách mạng Tháng Tám vào trận tuyến chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu và tình trạng kém phát triển, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới suốt 26 năm qua, tạo thế và lực đưa đất nước tiến vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ CNH, HÐH.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng. Trước mắt, tập trung thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước về tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của hệ thống chính trị; kết hợp sức mạnh của dân tộc và thời đại để kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Gần 70 năm trước đây, Ðảng ta chỉ với 5.000 đảng viên đã lãnh đạo toàn dân tộc từ trong đêm trường nô lệ, lầm than, vùng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa long trời, lở đất, đưa dân tộc ta lên vị trí hàng đầu của phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, Ðảng ta đang gánh vác nhiệm vụ lịch sử đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực của mình, từng tổ chức đảng và đảng viên cần triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) về xây dựng Ðảng, thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhằm tạo chuyển biến rõ nét, khắc phục những hạn chế, yếu kém để xây dựng Ðảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, năng lực và sức chiến đấu của Ðảng ngày càng được nâng cao để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi lên.

NHÂN DÂN
nhandan.com.vn