Archive | 2012

Cuộc tháo chạy tai họa

Cách đây 36 năm, chiến dịch Tây Nguyên bất ngờ, thần tốc đã giáng một đòn chí tử làm ngụy quyền choáng váng, bỏ Tây Nguyên tháo chạy. Tạp chí Time của Mỹ số ra ngày 31-3-1975 đã có một bài phân tích dài, đánh giá cuộc rút lui này là một tai họa, báo hiệu sự kết thúc của chế độ Sài Gòn cũ. Xin giới thiệu bài viết với bạn đọc.

Kỳ 1: Quyết định ngạc nhiên của Nguyễn Văn Thiệu

“Mất Plei-cu. Mất Kon Tum. Mất Buôn Ma Thuột. Mất Huế. Mất tất cả”, một nhân viên xuất nhập cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất nói.

Cuộc chiến tưởng còn lâu mới tới hồi kết tại miền Nam Việt Nam đã chuyển hướng đầy bất ngờ. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã buộc phải từ bỏ ¼ lãnh thổ miền Nam Việt Nam – 7 tỉnh với dân số ước tính hơn 1,7 triệu người – khi bị Việt Cộng tấn công. Trên những con đường làng và quốc lộ ven biển đầy bụi đã diễn ra cuộc tháo chạy lớn nhất kể từ khi Việt Nam bị chia cắt. Các lực lượng tăng cường của Việt Cộng đã tiến hành chiến dịch công kích ác liệt nhất kể từ dịp lễ Phục sinh năm 1972.

Quyết định từ bỏ các tỉnh, thành phố dường như còn khả năng phòng thủ của Tổng thống Thiệu khiến cho hầu hết mọi người phải ngạc nhiên, kể cả cơ quan tình báo của Mỹ. Những bước tiến thần tốc của lực lượng Việt Cộng cũng tạo ra sự choáng váng không kém.

Hai tuần trước, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Giêm Xle-sinh-gơ (James Schlesinger) vẫn còn nói cứng rằng, sẽ không có bất kỳ cuộc công kích lớn nào của Việt Cộng cho đến năm 1976, thời điểm diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Có thể do Đại sứ Gra-ham Mác-tin (Graham Martin) đang nghỉ phép ở quê nhà và cũng có thể là do Tổng thống Việt Nam Cộng hòa hờn dỗi việc Oa-sinh-tơn rút khỏi cuộc chiến và không tăng viện trợ nên đã không tham vấn các quan chức Mỹ trước quyết định liều lĩnh của mình. Nhưng ngay cả nhiều tư lệnh của quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng chỉ biết việc tháo chạy qua báo chí Sài Gòn.

Kon Tum và Đắc Lắc ở Tây Nguyên là các tỉnh thất thủ đầu tiên. Sau đó là đến lượt Quảng Trị, một tỉnh ở phía Bắc Vùng 2 chiến thuật đóng quân bị thất thủ hoàn toàn. Mặc dù Sài Gòn chưa chính thức tuyên bố, song Thừa Thiên, bao gồm cả Cố đô Huế có vẻ cũng đã rơi tay vào Bắc Việt. Một tỉnh phía Nam là Phước Long chỉ cách Sài Gòn khoảng 80 km đã rơi vào tay Cộng sản từ đầu năm 1975. Bên cạnh đó, nhiều tỉnh thành khác ở miền Nam Việt Nam cũng đang bị lực lượng Cộng sản đe dọa nghiêm trọng.

Ngụy quân tháo chạy khỏi Tây Nguyên sau khi Plei -cu thất thủ. Ảnh: tư liệu internet

Thiệu cho rằng quyết định rút lui của mình như canh bạc sinh tử nhằm cứu vãn tình thế. Ông ta hi vọng rằng đây là cuộc tháo chạy cuối cùng. Tuy nhiên, đối với những người Mỹ tham chiến tại ViệtNam thì việc đầu hàng là vô cùng tồi tệ.

Dưới sự áp tải của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hơn nửa triệu thường dân (?) đã di tản bằng xe máy, xe bò, xe đạp và bằng chân đến những nơi mà Sài Gòn còn kiểm soát. Khoảng 200.000 người rời Quảng Trị, Huế chạy vào Đà Nẵng. Hàng trăm nghìn người từ Tây Nguyên đổ về miền duyên hải. Tại Vùng 2 chiến thuật, thành phố nghỉ dưỡng Đà Lạt bỗng nhiên không còn một bóng người dù chưa có bất kỳ dấu hiệu tấn công nào của Việt Cộng. Hàng không Việt Nam tăng chuyến, từ một lên 5 chuyến bay mỗi ngày từ Đà Lạt về Sài Gòn. Giá vé chợ đen leo lên mức 300 USD, trong khi giá bình thường là 9,5 USD.

Hầu hết những người di tản và thậm chí cả đội quân tháo chạy cũng không bị Việt Cộng tấn công. Thậm chí, tại Quảng Trị, ban đêm xe tăng của Việt Cộng còn rọi đèn cho người dân di chuyển. Những người tị nạn di tản vì nhiều lí do. Nhưng không ít người sợ trúng bom khi quân đội Sài Gòn phản công. Thực tế, ngay sau Hiệp định Pa-ri, Sài Gòn thường xuyên không kích các vùng đất do Việt Cộng kiểm soát.

Tại Sài Gòn, lệnh giới nghiêm ban đêm được kéo dài thêm 2 giờ, bắt đầu từ 22 giờ. Thậm chí những tên ngỗ ngược nhất, hay những người bán hàng rong cũng ra khỏi những con phố trước giờ giới nghiêm 1 giờ đồng hồ. Thủ đô của Việt Nam Cộng hòa có vẻ còn khá bình yên. Nhưng đó là sự bình yên mong manh.

Kỳ 2: Quyết định “Vẽ lại bản đồ chính trị Việt Nam”

Quyết định tháo lui của Thiệu có lẽ bắt nguồn từ việc ông ta lo ngại sức mạnh của Bắc Việt. Lầu Năm góc tin rằng, hiện đã có 16 sư đoàn Bắc Việt Nam ở miền Nam. Hình như, ông Thiệu cũng cho rằng việc tái chiếm các vị trí chiến lược ở phía bắc và Tây Nguyên là bất khả thi sau chiến thắng của Việt Cộng ở Buôn Ma Thuột. Cuộc tấn công vào Buôn Ma Thuột đã buộc quân đội Việt Nam Cộng hòa trải mỏng từ Kon Tum qua Plei-cu tới Buôn Ma Thuột, dọc theo đường 14. Trong một động thái tuyệt vọng, Tổng thống Thiệu đã lệnh cho hai trung đoàn thuộc Sư đoàn 23 ở Plei-cu tới ứng cứu Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, hai trung đoàn này lại bị quân đội Việt Cộng đánh bật ra xa Buôn Ma Thuột. Sau ba ngày giao tranh, một lượng lớn quân đội Việt Nam Cộng hòa bị tiêu diệt hoặc đầu hàng, số còn lại chạy thoát thân về phía biển.

Bị quân giải phóng tấn công, binh lính ngụy ở Plei-cu kéo cờ trắng ra hàng. Ảnh tư liệu.

Sư đoàn 23 của Việt Nam Cộng hòa bị thiệt hại nặng khiến tình hình phòng thủ của Plei-cu rơi vào bế tắc. Cùng lúc, chính quyền Sài Gòn lại được tin thất bại thảm hại ở Kon Tum. 4 sư đoàn của Bắc Việt hiện đã có mặt ở Tây Nguyên. Thiệu đã bí mật gặp tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng 2 chiến thuật vào ngày 14-3. Tổng thống Thiệu đã ra quyết định rút lui chiến lược. Bốn lữ đoàn biệt động phòng ngự ở Kon Tum được lệnh rút theo hướng đông nam tới tỉnh Phú Yên. Vài ngày sau, lực lượng ở Plei-cu cũng bỏ chạy.

Tướng Phú rời Bộ tư lệnh Vùng 2 chiến thuật từ phía nam Plei-cu xuống Nha Trang. Tại Kon Tum, 68 phi cơ đã không thể bay do thiếu phụ tùng thay thế hoặc đã bị phá hủy để tránh rơi vào tay đối phương. Do bộ binh Việt Nam Cộng hòa đã di chuyển theo hướng nam, nên Không quân Việt Nam cộng hòa đã đánh sập các cây cầu sau khi các toán quân rút chạy băng qua.

Trong lúc rút khỏi Tây Nguyên, Thiệu đã ra một quyết định quan trọng khác trong việc vẽ lại bản đồ chính trị Việt Nam. Ông ta bay ra Đà Nẵng để trao đổi với tướng Ngô Quang Trưởng, người được Sài Gòn coi là tư lệnh giỏi nhất của quân đội Việt Nam Cộng hòa, và tiến hành kế hoạch đã vạch ra mấy tháng trước: Lùi tuyến phòng ngự từ Quảng Trị vào Đà Nẵng. Tướng Ngô Quang Trưởng đã mất những binh sĩ thiện chiến nhất khi Tổng thống Thiệu ra lệnh cho 4.000 lính dù trở về Bộ tư lệnh của lực lượng này ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Thiệu cho rằng, việc tăng cường phòng thủ ở Sài Gòn là rất cần thiết, phòng khi Cộng sản tập trung lực lượng tấn công Sài Gòn. Việc chuyển quân này đã khiến Huế bị sốc. Không nhận được chỉ thị từ chính quyền Sài Gòn song thị trưởng Huế vẫn ra lệnh di tản.

Chiến lược của Sài Gòn đã rõ ràng: Rút lui khỏi Tây Nguyên để bảo đảm quân số phòng thủ miền Nam Việt Nam. Một nhà phân tích của Lầu Năm góc nói rằng, từ giờ sẽ phải “vẽ một bản đồ rút ngắn của miền Nam Việt Nam”. Nó sẽ bao gồm cả phần lớn Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật, 11 tỉnh xung quanh Sài Gòn, 15 tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và một vài điểm phòng ngự lẻ tẻ dọc bờ biển phía bắc Đà Nẵng.

Bản đồ này giống với một bản mà tướng Mỹ nghỉ hưu Giêm Ga-vin (James Gavin) vẽ năm 1966. Ông này cho rằng, lực lượng Mỹ nên rút về đóng ở các khu vực dễ phòng ngự dọc theo bờ biển miền Nam Việt Nam, như Nha Trang, Cam Ranh, Quy Nhơn và Đà Nẵng. Những thành phố đông dân này có tiềm lực về mặt kinh tế và quân sự. Đây cũng là những nơi có các cơ sở quan trọng như cảng biển và sân bay. Mặc dù lúc đó hầu hết các chuyên gia quân sự Mỹ bác bỏ kế hoạch của Ga-vin, song hiện nay nhiều người trong số họ lại đánh giá cao chiến lược rút lui của Thiệu.

Ga-vin (sau khi về hưu làm Chủ tịch tập đoàn Arthur D. Little) lại cho rằng kế hoạch rút quân của Thiệu không giống nhiều với kế hoạch trước kia của ông ta, vốn được thiết kế như bước tháo lui chiến thuật đầu tiên để Mỹ rút chân khỏi bãi lầy Việt Nam. Ga-vin tỏ ra khá bi quan về cơ hội thành công của chiến lược mà Thiệu đang triển khai. “Tình hình rõ ràng đang nằm ngoài khả năng kiểm soát của Thiệu. Tôi thấy cơ hội để Sài Gòn tự cứu mình rất mờ mịt”, Ga-vin nói.

Khánh Linh (biên dịch)
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Cận cảnh trận phản kích Phước An – Nông Trại – Chư Cúc

Sau khi giải quyết xong cơ bản nhiệm vụ tác chiến, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột, sân bay Hòa Bình, BCH chiến dịch Tây Nguyên đã tính trước việc địch nhất định sẽ tổ chức phản kích chiếm lại. Tuy nhiên, do ta đã sớm “ gạn lọc” tình huống, cắt đứt các đường huyết mạch lên cao nguyên, như đường 19, 21. Chiếm giữ các địa thế hiểm yếu dọc trục giao thông đường 14, nối Nam với Bắc Tây Nguyên, nên ta phán đoán lúc này địch chỉ có thể đổ quân bằng trực thăng (là chủ yếu).

Trên địa bàn rộng, dự kiến địch đổ quân ở đâu, phía đông hay Tây Buôn Mê Thuột? Đó là cả một nghệ thuật phán đoán, tiên lượng và dự kiến. Với đường kính hàng trăm cây số, chọn điểm chặn kích không “trúng” sẽ nguy hại bởi tổ chức tác chiến sẽ chuyệch choạc, phối hợp hỏa lực với bộ binh, bộ binh với bộ binh khó khăn, lại còn việc khóa vùng trời của phòng không… Địch ở gần tiến hành phản kích là ai, nhiều khả năng là hai trung đoàn từ Plei-cu về! Liệu sư đoàn dù ở Vùng 1 chiến thuật có đổ về đây phản kích không? Đó cũng là dự báo xa của cấp chiến dịch, chiến lược. Tuy nhiên về mặt chiến lược, Tổng hành dinh đã phối hợp chiến trường Trị Thiên rất nhịp nhàng, khiến sư đoàn dù phải sa lầy, “treo chân” ở vùng 1 chiến thuật, ít có khả năng trở về.

Vừa đánh địch, tiến công căn cứ Đức Lập, với khoảng 5 cụm cứ điểm lớn, ngày 11-3, sư đoàn 10 Quân giải phóng lập tức phải cơ động về gần Buôn Mê Thuột làm nhiệm vụ dự bị chiến dịch, sẵn sàng đánh địch phản kích. Một lực lượng thiết giáp, pháo binh cùng trung đoàn 48 bộ binh của sư 10 (thiếu), được lệnh gấp gáp tiến về phía đông Buôn Mê Thuột.

Ta dự kiến đón lõng ở quanh Phước An, Nông Trại, Tại sao không là nơi khác? Nơi đây là hậu cứ cũ của hai trung đoàn chủ lực thuộc sư đoàn 23 Ngụy, có cấu trúc công sự sẵn, có hậu cần, kho đạn…cạnh đó có điểm cao 581, khoảng cách cơ động phản kích hợp lý với quy mô trung đoàn…

Ngày 11 tháng 3 trong khi các trận đánh trong thị xã còn tiếp diễn, tiểu đoàn 6, trung đoàn 24 (sư đoàn 10) đã tấn công cứ điểm Chư Nga và căn cứ 45 phía Đông thị xã. Việc để mất căn cứ 45 và cứ điểm Chư Nga đã buộc các trung đoàn 44 và 45 QLVNCH không có lựa chọn nào tốt hơn phải đổ quân đến Nông Trại – Phước An !!! Sau này, tài liệu của các sĩ quan QLVNCH cũng thừa nhận, các căn cứ quanh Buôn Mê Thuột đã vào tay đối phương, đổ quân xuống đây là “hợp lý”.

Quả nhiên tin tình báo có sớm: Ngày 12-3, Tướng Phú, Tư lênh quân đoàn 2 chủ trương: Điều động toàn bộ hai trung đoàn còn lại của sư đoàn 23 (44 và 45) dùng trực thăng vận đổ bộ xuóng khu vực Nông Trại – Phước An (phía Đông Buôn Ma Thuột), hình thành cánh quân phản kích chủ yếu đánh thẳng vào thị xã.

Sử dụng liên đoàn 21 biệt động quân (thiếu) phối hợp với số quân còn lại của trung đoàn 53 tại trại B50 (hậu cứ sư đoàn 23) hình thành một cánh quân tại chỗ để phản kích.

Huy động tối đa các sư đoàn không quân, sư đoàn 6 (thuộc Quân đoàn II), sư đoàn 1 (tại Đà Nẵng), sư đoàn 4 (tại Cần Thơ) yểm trợ tối đa cho cuộc hành quân.

Trận phản kích được mô tả: Chiều ngày 12 tháng 3, sau trận oanh kích dọn bãi của 81 máy bay cuờng kích A-1, A-37, F-5; hai tiểu đoàn của trung đoàn 45 và một đại đội thám báo của sư đoàn 23 do trung tá Phùng Văn Quang, trung đoàn truởng chỉ huy, đổ quân xuống Phước An.

Trực thăng của các sư đoàn không quân QLVNCH đổ quân

Hơn 100 máy bay trực thăng đủ loại, kể cả CH-47 Chinook đuợc huy động cho cuộc chuyển quân. Lúc 13 giờ 10 phút chiều 12 tháng 3, đích thân thiếu tướng Phạm Văn Phú bay trên phi cơ hạng nhẹ U-17 lên vùng trời Buôn Ma Thuột chỉ huy cuộc phản kích. Từ trên máy bay, tướng Phú điện cho trung tá Võ Ấn đang chỉ huy các lực lượng giữ sân bay Hòa Bình biết cuộc đổ quân xuống Phước An – Nông Trại đã bắt đầu và động viên các đơn vị này cố gắng giữ vững.

Sang ngày 13 tháng 3, có 145 chiếc trực thăng đã đổ trung đoàn 45, pháo đội 232 và tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 44 xuống khu vực điểm cao 581, Nông Trại, Phước An, Chư Cúc dọc đường 21.

Từ chiều 13 tháng 3, các trung đoàn 24 và 28 (sư đoàn 10) được tăng cường hai đại đội xe tăng và một tiểu đoàn pháo binh đã hành quân suốt đêm và áp sát quận lỵ Phước An vào rạng sáng. 7 giờ 7 phút sáng 14 tháng 3, trong khi các đơn vị của hai trung đoàn 44 và 45 QLVNCH còn chưa triển khai đội hình, trung đoàn 24 (sư đoàn 10 ) có hai tiểu đoàn của trung đoàn xe tăng 273 yểm hộ đã từ hai phía nổ súng tấn công trung đoàn 45 tại điểm cao 581.

Đến 12 giờ trưa ngày 14 tháng 3, các tiểu đoàn 1 và 2 của trung đoàn 45 cùng tiểu đoàn bảo an tại điểm cao 581 hầu như bị đánh tan. Tiểu đoàn còn lại vừa đánh vừa lùi về khu vực Nông Trại. Bây giờ thì nhiệm vụ trước mắt của trung đoàn 44 (sư đoàn 23 QLVNCH) chưa phải là giải toả Buôn Ma Thuột mà là ứng viện cho trung đoàn 45 đang bị vây ép. Kẻ đi phản kích lại bị chính đối phương vây ép!

Ngày 15 tháng 3, cánh quân còn lại của sư đoàn 23, trong đó có Sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn đổ quân xuống Phước An. Ngày 16 tháng 3, cả hai cụm quân của sư đoàn 23 tại Phước An và Nông Trại cùng lúc bị tấn công. Đến 8 giờ 15 phút, tiểu đoàn 3, đơn vị cuối cùng của trung đoàn 45 (sư đoàn 23 QLVNCH) bị áp lực, tan rã, trung tá Phùng Văn Quang và toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn bị bắt làm tù binh cùng với chiếc trực thăng đã nổ máy định bốc họ lên không.

Ngày 17 tháng 3, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên điều tiếp trung đoàn 28 (sư đoàn 10) và tiểu đoàn xe tăng còn lại của trung đoàn 273 tăng cường cho trung đoàn 24 tấn công Phước An. Cùng ngày, trung đoàn 66 (sư đoàn 10) và trung đoàn đặc công 198 mở đợt tổng công kích vào cụm quân còn lại của trung đoàn 53 và liên đoàn 21 biệt động quân tại sân bay Hòa Bình (Phụng Dực). 11 giờ 30 sáng 17 tháng 3, sân bay Hòa Bình bị chiếm. Trung đoàn 53 bị xóa sổ.

Trong ngày 17 tháng 3, trung đoàn 44 bị tấn công liên tục tan rã tại Phước An. Đại tá Đức (tư lệnh mới của sư đoàn 23) đưa sở chỉ huy nhẹ sư đoàn và hơn 700 quân còn lại về Chư Cúc. Ngay lập tức, ngày 18-3 xe tăng, pháo binh ta mãnh liệt tiến đánh trị trấn này. Sức tiến công áp đảo cộng uy lực lớn từ xe tăng đột phá các cứ điểm,của trung đoàn 28 (sư đoàn 10) và một tiểu đoàn của trung đoàn xe tăng 273 trở thành một mũi tiến đánh rất mạnh, gần 12 giờ tàn quân phải bỏ Chư Cúc chạy về Pleiku. Sư đoàn 10 bắt tại đây hơn 1500 lính. Trận phản kích của QLVNCH với ý định tái chiếm Buôn Ma Thuột thất bại.

* * *

Điều gì quân đội VNCH không lường được trong phản kích, cho dù họ biết rõ đối phương sẽ quyết liệt “chống phản kích”. Đó là sư đoàn 10 lập tức quay trở lại, trở thành lực lượng dự bị chiến dịch mạnh. Sư đoàn này có pháo chiến dịch yểm trợ, có xe tăng đột kích tiến đánh. Bản thân họ chiếm thêm 14 khẩu pháo từ trận Đức Lập trước đó vài ngày. Đạn pháo dồi dào. Họ có cơ giới hành quân công khai ban ngày….

Pháo binh của Quân Giải phóng có thêm đạn bổ sung, lại linh hoạt tổ chức nhiều trạm quan sát, thực hành bắn nhiều mục tiêu đột xuất, chia cắt đội hình phản kích, uy hiếp tinh thần binh lính. Trong khi lực lượng phản kích không có thiết giáp mạnh che chắn, việc chế áp hỏa lực đối phương của pháo binh QLVNCH hầu như không làm được.

Máy bay chiến đấu là thế mạnh của bên phản kích, nhưng bị lực lượng phòng không khống chế bằng pháo cao xạ, tên lửa vác vai A-72, do vậy chi viện không hiệu quả cho bộ binh.

Có xe tăng, thiết giáp làm lực lượng đột kích. Có xe cơ giới chở quân, có cao xạ khóa bầu trời, sư đoàn 10 tiến đánh các mục tiêu theo phương thức hành tiến, thọc sâu, áp đảo…Nên hiệu suất chiến đấu cao.

TUẤN KHẢI
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Địch thất thủ nhanh vì ta nghi binh quá giỏi

Trong cuộc gặp gỡ gần đây nhất, khi có dịp trò chuyện với Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Đàm Văn Ngụy, người chỉ huy trực tiếp Sư đoàn 316 đánh trận mở màn Buôn Ma Thuột, chúng tôi hỏi ông: “Nguyên nhân nào khiến địch ở Buôn Ma Thuột thất thủ nhanh nằm ngoài cả dự kiến của ta?”, Trung tướng Đàm Văn Ngụy nói ngay: “Lý do có nhiều, nhưng quan trọng nhất là ta nghi binh quá giỏi nên địch quá bất ngờ…”. Đúng như lời ông, ngay sau thất bại ở Buôn Ma Thuột, một tờ báo phương Tây đã bình luận rằng: “Chỉ trong vài ngày, bản đồ quân sự và chính trị của Việt Nam bị đảo lộn lung tung. Chỉ cần một trận – trận Buôn Ma Thuột đã khiến cho từng mảng lớn cấu trúc do chế độ Nguyễn Văn Thiệu dựng lên sụp đổ một cách chẳng vinh quang gì”.

Quân Giải phóng làm chủ sân bay Hòa Bình, thị xã Buôn Ma Thuột.

Theo phân tích của Trung tướng Đàm Văn Ngụy, quân và dân ta đã giành chiến thắng sớm ở Buôn Ma Thuột là nhờ chúng ta đã giành được thế chủ động tiến công chiến lược áp đảo địch trên khắp các chiến trường và đã đứng vững trên những địa bàn trọng điểm. Chính điều này đã khiến cho quân địch ở đâu cũng bị uy hiếp, ở đâu cũng bị đe doạ, lo sợ Quân giải phóng sẽ tiến công bất cứ lúc nào. Do vậy, địch buộc phải căng kéo lực lượng ra lo đề phòng ở khắp mọi nơi. Lực lượng của địch mặc dù rất lớn nhưng do phải phân tán nên ngay cả khi biết rõ hướng tiến công của ta chúng cũng không còn lực lượng để tăng cường, thậm chí do quá lo sợ, lại rơi vào kế nghi binh của ta nên quân địch không dám rút quân ở nơi khác đến tăng viện. Chúng bán tín, bán nghi rằng: Biết đâu chính nơi rút quân lại là nơi bị Quân giải phóng tiến đánh. Ngay cả khi tiến hành một cuộc phản kích lớn nhằm mục đích chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận, phải đối đầu với 3 sư đoàn mạnh của ta nhưng địch cũng chỉ thu gom được một liên đoàn biệt động quân lên tăng cường cho Tây Nguyên… Chỉ một vài nét như vậy đã đủ thấy quân địch phải căng kéo lực lượng ra để… hứng chịu từng đòn đánh của Quân giải phóng mà đòn nào cũng mạnh như trời giáng.

Theo Trung tướng Đàm Văn Ngụy, giải phóng được Buôn Ma Thuột, quân và dân ta đã chiếm được chiếc chìa khoá để mở cửa giữa lòng Tây Nguyên. Đây cũng chính là bàn đạp để ta tiếp tục mở rộng, tăng cường khả năng tác chiến trên chiến trường phía Đông và Đông Nam, tạo thành thế uy hiếp đối với chiến trường Đông Nam Bộ và Sài Gòn. Đồng thời, từ Buôn Ma Thuột ta phát triển chiến đấu lên Plei-ku, Kon Tum, cắt Đường 19 và Đường 7. Sau khi quân ta giải phóng Buôn Ma Thuột, quân địch trên địa bàn 2 tỉnh phía Bắc Tây Nguyên chẳng khác nào “cá nằm trên thớt”. Mất Buôn Ma Thuột là mất hoàn toàn hậu cứ nên binh lính thuộc Quân đoàn 2 và Sư đoàn 23 nguỵ như cây bị chặt mất gốc, tinh thần binh lính vốn đã xuống thấp ngày càng thêm hoang mang, lo sợ.. v.v… Đó chính là những lý do khiến quân địch bị tiêu diệt và tan rã nhanh chóng.

Ngoài nghệ thuật nghi binh tài tình, khiến quân địch hoàn toàn bị bất ngờ cả về chiến dịch và cách đánh, theo cách đặt vấn đề của Trung tướng Đàm Ngụy cũng có một lý do là trong nhiều năm, thông qua công tác địch vận, quân và dân Tây Nguyên đã hình thành trong đám nguỵ quân, nguỵ quyền một suy nghĩ mang tính định kiến rằng: Quân đội cách mạng muốn thay đổi được tình hình và chiếm cả chiến trường rừng núi trọng yếu này thì chỉ có một cách là đánh Plei-ku, Kon Tum chứ không thể chọn nơi nào khác… Từ suy nghĩ sai lầm đó, quân địch rất chủ quan, sơ hở trong chuẩn bị đối phó trên hướng Buôn Ma Thuột mà chỉ tập trung lo phòng ngự trên hướng Pleiku, Kon Tum. Mặt khác chúng cũng rất chủ quan trong đánh giá khả năng tác chiến mới, khả năng đánh lớn, sự linh hoạt, biến hoá sáng tạo của Quân giải phóng… Sai lầm trong đánh giá đối phương đã khiến địch hoàn toàn bị bất ngờ. Quân ta nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Buôn Ma Thuột đó là kết quả được tạo bởi nhiều yếu tố. Nhưng không thể không nói tới nghệ thuật nghi binh tài tình và khả năng khai thác triệt để những sai lầm của địch để đánh vào những nơi hiểm nhất, yếu nhất của chúng.

Tình hình nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đã có những phát triển mới, chiến tranh trong tương lai sẽ là chiến tranh công nghệ cao, nhưng theo Trung tướng Đàm Văn Ngụy, bài học kinh nghiệm về nghệ thuật nghi binh lừa địch, tạo yếu tố bất ngờ vẫn còn nguyên giá trị. Việc tiếp tục nghiên cứu, kế thừa, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm trong trận Buôn Ma Thuột – mở màn Chiến dịch Tây Nguyên vào công tác huấn luyện chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của quân đội ta trong giai đoạn cách mạng mới là rất cần thiết.

Nhóm PV Quốc phòng – An ninh
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Trận mở màn mang tầm chiến lược

2 giờ sáng 10-3-1975, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Trung đoàn đặc công 198 bất ngờ nổ súng tiến công khu kho Mai Hắc Đế, sân bay thị xã Buôn Ma Thuột và hậu cứ Trung đoàn 53 ngụy, mở đầu cho Chiến dịch Tây Nguyên. 11 giờ ngày 11-3, Sư đoàn 316 và các lực lượng phối thuộc đã bắt sống Bộ chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy. Ta làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột sau 32 giờ tiến công dũng mãnh… Trong ký ức hai vị tướng, nguyên là những cán bộ trực tiếp chỉ huy, chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên mà chúng tôi đã gặp, khí thế “Thần tốc – Quyết thắng” 35 năm về trước như vẫn chưa hề nguôi.

Ngôi nhà của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên nằm khiêm nhường phía sau đường Hoàng Hoa Thám. Ông đã hơn 80 tuổi. Suốt 35 năm qua ký ức về trận mở màn, về Chiến dịch Tây Nguyên vẫn còn nóng hổi trong ông. Giọng xứ Nghệ rõ ràng, khúc chiết, ông khẳng định:

– Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên mang tầm chiến lược, vượt qua cả ý nghĩa thắng lợi của một chiến dịch bởi nó tạo bước ngoặt quan trọng cho giai đoạn kết thúc chiến tranh. Thế trận phòng ngự của địch bị phá vỡ, tạo sự chia cắt giữa đồng bằng với Tây Nguyên, uy hiếp trực tiếp Nam Bộ. Chính từ thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, ta quyết định chuyển nhanh thời gian Tổng tiến công chiến lược trong mùa khô 1975. Thắng lợi này cho thấy khả năng hạ quyết tấm chiến lược là sự quyết đoán, sáng tạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương…

Quân giải phóng làm chủ sân bay Hòa Bình, thị xã Buôn Ma Thuột

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhắc lại những ngày tháng không thể nào quên. Tháng 9-1974, khi đang là Tham mưu phó mặt trận, ông được vinh dự ra Hà Nội trực tiếp gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng nhận nhiệm vụ chuẩn bị mở chiến dịch. Trở lại Tây Nguyên, ông cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh xây dựng kế hoạch. Nhớ lại những ngày đó, đôi mắt ông dường như ngấn lệ khi nhắc tới các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lúc đó mà ông gọi là “những người thầy, người anh” như Chu Huy Mân, Hoàng Minh Thảo, Vũ Lăng, Đặng Vũ Hiệp… Ông nói: “Ngày ấy chúng tôi chỉ ngủ ngồi, ngày đi trinh sát, đêm về chụm đầu vào nhau dưới hầm bàn bạc công việc chứ không phải “việc của ai người ấy lo”. Ai biết việc gì, giúp đỡ nhau việc ấy, tất cả đều náo nức, tràn đầy quyết tâm cho trận đánh mở màn. Trong tổ chức và thực hành Chiến dịch Tây Nguyên, chúng ta đã kế thừa, phát huy cao độ nghệ thuật tạo thế, nghi binh và lừa địch-điều mà khi đã thất bại, đối phương buộc phải “tâm phục, khẩu phục”.

Ông kể lại: Để tạo bí mật, bất ngờ cho chiến dịch, từ đầu năm 1975, bộ đội chủ lực của ta ở Tây Nguyên đã tiến hành kế hoạch nghi binh rất tài tình. Để thu hút sự chú ý, đối phó của địch ở Bắc Tây Nguyên, Sư đoàn 968 đánh tiêu diệt chốt Mỹ, Đồn Tám và một số cứ điểm ở phía Tây Plei-cu, uy hiếp quận lỵ Thanh An, căn cứ Thanh Bình. Ở phía Đông An Khê, Sư đoàn 3 đánh cắt đường 19 và một số vị trí của địch từ An Khê đến Bình Khê… Vì vậy, cho đến đầu tháng 3-1975, địch chưa phát hiện ta sẽ tấn công Buôn Ma Thuột. Chúng còn đưa Trung đoàn 45 ở Đắc Lắc ra Plei-cu đối phó với chủ lực của ta ở Bắc Tây Nguyên. Thế trận tiến công nhờ vậy gặp thuận lợi… Vào 2 giờ ngày 10-3, quân ta bắt đầu tiến công Buôn Ma Thuột. Ngày 11-3-1975, bộ binh, xe tăng, trọng pháo của ta tập trung đánh mạnh vào Sư đoàn 23 của địch. Chúng chống trả quyết liệt nhưng gần 11 giờ, ta đã làm chủ các mục tiêu, bắt sống tên Tỉnh trưởng Đắc Lắc và tên Sư đoàn phó Sư đoàn 23, làm chủ hoàn toàn thị xã.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước kể nhiều về những chiến sĩ trực tiếp cầm súng trên chiến trường. Đó là những cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 316, Sư đoàn 10, Trung đoàn 198, Trung đoàn 25… Họ đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, mưu trí. Được quân và dân các dân tộc trên địa bàn hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi, họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của chiến dịch. Đó là nền tảng để cả dân tộc ta giành thắng lợi trọn vẹn vào ngày 30-4-1975.

Chúng tôi đến căn nhà số 5C, B11 ngõ 34A Trần Phú, Hà Nội gặp và hỏi chuyện Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên. Tuổi đã ngoài 80, mái tóc trắng như cước, nhưng vị tướng già vẫn khoẻ mạnh, minh mẫn… Rót chén trà xanh mời khách, rồi ông tâm sự:

– 35 năm đã trôi qua nhưng những kỷ niệm chiến thắng Buôn Ma Thuột trong tôi không lúc nào phai mờ. Tháng 8-1974, tôi đang giữ cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 thuộc Sư đoàn 320 thì được trên điều động về làm Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên. Cảm giác của tôi lúc đó thật đặc biệt. Tôi vinh dự ở bộ phận xây dựng kế hoạch tác chiến của Chiến dịch Tây Nguyên (mang tên “Kế hoạch chiến dịch 275”) trong đó có kế hoạch nghi binh, lừa địch. Để giữ bí mật tuyệt đối, chỉ có đồng chí Vũ Lăng – Phó tư lệnh Mặt trận Tây nguyên được biết kế hoạch này. Trong khi ta điều 2 sư đoàn chủ lực là Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 từ Bắc Tây Nguyên xuống

Nam Tây Nguyên, điều Sư đoàn 316 từ miền Bắc vào Nam Tây Nguyên để chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột thì đối phương vẫn tin rằng ta sẽ đánh vào Bắc Tây Nguyên, vì vậy phần lớn quân chủ lực của chúng bị thu hút và giam chân ở đây… Chiến thắng Buôn Ma Thuột là một trận đánh đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân thắng lợi, ngoài sự chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng, còn là do ta áp dụng thành công nghệ thuật nghi binh, lừa địch trên chiến trường. Chúng ta đã rất sáng tạo trong cách đánh, tung ra đòn rất “hiểm”, tập trung lực lượng đột kích mạnh đánh thọc sâu vào sở chỉ huy khiến địch hoàn toàn bất ngờ. Ngoài ra, ta còn có phương án và tổ chức đánh địch phản kích kịp thời.”

Nhớ lại Chiến dịch Tây Nguyên và trận mở màn Buôn Ma Thuột ngày ấy, cả hai vị tướng đều cho rằng: Quyết tâm chiến lược và sự lựa chọn đúng thời cơ lịch sử, chọn đúng điểm quyết chiến chiến lược, tập trung cao độ binh, hỏa lực khi tiến công, có cách đánh linh hoạt, tài tình, chia cắt địch từ xa, hiệp đồng binh chủng chặt chẽ, tấn công địch liên tục bằng các trận then chốt… là những bài học lớn về nghệ thuật quân sự còn nguyên giá trị cho chúng ta hôm nay và mãi mãi về sau.

Nhóm PV Quốc phòng – An ninh
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Nhớ lại trận then chốt chiến dịch

Thượng tướng, giáo sư Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, sinh năm 1921 tại làng Cao, xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình thợ may, cha là Tạ Quang Khai, mẹ là bà Nguyễn Thị Tành.

Cũng như bao nhiêu thanh niên Việt Nam giác ngộ thời đó, ông rời quê hương đi tham gia cách mạng từ năm 1937, hoạt đông ở Lạng Sơn. Từ năm 1941 đến năm 1944 ông được Bác Hồ cử đi học quân sự tại trường Tây Cán Bang ở Liễu Châu, Trung Quốc. Trở về nước tham gia Cách mạng Tháng Tám rồi trở thành Tư lệnh Chiến khu 3 (1945-1946), Tư lệnh Chiến khu 4 (1948-1950). Năm 1950, ông làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, năm 1954 ông được bổ nhiêm làm Hiệu trưởng Trường Quân chính.

Ông là người đam mê đánh giặc bằng mưu kế, thế trận điển hình là chiến dịch Đắc Tô 1 (1967) chiến dịch Đắc Xiêng (1970), chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh (1972), chiến dịch Tây Nguyên mà ông đều làm tư lệnh là đỉnh cao về nghệ thuật đánh giặc bằng mưu kế của ông. Và, ông luôn tạo ra được niềm tin cho những sĩ quan và chiến sĩ của mình.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” viết: “Trong một buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là một thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân, thiếu nước”.

… Nội dung dưới đây trích giai đoạn đầu của trận then chốt chiến dịch Tây Nguyên, trận Buôn Ma Thuột, theo cuốn “Chiến đấu ở Tây Nguyên” của cố giáo sư Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên năm 1975

Chiều 9 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: “Tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột”. Và các đồng chí lãnh đạo của địa phương cũng nhận được thông báo về quyết tâm này

Khoảng 16 giờ ngày 9 tháng 3, bộ đội tiến công Buôn Ma Thuột bắt đầu rời khu vực tập kết để chuyển lên tiến công, khoảng cách vận động của các đơn vị không đồng đều, đơn vị xa khoảng 25km, còn đơn vị gần nhất cũng phải 10km. Khó khăn nhất là các đơn vị vượt qua sông Sêpêrốc, nhất là bộ đội pháo binh, phòng không cơ giới và bộ đội xe tăng.

Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tổ chức chỉ huy và điều hành chặt chẽ suốt quá trình cơ động và triển khai của bộ đội. Cả mười hai Trung đoàn bộ binh và binh chủng cùng lúc vận động và triển khai trên 5 hướng tiến công trong một giai đoạn rất phức tạp của quá trình chuyển sang tiến công. Để đảm bảo bí mật, từ 2 giờ sáng ta đã cho các đội đặc công và pháo phản lực mang vác đánh trước để thu hút sự chú ý của địch vào đó, đánh lừa chúng và che giấu hành động của ta và bảo đảm cho quân của ta triển khai tiến công.

Đêm nay mồng 9 tháng 3, trên bầu trời Buôn Ma Thuột đầy sao. Ngoài vài loạt súng nổ vu vơ, thị xã vẫn dường như yên tĩnh như mọi đêm. Nhưng với chúng tôi, nó là một đêm dài đáng nhớ, vì hàng vạn anh em cán bộ, chiến sĩ chúng tôi hầu như không ngủ để chuẩn bị vào trận đánh quyết định. Trong sở chỉ huy chiến dịch, mọi người nóng lòng chờ đường dây thông tin bắc qua sông Sê-rê-pốc nối với sở chỉ huy phía trước ở bắc thị xã, để nắm lại tình hình cánh quân phía bắc. Hai mũi đặc công luồn vào thị xã và đặc biệt là Trung đoàn 198 phải vòng sang phía đông để đánh sân bay Hoà Bình vẫn chưa liên lạc được. Trận địa pháo DKB ở phía bắc thị xã đã sẵn sàng chưa. Trong khi đó dốc nam ngầm Kơ Mua vẫn còn chờ súng nổ mới mở được. Các bến phà trên sông Sê-rê-pôc đang chờ tiếng súng mới khai thông.

Không khí làm việc trong sở chỉ huy diễn ra hết sức căng thẳng và sôi động. Các máy điện thoại réo liên hồi, mỗi người mỗi máy liên tục nhận tin, rồi truyền lệnh tới các đầu mối. Các mũi tên trên bản đồ tác chiến nhích dần về hướng thị xã Buôn Ma Thuột theo sự chuyển động của các mũi tiến quân. Chiếc kim đồng hồ đã nhích qua con số 12 và tiến dần sang con số 1.

Việc giữ bí mật để tiến công Buôn Ma Thuột một cách nhịp nhàng theo đúng kế hoạch, đúng thời gian, địa điểm, đúng hướng, đúng mũi, đúng mục tiêu của một lực lượng lớn các binh đoàn binh chủng hợp thành gồm bộ binh, đặc công, công binh, thông tin, pháo binh, xe tăng, vận tải và các đơn vị hậu cần, v..v…là một việc rất phức tạp. Muốn vậy, yêu cầu về tổ chức và chỉ huy phải rất chặt chẽ, yêu cầu về tinh thần trách nhiệm và kỷ luật của từng đơn vị và cá nhân phải rất cao. Nếu không bộ đội không thể hiệp đồng ăn khớp, nhịp nhàng được, kẻ địch sẽ phát hiện sớm và xử trí, đối phó, làm cho ta giảm mất chủ động, bất ngờ. .

Quân ta tập kết cách thị xã Buôn Ma Thuột khoảng từ 15-20 km. Xe tăng ở cách xa 25-35 km, có bộ phận ở xa tới 40 km. Ở cự ly này, bắt đầu từ buổi chiều và trong đêm. Riêng các mũi tiến quân của bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ và hậu cần phải vượt qua sông Sê-rê-pốc ở phía tây và tây- nam gặp nhiều khó khăn, phức tạp hơn do phải vượt sông và đi xa hơn. Nhưng cuối cùng, do tổ chức hiệp đồng và bảo đảm tốt nên nhìn chung, các binh đội phân đội được vận động và triển khai đúng theo kế hoạch đã đề ra.

Ngày 10 tháng 3 đã bắt đầu.

Đúng 2 giờ (có chênh lệch từ 5-10 phút) khi đặc công và pháo binh của ta bắt đầu nổ súng vào giữa lòng thị xã, thì xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, của ta bắt đầu vượt sông Sê-rê-pốc, cùng các đơn vị, các binh chủng trên các hướng, các mũi theo thứ tự tiến vào vị trí triển khai chiến đấu.

Đúng 2 giờ 03 phút ngày 10 tháng 3 các đội 1, 9, 18 Trung đoàn 198 Đặc công đã nổ súng tiến công sân bay thị xã. 3 giờ 30 đơn vị đã làm chủ phần lớn sân bay. Nhưng ở góc đông bắc sân bay, 1 đại đội biệt kích của địch vẫn còn bám công sự chống trả.

2 giờ 10, Trung đoàn 198 đặc công tiến công và làm chủ sân bay Hoà Bình và đánh vào căn cứ Trung đoàn 53. Quân địch trong căn cứ đã tổ chức phản kích quyết liệt, đánh bật ta ra ngoài.

2 giờ 16, đội 2 Trung đoàn 198 Đặc công đánh chiếm và làm chủ khu kho Mai Hắc Đế.

Tiến công sân bay

Phối hợp với bộ đội đặc công, 2 giờ 10 các trận địa tên lửa H12 và DKB bắt đầu bắn phá hoại căn cứ Sư đoàn bộ 23 và kéo dài từng đợt đến 6 giờ 30 sáng.

Tiếng bộc phá của đặc công và tiếng nổ của đầu đạn tên lửa làm rung chuyển Buôn Ma Thuột. Đèn trong thị xã vụt tắt. Nhiều đám cháy trong thị xã bùng lên.

Sau một lúc bàng hoàng, Vũ Thế Quang đã nhận định tình hình: “Cộng sản chỉ dùng pháo và đặc công đánh thị xã, đến sáng họ sẽ rút”. Và Quang đã ra lệnh cho các đơn vị phải chống cự đến cùng.

Lúc này ở Plâyku, Phạm Văn Phú cũng đã được đánh thức dậy với cái tin sét đánh: “Buôn Ma Thuột đã bị tiến công”.

Về phía ta, lợi dụng tiếng nổ trong thị xã, các đơn vị xe tăng, pháo cơ giới, pháo cao xạ, đã nhanh chóng tiến lên chiếm lĩnh tuyến tiến công.

Theo lệnh của Bộ, tiếng súng tiến công vào Buôn Ma Thuột là hiệu lệnh hiệp đồng về giờ “G” và ngày N của toàn miền Nam. Do vậy, đêm nay cùng với Buôn Ma Thuột, các Mặt trận khác cũng đã tiến công vào nhiều mục tiêu khác của địch khiến cho quân địch cùng bị động lúng túng.

Khi đặc công và pháo binh ta nổ súng đè đầu quân địch xuống và bắt chúng phải đối phó một cách bối rối, thì xe tăng và các binh chủng cơ giới của quân ta bật đèn sáng trong đêm, mở hết tốc lực chạy trên đường quân sự làm gấp và dũng mãnh tiến thẳng, tiến mạnh về các mục tiêu chiến đấu đã được xác định ở vị trí xuất phát tiến công.

Trời dần hửng sáng. Những làn sương mù vẫn còn bao trùm lên thị xã. Các trận địa pháo và xe cơ giới đã sẵn sàng, nhưng các đài quan sát chưa nhận rõ mục tiêu nên phải tạm hoãn giờ pháo bắn chuẩn bị lại.

Đúng 5g30. Cùng lúc với bộ binh và xe tăng chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công. Một bất ngờ không phải không đáng kể là lúc đầu trời mù, chúng ta đã không nhìn thấy các mục tiêu để xác định ngay kết quả xạ kích một cách chính xác. Nhưng rồi tầng mù cũng xua nhanh và trời sáng rõ dần.

Trận pháo bắn chuẩn bị thực sự bắt đầu từ 7g00. Tiếng nổ đầu nòng lẫn với tiếng nổ của đạn phá, rồi tất cả đập vào vách núi từ bốn hướng đã tạo nên cả một biển triều không dứt những âm hưởng đặc trưng của chiến tranh. Từ sở chỉ huy chiến dịch cách Buôn Ma Thuột 9km đường chim bay có thể nghe rõ cả tiếng nổ hỗn độn của các kho đạn địch bị cháy và tiếng phản pháo yếu ớt của chúng.

Tôi thấy gì lúc đó? Phải, chưa bao giờ trong hơn ba mươi năm cầm súng – cho đến lúc ấy – tôi đã tham gia một trận đánh mà trong đó lực lượng pháo binh của chúng ta lại hùng hậu và áp đảo như vậy, áp đảo? Đúng thế, tỷ lệ so sánh là gần 5 trên 1 trong trận mở đầu. Nhưng số lượng không nhất thiết là yếu tố quyết định. Ở Điện Biên Phủ, chúng ta chỉ có 24 khẩu pháo mà vẫn giành được ưu thế hoả lực khiến tư lệnh pháo binh Pi-rốt lúc đó phải tìm đường tự vẫn để biểu thị sự bất lực một cách “khảng khái” nhất. Vậy thì vấn đề quyết định bao giờ cũng là ở cách sử dụng.

Trận pháo bắn chuẩn bị kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ đã làm tê liệt quan trọng sức đề kháng của địch. Chưa bao giờ chúng ta có dồi dào đạn pháo đến như vậy, chúng ta có dồi dào đạn pháo không chỉ do sự chi viện của trên mà còn do chúng tôi đã sử dụng tiết kiệm trong những năm 1973, 1974. Hầu hết đạn pháo sử dụng trong thời kỳ đó là cỡ 105mm và 155mm lấy được trong các kho của địch hồi năm 1972 và cả những năm tiếp theo, mà các chiến sĩ pháo binh Tây Nguyên thường gọi đùa là đạn “lương khô”.

Khi các cỡ pháo chuyển sang bắn chi viện, từ các hướng, bộ binh và xe tăng ta dũng mãnh tiến lên xung phong đánh chiếm các mục tiêu đã được hiệp đồng.

Lúc này mà Vũ Thế Quang còn đang ngủ ở nhà riêng. Y thức dậy gọi hỏi khắp nơi rồi tự lái xe đến trung tâm chỉ huy. Tin đầu tiên Võ Ân báo là đơn vị của hắn đang bị đánh mạnh, bộ binh của đối phương đã tràn vào một phần căn cứ B50. Tiếp đó đài quan sát cũng báo về bộ binh, xe tăng đối phương áp sát khu Mai Hắc Đế, sân bay thị xã và nhiều nơi rìa thị xã. Được tin ấy, Quang hốt hoảng, bối rối ra lệnh cho Nguyễn Trọng Luật đưa quân địa phương ra chặn giữ các ngả đường vào thị xã, điều 1 đại đội và 4 xe M113 ra chốt ở Ngã Sáu.

Quang còn nhắc sĩ quan điều không tập trung hướng dẫn cho máy bay oanh tạc ngăn chặn đối phương và yểm trợ cho các mũi phản kích. Quang điện xin Lê Trung Tường chi viện thì Tường cho biết, bộ chỉ huy còn đang tập trung đối phó ở Kon Tum và Plâyku, ý của tư lệnh nhắc Quang ráng giữ thị xã trong vài ngày là tình hình sẽ ổn, Việt Cộng không đủ sức kéo dài cuộc chiến.

Đến 7giờ 15 phút, sương mù tan dần, các mục tiêu đã hiện lên rõ ràng. Hai cụm pháo binh của hai Trung đoàn chiến dịch là Trung đoàn pháo binh 40 và 675 trút bão lửa liên tiếp trong 60 phút xuống ba mục tiêu chính là sở chỉ huy Sư đoàn 23, tiểu khu Đắc Lắk và khu pháo binh, thiết giáp.

Trên không trung, máy bay địch xuất hiện và đánh vào các trận địa pháo của ta. Chúng đã bị hai Trung đoàn cao xạ 234 và 232 nổ súng đánh trả quyết liệt.

Trong khi đó các cụm pháo chiến dịch, các cụm pháo của Sư đoàn tiến hành hoả lực bắn vào căn cứ sở chỉ huy Sư đoàn 23, tiểu khu, khu pháo binh, thiết giáp. Ngay loạt đạn đầu, ta đã bắn trúng sở chỉ huy tiểu khu. Đại tá Nguyễn Trọng Luật phải tháo chạy về sở chỉ huy của Vũ Thế Quang. Lợi dụng kết quả hoả lực sát thương địch, bộ binh lên chiếm lĩnh tuyến chuyển sang xung phong.

Trên hướng đông bắc thị xã

7giờ 00 ngày 10 tháng 3, lợi dụng đòn đánh của đặc công chiếm sân bay thị xã, Trung đoàn bộ binh 95B được bộ đội đặc công bảo đảm và một đồng chí trong đội công tác dẫn đường thực hành mở cửa đã đưa Tiểu đoàn 5 tiến vào đánh chiếm Ngã Sáu. Ở hướng đông bắc này do Trung đoàn 95B đảm nhiệm, tình hình có khác một chút. Cũng xin nói thêm rằng, đây là đơn vị được tăng cường cuối cùng theo yêu cầu của chúng tôi, một đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong trận đánh thị xã Quảng Trị năm 1972, phía địch rất để ý đến Trung đoàn này, đến chiến trường mới được 20 ngày nhưng lại phải phát triển trên hướng chủ yếu của trận mở đầu then chốt. Trung đoàn không gặp nhiều khó khăn khi đột phá, đánh chiếm mục tiêu đầu khá nhanh nhưng phải trụ lại trong nhiều giờ để đánh bại các đợt phản kích địch.

Địch đã chống trả quyết liệt. Máy bay địch ném bom ngăn chặn bộ đội tiến công. Bộ binh địch được xe tăng chi viện đã phản kích đẩy lùi Tiểu đoàn 5 ra khỏi Ngã Sáu. Trung đoàn 95B đưa tiếp Tiểu đoàn 4 có tăng cường 4 xe tăng bước vào chiến đấu. Cuộc tranh chấp ở Ngã Sáu diễn ra gay go, ta bắn cháy xe tăng của địch, bộ binh địch rút chạy. Tiểu đoàn 4 đã chiếm và làm chủ Ngã Sáu.

Tiếp đó, Trung đoàn 95B tiến theo đường 14 liên tục phát triển tiến công đánh chiếm từng góc phố, căn nhà. Đến 15 giờ 30 Trung đoàn 95B ngoan cường tiến đến mục tiêu quan trọng đã được xác định là cơ quan tiểu khu quân sự Đắc Lắc. Và dinh tỉnh trưởng Đắc Lắc. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, một xe tăng của ta đã bị địch bắn cháy ngay trước cổng tiểu khu, nhưng ngay sau đó quân ta ào ạt xung phong và đánh chiếm được khu vực này.

Đến 17 giờ 00 theo yêu cầu của đơn vị đặc công. Trung đoàn 95B đã sử dụng 3 xe tăng quay lại tiêu diệt đại đội biệt kích còn lại ở sân bay thị xã.

(Về sau này, vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, Trung đoàn 95B là một mũi thọc sâu đánh địch ở ngã ba Dầu Giây, đánh cao điểm 396 góp phần làm tan rã quân địch ở Xuân Lộc).

Trên hướng tây bắc thị xã, Trung đoàn 148 tiến công từ hướng tây bắc đã phải đột phá qua cả một trung tâm bố phòng của căn cứ Trung đoàn thiết giáp và trận địa pháo binh địch. Bọn chúng tuy bị bất ngờ nhưng đã nhanh chóng củng cố lại trận địa phòng ngự có sẵn. Bộ đội ta gặp nhiều tổn thất nhưng vẫn anh dũng tiến lên.

7 giờ 00, Trung đoàn 148 đã chiếm xong cao điểm Chư Esua, tiêu diệt bộ phận bảo an ở đó. Theo kế hoạch thì cao điểm này được đánh chiếm vào lúc 2 giờ 00, nhưng vì bộ đội đi lạc, nên gần sáng mới đánh chiếm được.

Trung đoàn 148 có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực pháo binh, thiết giáp. Nhưng do đưa pháo bắn thẳng vào chậm, nên đến 10 giờ mới bắt đầu đột phá trận địa địch. Quân đích đã kịp tổ chức đối phó, ngăn chặn bộ phận mở cửa. Đội mở cửa bị thương vong, cửa mở không sạch, đội hình bộ đội xung phong bị ùn lại trước của mở. Trước tình hình đó, đồng chí đội trưởng bộc phá đã anh dũng ôm bộc phá vượt qua làn đạn địch xông lên mở thông cửa mở, tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng xung phong đánh chiếm trận địa địch.

Đến 13 giờ 30, Trung đoàn 148 đã chiếm và làm chủ khu pháo binh, khu thiết giáp và hậu cứ Trung đoàn 45 nguỵ. Tiếp đó, Trung đoàn đã phát triển tiến công thao trường Phan Bội Châu, tiêu diệt một bộ phận địch ở chùa Bồ Đề và tiến đến Ngã Sáu bắt liên lạc với Trung đoàn 95B.

Trên hướng tây nam thị xã

Các chiến sĩ tiến giữa một liên hợp kho tàng dài gần 2km được mệnh danh là Mai Hắc Đế mà địch vốn đã triển khai các hình thức bảo vệ chặt chẽ. Bốt canh dày chi chít là những điểm tựa khống chế cả một dải hành lang phát triển của bộ đội ta.

Hồi 7 giờ, địch dùng 2 xe M113 và 2 xe GMC chở đầy lính ra để phản kích hòng chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế. Đội 2 đặc công phối hợp với một bộ phận của Trung đoàn 179 đã đánh bại phản kích của địch, giữ vững khu kho.

Cùng lúc, Trung đoàn 174 được phối thuộc đại đội xe tăng tiến công vào thị xã. Tiểu đoàn 2 đã đánh chiếm cao điểm Chư Dluê. Tiểu đoàn 1 đánh vào khu kho xăng của Sư đoàn 23, nhưng địch đã đưa quân ra phản kích. Tiểu đoàn 1 dừng lại. Trung đoàn trưởng đưa tiếp Tiểu đoàn 3 và xe tăng bước vào chiến đấu, chiếm toàn bộ kho xăng và khu vực các đại đội trực thuộc của Sư đoàn 23 ở Nam đường 429.

Trên hướng tây thị xã

Mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Tiểu đoàn 4 theo đường 429 tiến vào sở chỉ huy Sư đoàn 23. Chiếc xe tăng dẫn đầu bị sụp lầy, đội hình bị ùn lại, máy bay địch oanh tạc vào đội hình. Đồng chí tiểu đoàn trưởng đã hy sinh, đồng chí tiểu đoàn phó Bùi Văn Bịn lên thay tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh vào khu quân y và khu truyền tin.

Địch tung quân ra phản kích liên tục. Bộ phận thọc sâu đánh trả địch, giữ vững khu đã chiếm. Đồng thời báo cáo nhầm về trên là đơn vị đã chiếm xong sở chỉ huy Sư đoàn 23. Bởi vì qua làn sóng điện, sở chỉ huy chiến dịch biết rõ rằng Vũ Thế Quang, đại tá tư lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột còn ở sở chỉ huy và vẫn còn liên lạc thông tin với Phạm Văn Phú.

Để kiểm tra lại, Bộ tham mưu chiến dịch đã phái một số cán bộ đi đến tận nơi để xác minh thì thấy rằng mũi thọc sâu còn ở vòng ngoài, chưa đến trung tâm sở chỉ huy. Sau đó đoàn đã hiệp đồng lại cho trận đánh vào sáng hôm sau.

Mặc dù một phần lực lượng xe tăng tiến trên hướng này phải nằm lại dọc đường, máu đổ nhiều, tiểu đoàn trưởng hy sinh, chính trị viên tiểu đoàn hy sinh, bộ đội thọc sâu vẫn tạo thành một mũi khoan nhanh và hiểm vào gần trung tâm địch. Trên hướng nam thị xã

Khi đặc công bắt đầu nổ súng trong thị xã, Trung đoàn 149 vẫn cách thị xã khá xa, nên bộ đội phải chạy thật nhanh vào để kịp giờ. Con suối Ea Tam nước lớn và chảy xiết, Trung đoàn phải tổ chức vượt qua. Địa hình phía nam toàn là nương rẫy trống trải, máy bay địch phát hiện đã oanh tạc vào đội hình của Trung đoàn. Một bộ phận đã bám sát đường số 14, địch chống trả quyết liệt, Trung đoàn phải tạm dừng ở đó chưa chiếm được các mục tiêu đã qui định.

Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 174 được đội công tác dẫn đường, hồi 7giờ 30 đã tiến đến quận lỵ Hoà Bình và triển khai tiến công địch. Đến 11 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 9 đã chiếm được quận lỵ. Lợi dụng tiếng súng tiến công của bộ đội, anh em tù nhân đã phá cửa ngục chạy thoát ra ngoài 350 người.

Hoả lực pháo binh địch đã bị hạn chế do hình thái xen kẽ địch, ta trong thành phố, song để bù lại, chúng sử dụng tối đa lực lượng không quân có thể huy động được. Máy bay địch dội bom, vãi đạn cố bịt các đầu cầu, nhất là trên các hướng tây bắc, đông-bắc, đông nam nhưng cũng đã vấp phải hoả lực mãnh liệt của bộ đội phòng không theo sát bộ binh.

Trong ngày, địch đã sử dụng 73 lần chiếc máy bay đánh vào đội hình tiến công của ta và ném bom tràn vào đường phố, khu dân cư, gây thương vong cho một số dân.

Mặc dù rất hốt hoảng nhưng địch vẫn ngoan cố cho rằng, tốc độ tiến công của ta cũng như mùa xuân năm 1968. Nên nếu chúng trụ lại được 3-4 ngày thì chúng có thể đẩy lùi ta ra khỏi thị xã và phôi phục lại phòng ngự.

Còn Phạm Văn Phú đến lúc này đã hiểu rõ chỉ có những binh đoàn chủ lực mới có xe tăng, có xe tăng là đánh lớn rồi. Sau khi nhận được nguồn tin xe tăng của ta xuất hiện ở Ngã Sáu thị xã Buôn Ma Thuột, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Phạm Văn Phú: “Phải tử thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá và đưa ngay Sư đoàn 23 về cứu nguy”.

Phú đã yêu cầu Vũ Thế Quang cố giữ thị xã 2-3 ngày để chúng đưa Sư đoàn 23 về cứu Buôn Ma Thuột. Vũ Thế Quang ra lệnh điều Liên đoàn biệt động quân 21 từ Đạt Lý về tăng cường phòng thủ cho sở chỉ huy. Nhưng Liên đoàn biệt động quân 21 chỉ về đến đông suối Ea’tam, lẩn quẩn ở đó, rồi sau đó lại chuồn thẳng về phía đông thị xã.

Bộ Tư lệnh chiến dịch trên cả hai sở chỉ huy cơ bản và phía trước đã theo dõi chặt chẽ các tình huống diễn biến. Nhưng chính lúc trận đánh đang diễn ra ác liệt trong thị xã thì nhãn quan chiến dịch đã buộc chúng tôi một mặt vẫn phải hết sức chú ý đến nó, mặt khác bỏ qua nó để nhìn đến toàn cục. Trinh sát cho biết chưa thấy có động tĩnh quan trọng của địch trong phạm vi toàn Quân khu 2. Tôi yêu cầu các đồng chí thông qua bộ phận tham mưu của cơ quan đại diện chiến lược để tìm hiểu thêm tình hình địch ở cả Miền Nam và sự phối hợp tác chiến của các chiến trường bạn.

Riêng trong phạm vi Tây Nguyện, vào hồi 15g00, chúng tôi đã được tin địch quyết định điều liên đoàn biệt động quân số 21 ở ngoại vi đông bắc vào phản kích hòng chiếm lại một số mục tiêu quan trọng đã mất trong thị xã. Nhưng lực lượng ô hợp này, rõ ràng sợ bị chung đòn trước cuộc tiến công như vũ bão của ta, vẫn chần chừ chưa dám tiến.

Ở Plâyku, Trung đoàn bộ binh số 45 được lệnh cấm trại để sẵn sàng đổ bộ trực thăng xuống vùng Buôn Ma Thuột. Nhưng tin tức đó không có gì đặc biệt, địch tất nhiên phải phản ứng như thế, nhưng nó cũng đã khiến chúng tôi quan tâm.

Còn ở trong thị xã Buôn Ma Thuột lúc này, trải qua một ngày đầu chiến đấu quyết liệt (10/3), quân ta đã đánh chiếm được khu doanh trại liên hợp bộ binh, pháo binh, xe tăng, bộ chỉ huy tiểu khu, một phần quan trọng của Sư đoàn bộ 23, và đã tiến sát vào sở chỉ huy hành quân của Sư đoàn 23.

Vào khoảng 16 giờ chiều, chúng tôi liên tiếp nhận được báo cáo là cán bộ thọc sâu tiến công từ hướng tây và sau đó là một mũi của Trung đoàn 174 do thiếu tá Trung đoàn phó Nguyễn Văn Minh dẫn đầu tiến công từ hướng tây nam đã phát triển đến mục tiêu cuối cùng, sở chỉ huy Sư đoàn 23 địch. Đồng chí Đoàn Sinh Hưởng đại đội trưởng xe tăng của tiểu đoàn chọc sâu cũng báo cáo nhầm như thế.

Trong khi đó, các thông tin về tình hình địch do phòng 2 quân báo cung cấp thì lại cho thấy chúng ta chưa đến được mục tiêu chủ yếu này. Lịch sử có lặp lại không đây? Tôi nhớ ngay tình huống tương tự xảy ra năm 1972, khi chúng ta đánh vào thị xã Kon Tum: Bộ đội báo cáo ta đã ở trong sở chỉ huy Sư đoàn 22 địch nhưng quân báo – lại vẫn là quân báo – thì lại khẳng định rằng đó không phải là sào huyệt của chúng, và quân báo đúng. Điều này không có gì lạ: chúng ta chưa quen đánh trong thành phố, việc nhận dạng các vị trí của địch thường có tính ước lệ và nếu có dựa vào bản đồ chiến thuật, ảnh chụp và các vật chuẩn thì những thứ ấy, do không được cập nhật, đã mất tính thời gian. Có sự nhầm lẫn là điều khó tránh khỏi, nhưng điều quan trọng là không để tình trạng mơ hồ kéo dài, tuyệt đối phải xác minh lập tức.

Chỉ huy sở phía trước, do các Đại tá Nguyễn Năng và Phí Triệu Hàm chỉ huy, đã cử ngay Thượng tá Phó tham mưu trưởng Lê Minh và một tổ các sĩ quan tham mưu gồm nhiều thành phần dùng xe “gíp” tiến theo hướng của bộ đội thọc sâu…

Đúng như dự đoán, các chiến sĩ của chúng ta nhầm lẫn. Do hình thái cấu trúc tương tự bên ngoài, bộ đội đã tưởng vị trí của khu thông tin và tiểu đoàn quân y địch mà họ vừa tiến đến là sở chỉ huy Sư đoàn 23. Nhưng như vậy là cũng đã tiến sát mục tiêu cuối cùng.

Và trên tất cả các hướng, chúng ta đã làm chủ đại bộ phận thị xã. Các dấu hiệu chứng tỏ kẻ địch tuyệt vọng, mặc dù chúng không ngừng phản kích.

Chúng tôi lệnh cho Thượng tá Lê Minh bắt liên lạc trực tiếp với năm mũi tiến quân, cho bộ đội dừng lại ban đêm để củng cố, thống nhất các động tác hiệp đồng, chuẩn bị cho đòn tổng công kích ngày hôm sau.

Ngày tiếp theo của trận đánh

Ngày 11 tháng 3. Từ 6 giờ đến 8 giờ, pháo binh ta bắn dồn dập vào sở chỉ huy Sư đoàn 23. Tiếp đó, bộ binh và xe tăng ta hình thành bốn mũi tiến công vào sở chỉ huy sư đoàn 23.

Hướng đông bắc, từ tiểu khu bảo an, 1 đại đội của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95B và 2 xe tăng theo đường 429 tiến thẳng vào cổng chính, bắn cháy đánh đuổi thiết giáp địch và tiến thẳng vào trung tâm sở chỉ huy.

Các chiến sĩ xe tăng Đoàn Sinh Hưởng, Bùi Mạnh Hồng, Phạm Hồng Vách và đồng chí Bưởi anh dũng cho xe tăng lao thẳng vào thiết giáp địch, mở đường cho bộ binh.

Hướng tây, từ khu thông tin 1 đại đội của mũi thọc sâu và 2 xe tăng vượt qua khu “quân cụ biệt lập” phá rào tiến thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 23.

Hướng nam, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 149 từ khu hành chính, vượt qua nhà thờ, qua khu đại đội tổng hành dinh cũng chọc thẳng vào sở chỉ huy địch.

Cùng lúc đó, từ hướng bắc Trung đoàn 148 cũng phái một đại đội và 2 xe tăng tiến vào sở chỉ huy Sư đoàn 23, nhưng khi đơn vị đến nơi thì bộ đội bạn đã chiếm xong.

Trước sức áp đảo của bộ đội tiến công, máy bay địch hốt hoảng ném bom tràn xuống khu vực sở chỉ huy. Bom rơi xuống gần khu hầm của Vũ Thế Quang. Trong khói đạn hỗn loạn, Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật cùng bọn sĩ quan tham mưu bỏ sở chỉ huy, tháo chạy. Lúc đó là 8 giờ 15 phút. Quang và Luật chạy trốn ra rừng cà phê ngoài thị xã. Nhưng Luật đã bị các chiến sĩ Tiểu đội 3, đại đội 3, tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24 bắt sống, còn tên Quang chạy xuống đến phía nam thị xã cũng bị các chiến sĩ Trung đoàn 174 tóm cổ tại buôn A Lê.

Sau trận pháo như thác giội, bộ binh ào lên từ các hướng. Bộ đội ta tràn vào sở chỉ huy, tiêu diệt bọn tàn quân. Đến 9g05, chiếc xe tăng đầu tiên phá vỡ hầm chỉ huy địch.. Hầu như cùng một lúc các mũi tiến quân đã hội quân ở mục tiêu cuối cùng.

Đến 1 giờ trưa ngày 11 tháng 3, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã được kéo lên trên cột cờ của sư bộ Sư đoàn 23. Và trận công kích cuối cùng vào căn cứ Sư đoàn 23 sáng ngày 11 tháng 3 đã diễn ra đúng như dự kiến, tuyệt đẹp nữa là khác, sở chỉ huy của chúng tôi lúc ấy đã giống như một ngày hội.

Ngày 11 tháng 3, Quân uỷ Trung ương điện chỉ thị: “ở Buôn Ma Thuột cần nhanh chóng tiêu diệt địch còn lại, vừa phát triển ra xung quanh, vừa sẵn sàng đánh viện của địch, nhanh chóng phát triển về hướng Cheo Reo, hình thành thế bao vây Plâyku để tiến tới tiêu diệt Plâyku, cô lập Kon Tum, mở rộng phạm vi kiểm soát (đường – Sao Vang) số 19, thực hiện chia cắt chiến lược tiến tới tiêu diệt An Khê”.

Theo tinh thần Chỉ thị đó, Bộ Tư lệnh đã nhận định tình hình “Ta đã chiếm hết các mục tiêu quan trọng nhất, làm chủ được thị xã Buôn Ma Thuột, khống chế được sân bay Hoà Bình, nhưng một số căn cứ quan trọng ven thị xã địch vẫn còn chiếm giữ, chúng có thể đổ quân xuống các căn cứ đó để phản kích đánh chiếm lại thị xã.

Từ tình hình trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch có quyết tâm: “Nhanh chóng phát triển thắng lợi tiêu diệt địch ở ngoại vi, phụ cận, trọng điểm là căn cứ các Trung đoàn 45 và 53 quét sạch tàn binh địch, củng cố vững chắc khu đã chiếm, sẵn sàng đánh lại phản kích địch”.

Bộ Tư lệnh đã ra lệnh cho Sư đoàn 10 (thiếu) nhanh chóng cơ động về đông bắc thị xã, sẵn sàng làm dự bị và chuẩn bị đánh địch phản kích lớn.

Thực hiện quyết tâm trên, ngày 12 và 13 tháng 3 ta tiếp tục tiến công và truy quét tàn quân trong thị xã và các vị trí ở ven thị.

Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 95B đánh chiếm khu nhà lao, bắt hơn 100 địch, giải phóng số tù nhân còn lại.

Từ 6 giờ 25 đến 8 giờ 25 phút ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 24 và 1 đại đội xe tăng đánh chiếm hậu cứ Trung đoàn 45 và khu trung tâm huấn luyện Sư đoàn 23, diệt và bắt 350 tên địch, thu 400 súng.

Chiều 12 tháng 3, Trung đoàn 174 tiến công cụm quân địch ở cầu Sê-rê-pốc bắt 300 tên địch.

Ở phía bắc, Trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đã đánh chiếm quận lỵ Buôn Hồ, điểm cao Chư Bao, ấp Đạt Lý. Cùng với tiến công quân sự, các đội công tác và cơ sở tại chỗ tiến hành phát động quần chúng nổi dậy giải tán bộ máy kìm kẹp của địch.

Nhiều buôn làng đồng bào kéo nhau về lại làng cũ. Các cuộc mít tinh quần chúng mừng chiến thắng và ra mắt chính quyền cách mạng ở cơ sở, bước đầu ổn định đời sống cho dân, giữ gìn trật tự an ninh, kêu gọi bọn địch tan rã ra đầu thú.

Ngày 12 tháng 3 Quân uỷ điện cho anh Văn Tiến Dũng, đồng gửi cho tôi và Thường vụ Đảng uỷ Chiến dịch Tây Nguyên có đoạn: ” Địch đang có ý định dựa vào các lực lượng chưa bị tiêu diệt của chúng và các điểm phụ cận, tăng thêm lực lượng phối hợp với không quân tiến hành phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột…

Vì vậy, việc cấp thiết nhất là nhanh chóng tập trung lực lượng hơn nữa, nhanh chóng tiêu diệt các đơn vị và các căn cứ của địch ở chung quanh Buôn Ma Thuột, tiêu diệt viện binh của chúng. Tiêu diệt được bộ phận quan trọng sinh lực của đích chung quanh Buôn Ma Thuột sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của chiến dịch, Đồng thời chỉ đạo mọi công tác hoạt động trên các hướng phát triển đã dự định:

Cheo Reo, Plâyku và đường 19, chú ý khai thác tù binh phục vụ cho tác chiến và binh vận. Chúc thắng to. Ký tên: Chiến”.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương cũng gửi điện nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Tây Nguyên đã giành được thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu của chiến dịch. Bộ Chính trị chỉ thị: “Cần nhanh chóng nắm lấy thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Quân giải phóng đánh chiếm sân bay

Sau khi giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, biết thế nào địch cũng phản kích để định chiếm lại Buôn Ma Thuột, ta đã chủ động điều ngay Sư đoàn 10 (thiếu) về ngay đông bắc Buôn Ma Thuột để đánh địch phản kích, và gạn lọc tình huống đánh địch đi phản kích bằng máy bay lên thẳng. Vì đi phản kích là chữa cháy; phải đi rất nhanh. Mưu kế của địch sau khi mất Buôn Ma Thuột là một mặt đưa Sư đoàn 23 ra phản kích và mặt khác là đưa lữ đoàn 3 dù ra chiếm lĩnh đèo Phượng Hoàng để ngăn chặn ta tiến xuống Nha Trang.

Đánh hậu cứ Trung đoàn 53

Bị mất Buôn Ma Thuột bọn tàn quân địch chạy về căn cứ 45, trường huấn luyện, căn cứ 53, một số tên chạy về ấp Châu Sơn, nhằm co cụm cố giữ những căn cứ còn lại làm bàn đạp chờ quân ở Bản Đôn, Chư Nga kéo về, quân tăng viện tới, hòng cùng nhau phối hợp thực hành phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổ chức ngay lực lượng, nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm các mục tiêu còn lại ở ngoài thị xã và truy lùng tàn quân địch lẩn trốn, để ổn định tình hình trong thị xã để sẵn sàng đánh địch phản kích. Trong đó mục tiêu chủ yếu là căn cứ Trung đoàn 53.

Căn cứ Trung đoàn 53 nguỵ nằm về đông nam sân bay Hoà Bình, cách trung tâm thị xã khoảng 10km. Căn cứ được thiết bị phòng ngự rất vững chắc. So với các căn cứ khác, căn cứ 53 được bố trí phòng ngự vững chắc hơn cả. Quanh căn cứ có 5 đến 7 lớp rào kẽm gai, xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất bao quanh căn cứ đắp cao và dày, các lô cốt và các ụ súng cũng được bố trí ngay trong tường đất hướng mũi súng ra ngoài. Hai hầm chỉ huy của Trung đoàn trưởng bằng bê tông xây chìm xuống đất. Trong căn cứ lúc này có Trung đoàn 53 (thiếu), 1 chi đội M113, do viên trung tá đoàn trưởng Võ Ân chỉ huy. Gọi là căn cứ Trung đoàn 53, nhưng đó là hậu cứ của 2 Trung đoàn 44 và 53. Dựa vào hầm ngầm chúng chống trả quyết liệt và làm thất bại các cuộc tiến công của ta.

Khi vạch kế hoạch tác chiến, Bộ Tư lệnh chiến dịch rất quan tâm đến mục tiêu sân bay Hoà Bình và căn cứ Trung đoàn 53. Bởi kinh nghiệm từ năm 1972, khi quân ta đã bao vây thị xã Kon Tum, quân nguỵ chỉ còn một cửa ngõ duy nhất là sân bay Kon Tum. Vậy mà, từ sân bay còn giữ được này, quân nguỵ dùng làm bàn đạp đưa Sư đoàn 23 đến phản kích để giành giật lại được thị xã.

Do vậy, việc đánh chiếm căn cứ Trung đoàn 53 và sân bay Hoà Bình lúc này là rất quan trọng, nhằm đập tan khu vực đầu cầu để phản kích của Sư đoàn 23 hòng chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột.

Trước mắt việc đánh chiếm sân bay Hoà Bình (Phụng Dực) do Trung đoàn đặc công 198 đảm nhiệm. Trung đoàn đặc công 198 được trang bị súng phòng không12,7 mm và tên lửa phòng không vác vai A72 để có thể đủ khả năng trụ bám lại sau khi đánh chiếm được sân bay. Do bảo đảm tính bí mật, bất ngờ, nên Trung đoàn phải hành quân theo đường giao liên xuống Phú Yên rồi mới vòng trở lại. Đường đi mất 12 ngày, đến ngày thứ 9 lương thực đã cạn nên có đơn vị phải đào củ mài để ăn. Do hành quân liên tục, nên nhiều ngày Trung đoàn không giữ được liên lạc với sở chỉ huy chiến dịch.

Tuy vậy, đúng theo hiệp đồng, 2 giờ 10 phút ngày 10 tháng 3 Trung đoàn 198 đã nổ súng và nhanh chóng đánh chiếm được sân bay Hoà Bình. Riêng đội đặc công đánh vào căn cứ 53 gặp nhiều trở ngại. Sau khi đột nhập vào căn cứ, các mũi đã nổ súng đánh được một số mục tiêu, nhưng sau đó lại bị địch đánh bật ra. Quân địch phát hiện được cửa mở xông ra bịt lại. Một số rút được ra ngoài, nhưng một số khác đã bị địch bắt và chúng đã đưa vào căn cứ tra tấn đánh đập, có đồng chí bị chúng thiêu chết rất dã man.

Ngày 12 tháng 3, Phạm Văn Phú bay trực thăng đến vùng trời căn cứ 53. Phú đã cho trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53 biết quân tăng viện đang được đổ xuống Phước An để giải vây tái chiếm lại thị xã và toàn bộ Sư đoàn 23 đang rời Mặt trận Nam Plâyku, trở về Buôn Ma Thuột trong một cuộc hành quân trực thăng vận đại qui mô và động viên tên này cố chống cự đến cùng, chờ Sư đoàn 23 về phản kích đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Trực thăng vũ trang sư đoàn 6 không quân, liên tục chở quân và sử dụng hỏa lực chi viện phản kích mà không tái chiếm được

Thực hiện ý định đó, Ân đã chỉ huy Trung đoàn 53 chống cự rất ngoan cố. Y đã ra lệnh cho binh lính: “Kẻ nào ra khỏi công sự sẽ bị bắn tại chỗ”. Được cấp trên khích lệ, Võ Ân càng tỏ ra độc ác, hắn ra lệnh cho binh lính trong căn cứ tăng cường củng cố công sự. Mỗi gia đình binh lính bị lùa vào giữ một lô cốt, hoặc một côngtơnơ được đắp bao cát xung quanh; trong mỗi lô cốt có một khẩu đại liên và một bao lựu đạn to. Khi căn cứ bị tiến công, tên nào rời công sự lập tức bị bắn chết tại chỗ. Theo lệnh của Ân, các tên chỉ huy cấp dưới của hắn đã tàn sát dã man những người rời vị trí, có khi chỉ vì đi xin nước uống, xác chết chỉ được vùi lấp qua loa.

Do các nơi đều bị mất, nên tàn quân địch đợi đến đêm lén chạy trốn vào căn cứ, mặc dù đã bị quân ta vây bên ngoài bắn đuổi theo chúng vẫn cố lao vào căn cứ.

Liên đoàn biệt động quân số 21 (thiếu) sau khi thấy Buôn Ma Thuột bị mất, cũng đã lần mò về phía đông căn cứ 53. Binh lính các nơi khác bị thua cũng đều dồn về căn cứ 53. Lúc này căn cứ 53 như cái túi chứa đủ mọi loại tàn quân của địch.

Căn cứ 53 còn thì sân bay Hoà Bình có nguy cơ sẽ bị địch chiếm lại và đó sẽ là cửa ngõ để địch đưa quân phản kích giành lại thị xã. Do vậy, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đưa Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 vào tiến công căn cứ 53.

Ngày 14 tháng 3 khi tiến công Trung đoàn 149 đã đánh nhầm vào khu điều vận máy bay, vì không nhận rõ được mục tiêu; đến khi tiến sang căn cứ 53 thì đã bị địch biết và chặn lại.

Ngày 15 tháng 3, Trung đoàn 149 tiến công lần thứ hai. Máy bay địch đến đánh vào đội hình gây thương vong nặng cho Trung đoàn, cuộc tiến công vào căn cứ 53 lần này vẫn bị thất bại.

Tuy quân địch vẫn còn giữ được căn cứ 53, nhưng chúng đã hết lương thực, địch phải dùng máy bay thả dù xuống tiếp tế. Vì sợ pháo cao xạ của ta nên máy bay phải bay rất cao để thả dù và dù đã lọt vào tay quân ta. Tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước, người chết tăng lên mà không có chỗ chôn cộng với mùi khói đạn làm cho bầu không khí trong căn cứ hết sức căng thẳng và ghê rợn.

Lúc này, Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 đã đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống đông bắc căn cứ 53, một đại đội trinh sát của Trung đoàn 45 đã tiến đến gần sát rào căn cứ này. Do vậy Trung đoàn 53 càng chống cự lại ta một cách điên cuồng.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 66 của Sư đoàn 10 vừa từ Đức Lập về, được tăng cường 1 đại đội xe tăng phối thuộc cho Sư đoàn 316 để tiêu diệt căn cứ 53.

Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 3 dưới sự chi viện đắc lực của cụm pháo binh chiến dịch, Trung đoàn 66 đã từ hướng tây bắc và Trung đoàn 149 từ hướng tây nam đã đột phá vào căn cứ 53. Quân địch bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại tháo chạy về phía đông.

Căn cứ 53 bị tiêu diệt, bàn đạp triển khai phản kích của Sư đoàn 23 đã bị mất. Niềm hy vọng tái chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột của địch đã bị lung lay.

Trong lúc này trên các hướng khác, bộ độ đã tiến công địch dồn dập.

Ngày 19 tháng 3 Trung đoàn 271 đã chiếm ấp Nhân Cơ Nhơn Hải, áp sát vào sân bay Nhân Cơ.

Trước đó trên các hướng phối hợp.

Ngày 11 tháng 3, Trung đoàn 25 diệt một đoàn xe địch trên đường số 2 1 ở khu vực Chư Cúc và diệt một bộ phận địch từ Khánh Dương lên giải toả đường 21.

Ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 19 Sư đoàn 968 đã chiếm thêm 2 vị trí của địch ở nam Plâyku, áp sát vào quận lỵ Thanh Bình 2, uy hiếp Thanh An, tiếp tục bắn pháo vào Plâyku, Kon Tum.

Ngày 13 tháng 3, Trung đoàn 95A tiêu diệt một cụm địch ở ngã ba Plâyku. Tiếp đó, đã tiêu diệt 2 chi đoàn thiết giáp, đánh bại phản kích của địch và phát triển xuống hướng đèo Mang Giang. Ở phía đông, sau khi tiêu diệt 9 chốt của địch, Sư đoàn 3 (thiếu) Quân khu 5 đã phát triển tiến công về hướng Vườn Xoài, đường số 19 vẫn tiếp tục bị cắt đứt hoàn toàn.

Trên các chiến trường bạn, ngày 10 tháng 3 bộ đội Quảng Nam đã đánh chiếm quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, uy hiếp địch ở Tam Kỳ. Tiếp đó, đã đánh bại các đợt phản kích của Sư đoàn 2 nguỵ.

Ở Thừa Thiên, ngày 10 tháng 3 Sư đoàn 324, Quân đoàn 2 đã tiến công căn cứ 303 và nhiều căn cứ khác trên trục đường số 14 ở khu vực phía tây Truồi.

Ở Nam Bộ, đã đánh mạnh ở Bình Long và Tây Ninh.

Thời gian là lực lượng !

Có điều gì khắc nghiệt mà dễ hiểu hơn chân lý đó của chiến tranh? Tranh thủ được một tiếng đồng hồ, lực lượng có thể tăng gấp đôi, tranh thủ được 24 tiếng đồng hồ, lực lượng có thể tăng gấp mười !

Khi nhận thấy không còn cần thiết, Bộ Tư lệnh đã điều ngay tiểu đoàn làm dự bị Sư đoàn 10 về trong đội hình Trung đoàn 24 và cho lệnh điều tiếp Trung đoàn 66 khi Đức Lập đã chắc thắng, khẩn trương cơ động về vị trí sẵn sàng đánh địch phản kích.

Để tranh lấy yếu tố thời gian, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã huy động tất cả các phương tiện cơ giới có thể có được lúc đó để cơ động bộ đội. Vừa ra khỏi chiến đấu, đẫm mình hơi thuốc súng và bụi đất, nguyên cả âm vang của thắng lợi vừa qua và lòng hăm hở hướng tới, các chiến sĩ Sư đoàn 10 lại lao nhanh trên đường để bước tiếp vào trận chiến đấu mới. Dù kẻ địch có điều đến thêm lực lượng thì Sư đoàn dự bị chiến dịch đã sẵn sàng đối phó. Vấn đề quan trọng nhất lúc này là chúng ta phải tranh thủ được thời gian.

Vừa cơ động đến nơi, từng đơn vị của Sư đoàn 10 đã lao ngay vào trận chiến đấu đánh địch trong hành tiến, và trận chiến đấu quyết định số phận Sư đoàn bộ binh 23, liên đoàn biệt động 21 và thậm chí cho cả chiến dịch nam Tây Nguyên đã đến.

Sau khi ta giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, bọn chỉ huy địch đề ra một số tình huống xử trí như sau:

– Ngăn chặn bước tiến của quân ta từ Buôn Ma Thuột theo đường số 21 về Ninh Hoà và Nha Trang.

– Đối phó với cuộc tiến công của quân ta vào Plâyku

– Có điều kiện thì phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Thế nhưng, trong thế trận lúc bấy giờ, đối với tình huống nào chúng cũng khó xử trí.

Bản thân lực lượng quân đoàn 2 của địch ở Tây Nguyên chỉ có Sư đoàn 23 là đáng kể, còn các liên đoàn biệt động quân thì sức chiến đấu kém. Lực lượng tổng dự bị chiến lược thì bị phân tán ở nhiều nơi và cũng đang bị tiến công. Bọn chỉ huy quân đoàn 2 ngụy giờ đây sống chết phải tự mình lo liệu, không nhờ cậy được gì ở sự chi viện của bọn cầm đầu Mỹ – nguỵ.

Vô cùng bối rối và cay đắng, bọn chúng chỉ có cách tung đứa con cưng là Sư đoàn 23 (thiếu) gồm Trung đoàn 44 và Trung đoàn 45 xuống phía đông Buôn Ma Thuột, trên đường số 21. Mọi đường bộ đều bị quân ta chiếm giữ và cắt đứt. Chúng không có cách nào hơn là đổ quân xuống bằng máy bay lên thẳng. Như vậy, số quân phản kích không thể mang theo xe tăng mà chỉ có một số khẩu pháo, rất ít đạn dược, xăng dầu và các thứ cơ sở vật chất khác.

Rõ ràng, hai Trung đoàn bộ binh đổ bộ bằng máy bay lên thẳng dù có liều lĩnh cũng không thể đối địch được với một đối phương hùng mạnh, có đủ các binh chủng đang tràn đầy khí thế chiến thắng và đang ở trong cao trào của cuộc tiến công mãnh liệt. Mặc dầu có một số máy bay chi viện, song không có xe tăng và pháo binh thì bọn quân phản kích của địch khó có sức chiến đấu mạnh,

Đây là vấn đề gạn lọc tình huống. Địch đi phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột có hai tình huống. Tình huống đi đường bộ và tình huống đi bằng máy bay lên thẳng. Ta cho Sư đoàn 320 ra cắt đường. Địch không có khả năng đi đường bộ. Vì đi phản kích như đi chữa cháy, phải đi bằng máy bay. Ta gạn lọc tình huống đi bằng đường bộ, buộc địch phải đi bằng máy bay ta đánh dễ hơn.

Từ chiều ngày 12 tháng 3 đến hết ngày 13 tháng 3 năm 1975, với tổng số 145 lần chiếc máy bay lên thẳng và 81 lần chiếc các loại máy bay chiến đấu cường kích hoạt động yểm hộ, địch đã đổ Trung đoàn 45 và pháo đội 232 xuống đông Buôn Ma Thuột, từ điểm cao 581 và dọc theo đường số 21 đến Phước An.

Trong ngày 12 tháng 3, ta được tin tên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 nguỵ báo cho căn cứ 53 ở sân bay Phụng Dực (Hoà Bình) đang bị quân ta bao vây là: chúng sẽ có lực lượng xuống tăng viện, ứng cứu và sẽ thực hiện phản kích lấy lại thị xã Buôn Ma Thuột. Theo kế hoạch phản kích, chúng lấy khu vực từ căn cứ 45 đến căn cứ 53 và điểm cao 581 làm tuyến bàn đạp, các lực lượng tàn quân phải tập trung về đó, phối hợp với quân đến tăng viện để thực hành phản kích vào đông và đông – nam Buôn Ma Thuột.

Kế hoạch tiêu diệt Sư đoàn 23 nguỵ đã được lập ra kế tiếp ngay sau với kế hoạch đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Bởi vì gần như điều tất yếu Buôn Ma Thuột bị tiến công thì đơn vị đầu tiên về ứng cứu sẽ là Sư đoàn 23. Mặt khác, hậu cứ của Sư đoàn này ở Buôn Ma Thuột, nên binh lính càng nóng lòng muốn về chốn cũ. Dự kiến đánh địch phản kích của ta rất chủ động. Ta đã bố trí lực lượng đánh phản kích trước khi địch đổ quân hướng đông bắc Buôn Ma Thuột.

Trong kế hoạch đánh Sư đoàn 23 điều cốt lõi là dự kiến cho đúng thời gian, địa điểm và cách thức trở về của sư đoàn này để điều hành chuyến trở về của nó theo quyết định của ta. Từ việc gạn lọc tình huống ta đã dự kiến, Sư đoàn 23 có thể về sau khi Buôn Ma Thuột bị tiến công 2-3 ngày.

Về địa điểm, ta dự kiến chúng có thể xuống đường số 14, hoặc đường số 21.

Về cách thức đi về thì đường bộ đã bị ta cắt đứt, sân bay ta đã bị khống chế, nên chúng chỉ có thể trở về bằng máy bay lên thẳng, mà loại máy bay này trong biên chế của quân nguỵ chỉ đủ khả năng chở lần lượt từng Trung đoàn và không mang theo được xe tăng và những dàn pháo lớn đi cùng.

Để loại trừ khả năng địch xuống đường 14, ta phải quét sạch địch trên con đường này và chiếm lĩnh ngay các địa hình mà chúng có thể lợi dụng để triển khai phản đột kích vào thị xã. Giải quyết được việc đó thì địch chỉ còn một địa điểm đổ quân là đường số 21 và ở đó còn có sự kháng cự của Trung đoàn 53.

Từ dự kiến trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10 (từ Đức Lập mới về) chuẩn bị tiêu diệt Sư đoàn 23 trên đường số 21.

(Xin lưu ý cùng bạn đọc. Vì các trận được kể ra ở đây có lúc diễn ra gối đầu nhau, nên về mặt thời gian đôi khi phải lặp lại. Mong bạn đọc chú ý theo dõi. Cảm ơn ).

Quân nguỵ thực hành phản kích hòng tái chiếm Buôn Ma Thuột. Diễn biến này được kể lại như sau:

“Cuộc đổ quân tăng viện cho Mặt trận Buôn Ma Thuột trong 2 ngày 12 và 13 tháng 3 năm 1975 được coi là cuộc đổ quân tăng viện bằng trực thăng vĩ đại nhất kể từ khi Hiệp định Pa ri 1973 được ký kết, và cũng là cuối cùng trên chiến trường Cao nguyên.

Những phi đoàn trực thăng của các Sư đoàn 1 và 4 không quân từ Đà Nẵng, Cần Thơ cùng với một số trực thăng cơ hữu của Sư đoàn không quân (Plâyku), với hơn 100 trực thăng đủ loại kể cả những Chinook khổng lồ, đều được tập trung để sử dụng cho cuộc đổ quân tăng viện này.

Từ 8 giờ sáng ngày 12 tháng 3, tại căn cứ Hàm Rồng, bản doanh Bộ Tư lệnh hành quân của Tư lệnh Mặt trận Nam Plâyku, và bộ chỉ huy các Trung đoàn 45 và 44 thuộc Sư đoàn 23, trực thăng bay rợp trời. Những sĩ quan điều khiển và chỉ huy cuộc hành quân này là các Trung đoàn trưởng, trưởng phòng 3 hành quân của quân đoàn 2 và Sư đoàn 23, phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng Sư đoàn 6 không quân.

Đợt bay đầu tiên, đại đội trinh sát của Sư đoàn 23 và 2 tiểu đoàn tác chiến của Trung đoàn 45 được bốc đi trước nhất.

Tiếp đó, những Chinook khổng lồ móc theo những khẩu đại bác 105 ly thả xuống trận địa, Quận lỵ Phước An phía đông Buôn Ma Thuột là địa điểm mà đoàn quân tăng viện nhảy xuống”.

Cũng theo lời kể:

“13 giờ trưa ngày 12 tháng 3, tướng Phạm Văn Phú rời Plâyku bay chỉ huy mặt trận Buôn Ma Thuột trên chiếc phi cơ nhỏ U- 17. Tới Buôn Ma Thuột khoảng 14 giờ 30, tướng Phú đã bay trên trận địa chỉ huy các cánh quân gần 1 giờ liền. Lần lượt tướng Phú đã liên lạc ra lệnh cho tất cả đơn vị trưởng các đơn vị đang chiến đấu phía dưới, như Trung đoàn bộ binh 53, liên đoàn 21 biệt động quân, các tiểu đoàn địa phương quân Đăk Lắc.

Vẫn không có tin tức gì về đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó Sư đoàn 23 và đại tá tỉnh trưởng Buôn Ma Thuột, ngoài nguồn tin của các đài phát thanh Việt Cộng loan báo họ đã bắt sống.

Buổi trưa ngày 12 tháng 3, trời trong sáng. Từ trên cao, qua khung cửa sổ nhỏ của chiếc U-17 cả một vùng trời và thị xã Buôn Ma Thuột hiện ra rất rõ. Những phản lực cơ A -37 và khu trục cơ vẫn tiếp tục bay tới đánh bom yểm trợ cho những cánh quân bạn dưới đất. Từng cột khói, và những đám cháy bốc cao. Dân chúng kéo nhau lũ lượt băng rừng chạy về phía Phước An, Khánh Dương.

Tướng Phú trở về Plâyku được tin Tổng thống Thiệu gọi lên lúc 14 giờ, khi ông đang bay thanh sát mặt trận Buôn Ma Thuột, ông đã liên lạc với Sài Gòn và trình Tổng thống Thiệu tình hình sau cùng của trận chiến Buôn Ma Thuột. Cả Tổng thống Thiệu và tướng Phú đều lo ngại về sự cung khai của hai tù binh Bắc Việt do Trung đoàn bộ binh 53 bắt được về nguồn gốc đại đơn vị của chúng: Sư đoàn 316 tổng trù bị Cộng sản Bắc Việt, mà theo tin tức tình báo còn ở ngoài Thanh Hoá tháng trước. Tổng thống Thiệu cũng đã ra lệnh cho tướng Phú phải thâu thập mọi tin tức địch tình chính xác tại Mặt trận Buôn Ma Thuột, và đặc biệt về Sư đoàn 316, đệ trình lại ông trong một buổi họp quan trọng sắp tới mà tướng Phú sẽ được thông báo sau .

Chiều ngày 12 tháng 3, quân ta từ những đỉnh cao phía tây bắc Plâyku nã hoả tiễn vào phi trường quân sự Cù Hanh, và bộ tư lệnh quân đoàn. Một quân nhân tài xế bị trúng đạn tử thương ngay gần cột cờ trước bộ tư lệnh làm cho tướng Phú nổi cơn thịnh nộ. Người sĩ quan chỉ huy lực lượng thám kích quân đoàn 2, thiếu tá Ngọ được lệnh bằng mọi cách không để cho một hoả tiễn, hay một viên đạn súng cối nào của địch bay tới Bộ Tư lệnh quân đoàn nữa (!) đứng đó chịu trận, và thấy trước mặt những cơn thịnh nộ khác của vị tư lệnh quân đoàn còn tiếp tục đến với ông ta. Bởi vì với núi đồi trùng điệp với đêm tối chỉ cần một vài đặc công cảm tử của Việt Cộng sau khi thoát được những ổ phục kích của lực lượng thám kích quân đoàn 2, đeo ống phóng bò tới gần cho những hoả tiễn bay khỏi nòng rồi bỏ chạy, thì chẳng có cách nào có thể tìm ra tung tích của chúng. Nhưng, trong quân đội, “lệnh là lệnh !”.

Tướng Phú đi trực thăng vào vùng trời Buôn Ma Thuột lần này là để chọn đường về cho Sư đoàn 23. Ý tưởng đó được hình thành ngay sau khi biết tin xe tăng của Việt Cộng đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột. Nhưng về bằng con đường nào? và triển khai ở đâu? Tình hình biến chuyển quá nhanh.

Sau khi thị xã Buôn Ma Thuột bị mất, đại tá Quang và đại tá Luật bị bắt. Phần lớn các căn cứ chung quanh Buôn Ma Thuột đã bị đánh chiếm. Hiện chỉ còn căn cứ 53 và quận ly Phước An là những nơi có thể dựa được. Phú quyết định chọn khu vực này để đưa Sư đoàn 23 về đứng chân. Muốn vậy phải giữ được căn cứ 53 bằng mọi giá. Phú bay trên vùng trời căn cứ 53 động viên Võ Ân cố gắng giữ vừng căn cứ và hứa sẽ đưa Sư đoàn 23 về ngay.

Do con đường số 14, con đường bộ duy nhất nối Plâyku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt, nên cách duy nhất để đưa được cả Sư đoàn 23 về là sử dụng máy bay trực thăng chở quân. Tuy vậy, dù có cố gắng đến mấy thì mỗi ngày cũng chỉ đổ quân được một Trung đoàn. Và như vậy phải mất hai, ba ngày mới xong.

Về phía ta, thấy trước âm mưu và khả năng phản kích của địch vào thị xã, ngay sau khi trận Đức Lập vừa kết thúc, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã điều Sư đoàn 10 tới phía đông Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh quân địch phản kích. Như đã dự kiến từ trước về tình huống này, nhằm đánh bại âm mưu dùng các căn cứ còn lại làm bàn đạp đổ quân phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột. Ngay trong đêm 11 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 10 tổ chức tiêu diệt căn cứ 45 và cứ điểm Chư Nga, Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 và Trung đoàn đặc công 198 tiêu diệt căn cứ B50.

5 giờ sáng ngày 12 tháng 3 cùng thời gian với các đơn vị đánh căn cứ B50, được sự chi viện của pháo binh Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10 cùng xe tăng chia thành hai mũi đột kích, thọc thẳng vào trung tâm căn cứ 45.

Thật rủi ro cho quân địch tăng viện. Hồi 9 giờ 30 phút ngày 12 tháng 3, quân ta đã chiếm mất căn cứ 45 rồi. Thế là Trung đoàn 45 và pháo đội 232 của địch không còn chỗ đứng chân ở căn cứ 45 nữa, và chúng cũng chẳng liên lạc được với căn cứ 53. Cuối cùng chúng buộc phải đổ xuống các toạ độ không được xác định trước ở khu vực Nông Trại – Phước An. Bọn tàn quân của liên đoàn biệt động quân số 21 đang tháo chạy tan tác vội xô nhau tới nhờ bọn mới đổ bộ tăng viện che chở.

Nhưng, như ta biết: trong phương án tác chiến chiến dịch, quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng đánh quân địch tăng viện bằng đường không. Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ta đã di chuyển các trận địa pháo binh và pháo cao xạ ra phía đông thị xã này. Sau khi tiêu diệt địch và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Đức Lập, Sư đoàn bộ binh 10 dự bị của chiến dịch, 1 sư đoàn tinh nhuệ do đại tá Hồ Đệ chỉ huy; người có nhiều kinh nghiệm tác chiến binh chủng hợp thành đã tổ chức lực lượng, khẩn trương chuyển đến khu vực tác chiến dự kiến.

Từ ngày 10 tháng 3, các lực lượng của Sư đoàn đã lần lượt hành quân bằng cơ giới qua hơn 100 ki-lô-mét đường quân sự làm gấp tới đông Buôn Ma Thuột. Trung đoàn 24 là đơn vị đầu tiên triển khai lực lượng sẵn ngay tại chỗ. Trung đoàn 45 địch vừa đổ quân xuống, liền bị Trung đoàn 24 của ta đánh luôn một trận phủ đầu và lập tức bị ngăn chặn không liên hệ được với Trung đoàn 53 nguỵ đang bị quân ta bao vây tiến công uy hiếp ở sân bay Phụng Dực. Quân ta liên tục bám đánh và bao vây cô lập quân viện, tạo thế cho các lực lượng của Sư đoàn tiếp sau triển khai đội hình tiến công.

Mưu kế của địch là Trung đoàn 53 cố giữ vững trận địa, đợi Trung đoàn 45 tới cùng hiệp lực để đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Chiều ngày 12 đến sáng 13 tháng 3, phát hiện địch cho Trung đoàn 45 của Sư đoàn 23 đổ quân xuống vùng cao điểm 581, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 10 tiến công Trung đoàn 45 nguỵ.

Quân địch từ chỗ tăng viện để phản kích của quân ta, giờ đã trở thành kẻ bị bao vây. Chúng hiểu được nguy cơ đó nên chúng rất tích cực đào công sự, rất tích cực “gào” máy bay, pháo binh bắn phá oanh tạc ngăn chặn quân ta.

Suốt đêm 13 tháng 3, địch cho máy bay C.130 liên tục thay nhau thả pháo sáng, bắn đạn 201y quanh cao điểm 581 và dọc đường 21 để trấn an tinh thần bọn lính vừa được đổ xuống. Song địch ngăn sao nổi dòng thác tiến công của quân ta ập tới.

Ngay trong đêm 13 tháng 3, Trung đoàn 24 và các đơn vị tăng cường của quân ta đã vượt mọi địa hình sình lầy, gai góc, đường khúc khuỷu, quanh co dưới làn pháo đạn địch để tiến vào vị trí xuất phát tiến công. Vì gặp khó khăn nên các hướng quân ta không thực hiện được kế hoạch hiệp đồng theo giờ “G” nổ súng vào lúc trời mờ sáng.

Tới 7 giờ ngày 14 tháng 3, pháo binh ta mới bắt đầu bắn được, Trung đoàn 24 cùng xe tăng của Trung đoàn 273 chia thành 2 mũi đột thẳng lên cao điểm 581. Khi thấy bộ binh ta và xe tăng tiến đến gần, nhiều tên địch khiếp sợ xin hàng hoặc bỏ chạy. Bị truy ép từ phía sau, lại rơi đúng vào trận địa đón lõng của ta ở phía trước, các lực lượng của tiểu đoàn 2 nguỵ nhanh chóng bị tiêu diệt và tan rã. Thừa thắng các chiến sĩ Trung đoàn 24 cùng xe tăng đánh thẳng ra đường 21.

Mặc dù lực lượng ít, các chiến sĩ ta vẫn táo bạo lao vào giữa đội hình dày đặc của tiểu đoàn 1 nguỵ, dùng hoả lực diệt chúng và tiếp tục phát triển về phía đông. Trên đường tiến công, một chiếc cầu bị đại đội bảo an cho nổ bộc phá rồi bỏ chạy. Các chiến sĩ công binh nhanh chóng làm ngầm cho xe tăng tiếp tục truy kích và phải mất gần hai giờ chiến đấu với địch, bộ binh và xe tăng ta mới làm chủ hoàn toàn được trận địa tới phân chi khu Phước Bình.

Đến 12 giờ ngày 14 tháng 3 Trung đoàn 24 đã tiêu diệt, làm tan rã tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 45 và tiểu đoàn bảo an địch đóng tại khu vực, chiếm điểm cao 581, giải phóng đoạn đường số 21 dài 12 ki-lô-mét. Quân địch còn lại tháo chạy, chiều 14 tháng 3 chúng co cụm vào được khu Nông Trại. Quân ta lập tức tung ngay trinh sát bám sát chúng, đồng thời tổ chức các lực lượng phát triển tiếp theo.

Mưu kế của địch vẫn không thay đổi, chúng chuẩn bị cho Trung đoàn 44 xuống tiếp để cứu Trung đoàn 45 và chi viện cho Trung đoàn 53.

Mưu kế đối phó của ta khi một tiểu đoàn của Sư đoàn 316 và một đội đặc công không đánh được Trung đoàn 53 địch ở căn cứ 53, ta điều Trung đoàn 66, Sư 10 vào tác chiến để phá tan bàn đạp căn cứ 53. Trung đoàn 66 vào tác chiến là ta tiêu diệt được Trung đoàn 53.

Tình thế chiến trường ở khu vực đường số 21 lúc này chuyển biến rất nhanh, một hình thái mới đã xuất hiện: Quân địch tuy vẫn còn khả năng đưa thêm quân đến tăng viện, nhưng bàn đạp để chúng triển khai thực hành phản kích vào Buôn Ma Thuột đã bị đẩy ra xa. . . Xét các yếu tố tinh thần, vật chất của địch, trước mắt chúng không đủ sức phản kích và thời cơ phản kích trực tiếp vào Buôn Ma Thuột cũng không còn nữa.

TDB-thực hiện
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Vừa đi vừa đánh, thần tốc chiến dịch Hồ Chí Minh

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Chiếc Mi.4 lượn một vòng hẹp xác định vị trí rồi hạ cánh. Thiếu tướng Giáp Văn Cương đến sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 571 ở Bắc thành phố Đà Nẵng. Hoàng Trá bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột, anh đứng lên chào. Thiếu tướng Cương nói ngay:

– Tôi đến nắm tình hình lực lượng xe của sư đoàn hiện có tại đây và chuẩn bị khẩn cấp để cơ động Quân đoàn 2 vào Nam bộ.

– Tôi có thể báo cáo thực lực, thưa thiếu tướng!… Nhưng còn việc cơ động thì tôi chưa được lệnh của trung tướng Đồng Sĩ Nguyên.

– Đồng chí điện báo cáo với tư lệnh Trường Sơn được chứ?

– Có thể báo cáo ngay bằng máy 15 oát. Nhưng tôi làm sao có thể bỏ dở nhiệm vụ vận chuyển khẩn cấp 3.000 tấn vật chất bảo đảm sẵn sàng chiến đấu?

Sau mấy phút suy nghĩ, Thiếu tướng Cương khẽ phẩy tay:

– Thôi được. Đồng chí có thể cùng tôi về sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn chứ?

– Xin chậm mươi phút để tôi giao nhiệm vụ cho tham mưu.

– Được. Đồng chí làm đi.

Sau ít phút giao việc cho tham mưu trưởng, Hoàng Trá cùng tướng Cương lên máy bay ra bến Tắt. Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên cũng đã được Bộ Tổng thông báo chủ trương, nên nhanh chóng thống nhất quyết tâm sử dụng Sư đoàn 571 cơ động Quân đoàn 2 vào chiến dịch. Có điều sư đoàn đã tập trung hơn 1.000 xe tốt cơ động Quân đoàn Tiên phong đi Lộc Ninh, chỉ còn 9 tiểu đoàn xe thiếu làm nhiệm vụ vận chuyển hàng. Nay chở người, phải gia cố thùng bệ, nhiều chiếc quá rão phải vào đại tu. Cả một núi việc. Bộ chỉ huy sư đoàn cấp tốc họp cán bộ bàn cách khắc phục. Hội nghị thống nhất đưa hết vật tư kỹ thuật dự trữ để thay thế, dồn lắp, tập trung mọi khả năng vào sửa chữa, khôi phục xe chiến lợi phẩm để sử dụng. Sư đoàn phát động khí thế Tất cả cho chiến dịch lịch sử, khôi phục mỗi xe là diệt một đồn thù. Cán bộ kỹ thuật phân nhau xuống từng xưởng, từng phân đội sửa chữa. Áp dụng phương pháp luân phiên ca kíp, chạy máy suốt ngày đêm, điện sáng rực khắp bãi xe, phân xưởng, lái, thợ không một phút rảnh tay họ tranh thủ bảo dưỡng định kỳ sớm, để bảo đảm không xảy ra sự cố trên đường. Với tinh thần làm việc hết mình, ngày 6.4 đã dồn được hơn 700 xe và khôi phục gần trăm xe chiến lợi phẩm…

Với tư cách phái viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tôi đến cánh Duyên Hải đúng vào lúc Sư đoàn 571 đã tập kết đội hình từ Nam đèo Hải Vân đến sân bay Đà Nẵng. Xe chỉ huy cắm cờ lệnh, ở thành mỗi xe dán khẩu hiệu chữ đỏ tươi THẦN TỐC, TÁO BẠO. Các đơn vị bộ binh theo kế hoạch lên xe, Bộ tham mưu quân đoàn kiểm tra lần cuối. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Quân đoàn trưởng ra lệnh xuất phát. Đoàn xe rùng rùng lăn bánh, nhằm hướng phía Nam phóng đi. Được Quân khu 5 và các tỉnh vùng mới giải phóng bảo đảm an ninh trục đường 1 khá tốt. Quân đoàn 2 tiến như lốc qua Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vượt sông Đà Rằng. Cả hai cây cầu liên tiếp qua dòng sông chính và nhánh rộng gần 2.000m. Đi chừng 14km đến đèo Cả dài khoảng 10km lượn quanh dải Chư Hơ Mu cao ngất sát biển. Đại quân phải qua vùng đất nhiều chướng ngại hiểm trở, nơi phòng tuyến địch mới rút.

Dinh Thống Nhất ngày nayẢnh: An Thành Đạt

Cục Hậu cần bộ đội Trường Sơn cũng đã kịp triển khai mọi mặt đảm bảo quân cơ động. Phân viện Quân y 59 do bác sỹ Lê Văn Đính trực tiếp chỉ huy triển khai làm tuyến sau trực tiếp của cánh Duyên Hải. Nhanh chóng xử lý các ca bị thương nhẹ trả về đơn vị, tiếp nhận thương bệnh binh nặng, giảm khó khăn cho công tác đảm bảo của Quân đoàn cơ động. Nhờ việc tiếp tế vật chất, bổ sung kịp thời khẩn trương, Quân đoàn 2 tiếp tục đi ngay. Trung đoàn 812 – Quân khu 6 đang bám trụ ở Phú Long – cửa ngõ vào Phan Thiết, khi đại quân đến liền nhận nhiệm vụ tiên phong như mũi lao phóng đúng tử huyệt quân địch. Tuyến ngăn chặn của chúng bị vỡ toang. Mũi xung kích quân đoàn xốc tới quặp lấy quân giặc nghiền nát… Pháo hạm địch từ biển hối hả bắn chặn đường. Các khẩu tầm xa liền hạ càng, bắn dồn dập vào tàu địch. Một trận đối pháo dữ dội. Phi đội phản lực nhào xuống phóng bom, lập tức bị những khẩu đội cao xạ đánh trả quyết liệt. Những pháo thủ đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu với giặc lái Mỹ ở Trường Sơn, nhanh chóng loại ngay mấy tên giặc lái ngụy khỏi vòng chiến. Hai máy bay giặc tóe lửa, một chúi đầu xuống biển, chiếc còn lại cút thẳng. Phía biển, một chiến hạm bùng cháy, lật nghiêng chìm nghỉm, mấy chiếc thoát chết dông thẳng ra khơi.

Không để lỡ thời cơ, Quân đoàn trưởng phát lệnh mũi tiên phong thần tốc truy kích xuống Hàm Tân, không cho nó thoát về Bà Rịa – Vũng Tàu. Các đơn vị chỉnh đốn đội hình…Đội xe chở quân cơ động, nhân lúc ngưng chiến, tranh thủ nấu cơm. Phó tư lệnh đoàn đi kiểm tra thấy, liền quát:

– Ai chỉ huy ở đây?

– Báo cáo tôi! – Hồ Quang Hương – tiểu đoàn trưởng xe, đứng dậy.

– Sao đồng chí được cho phép nấu ăn?

– Báo cáo phó tư lệnh! Anh em đói bắt đầu run gối rồi.

Phó tư lệnh sững người. Suốt từ sáng, họ chưa có gì vào bụng. Một thực tế không thể cưỡng nổi là sức khỏe… Song một đòi hỏi cấp bách hơn lúc này… “nếu không cơ động hết sức nhanh thì quân địch sẽ chạy thoát, sẽ tập hợp lực lượng co cụm chống chọi… Bộ Tổng tham mưu ngụy và Mỹ đều muốn thế… Nó đang gắng thiết lập phòng tuyến dày đặc kiên cố quanh Sài Gòn để cố thủ đến mùa mưa. Chỉ cần đến lúc đó, thiên nhiên sẽ chặn đứng đại quân ta lại. Nước mênh mông sẽ chia cắt các cánh quân ta thành nhiều mảng, phải chôn chân trên những cù lao trong biển nước vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở các vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc… Cuộc chiến sẽ phải bắt đầu lại… Chính vào lúc không thuận lợi cho bộ binh cơ giới của ta, kẻ địch sẽ phát huy lợi thế hải quân, không quân phản kích ta khắp nơi, không chỉ ở nông thôn mà cả trong thành phố… Nhân dân ta và mọi thứ sẽ…” – Phó tư lệnh khe khẽ lắc đầu như gạt những ám ảnh, tỏ vẻ kiên quyết.

– Đồng chí có nghĩ vì dừng lại, ăn xong bữa cơm sẽ phải trả giá bằng máu hàng trăm ngàn chiến sỹ và nhân dân ta không?

Hồ Quang Hương giật chân đứng nghiêm.

– Tôi xin nhận khuyết điểm.

Phó tư lệnh dịu giọng:

– Năm phút nữa, chỉnh đốn xong tiếp tục hành quân.

Tiếng còi rúc lanh lảnh, tiểu đoàn trưởng thông báo mệnh lệnh. Các phân đội bộ binh nhảy ào lên xe, với xuống buồng lái:

– Yên chí. Bọn tớ có cách nấu ăn của lính Quang Trung hành quân thần tốc. Sẽ có cơm ngon, canh ngọt cho mà xem!

– Này anh bạn! Khi nào cánh này gõ ba tiếng trên nóc, thì một vị nhảy lên chén, một đứa trên này nhảy xuống làm phụ xế đấy.

Tiếng máy khởi động, chuyển bánh rồi tăng tốc phóng như bay trong nắng chiều vàng rực… 16h30 tiếp cận địch. Quân đoàn trưởng hạ lệnh: “Các đơn vị vừa ăn lương khô vừa dàn đội hình tiến công diệt địch. Không cho chúng tháo chạy vô Xuân Lộc, Bà Rịa”.

Đại đội tăng T54 xông lên, xích xe nghiến ken két. Những họng pháo tóe lửa đỏ rực. Tiểu đoàn ôtô Trường Sơn chở bộ binh bám sát đột phá, các cỡ súng liên thanh, B40 đều hướng nòng tưới đạn vào tuyến cố thủ của quân ngụy. Trước sức mạnh thác đổ, chúng cuống quýt bật khỏi công sự, tuông rào rẽ rừng chạy thục mạng… Bộ đội địa phương, dân quân truy lùng bắt sạch.

Ở phía trước các Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4 và Sư đoàn 6 Quân khu miền Đông đang đánh Xuân Lộc. Tin thông báo: ngày 10.4 ta sẽ cắm cờ lên nóc tỉnh đường và khu cố vấn Mỹ… Kẻ địch bị tổn thất nặng, vẫn kêu gào tử thủ… Hai hôm sau lại được thông báo nức lòng… “Chuẩn tướng Lê Minh Đảo đã chạy khỏi Xuân Lộc…, Sư đoàn 18 và hai lữ thủy binh cùng đám biệt động tan tác cả rồi…” Vậy là chặng đường tiến thẳng tới vị trí tập kết khá thuận lợi…

Lúc này nhân đà chiến thắng dồn dập, thế và lực của địch giảm sút rất nhanh, Quân khu miền Đông phát động toàn địa bàn nổi dậy. Các lực lượng kết hợp đánh địch, diệt tề ngụy, trừ gián điệp, đẩy mạnh binh vận làm rã hầu hết tổ chức bảo an dân vệ. Cục Hậu cần quân khu miền Đông nhận lệnh đón binh đoàn cơ động. Chủ nhiệm Sáu Kinh cùng cán bộ các ngành đi chuẩn bị nơi tập kết cho quân đoàn ở vùng núi Chứa Chan, địa thế rộng tương đối kín, suối Già Ui còn sẵn nước. Công binh rà mìn khắp khu rừng, lòng suối bảo đảm an toàn tuyệt đối…

Quân đoàn 2 sau khi chọc thủng phòng tuyến Phan Rang, Phan Thiết tiến nhanh xuống phía Nam. Chớm tới đất miền Đông đã thấy những anh chị đội mũ tai bèo cầm súng đứng dọc đường. Vậy là yên tâm rồi, lái xe ấn lút chân ga… Chừng non một giờ, đội xe dừng trước thanh chắn ngang đường. Một người nai nịt gọn gàng, đeo súng ngắn bước tới, chào hỏi:

– Có phải đội tiền trạm của cánh Duyên Hải không?

– Đúng! Xin cho biết trạm của đơn vị nào?

– Quân khu miền Đông đây.

– Báo cáo! Đoàn Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần đi chỉ đạo công tác hậu cần cánh Duyên Hải, đến làm việc.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện mở cửa xe bước xuống. Lương Văn Nho, Phó tham mưu trưởng Miền và các cán bộ quân khu ùa ra, tay bắt mặt mừng. Tuyền là anh em đã một lần quen biết ở hội nghị hoặc ở chiến trường.

Ăn cơm xong, anh Đinh Thiện đề nghị làm việc ngay. Mọi người ngồi quanh tấm bản đồ trải rộng. Phó tham mưu trưởng Miền thông báo chiến sự ở các hướng bao quanh Sài Gòn phát triển thuận lợi, đánh thắng giòn giã, phong trào lên mạnh rất phấn khởi… Anh cười nói: – Điều đáng mừng, đến lúc này các đồng chí trong Bộ chỉ huy vẫn sung sức. Bộ Tư lệnh chiến dịch đóng ở Lộc Ninh, sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đã xuống Căm Xe, Tây Bến Cát. Anh Văn Tiến Dũng – Tư lệnh, anh Trần Văn Trà – Phó tư lệnh ở đó.

Tham mưu trưởng Đinh Thiện cũng thông báo quá trình tiến công trong hành tiến của Quân đoàn 2 và tình hình trang bị hậu cần, vũ khí, phương tiện của quân đoàn, rồi nói:

– Do thời gian vận động thay đổi trong hoàn cảnh chiến đấu, nên quân đoàn bị thiếu gạo và nhiên liệu. Đề nghị quân khu cho mượn, Tổng cục sẽ thanh toán sau.

– Trách nhiệm hậu cần tại chỗ mà – Cục trưởng Phạm Kinh vui vẻ hỏi – Xin cho biết số lượng yêu cầu từng loại.

Trưởng phòng kế hoạch lật sổ:

– Xin bổ sung 15 ngày gạo.

– Tôi có thể cấp ngay 300 tấn tại đây. Nếu thiếu xin nhận ở Mây Tần hoặc Cẩm Mỹ – Sáu Kinh trỏ bản đồ – Nó nằm trên đường đại quân đi qua. Còn thực phẩm bổ sung, anh Sáu Thịnh đã có sẵn 700 tấn.

– Xin cám ơn. Đơn vị đã chuẩn bị đủ.

– Còn xăng dầu thiếu bao nhiêu? – Sáu Kinh thật lòng: khoản này thì chúng tôi không sẵn ở đây.

– Quân đoàn cần được bổ sung 200.000 lít xăng – Cục phó vận tải Nguyễn Chúc lật sổ: … và 10.000 lít dầu máy, 15.000 lít ma-zút.

Sáu Kinh bảo trợ lý:

– Đồng chí làm giấy tờ đề nghị Sở Cao su Bình Sơn giải quyết ngay, quân khu chịu trách nhiệm thanh toán – Sáu Kinh ngước nhìn tham mưu trưởng Tổng cục – Xin đừng ngại, cơ sở này rất tin cẩn. Chúng tôi đã chuẩn bị từ lâu, được phép tỉnh ủy cho vận động.

Hôm sau Quân đoàn 2 tới gọn, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị tập kết ở khu Chứa Chan để chỉnh đốn lực lượng, bồi dưỡng sức cho bộ đội. Tiếp nhận bổ sung vật chất hậu cần, củng cố kỹ thuật phương tiện.

Ngày 24.4 được Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh xác định cụ thể thời gian tấn công, thời điểm phải đoạt được các mục tiêu chủ yếu, tướng Lê Trọng Tấn chỉ đạo điều chỉnh lực lượng thực hiện lệnh tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh.

Quân đoàn 2 chia hai mũi tấn công. Mũi chặn địch tháo chạy ra biển do Sư đoàn 3 tiến xuống chiếm thị xã Bà Rịa và chi khu Đức Thạnh vây cắt Đất Đỏ, Xuyên Mộc. Bước tiếp theo đánh chiếm Vũng Tàu. Mũi hiệp đồng tiến công vào thành phố gồm các Sư đoàn 304, 325, Lữ đoàn tăng 203 đánh cụm cứ điểm Nước Trong, thành Tuy Hạ. Đập tan tuyến phòng thủ hướng đông nam của địch. Lập trận địa pháo nòng dài ở Nhơn Trạch bắn khống chế các mục tiêu quy định trong thành phố, đặc biệt kiềm chế sân bay Tân Sơn Nhất, sông Lòng Tàu và cảng Sài Gòn.

Mờ sáng 25.4, Quân đoàn xuất phát. Được hậu cần Quân khu miền Đông chuẩn bị chu đáo tuyến giao thông chiến dịch. Dựa vào đường be mở trục cắt ấp Rừng Lá, dẫn đường Sư đoàn 3 qua lối cầu Cỏ May tiến xuống thành phố biển rất nhanh gọn. Công binh mở đường tắt cho cánh quân thứ hai thọc tới lộ 320 liên huyện, lộ 15 tiếp cận mục tiêu Nước Trong, thành Tuy Hạ… Kịp thời gian quy định mở màn tổng tiến công Sài Gòn.

Quân đoàn 2 bước vào chiến dịch trong hoàn cảnh được bảo đảm đầy đủ, bộ đội dân quân giăng giăng trên đường càng nức lòng chiến đấu. Quân đoàn cứ theo phương án đã định, 17h ngày 26.4 mở màn thần tốc tiến công đập tan sức kháng cự của kẻ địch tại Bà Rịa, Vũng Tàu, Long Thành, cụm cứ điểm Nước Trong… Kẻ địch ngoan cố chống trả dữ dội nhưng đều bị nghiền nát cùng lúc với đòn đánh bẹp thành Tuy Hạ.

Những trận đánh trên hướng này, vấp kẻ địch như con thú giãy chết, tung hết sức mạnh cuồng nộ… Ta bị thương vong gần 300 chiến binh. Nhờ các đội cứu thương nhân dân hỗ trợ, kịp thời cấp cứu thương binh chuyển tới các đội phẫu, sau đó cáng tiếp về bệnh viện quân dân Xuân Lộc. Bác sỹ Việt – nguyên đội trưởng điều trị K23 hậu cần miền Đông rất tận tụy, anh chị em y tế không quản ngày đêm cứu chữa, nên hạn chế được tỷ lệ thương binh nặng bị chết. Việc chăm nuôi thương binh được các hội quần chúng địa phương lo liệu rất chu đáo. Mọi hậu quả của trận đánh lớn dài ngày không thành gánh nặng cho quân đoàn chủ lực trong quá trình tiến công vào hang ổ cuối cùng của giặc.

Bộ tổng tham mưu ngụy thấy rõ sức nặng áp đảo đã vào tận gan ruột Sài Gòn. Nó liều lĩnh tàn bạo cho lệnh phá sập hàng loạt cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc, Sài Gòn, Tân Cảng, Bình Triệu, Chữ Y… nhưng độc thủ này cũng không trót lọt. Trung đoàn 10 đặc công nước phối hợp đặc công nội đô và đặc công Miền phái xuống, tỏa đi đánh bắt, diệt hết những đứa sắp gây tội ác, rồi chốt giữ. Bộ đội đặc công thoắt trở thành người canh gác sự sống của con đường tiến vào kết thúc vận mệnh đám quỷ dữ Sài Gòn.

Chỉ sau 4 ngày, đạo quân binh chủng hợp thành đã bóc hết lớp vỏ ngoại vi, ung dung sẵn sàng chờ lệnh đột nhập đô thành, chiếm gọn mục tiêu chủ yếu Dinh Độc lập.

Trải qua 55 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng và sáng tạo, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1,1 triệu tên địch, làm tan rã toàn bộ lực lượng phòng vệ dân sự gồm hơn 1 triệu tên; tiêu diệt và làm tan rã 4 quân đoàn ngụy gồm 13 sư đoàn bộ binh, lính nhảy dù, lính thủy đánh bộ, 6 sư đoàn không quân, 22 trung đoàn hải quân, toàn bộ lực lượng pháo binh, thiết giáp, thu toàn bộ vũ khí, thiết bị và phương tiện chiến tranh của địch. Tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự ngụy, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Theo Trường Sơn – Có một thời như thế
Đại tá NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
Ghi chép chiến dịch 4.1975
daibieunhandan.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Ngày 29/4/1975: Tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận

(VOV) – Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu

Ngày 29/4/1975, tổng tiến công trên toàn bộ mặt trận, ngăn chặn và tiêu diệt các tập đoàn chủ lực bên ngoài, thọc sâu vào bên trong, cùng lực lượng tại chỗ đánh chiếm các địa bàn quan trong ở vùng ven, làm tê liệt hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất.

Bộ đội Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất (Ảnh: Báo ảnh Việt Nam)

Ở hướng đông, ta tiếp tục phát triển tiến công căn cứ Nước Trong, nam căn cứ Long Bình, đánh chiếm phần lớn thị xã Vũng Tàu. Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến tới cầu xa lộ Đồng Nai.

Quân đoàn 4 đánh chiếm căn cứ Yên Thế, tranh chấp Hố Nai, sân bay Biên Hòa.

Ở hướng bắc và tây bắc, Quân đoàn 1 tiến tới Bắc Lái Thiêu, Quân đoàn 3 chiếm căn cứ Đông Dù, Trảng Bài phát triển tiến công trại huấn luyện Quang Trung, Bà Quẹo.

Ở hướng tây nam và nam, Đoàn 232 chiếm chi khu Đa Huệ thị xã Hậu Nghĩa, có đơn vị tiến vào được Bà Quẹo, Bà Lác.

Trong ngày 29/4/1975, ta đã giải phóng Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An và Vũng Tàu./.

Theo Ngày này năm xưa, NXB Lao Động 1998

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Bộ Chính trị đồng ý: Lấy tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là chiến dịch Hồ Chí Minh

Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh (ngồi từ trái qua: Đại tướng Văn Tiến Dũng, đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Phạm Hùng)

Ngày 14-4-1975, thể theo lời đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch Sài Gòn – Gia Định và nguyện vọng của đồng bào, chiến sĩ cả nước, trong bức điện số 37 TK, Bộ Chính trị đã đồng ý lấy tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là chiến dịch Hồ Chí Minh.

4 giờ 30 sáng 14-4-1975, hải quân ta bất ngờ đổ bộ nhanh chóng tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng đảo Song Tử Tây, kéo cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ của đảo, khởi đầu cho việc đánh chiếm các đảo Trường Sa do quân ngụy đóng giữ.

Tiếp đó vào ngày 25-4, quân ta đánh chiếm đảo Sơn Ca. Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng.

Cùng ngày 14-4, quân ta nổ súng đánh Phan Rang. Trận tiến công diễn ra quyết liệt. Được không quân hỗ trợ, dựa vào hệ thống công sự và địa hình thuận lợi, quân địch ngoan cố chống cự. Trong hai ngày đầu tiên ta chỉ đánh chiếm được một số vị trí ngoại vi của Phan Rang.

N.T.H.H. tổng hợp
SGGP Online

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Chuyện kể về “đường mòn Hồ Chí Minh” trên biển: Huyền thoại những con tàu

Cửa biển Thạnh Phong – đường vào các bến tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam năm xưa

Trong 10 năm từ 1962 đến 1972, tại bến Đồ Sơn (Hải Phòng) đã có gần một trăm lượt con tàu bí mật của Đoàn 125 xuất phát, vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, phương tiện và hàng trăm cán bộ chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần làm nên nhiều chiến công vang dội. Bến Đồ Sơn còn được gọi mật danh là “K.15”.

Nơi xuất phát những con tàu bí mật vào Nam

Ngày 18/8/1960, một con tàu gỗ gắn máy thủy động cơ xuất phát từ Cồn Tra (xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, Bến Tre) mở đường đầu tiên (thời kỳ chống Mỹ) ra Bắc để xin chi viện vũ khí. Trên tàu này gồm có 8 đồng chí, do ông Lê Công là Bí thư chi bộ kiêm thuyền trưởng. Mật khẩu vượt biển vào lãnh hải miền Bắc xã hội chủ nghĩa là: “Đơn vị 106B đi tìm anh 3D”. Sau 4 ngày đêm vượt trùng dương, tàu của ông Lê Công đến miền Bắc an toàn, cuộc hải hành trên được hoàn toàn giữ kín. Sau khi ở lại Bắc gần hai năm để học đường lối, chủ trương của Đảng các thành viên trên tàu Lê Công được đưa đến bến Đồ Sơn (K.15) chờ bố trí tàu vận chuyển vũ khí vào Nam.

Vàm Khâu Băng – Thạnh Phong (Thạnh Phú, Bến Tre) – nơi bà Nguyễn Thị Định xuống tàu, xuất phát đầu tiên ra miền Bắc (năm 1946) xin chi viện vũ khí

Tại Cà Mau, ngày 20/7/1961, ông Bông Văn Dĩa (người Cà Mau) được Khu ủy Khu 8 và Tỉnh ủy Cà Mau cử ra Bắc cũng bằng con đường biển trên để liên hệ Trung ương chở vũ khí vào Cà Mau. Cũng giống như tàu của ông Lê Công, số chiến sĩ trên tàu của nhà cách mạng Bông Văn Dĩa được bố trí đến bến Đồ Sơn, chờ lệnh xuất phát về Nam.

Tại bến Đồ Sơn, đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy mang tên “Phương Đông 1” chở 30 tấn vũ khí do thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa chỉ huy, xuất phát lên đường vào Nam. Trước khi xuất phát, đích thân các nhà lãnh đạo Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà đến bến cảng Đồ Sơn động viên cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Đồng chí Phạm Hùng nói: “Các đồng chí là những người đầu tiên mở ra con đường biển Bắc – Nam này. Nó cũng giống như trên Trường Sơn kia, các đồng chí là những người tiên phong đi khai sơn phá thạch”. Sau 5 ngày vượt biển Đông, ngày 16/10/1962, tàu đến cửa Bồ Đề và cặp bến Vàm Lũng (xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) an toàn. Đây là chuyến chở vũ khí đầu tiên vào Nam bằng đường biển và con đường vận tải chiến lược trên biển Đông chính thức ra đời. Sau này, ông Bông Văn Dĩa được tuyên dương Anh hùng các LLVT Nhân dân.

Kế đến, ngày 11/11/1962, tàu của ông Lê Công được lệnh trở vào Nam, chở theo 75 tấn vũ khí. Ngày 18/11/1962, tàu cặp bến an toàn tại Vàm Lũng (Cà Mau). Đây là chuyến thứ hai chở vũ khí vào Nam thành công sau chuyến đầu tiên “Phương Đông 1” của ông BôngVăn Dĩa. Tàu trên còn có mật danh là “Phương Đông 2”.

Sau những chuyến tàu chở vũ khí đầu tiên do chính các chiến sĩ từ miền Nam xin chi viện, từ cuối năm 1962 đến 1972, tại Đồ Sơn (Hải Phòng) đã có gần 100 lượt tàu của Đoàn 125 HQ xuất phát “chở hàng” chi viện cho chiến trường miền Nam. Điểm đến là các bến: Tân Ân (Cà Mau), Thạnh Phong (Bến Tre), Vũng Rô (Phú Yên), Lộc An (Xuyên Mộc, Bà Rịa-Vũng Tàu), Đức Phổ, Sa Kỳ, Ba Làng An (Quảng Ngãi). Tất cả đã vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí và hàng trăm cán bộ cốt cán; góp phần làm nên nhiều chiến thắng vang dội. Hiện nay, di tích còn lại của bến Đồ Sơn (K.15) là 15 trụ bê-tông cầu cảng, cách mép bờ khoảng 30m. Còn trên bờ còn lại là một số nền móng kho hàng, bể nước.

Những bến tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam ít được nhắc đến

Ngoài những bến đã được báo chí nhắc đến nhiều như Thạnh Phong (Bến Tre), Vàm Lũng (Cà Mau), Vũng Rô (Phú Yên)… thì bến đến Lộc An và các bến đến tại Quảng Ngãi vẫn lặng lẽ theo năm tháng dù rằng trước đó, các bến tiếp nhận này đã góp phần rất lớn vào các chiến công tại miền Đông Nam bộ và Khu 5.

Bia lưu niệm bến đến Thạnh Phong – đường Hồ Chí Minh trên biển – tại đầu Vàm Khâu Băng do Lữ đoàn 125 HQ xây dựng

Bến Lộc An nay thuộc xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu). Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đoàn 125 HQ đã tổ chức 3 chuyến tàu cặp bến thành công, vận chuyển 109 tấn vũ khí, kịp thời trang bị cho quân dân các tỉnh miền Đông, Khu 6 tham gia các chiến dịch, góp phần làm nên chiến thắng như trận Bình Giã, Đồng Xoài, Dầu Tiếng, Bầu Bàng (1965). Có thể kể đến” Chuyến 1: Ngày 26/9/1963, chiếc tàu gỗ mang số hiệu 41 gồm 12 chiến sĩ do thuyền trưởng Lê Văn Một (vào Nam lần hai) và Chính trị viên Đặng Văn Thanh chỉ huy, chở 18 tấn vũ khí vào bến Lộc An. 3 giờ sáng ngày 2/10/1963, tàu cặp bến an toàn, lực lượng địa phương (Đoàn 1500) đã chờ sẵn ở bến để bốc hàng. Lúc này thủy triều bắt đầu rút làm tàu mắc cạn, gần đó là đồn địch (đồn Phước Hải); nhưng cán bộ, chiến sĩ tàu 41 đã mưu trí, dũng cảm bảo vệ an toàn con tàu và bến bãi. Chuyến 2: Ngày 29/11/1964, tàu mang số hiệu 56, gồm 16 chiến sĩ do thuyền trưởng Nguyễn Quốc Thắng và chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Tàu 56 chở 44 tấn vũ khí, cặp bến Lộc An an toàn, và chuyến hàng chiến lược này đã kịp thời trang bị cho các đơn vị chủ lực miền Đông, Khu 6 tham gia mở đợt 2 chiến dịch Bình Giã (1/1965). Chuyến 3: Vẫn tàu 56. Tàu do thuyền trưởng Lê Quốc Thân và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy, chở 47 tấn vũ khí xuất phát vào ngày 27/1/1965 và cặp bến Lộc An an toàn vào đêm 1/2/1965. Số vũ khí chở vào lần này tiếp tục trang bị cho quân dân Khu 6 tham gia giai đoạn 3 chiến dịch Bình Giã. Ngày 7/3/1965, chiến dịch Bình Giã kết thúc thắng lợi đã làm thất bại cơ bản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ – ngụy, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng miền Nam.

Nhưng các bến đến tại Quảng Ngãi mới thật mang nhiều ấn tượng. Tại đây, Đoàn 125 HQ đã tổ chức 4 chuyến (2 chuyến vào bến Đức Phổ, 1 chuyến vào bến Sa Kỳ, 1 chuyến vào bến Ba Làng An). Cả 4 chuyến đều gặp địch, cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã anh dũng chiến đấu, hủy tàu để không lọt vào tay địch và sau đó anh em thủy thủ vượt ngược Trường Sơn ra miền Bắc trở về đơn vị. Chuyến 1 (vào Đức Phổ – Quảng Ngãi): Ngày 19/11/1966, tàu mang số hiệu 41 được lệnh chở 59 tấn vũ khí vào Đức Phổ, trên tàu có 17 chiến sĩ, do thuyền trưởng Hồ Đắc Thanh và Chính trị viên Đặng Văn Thanh chỉ huy. Trên đường vượt biển, gặp thời tiết xấu nên tàu phải dừng lại nhiều lần trên biển. Đến đêm 23/11, tàu tiếp tục đi và đêm 26/11 tàu đến bến qui định, thả hàng trong điều kiện sóng to gió lớn. Rạng sáng 27/11, lúc tàu chuẩn bị quay ra thì bị mắc cạn. Để giữ bí mật, Chi ủy và chỉ huy tàu quyết định hủy tàu. Có điều tàu nổ không đúng thời gian đặt chất nổ làm 2 chiến sĩ hy sinh là Trần Nhợ và DươngVăn Lộc. Trong khi đó 15 thành viên còn lại, đã vào được đến bờ, sau đó tất cả đi bằng đường bộ, vượt dãy Trường Sơn và mãi đến 4 tháng sau mới trở về đơn vị an toàn. Chuyến 2 (vào Sa Kỳ): Ngày 14/3/1967, tàu 43 do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn, được lệnh chở 50 tấn vũ khí vào Sa Kỳ – Quảng Ngãi. 2 giờ sáng ngày 18/3/1967, khi tàu còn cách Sa Kỳ vài chục hải lý, anh em trên tàu thấy tàu địch bám theo tàu ta, còn trên không thì máy bay địch quần thảo, thả pháo sáng liên hồi, làm sáng rực cả một vùng biển đêm. Trước tình hình nguy cấp trên, anh em thủy thủ trên tàu quyết định phá vòng vây đưa tàu vào bến. Khi phá vòng vây, 3 tàu chiến địch bám theo, tàu 43 buộc phải nổ súng và cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra sau đó. Tàu chiến địch gọi điện cho nhiều máy báy đến yểm trợ. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra 3 giờ liền, tàu ta bị trúng đạn nặng, tình thế mỗi lúc thêm bất lợi, nếu tiếp tục chiến đấu, trời sẽ sáng và nhất định địch sẽ tăng cường lực lượng vây tàu ta. Nhận định vậy nên cấp ủy và chỉ huy tàu quyết định hủy tàu để không lọt vào tay địch. Hủy tàu xong, anh em thủy thủ bơi vào bờ an toàn rồi tìm đường trở ra Bắc. Chuyến 3 (vào Ba Làng An): Ngày 6/7/1967, tàu 148 gồm 18 đồng chí, do đồng chí thuyền trưởng Nguyễn Tấn Ích và Chính trị viên Huỳnh Ngọc Trạch chỉ huy, chở 56 tấn vũ khí vào Quảng Ngãi. Vào đêm 11/7, trên đường đi, tàu 148 gặp máy bay và tàu chiến địch bao vây, tàu 148 đánh trả và cơ động vào bến Ba Làng An. Địch đánh tàu ta bị thương nặng, Chính trị viên Huỳnh Ngọc Trạch và thuyền phó Phạm Chuyên Nghiệp hy sinh trong lúc chiến đấu. Ta không phá hủy được tàu và địch cho quân đến kéo tàu đi. Anh em thủy thủ còn lại bơi được vào bờ rồi đi bộ trở ra miền Bắc. Chuyến 4 (chuyến lần thứ hai vào Đức Phổ): Ngày 27/2/1968, tàu 43 gồm 16 đồng chí được lệnh chở 37 tấn vũ khí vào bến Đức Phổ (Đội tàu 43, sau chuyến đi lần trước đã chiến đấu anh dũng với địch, hủy tàu và trở lại miền Bắc anh em trong tàu được nhận một tàu mới, vẫn mang tên 43). Tàu 43 vẫn do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Ngày 29/2, khi tàu 43 đến gần bến Đức Phổ, cách bờ khoảng chục hải lý thì gặp cùng lúc 6 tàu địch và trực thăng tấn công tàu ta. Anh em trên tàu tổ chức đánh trả. Ta bắn rơi 1 trực thăng của địch, trong khi ta đã hy sinh 3 đồng chí: Vũ Văn Ruệ, Võ Nho Tòng và Phạm Văn Rai. Biết lực lượng địch đông, nếu tiếp tục chiến đấu địch có khả năng cướp tàu ta, nên chỉ huy lệnh cho anh em rút lên bờ và hủy tàu. Anh em còn lại trở về miền Bắc an toàn. Đây là lần thứ hai anh em chỉ huy, thủy thủ tàu 43 lại đi bộ, vượt Trường Sơn trở ra Bắc.

Đài kỷ niệm những con tàu không số tại ngã ba Thạnh Hải – Thạnh Phong

Từ năm 1968 đến 1972, Đoàn 125 HQ chuyển hướng, tập trung vận chuyển vũ khí Bắc – Nam vào sâu tận biển Nam bộ, chủ yếu đến bến Thạnh Phong (Bến Tre) và Tân Ân (Cà Mau). Đến ngày 21/11/1970, tàu 176 do đồng chí Lê Xuân Ngọc làm thuyền trưởng và đồng chí Trần Thành Trung là Chính trị viên chỉ huy bị lộ khi sắp vào bến Thạnh Phong (hủy tàu, ta hy sinh 10 đồng chí) từ đó, các tàu vận chuyển chuyển hẳn vào cặp bến ở các bến thuộc xã Tân Ân. Tại các bến ở Thạnh Phong và Cà Mau, còn là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt, anh dũng của cán bộ, chiến sĩ vận tải Đoàn 125 HQ anh hùng và quân dân địa phương với máy bay, tàu chiến, các cuộc hành quân qui mô lớn của địch để bảo vệ tàu và hàng. Các trận chiến đấu đó là những tấm gương cao đẹp về phẩm chất và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cán bộ, chiến sĩ Hải quân, đồng thời nói lên tính chất khốc liệt, đầy khó khăn nguy hiểm của công tác vận chuyển vũ khí bằng đường biển chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần đưa đến ngày đại thắng 30/4/1975.

Phan Lữ Hoàng Hà
(Nguồn: tư liệu thống kê của Đoàn 125 HQ)
thanhnien.com.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Các binh đoàn chủ lực của quân đội ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn

(CATP) Mùa xuân năm 1973, sau những thất bại nặng nề cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, đế quốc Mỹ buộc phải ký hiệp định Paris về Việt Nam, ngừng ném bom miền Bắc, rút toàn bộ hơn nửa triệu quân Mỹ và hàng vạn quân các nước chư hầu về nước, Tuy nhiên với bản chất phản động, Mỹ ngụy tráo trở không thi hành hiệp định Paris, ngang nhiên lấn chiếm ra các vùng giải phóng, tiếp tục tàn sát đồng bào và đàn áp các phong trào yêu nước của ta.

Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh (hàng ngồi từ trái qua phải: đại tướng Văn Tiến Dũng, đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Phạm Hùng)

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã họp tháng 6-1973 đề ra Nghị quyết 21, phân tích tương quan lực lượng giữa ta và địch có sự thay đổi về chất. Đảng ta chủ trương tiếp tục đẩy mạnh chiến lược tiến công không những ở vùng rừng núi mà còn tấn công mạnh ở các vùng đồng bằng và đô thị miền Nam.

Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng gấp rút tổ chức các binh đoàn chủ lực cơ động lớn trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh, tạo nên những quả đấm mạnh, sử dụng vào những thời cơ quan trọng nhất tiêu diệt lớn quân địch, làm thay đổi cục điện chiến tranh giải phóng nhiều địa bàn chiến lược, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Quân đoàn 1 (tức Binh đoàn Quyết Thắng) được thành lập đầu tiên vào ngày 24-10-1973 tại miền Bắc, là quân đoàn chủ lực cơ động binh chủng hợp thành và là binh đoàn dự bị chiến lược của Bộ Tổng tư lệnh. Tiếp sau đó, năm 1974 thành lập Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) tại Trung Bộ và thành lập Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) tại Nam Bộ. Đầu năm 1975 thành lập Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) tại Tây Nguyên. Từ sau khi thành lập các binh đoàn lớn, tình hình chiến trường ngày càng sôi động, ta ngày càng thắng lớn.

Trận mở đầu của chiến dịch Đông Xuân 1975, ngày 10-3-1975 ta tấn công giải phóng Buôn Mê Thuộc, ngay sau đó tấn công giải phóng Pleiku, Kontum, toàn bộ Tây Nguyên và Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.

Ngày 19-3-1975 ta tấn công giải phóng Quảng Trị. Đến 25, 26-3-1975 giải phóng Huế và 29-3-1975 đập tan Khu liên hiệp quân sự Đà Nẵng, giải phóng toàn bộå các tỉnh Trung Bộ và đảo Trường Sa.

Xe tăng Lữ đoàn 203 chiếm phủ Tổng thống ngụy: Ảnh tư liệu

Như vậy chỉ trong vòng 19 ngày, từ 10-3 đến 29-3-1975, quân ta đã tấn công với lực lượng áp đảo trong thế chẻ tre, tiêu diệt hoàn toàn Quân đoàn 1 và 2 của địch, xóa sổ Quân khu 1 và 2, hệ thống phòng tuyến của địch từ miền Trung, Tây Nguyên vào Nam Bộ bị ta cắt đứt làm đôi, tiêu diệt vài vạn tên, bắt sống hàng vạn, thu nhiều chiến lợi phẩm. Ngô Quang Trưởng, trung tướng Tư lệnh Quân khu 1 của địch và các cố vấn Mỹ hoảng sợ vội vã dùng trực thăng chạy về Sài Gòn.

Chiến sự chuyển biến rất nhanh, tin vui thắng trận dồn dập, do đó cuối năm 1974 ta chủ trương giải phóng miền Nam trong hai năm (1975 và 1976) thì đến ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị họp đã quyết định chuyển sang phương án thời cơ, chuyển từ tấn công sang tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975 không cần đợi đến năm 1976 nữa.

Trước yêu cầu của trận quyết chiến cuối cùng là giải phóng Sài Gòn, Bộ Tổng tư lệnh đã bố trí các lực lượng lớn áp sát các tỉnh xung quanh Sài Gòn và kịp thời quyết định tung lực lượng dự bị chiến lược Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) từ miền Bắc hành quân thần tốc vào chiến trường miền Nam từ cuối tháng 3-1975. Đây là một cuộc trường chinh xuyên Việt, vượt Trường Sơn bao la hùng vĩ của một binh đoàn lớn, vài ngàn xe ôtô, xe tăng, pháo binh và khối lượng lớn binh khí kỹ thuật đồ sộ thì quả là muôn vàn khó khăn, gian khổ – đường Trường Sơn khi đó là đường đất đỏ, nhiều đèo dốc hiểm trở, qua nhiều sông suối, bụi đường mù mịt, xe sau không nhìn thấy xe trước, phải bật đèn ban ngày để nối đuôi nhau chạy, cái gạt nước trở thành gạt bụi liên tục, cóá đoạn bụi làm ngập tới nửa bánh xe rất khó đi, bụi dính vào người không nhận ra mặt người đó là ai.

Đang trên đường hành quân, qua đường dây thông tin các cánh quân của ta đã nhận được mệnh lệnh của đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc thần tốc hơn nữa, táo bạo táo bạo hơn nữa, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh được phổ biến đến từng chiến sĩ, khí thế các đơn vị lên rất cao.

Ngày 14-4-1975 Bộ Chính trị đã đồng ý đề nghị của Bộ Tư lệnh chiến dịch, đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn là “Chiến dịch hồ chí minh” làm cho mọi người phấn khởi, nhảy lên reo hò, quyết chiến thắng.

Tiếp đó hàng loạt các sự kiện mới làm nức lòng quân dân ta. Ngày 16-4-1975 ta đập tan phòng tuyến “tử thủ” Phan Rang của địch, giải phóng Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy, bắt sống trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh tiền phương Quân khu 3 ngụy và chuẩn tướng không quân Phạm Ngọc Sang. Ta thu được 40 máy bay của địch còn nguyên vẹn tại sân bay Thành Sơn.

Ngày 20-4-1975 ta tấn công phá vỡ phòng tuyến Xuân Lộc của địch cách Sài Gòn 80km, cửa ngõ Sài Gòn đã được mở toang.
Ngày 21-4-1975 Nguyễn Văn Thiệu từ chức vội vơ vét nhiều vàng bạc rồi chuồn và trao quyền tổng thống cho Trần Văn Hương. Sau đó gặp bế tắc, ngày 26-4-1975 Trần Văn Hương lại trao chức tổng thống cho Dương Văn Minh.

Ngày 22-4-1975 đại tướng Tổng tư lệnh quân đội ngụy Cao Văn Viên cũng run sợ vội đáp máy bay sang Mỹ. Đến lúc này tình hình địch rất hoảng loạn, mạnh ai người đó chạy, tùy nghi di tản, thật là cảnh thảm bại của bè lũ bán nước.

Ngày 27-4-1975, quân ta ở tất cả các hướng bắt đầu nổ súng tấn công các vùng ven để mở cửa vào Sài Gờn.

Ngày 28-4-1975 ta dùng máy bay địch thu được ở sân bay Phù Cát do Nguyễn Thành Trung chỉ huy phi đội ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 20 máy bay địch, làm cho địch hết sức hoang mang.

Từ 18 giờ ngày 29-4-1975 đến ngày 30-4-1975, ta đồng loạt tổng tấn công vào nội thành Sài Gòn bằng lực lượng năm quân đoàn chủ lực, đánh theo năm hướng, đánh chiếm năm mục tiêu chủ yếu của địch là: Bộ tổng tham mưu quân ngụy, dinh Độc lập, sân bay Tân Sơn Nhất, Tổng nha cảnh sát và Biệt khu thủ đô của ngụy. Ta kết hợp chặt chẽ giữa quân chủ lực với quân địa phương, bộ đội đặc công và phong trào nổi dậy vô cùng mạnh mẽ của quần chúng nhân dân Sài Gòn và các vùng ven.

Cụ thể tại hướng Bắc, Quân đoàn 1 tổ chức thành hai mũi. Mũi thứ nhất Sư đoàn 312 tấn công Bình Dương, tiêu diệt Sư đoàn 5 ngụy, không cho chúng co cụm về Sài Gòn. Tên chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Sư trưởng Sư 5 phải bắn vào đầu tự sát, trên ngực có mảnh giấy viết chữ to: “Nhục nhã, nhiều tiền quá, nhục nhã quá”. Tên đại tá Tỉnh trưởng Bình Dương là Nguyễn Văn Của, run sợ vội lệnh cho thuộc hạ lũ lượt 7.000 tên và hàng trăm xe pháo ra đầu hàng. Giải phóng hoàn toàn Thủ Dầu Một và toàn tỉnh Bình Dương vào lúc 10 giờ 30 ngày 30-4-1975.

Mũi thứ hai Sư đoàn 390 được tăng cường tổ chức thành sư đoàn bộ binh cơ giới mạnh, toàn sư đoàn tiến quân trên 300 xe ôtô và hàng trăm xe tăng, thiết giáp, từ Sông Bé thần tốc táo bạo thọc sâu thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy (nay là Quân khu 7), Tiểu khu Gia Định và khu Binh chủng Gò Vấp.

Tại hướng Đông, Quân đoàn 2 sau khi đánh chiếm Bà Rịa, Long Thành đã qua Nhơn Trạch, Long Bình, tiến thẳng đánh chiếm dinh Độc Lập, 2 xe tăng hạng nặng của ta dẫn đầu đã húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, bộå đội ta chạy lên lầu hạ cờ ba que của ngụy, giương cao lá cờ giải phóng. Quân đoàn 2 kết hợp với Lữ đoàn thiết giáp đã xông vào bắt sống toàn bộ nội các ngụy, bắt Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ ngày 30-4-1975.

Tại hướng Tây Bắc, Quân đoàn 3 đánh chiếm Tây Ninh, Đồng Dù rồi qua ngã tư Bảy Hiền tấn công đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.

Tại hướng Đông Bắc, Quân đoàn 4 sau khi phá tan phòng tuyến Xuân Lộc đã tiến công giải phóng Trảng Bom, thành phố Biên Hòa, đánh chiếm sân bay Biên Hòa rồi tiến thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ quốc phòng ngụy.

Tại hướng Nam, Đoàn 232 đánh từ Mỹ Tho, Long An rồi tiến thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm Tổng nha cảnh sát ngụy (nay là Bộå Công an) và đánh chiếm Biệt khu thủ đô ngụy (nay là Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố).

Đến trưa 30-4-1975, sau khi giải phóng Sài Gòn không còn tiếng súng, dân chúng đổ ra đường rất đông, đầy cờ hoa, reo hò vang trời đón mừng đoàn quân giải phóng, đón mừng các anh Bộ đội Cụ Hồ.

Sau chiến thắng cả bốn quân đoàn chủ lực và các sư đoàn đều được Nhà nước phong tặng danh hiệu vẻ vang “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang”.

Giờ đây 36 năm đã trôi qua (30-4-1975 – 30-4-2010), nhớ lại những giờ phút hào hùng của 50 ngày đêm tổng tiến công và nổi dậy của chiến dịch Mùa Xuân 1975 trên toàn miền Nam, chúng ta lại nhớ đến công ơn trời biển của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, nhớ lời của Bác: “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Sự thật đã diễn ra đúng như lời tiên đoán của Bác, đó là mong ước và cũng là mệnh lệnh của Bác để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

TRẦN VŨ HÒA
congan.com.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Chiến thắng Xuân Lộc – biểu hiện của sự linh hoạt, sáng tạo trong việc chuyển cách đánh

Bị thất bại thảm hại ở Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng, đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, Mỹ – ngụy quyết “tử thủ” Sài Gòn bằng cách dựng lên các tuyến phòng thủ, nhất là ở những khu vực then chốt vùng ngoại vi; trong đó, thị xã Xuân Lộc được chúng xác định là “cánh cửa thép” phía Đông. Ở đây, địch bố trí một lực lượng lớn gồm: Sư đoàn 18 bộ binh mạnh nhất của Quân đoàn 3, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn thiết giáp, 9 tiểu đoàn bảo an của tiểu khu Long Khánh. Đồng thời, chúng tổ chức lực lượng dự bị chiến lược (dù, thủy quân lục chiến) và toàn bộ lực lượng pháo binh của Quân đoàn 3, không quân từ 2 sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất sẵn sàng chi viện bảo vệ Xuân Lộc. Đối với ta, ngày 7-4-1975, Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền thông qua Kế hoạch tiến công quân sự trên mặt trận Sài Gòn, giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 4 (thiếu Sư đoàn 9) và Sư đoàn 6, chủ lực Quân khu 7 đánh chiếm thị xã Xuân Lộc, tạo thế bao vây, áp sát Sài Gòn.

Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh họp chỉ đạo tác chiến. Ảnh tư liệu

Theo kế hoạch ban đầu, ta tổ chức tiến công thẳng vào Thị xã, tiêu diệt Sư đoàn 18 ngụy, giải phóng Xuân Lộc, mở cửa ngõ phía Đông tiến vào Sài Gòn. Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, trận chiến đấu đã diễn ra gay go, quyết liệt. Do pháo binh của ta chưa phát huy được tác dụng; trong khi pháo binh và không quân địch đánh phá ác liệt, cộng với một lực lượng lớn quân ngụy đã được tăng cường cho Xuân Lộc1, nên Quân đoàn 4 tổ chức tiến công nhiều lần vào Thị xã nhưng không thành công, bị tổn thất lớn (chỉ riêng trong hai ngày 9 và 10-4, Sư đoàn 341 đã có 1.100 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, bị thương, đạn pháo tiêu thụ lớn, hơn một nửa số xe tăng bị bắn hỏng). Mặt khác, kế hoạch tiến công không thành công do ta chưa dự tính hết sự phát triển phức tạp của tình huống, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố và khả năng kháng cự của kẻ địch ở thế cùng đường, nhưng đang còn sức. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Miền và Quân đoàn 4 đã kịp tổ chức nghiên cứu đánh giá lại tình hình một cách khách quan, khoa học; nhanh chóng quyết định chuyển phương pháp tác chiến, từ tiến công thẳng vào Thị xã sang bao vây, chia cắt, tiêu diệt viện binh địch, nhằm phát huy sở trường, thế mạnh của ta, khoét sâu điểm yếu và hạn chế tối đa điểm mạnh của địch.

Qua nghiên cứu, ta nhận định: địch tuy bị thiệt hại, đang hoang mang, lúng túng, nhưng lực lượng của chúng còn tương đối mạnh. Chúng quyết tâm bảo vệ Thị xã, bởi Xuân Lộc có vị trí đặc biệt quan trọng trong tuyến phòng thủ Biên Hòa – Bà Rịa – Vũng Tàu. Nếu để mất Xuân Lộc, đồng nghĩa với việc Sài Gòn thất thủ và cũng là “dấu chấm hết” đối với chế độ “Việt Nam cộng hòa”… Mặt khác, ở đây, địch lại có hệ thống công sự, trận địa kiên cố, vững chắc; hệ thống đường giao thông thuận lợi, bảo đảm cho lực lượng dự bị chiến lược của chúng dễ dàng cơ động từ Biên Hòa lên theo đường số 1, từ Bà Rịa ra theo đường số 2, 20 để chi viện, ứng cứu, giải tỏa và rút chạy về Sài Gòn. Tiến công thẳng vào Thị xã, là ta đánh vào nơi địch rất mạnh, lại trong công sự vững chắc, chúng có thể trong đánh ra, ngoài đánh vào; còn ta không phát huy được sở trường và thế mạnh, nên trận chiến đấu khó thành công. Do đó, nhanh chóng chuyển sang bao vây, chia cắt Xuân Lộc với Sài Gòn, kéo viện binh địch ra để tiêu diệt quyết định hoàn toàn đúng đắn là điều kiện tiên quyết bảo đảm trận chiến đấu giành thắng lợi; đồng thời là điều kiện, thời cơ để các lực lượng phát huy sở trường, thế mạnh tiêu diệt địch, nhất là sử dụng trọng pháo tiến công mãnh liệt vào các căn cứ, sân bay, trận địa pháo, khống chế và tiêu diệt từng cụm pháo binh và một bộ phận lớn địch ngoài công sự; tạo điều kiện, thời cơ cho ta tiến lên giải phóng Xuân Lộc, chọc thủng tuyến phòng thủ phía Đông, tiến vào trung tâm (Sài Gòn) tiêu diệt cơ quan đầu não của chúng.

Tượng đài chiến thắng Xuân Lộc – Long Khánh (Ảnh: sưu tầm)

Nhằm bảo đảm giành thắng lợi, Bộ Chỉ huy Mặt trận đã sử dụng lực lượng một cách hợp lý. Rút kinh nghiệm các đợt tiến công trước, ta sử dụng lực lượng của Sư đoàn 6 (Quân khu 7) cùng với lực lượng của Trung đoàn 95 (Sư đoàn 325, Quân đoàn 2), đơn vị có nhiều kinh nghiệm đánh chia cắt chiến trường ở Tây nguyên và đại đội xe tăng mới được tăng cường cho mặt trận đánh chiếm chi khu Túc Trưng, Kiện Tân, tiêu diệt Trung đoàn 52 (Sư đoàn 18) ngụy; đồng thời, có nhiệm vụ đánh địch từ Biên Hòa ra chi viện. Quân đoàn 4 sử dụng pháo binh bắn mãnh liệt vào các vị trí của hai trung đoàn 43, 48 (Sư đoàn 18) và Lữ đoàn 1 dù của địch; đồng thời, các đơn vị bộ binh phát huy thế mạnh của chủ lực Miền, đang triển khai đội hình chiến đấu ở Xuân Lộc – Dầu Giây, thông thuộc địa hình, tiêu diệt viện binh địch từ Biên Hòa đến, Xuân Lộc ra, không cho chúng hợp quân. Cùng với đó, ta sử dụng trọng pháo ở trận địa Hiếu Lâm và hỏa lực mang vác của Đoàn Đặc công 113 liên tục bắn phá sân bay Biên Hòa, nhằm khống chế và hạn chế đến mức thấp nhất không quân địch hoạt động. Thực hiện cách đánh này, ta đã tránh đánh vào nơi địch mạnh, có công sự, trận địa kiên cố, vững chắc, mà đánh địch ở ngoài công sự, nơi ta chuẩn bị trước; phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, hạn chế điểm mạnh và khoét sâu những điểm yếu cốt tử của chúng. Theo phương án tác chiến của Bộ Tư lệnh Miền, các đơn vị nhanh chóng hoàn tất mọi công tác chuẩn bị, triển khai lực lượng, bày thế trận và sẵn sàng đón đánh địch.

Với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, các đơn vị đã tích cực chiến đấu tiêu diệt lớn quân địch ở vòng ngoài, chia cắt Xuân Lộc với Biên Hòa, Bà Rịa. Trận đánh diễn ra đúng như dự kiến và thế trận đã bày sẵn của ta. Xuân Lộc bị bao vây và toàn bộ các căn cứ của địch trong Thị xã đều bị trọng pháo của ta bắn mãnh liệt. Bị bất ngờ, địch vội vàng điều Lữ đoàn 3 kỵ binh, thiết giáp từ Biên Hòa ra phản kích, ứng cứu theo đường số 20, nhưng chưa kịp đứng chân đã bị lực lượng của Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95 được pháo binh chi viện đánh lui, chiếm ngã ba Dầu Giây (mặc dù, lực lượng này vừa hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm xong các vị trí, tiêu diệt Trung đoàn 52 (Sư đoàn 18) ngụy, sau đó mới phát triển tiến công theo đường số 20). Trong lúc đó, Quân đoàn 4 tiếp tục sử dụng pháo binh tiêu diệt các trận địa pháo; đồng thời, chi viện cho bộ binh tiêu diệt địch đến ứng cứu theo đường số 1, chia cắt Xuân Lộc với Biên Hòa, cắt đứt đường số 2 từ Xuân Lộc đi Bà Rịa và tiêu diệt địch từ Xuân Lộc ra ứng cứu cho vòng ngoài. Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, đêm 20-4, quân địch ở Xuân Lộc rút chạy theo đường số 2 về Bà Rịa đã bị lực lượng của Quân đoàn 4 và các lực lượng vũ trang Quân khu 7 chặn đánh dọc đường, tiêu diệt một bộ phận quan trọng, buộc chúng phải bỏ lại nhiều xe, pháo, súng đạn. Trong trận đánh, chúng ta đã tổ chức phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng có hỏa lực mạnh (pháo binh và hỏa lực mang vác) với lực lượng bộ binh tiêu diệt lớn địch ở ngoài công sự và đẩy lùi nhiều đợt phản kích của chúng; bao vây, chia cắt Xuân Lộc, buộc địch phải bỏ chạy về Sài Gòn. Thị xã Xuân Lộc được giải phóng, Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, Sư đoàn 3 (Quân khu 5) và các lực lượng vũ trang địa phương hình thành mũi vu hồi chiến dịch rất hiểm ở phía Đông – Đông Nam Sài Gòn, góp phần quan trọng tạo nên thắng lợi vang dội của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong tương lai, nếu chiến tranh xâm lược xảy ra đối với nước ta, đó sẽ là cuộc chiến tranh tổng lực, sử dụng vũ khí công nghệ cao, với quy mô, cường độ lớn. Vì thế, ngay trong hòa bình, chúng ta cần phải đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc. Trong đó, phải chú trọng những địa bàn chiến lược, làm cơ sở phát triển thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, có tổ chức, biên chế tinh, gọn, hợp lý; đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tập trung đầu tư, nghiên cứu phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam lên tầm cao mới; ưu tiên phát triển nghệ thuật vận dụng các hình thức chiến thuật, phương pháp tác chiến của các quân chủng, binh chủng, nhất là của các binh đoàn chủ lực đáp ứng yêu cầu của chiến tranh hiện đại. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu các cuộc chiến tranh vừa qua trên thế giới, từ đó phát triển nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Chiến thắng Xuân Lộc năm xưa, mà điểm nhấn là chuyển cách đánh kịp thời, sáng tạo là bài học hết sức quý báu đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XNCN ngày nay.

Trung tá, ThS. NGUYỄN KHẮC LUYỆN
Trường Sĩ quan Lục quân 1
tapchiqptd.vn

———————-

1- Địch đã huy động 50% quân chủ lực, 60% pháo binh, hầu hết xe tăng của Quân đoàn 3 và lực lượng dự bị chiến lược tương đương một sư đoàn (cả dù và thủy quân lục chiến); sử dụng từ 60 đến 70 lần chiếc máy bay đánh phá trong một ngày.

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.

Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

5 giờ sáng ngày 30/4/1975, từ các hướng, bộ đội ta – mà nòng cốt là lực lượng đột kích thọc sâu ào ạt tiến vào Sài Gòn.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu

Trên hướng Tây Bắc, sau loạt pháo bắn chuẩn bị dội bão lửa vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ tổng tham mưu ngụy, đội hình đột kích thọc sâu của Quân đoàn 3 nhanh chóng vượt qua ngã Tư Bảy Hiền, tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất. Địch trong sân bay chống trả quyết liệt. Cùng lúc, máy bay của chúng từ sân bay Trà Nóc – Cần Thơ lên ném bom xuống đường phố, làm một số cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh. Nhưng lúc này không một trở lực nào có thể cản được bước tiến của ta. Đến 11 giờ 30 phút ngày 30/4, Quân đoàn 3 đã chiếm được Bộ tư lệnh không quân và bộ tư lệnh sư đoàn dù ngụy, bắt liên lạc được với pháo đoàn ta trong ủy ban liên hiệp quân sự 4 bên ở Đa-vít; làm chủ sân bay Tân Sơn Nhất.

Cùng thời gian này, Trung đoàn 28 và tiểu đoàn 2 xe tăng thuộc trung đoàn 273, hai đại đội công binh và trinh sát, một tiểu đoàn cao xạ đi cùng, diệt các ổ đề kháng của địch, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Vượt qua cổng chính, chiếc xe tăng mang số hiệu 927 và xe thiết giáp có số hiệu 001 đã vọt lên chắn trước thềm nhà Bộ tổng tham mưu, chi viện cho xe tăng 819 và 872 tiến công. Trần Lựu và Nguyễn Duy Tuân đã kéo cờ giải phóng lên cột cờ của tổng hành dinh quân ngụy đúng vào 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975. Như vậy từ các hướng, các binh đoàn chủ lực cơ động của ta được lực lượng tại chổ phối hợp chiến đấu đã phát triển khá thuận lợi.

Sáng 30/4, bầu trời Sài Gòn như vỡ ra bởi tiếng nổ của đạn pháo các cỡ, tiếng gầm rú của hàng nghìn động cơ xe máy của ta tiến vào nội đô và kẻ thù cuống cuồng tháo chạy.

9 giờ 30 phút ngày 30/4, xe của Tư lệnh Quân đoàn 2 vào tới Thủ Đức. Thấy xe tăng của tiểu đoàn 5 lữ đoàn 203 đang tập trung đột phá cụm phòng ngự của địch ở Thủ Đức, Tư lệnh quân đoàn lệnh cho tiểu đoàn 5 lập tức bám đội hình Lữ đoàn 203 đánh vào mục tiêu chính. Nhiệm vụ đánh quân địch ở Thủ Đức được giao lại cho Trung đoàn 18 Sư đoàn 325.

Tại Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất), hai cán bộ tình báo của ta cũng đã có mặt tại đây từ sáng với tư cách là người của lực lượng thứ ba đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng: Vũ Ngọc Nha, Tô Văn Can, Dương Văn Minh đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông để bàn giao. Ta tuyên bố: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao”.

Dương Văn Minh chấp nhận, trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phan Xuân Thệ và đến Đài Phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện.

(Tư liệu Lịch sử)

voh.com.vn

This entry was posted on Tháng Chín 24, 2012, in 30.04.1975.