QĐND – Tháng 3-1935, tại Ma Cao (Trung Quốc), Đại hội lần thứ I của Đảng Cộng sản Đông Dương phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước, phong trào cách mạng của nhân dân ta ở Lạng Sơn, Cao Bằng và rút ra một nhận định quan trọng: “Điều rất đặc sắc là cuộc đấu tranh của công nông người Thổ, người Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn có tính chất tổ chức chu đáo và theo những khẩu hiệu cộng sản rõ rệt. Công nông các dân tộc thiểu số chẳng những đã vào hàng ngũ của Đảng và các đoàn thể do Đảng chỉ đạo mà họ giữ một địa vị rất quan trọng trong các cơ quan chỉ đạo từ hạ cấp tới thượng cấp” (Văn kiện Đảng 1929-1935, NXB ST, H.1977, Tr.480). Trên cơ sở nhận định ấy, Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ lần lượt cử cán bộ vào châu Bắc Sơn gây dựng cơ sở, kết nạp quần chúng trung kiên vào Đảng. Trong lớp cán bộ đầu tiên ấy là đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trần Đăng Ninh. Nhờ đó, quần chúng cách mạng và các cơ sở của Đảng ngày càng tổ chức chặt chẽ, hoạt động sôi nổi và hiệu quả hơn. Với lòng yêu nước, căm thù giặc cháy bỏng, các chiến sĩ cách mạng kiên cường được tập hợp lại, và Đội du kích Bắc Sơn chính thức thành lập tại làng Đon Úy, xã Vũ Lăng. Đây là đội du kích đầu tiên của cách mạng Việt Nam do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo. Ông Lương Văn Tri, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ được cử làm Đội trưởng (trước đấy là ông Trần Đăng Ninh). Với nhận định: Phải duy trì và phát triển Đội du kích Bắc Sơn để làm vốn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, tiến tới xây dựng trung tâm căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai. Phương hướng hoạt động của đội là “vũ trang công tác”. Khi cần thiết thì chống địch khủng bố, bảo vệ nhân dân, phát triển cơ sở, mở rộng căn cứ.
Ống bương đựng gạo của Đội du kích Bắc Sơn. Ảnh tư liệu
Chiếc nồi dựng để nấu cơm cho Đội du kích Bắc Sơn thập niên 1940.
Được cử lãnh trách nhiệm nặng nề, ông Lương Văn Tri một mặt khẩn trương chấn chỉnh Đội du kích Bắc Sơn. Mặt khác, phát triển lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nguồn bổ sung nhanh chóng cho đội du kích. Chủ trương của ông và toàn đội là sống tập trung, thoát ly gia đình để có thể cơ động nhanh trên địa bàn rộng. Vừa đánh địch bảo vệ lực lượng, vừa tuyên truyền tổ chức quần chúng. Đội du kích Bắc Sơn sau khi được ông chấn chỉnh và củng cố lại đã có hơn 20 đội viên, được trang bị các loại súng trường cướp được của địch. Ban ngày toàn đội rút vào rừng sâu, các hang động kín đáo để học tập. Ban đêm chia thành các tổ, phân công len lỏi về các bản làng hướng dẫn quần chúng đấu tranh; tiếp tế cho du kích; tổ chức diệt ác trừ gian. Điển hình là trận ra quân phục kích ở Tam Hoa, xã Hưng Vũ (năm 1941) bắn chết tên phó Thưởng và bắn bị thương tên Lý Tốn đang đi dò la tin tức.
Trong gian lao, nguy hiểm, Đội du kích Bắc Sơn do ông Tri làm đội trưởng vẫn tăng cường huấn luyện chính trị, quân sự, học tập chủ trương đường lối cách mạng của Đảng. Đặc biệt, ông hướng dẫn mọi người đi sâu và khéo vận dụng nghệ thuật vận động quần chúng trong đấu tranh từ thấp lên cao, từ đấu tranh chính trị chuyển thành đấu tranh vũ trang. Trong đó ông rất chú ý tới việc xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa. Đồng thời với việc chấn chỉnh Đội du kích Bắc Sơn, ông đã cùng ban chỉ huy đội dành nhiều thời gian, công sức cho công tác phát triển lực lượng tự vệ địa phương, tạo nguồn bổ sung cho đội.
Ngày 1-5-1941, là thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với Đội du kích Bắc Sơn, tại khu rừng Khuổi Nọi, được Trung ương nâng cấp phát triển Đội du kích Bắc Sơn thành Đội Việt Nam Cứu quốc quân, làm vốn xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng, làm nòng cốt xây dựng căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai. Hướng về lá cờ đỏ sao vàng (do Hội phụ nữ phản đế Hà Nội thêu tặng, đồng chí Hoàng Văn Thụ trao cho đội tháng 2-1941), ông Lương Văn Tri đã thay mặt toàn đội hứa với Trung ương sẽ chăm lo phát triển tốt các tổ chức quần chúng, mở rộng phong trào, nối với các cơ sở cách mạng ở Võ Nhai tạo thành khu căn cứ liên hoàn, làm tròn mọi nhiệm vụ Đảng giao. Trước mắt, bảo vệ tuyệt đối an toàn đoàn cán bộ đi dự Hội nghị Trung ương 8. Và dõng dạc đọc lời thề danh dự của đội: “Không phản Đảng. Không hại dân. Không hàng giặc. Tuyệt đối trung thành với Đảng. Kiên quyết phấn đấu để trả thù cho những đồng chí, đồng bào đã hy sinh”. Sau đó ông Lương Văn Tri chỉ huy toàn đội vượt qua muôn trùng nguy hiểm, đưa đường và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đoàn cán bộ của Đảng đi họp Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ở Pác Bó (Cao Bằng). Sau khi hội nghị kết thúc, lại tiếp tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đưa đoàn trở về xuôi. Cái vốn quân sự đầu tiên quý giá ấy, đã trở thành một bộ phận cấu thành Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng.
Phạm Xưởng