QĐND – Có những quãng thời gian tưởng như quên bẵng đi, bỗng một ngày tất cả bật sáng trong sâu thẳm ký ức. Đồng đội gọi đồng đội trở về nơi chiến trường xưa một thời sống chết bên nhau…
Ba năm nay, CCB Nguyễn Xuân Hưng, người đồng đội của cha tôi, hiện đang sống tại quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, trở nên thân thiết với gia đình tôi.
Gặp nhau tại cầu Hội, Phước Lâm trong hành trình đi tìm đồng đội (ông Nguyễn Xuân Hưng bên trái, ngoài cùng).
Tết Kỷ Sửu 2009, mẹ tôi bất ngờ nghe ông thông báo qua điện thoại, rằng ông là người chứng kiến cha tôi hy sinh và muốn gặp mẹ. Vậy là tin bay đến, thư bay ra kèm với tấm hình của người cựu chiến binh. Mẹ bảo: “Lạ thật, sao mấy chục năm, ra Quảng Ninh sinh sống, mãi đến năm 2001 mới vào Thành phố Hồ Chí Minh mà đến năm 2007 ông ấy mới nhớ ra để gửi thư báo tin?”. Tôi đưa ảnh và bài báo viết về ông trong mục Người tốt việc tốt, ông gửi ra cho tôi xem để làm tin: “Thôi mà mẹ, sau chiến tranh, người nhớ thì báo, người quên thì do mưu sinh, do vô tình… một lúc nào đó, ông chợt tỉnh ra, báo tin để khỏi áy náy trong tâm, mẹ cứ nghĩ thế cho nhẹ lòng”. Rồi từ đó, vài tháng ông lại gọi ra hỏi thăm mẹ. Có lần tôi băn khoăn hỏi ông: “Người ta bảo cha cháu lên cả Châu Thành (Long An) nữa”. “Nhất định cha cháu không hy sinh ở vùng giáp với Châu Thành đâu. Chú là người hành quân cùng cha cháu đêm đó trên cánh đồng Phước Lâm (Cần Giuộc, Long An), cầu Hội, cháu cố gắng thu xếp vào đi, sẽ rõ thôi”. Ông giục tôi hệt như chuyện của gia đình ông vậy… Ông xa quê ở tuổi lá rụng về cội, cũng buồn thấu tim gan mỗi độ lễ Tết nên ông trò chuyện qua điện thoại cho dịu đi, cho nghe được tiếng ngoài mình đó chứ.
Hè 2011 này, tôi mới thu xếp được để vào Thành phố Hồ Chí Minh gặp ông. Bà vợ ông ra đón tôi, đon đả, xởi lởi như đã quen thân từ lâu rồi: “Mong cháu hoài, lúc nào ổng nhà tôi cũng nhắc tới ba cháu, cứ như ba cháu ở cạnh ổng vậy”. Tôi nhìn ông, không khác trong ảnh ông gửi ra và trẻ hơn so với trí tưởng tượng của tôi, nhanh nhẹn và chân phương. “Hồi đó chú mới 17-18 tuổi, còn cha cháu đã ngoài 30 rồi. Chốn tử địa, ở với nhau một đêm mà nhớ nhau cả đời”. Tôi giật mình, tưởng nghe nhầm: “Tất cả mọi thông tin chú nói, hóa ra chỉ biết cha cháu trong đêm bị địch phục kích thôi ạ”. “Chiến tranh mà. Đêm đó, nghe cha cháu kể, hóa ra ở cùng D294 từ hồi huấn luyện ở Chi Nê – Hòa Bình năm 1967, nhưng mỗi người một đại đội, chú ở đại đội của than Quảng Ninh nhập ngũ, còn cha cháu ở đại đội của Nhà máy dệt 8-3, rồi cùng xuất quân vào Nam ngày 15-1-1968”.
Ba tháng trèo đèo vượt dốc ở Trường Sơn, “đá mòn mà đôi gót không mòn”, men theo Tây Trường Sơn đến ngã ba biên giới tháng 4-1968 rồi về bổ sung cho tỉnh đội Long An, biên chế vào Tiểu đoàn 2 của ông Út Thôi, quần nhau với địch hết vùng hạ lên vùng thượng của Cần Đước, Cần Giuộc. Thời điểm khốc liệt ấy còn đọng lại trong ký ức của bà má Long Sơn – Cần Đước kể lại cho tôi nghe từ 13 năm trước, trong căn nhà thưng bằng lá dừa nhìn ra con đường đất đỏ quạch: “Đây là vùng ven Sài Gòn nên nó chà xát rất dữ, quyết tìm diệt bằng được cơ quan đầu não của Sài Gòn – Gia Định đang ém ở đây. Anh em ở Bắc vô, má nuôi hết đợt này đến đợt khác, không sao nhớ hết tên các ảnh; nhưng khổ nhất là các ảnh không thuộc địa hình, đánh trận nào cũng phải du kích dẫn đường, sau mỗi trận, vẫn du kích đi chôn cất anh em, tải thương về tuyến sau”. Ông nghe tôi nhắc lại lần đi tìm cha năm 1998, chợt nhớ lại: “Khi tập kết ở ngã ba Thu, quân số của D294 đã vơi đi nhiều so với khi xuất quân ở Chi Nê, nhưng vẫn không thấm tháp gì so với quãng thời gian ở Long An. Chú bị thương trước khi gặp cha cháu ở cầu Hội. Sức khỏe hồi phục, lại di chuyển từ Cần Đước lên Cần Giuộc. Tuổi trẻ đang hăng say, nói không sợ bom đạn thì không đúng, nhưng mình xác định lý tưởng thanh niên theo tiếng gọi của Bác, giải phóng miền Nam rồi thì cứ thế mà chiến đấu. Đêm ấy đi tải trái bị nó phục kích, chú nằm ép xuống bờ ruộng may mà thoát; còn cha cháu vọt lên gò cao có lùm cây che thì bị bọn nó xối đạn dữ quá. Nghe nó chạy qua lưng mình tìm diệt Việt Cộng mà đứng tim. Khi nó rút rồi, chú chạy lên tìm cha cháu, vẫn thấy người ông còn ấm, giở ba lô ra, đắp cho ông chiếc màn, rồi ngậm ngùi đi, làm sao chôn cha cháu ngay được”. Ông ngừng lời, tôi nghe buốt lòng, mãi rồi ông mới kể tiếp: “Vào ấp, gõ cửa nhà dân, họ cho mượn bộ quần áo là quý; lại ra đồng, mò mẫm tìm đường trong đêm tối hun hút. Sau trận đó, chú bị lạc đơn vị, phải lên vùng thượng Cần Giuộc hoạt động miết, khi xuống vùng hạ mới gặp cô ấy cùng công tác ở huyện”.
Ngày đưa vợ về quê ở Thái Bình (năm 1977), mẹ ông đã thắp hương cho ông mấy năm. Cạn nước mắt, mẹ ông ra ở với con gái ở Quảng Ninh. Vợ chồng ông dắt díu nhau ra Quảng Ninh với mẹ, phụng dưỡng bà cho trọn đạo làm con. Tưởng yên ổn ở đất mỏ lầm lụi, bụi than đen nhẻm mặt người, vậy mà hơn chục năm sau, khi mẹ đã mất, ông lại trở vào Nam theo nguyện vọng của vợ. Tôi nhìn khuôn mặt ông trong ảnh, đôi mắt to sáng trên khuôn mặt gầy guộc, không có vẻ thư nhàn. Ông mang ảnh cha tôi ra: “Cháu giống cha cái miệng cười quá. Ông ấy cao cao, trắng trẻo, vui chuyện khoe với chú có vợ và hai con ở Nhà máy dệt 8-3, Hà Nội. Thư nào gửi cho vợ cũng có thơ, rồi ông còn cao hứng đọc thơ cho chú nghe nữa. Ngày mai ta đi Cần Giuộc, tìm mấy ông du kích địa phương, cần thì ăn ở dưới đó luôn”. Ông nhất định không chịu đi ô tô, vừa tốn kém vừa không cơ động.
Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Hưng.
30 ki-lô-mét từ quận 12 xuống Cần Giuộc không phải là quá xa, nhưng cứ nhìn lưng ông còng còng sau xe anh tôi, lại thấy áy náy. Từ huyện xuống Phước Lâm, theo chân cán bộ xã, len lỏi tìm cầu Hội, nơi cha tôi và ông vượt cầu. Trên chiến trường xưa, hăng hái quên cả tuổi ngoài lục tuần, ông cùng cán bộ xã Phước Lâm là ông Võ Văn Bảy, đi vào các ngõ chữ chi tìm các nhân chứng, chắp nối mảnh hồi ức để tìm ra đáp số cha tôi đang nằm đâu trên những trảng ruộng mênh mông xưa, nay đã bị biến dạng, hàng quán hai bên đường mọc san sát. Chỉ có con sông nhỏ như dải lụa mềm tưới mát đồng ruộng xóm ấp Phước Lâm là vẫn thế. Sau một ngày đo đạc, kiếm tìm nhân chứng, dưới ánh đèn khuya ở nhà ông Bảy, sơ đồ địa hình trận địa hiện lên. Trong mỗi nếp nhà, mỗi xóm ấp, tình đồng đội nặng nghĩa, keo sơn vẫn mộc mạc, đằm sâu như thế. Tôi rưng rưng trong lòng khi nhìn hai mái đầu bạc vừa kẻ vẽ, vừa tranh cãi những điểm lấn cấn, để rồi ông Hưng dứt khoát: Trận đụng giặc phục kích nhất định phải là ở cầu Hội, Phước Lâm, Cần Giuộc năm 1968. Các điểm trên sơ đồ phải tính từ cầu Hội – ấp Phước Kế, xã Phước Lâm, xã Trường Bình – đường đất đỏ chạy dọc Mỹ Lộc – Phước Lâm – gò Mả, ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc… Chiều hôm sau, ông cùng anh em tôi đi tìm mộ cha tôi ở nghĩa trang liệt sĩ Cần Giuộc, mênh mông trắng và trắng hàng mộ liệt sĩ có danh và vô danh.
Tôi ôm cả xếp sơ đồ đó ra thuyết minh lại với gia đình để mẹ tôi an lòng. Mẹ thắp hương khấn cha tôi và tin như một điều xác tín: “Lần này, chắc cha con phù hộ, hôm nào mẹ cũng thấy cha con hiện về”.
Mẹ cảm ơn ông nhưng cũng không ngờ ông thu xếp ra Bắc, về quê hương Quỳnh Phụ rồi đến thăm mẹ tôi sớm thế. Trong khói hương trầm trước ban thờ gia đình tôi, ông trò chuyện với cha tôi như ngày xưa hai ông kề bên nhau nghe cha tôi đọc thơ viết tặng mẹ. Ông xúc động: “Thôi, thế là chú cũng thỏa tâm nguyện rồi”. Mẹ con tôi đáp lễ ông… Những điều ông ấp ủ bao năm, hôm nay ông mới thực hiện được trước di ảnh cha tôi và ông run run đọc những vần thơ tự tâm “Bao năm trải mấy mùa thu/ Tin đi thư lại mịt mù xa xôi/Ba lăm năm đã vèo trôi/ Chưa tìm anh được về nơi quê nhà/ Người còn người mất anh ơi…”.
Hôm nay, cha đã trở về với mẹ con tôi, với ông, người đồng đội năm xưa trên đường hành quân…
Bài và ảnh: Kim Thanh
qdnd.vn