1. Vai không sờn, chân không mỏi
Chiến tranh phá hoại miền Bắc xảy ra. Từ trận thắng đầu 5-8-1964, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam Lê Viết Vượng đã có mặt tại trận địa phòng không Quảng Ninh. Trong đội hình phóng viên quân sự, Lê Viết Vượng xông xáo tại các trọng điểm đảm bảo giao thông ác liệt Hàm Rồng, Phà Ghép, Bến Thủy, Vĩnh Linh, Đường 20 Quảng Bình…
Cuối năm 1967 Lê Viết Vượng được tăng cường cho đội ngũ báo chí chiến trường Khu 5. Vừa chân ướt, chân ráo đến cơ quan Thông tấn xã Giải phóng Trung Trung bộ, anh được gọi lên gặp đồng chí Hồ Dưỡng, Phó ban Tuyên huấn Khu 5. Nhìn vóc dáng cao to, săn chắc của Lê Viết Vượng, Phó ban tuyên huấn thả giọng đặc sệt Quảng Nam: “Trong này đang đói lắm mày ơi. Khoan đi viết. Mày với thằng Hồ Ca giúp cơ quan đi gùi hàng ít lâu. Chúng nó đói ăn ốm o ráo trọi cả. Chịu khó nghe em”.
Đến nước này làm sao chối bỏ. Anh tự an ủi việc nào cũng là việc Cách mạng, rồi thanh thản khoác ba lô tìm về hậu cứ ở tây nam Trà My.

Chân dung Nhà báo – Liệt sĩ Lê Viết Vượng. (Ảnh do gia đình cung cấp).
Chuyến đầu tiên tưởng gần, nào ngờ phải cắt rừng vượt dốc, mất 3 ngày bở hơi tai mới tới Binh trạm 35. Đây là trạm đón hàng chuyển từ đường 128 Tây Trường Sơn vào trạm Tam Noong, Bến Giàng, Tây Nam (Quảng Nam). Những chuyến hàng vượt qua chi chít trọng điểm khốc liệt Mường Noòng, La Hạp, Sông Bạc, Chà Vằn (thuộc tỉnh Xê Ca Mát của nước Lào). Mỗi cân gạo, viên đạn, cơ thuốc chữa bệnh vào đến bến Giàng, cửa ngõ Khu 5 đã thấm biết bao máu xương đồng đội. Thế nhưng gùi được ba, bốn mươi cân gạo, nhu yếu phẩm về tới hậu cứ trót lọt cũng không kể hết gian nan. Dọc tuyến giao liên, gặp vô vàn hiểm nguy, nào rắn độc, sên vắt, mưa rừng ào ạt, lũ dâng trắng khe và vũ khí giết người từ máy bay Mỹ thả xuống.
Còn mối họa chết người nữa, đó là bọn thám báo, biệt kích rằn ri mai phục khắp nẻo đường giao liên. Cách đối phó tốt nhất mà Lê Viết Vượng nhắc nhở đồng đội là không để lại dấu vết, thường xuyên thay đổi tuyến hành quân, chủ động tránh đối đầu với chúng. Nhiều lần với linh cảm người lính chiến trường, ngửi thấy mùi thuốc lá, biết gặp tụi phục kích, các anh lặng lẽ vòng sang hướng khác.
Suốt từ đầu năm 1968 đến cuối năm 1969 hàng hóa cả chục tấn: nào gạo, nào thực phẩm, thuốc chữa bệnh, giấy viết, phim chụp ảnh, hóa chất in tráng phim, thư từ, sách báo hậu phương gửi vào mặt trận lần lượt vào hậu cứ trên tấm lưng chai sạn, đầm đìa mồ hôi của các anh. Đây là hàng chiều về, còn chiều đi có khi còn cáng cả thương binh, người mắc bệnh, ốm yếu không thể chữa trị tại hậu cứ. Sau này nhà báo Vũ Đảo kể lại: Năm 1969 từ phân xã Phú Yên ra Quảng Nam dự hội nghị thi đua, anh bắt gặp một Lê Viết Vượng da đen cháy, tóc tai cứng đơ, tiếng cười rổn rảng. Lê Viết Vượng san sẻ cho Vũ Đảo chừng hai chục lon gạo nếp rồi cùng Hồ Ca, Minh Châu tất bật chuyển thương binh về tuyến sau. Biết đồng nghiệp chưa được đi viết, chưa được chuyển Đảng viên chính thức vẫn vui cười chấp nhận làm tròn công việc chẳng dính dáng gì đến nghề nghiệp, Vũ Đảo thầm khâm phục nhân cách chàng trai xứ Nghệ bộc trực, kiên gan.
2. Tay súng, tay bút, bám dân đánh giặc
Sau Tết Canh Tuất (1970), chiến trường Khu 5 nóng bỏng bởi Mỹ, ngụy thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chọn đồng bằng làm trọng điểm “Bình định cấp tốc”. Âm mưu và thủ đoạn chiến tranh “Thay màu da trên xác chết” của Mỹ là bình định nông thôn, tăng lực lượng quân ngụy, triệt phá kinh tế, cơ sở Cách mạng vùng giải phóng, ráo riết gom dân lập ấp chiến lược.
Năm 1970-1971, Mỹ, ngụy cắm chốt ở Khu 5 tới 3 vạn 7000 binh lính, chưa kể bọn bảo an, dân vệ, cảnh sát dã chiến. Ta mở rộng vùng giải phóng giành được 19 vạn dân nhưng bị chúng chiếm lại 4 vạn dân. Năm nghìn dân, hơn 4 nghìn cán bộ, đảng viên hy sinh, trong đó Quảng Ngãi, Quảng Nam tổn thất nặng nề nhất.
Không thể để địch lấn đất, dồn dân, Khu ủy Khu 5 chủ trương rút cán bộ, đảng viên từ tỉnh, huyện lập các đội công tác vũ trang bám địa bàn xây dựng cơ sở đấu tranh chính trị, vũ trang, đẩy mạnh tiến công nổi dậy, giành thế làm chủ nông thôn, đồng bằng. Cùng với đồng nghiệp các báo “Cờ giải phóng Trung Trung bộ”, “Quân giải phóng Khu 5” tỏa đi các mặt trận, Lê Viết Vượng xin được xuống chiến trường Quảng Ngãi. Ngược rừng tới Đỗ Xá, căn cứ Khu ủy Khu 5 nhận quyết định, không kịp quay về hậu cứ chia tay đồng đội. Đêm ấy (15-2-1970) Lê Viết Vượng theo giao liên tìm tới xã miền núi Trà Trung, huyện Trà Bồng, căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Chỉ ít ngày sau, anh có mặt tại Huyện ủy Đức Phổ với chức danh phóng viên kiêm cán bộ đội công tác chính trị, vũ trang.
Đội du kích “Lê Thị Hồng Gấm” huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi. (Ảnh do Lê Viết Vượng chụp)
Bề dày truyền thống Cách mạng và nguồn cội văn hóa cổ Sa Huỳnh ở huyện cuối tỉnh Quảng Ngãi đã gợi mở cho Lê Viết Vượng dự định viết nhiều bài cổ vũ quân dân Đức Phổ kiên trung suốt hai mươi năm bám đất, đánh giặc, giải phóng quê hương.
Nhiều đêm dưới căn hầm tránh pháo, sau lúc căng thẳng bàn cách diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp, Bí thư Huyện ủy Đinh Trọng Tân trở thành “Nhân vật trả lời phỏng vấn” nhà báo Lê Viết Vượng về trầm tích địa chí, văn hóa, lịch sử, con người Đức Phổ.
Những địa danh núi Xương Rồng năm 1927 ra đời “Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội” nam Trung bộ; sông Trà Cau năm 1935 thành lập phân bộ xứ ủy Trung kỳ, cửa biển Sa Huỳnh phát lộ dấu tích người Việt cổ sinh sống hàng vạn năm… như mạch nguồn tạo nên khí chất kiên cường người dân Quảng Ngãi, mà Đức Phổ là hiện thân mạnh mẽ, quyết liệt nhất. Lê Viết Vượng chợt nhận ra mối quan hệ máu thịt, sống chết cùng mảnh đất Đức Phổ như với Hương Sơn, Hà Tĩnh nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Từ bấy giờ, được gia đình ông Trần Giỏi ở xã Phổ Vinh nuôi giấu dưới căn hầm, Lê Viết Vượng mê mải trả nghĩa người dân Đức Phổ bằng những bài báo có sức cuốn hút hậu phương lớn miền Bắc chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Đêm đêm với khẩu súng AK báng gấp, anh cùng tổ công tác vượt tọa độ vành đai “pháo bầy, pháo chụp” len lỏi trong khu dồn dân, ấp chiến lược, thầm thào bày cách đấu tranh hợp pháp, đòi trở về làng cũ làm ăn sinh sống. Vùng đất Phổ Cường, Phổ Văn, Phổ Minh, Phổ Khánh, chi khu quân sự Đức Phổ, căn cứ của Mỹ ở Hoài Đức dày đặc lính Mỹ và Sư đoàn 2 ngụy cũng không làm chùn bước Lê Viết Vượng.
Sổ tay của anh ghi nhiều tư liệu người dân Đức Phổ tìm cách giấu lúa ngoài đồng, dưới hầm tiếp lương thực cho cách mạng. Những du kích gan góc, sáng tạo vũ khí đánh giặc bằng quả bom câm, pháo lép. Những nông dân tự nguyện dỡ nhà chặt cây trái trong vườn rào làng chiến đấu, tiếp sức cùng Đại đội 219 đánh cháy trụi kho hậu cần Thành Hiệu. Hàng nghìn tấn đạn kho hậu cần Mỹ nổ dậy đất vùng hạ lưu sông Trà Cau suốt hai ngày đêm. Rồi hình ảnh cô du kích 16 tuổi Trần Thị Trung ngoan cường khi hết đạn, bị giặc bao vây gọi hàng, cô đập gãy khẩu súng trước khi ngã xuống.
Bấy nhiêu sự kiện, nhân chứng sống ấy được Lê Viết Vượng tái hiện, khắc họa sống động bức tranh “Giữ đất, giành dân, đánh giặc tới cùng” của Đức Phổ trong loạt bài gửi ra miền Bắc năm 1970 và đầu năm 1971.
3. Tiếng thơm để lại
Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước liền một dải, mỗi lần gặp nhau ôn lại truyền thống đánh giặc, lớp cán bộ chủ chốt, trung kiên của Đức Phổ thuở ấy đều bùi ngùi, thương tiếc nhà báo Lê Viết Vượng. Họ nhắc nhau tìm về nghĩa trang Phổ Vinh, dâng hoa trái, đốt nén tâm hương nhắc một thời kề vai, sát cánh, nằm hầm, đói ăn đánh giặc. Trong những ngày thiêng liêng, đẫm tình tri ân ấy, không bao giờ vắng mặt ông Trần Giỏi, gia đình anh Nguyễn Văn Phi và cháu Nguyễn Thị Hải con gái anh Phi. Họ là nhân chứng khoảnh khắc hy sinh bi tráng của nhà báo Lê Viết Vượng sáng 3-7-1971.
Rạng sáng hôm ấy, Sư đoàn 2 ngụy mở trận càn lớn vào Phổ Vinh. Pháo 150mm của chúng từ căn cứ Gò Quánh, Hoài Đức bắn như vãi đạn, dọn đường cho hai tiểu đoàn lính dù đổ quân vây hãm. Lê Viết Vượng xách khẩu AK cùng ba du kích thôn Đồng Thuận chia nhau chặn địch. Chợt phát hiện vợ anh Phi bế đứa con mới 5 tháng tuổi quýnh quáng trong vườn, anh vọt lên công sự bế cháu bé, đẩy người mẹ xuống căn hầm của mình. Trao cháu cho người mẹ, vừa lên khỏi miệng hầm, chưa kịp tới vị trí chiến đấu, bất thần một loạt đạn pháo chùm nổ váng óc trùm kín Lê Viết Vượng, mảnh gang sắc nhọn găm nát thân thể anh.
Tính đến thời khắc hy sinh, Lê Viết Vượng mới ngoài 30 tuổi, độ tuổi chín chắn sung sức nhất của đời người. Anh sinh ngày 20-1-1938, quê Sơn Trà, Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Ông Trần Giỏi xót xa, lau nước mắt cùng anh Nguyễn Văn Phi, Nguyễn Hoàng lau rửa, mặc cho Lê Viết Vượng bộ quần áo mới. Giặc vây kín, không thể mang anh đi xa, ông Trần Giỏi mai táng anh trong khu vườn nhà mình. Từ năm 1971 cho đến năm 1994, gia đình ông Trần Giỏi, bà con cô bác thôn Đông Thuận quanh năm hương khói cho hương hồn nhà báo Lê Viết Vượng, nhận anh như đứa con thân thuộc của mình. Với cháu Nguyễn Thị Hải, đứa bé được “tái sinh” từ vòng tay Lê Viết Vượng, khi lớn lên qua lời mẹ kể, cô bé hằng ngày lặng lẽ thắp hương lên phần mộ ân nhân.
Năm 1994, cơ quan Thông tấn xã Việt Nam và gia đình vào Phổ Vinh đưa anh về Hương Sơn. Mong muốn lưu giữ mãi hình ảnh nhà báo Lê Viết Vượng, Đảng bộ và nhân dân Đức Phổ khắc tên anh lên tấm bia đá tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ, cho muôn đời các thế hệ con cháu ghi công.
Văn Hiền
qdnd.vn