Chuyện về tên tướng phản bội Vla-xốp

Trong cuộc Chiến tranh Ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941-1945), rất nhiều sĩ quan và binh sĩ Quân đội Xô Viết được phong danh hiệu cao quý Anh hùng Liên Xô vì những chiến công kiệt xuất và sự hy sinh dũng cảm của họ. Tuy nhiên, cũng đã có một số người bị quân thù bắt làm tù binh rồi trở thành tay sai đắc lực phục vụ kẻ thù, phản bội Tổ quốc và nhân dân mình. Trong số đó có Trung tướng An-đrây An-đrê-ê-vích Vla-xốp.

Vợ chồng Vla-xốp trước chiến tranh.

“Tôi không có sự dao động nào”

Trong bản lý lịch tự thuật, vị Trung tướng này ghi: “Vla-xốp An-đrây An-đrê-ê-vích, sinh ngày 19-8-1901. Tự nguyện gia nhập Hồng quân Công nông Xô viết… Không tham gia các nhóm đối lập và chống Đảng. Không có sự dao động nào. Luôn luôn đứng vững trên đường lối chung của Đảng…”. Nhiều vị tướng và sĩ quan cao cấp của Hồng quân xuất thân từ quân đội Nga hoàng không thể có được những lời khai về mình như Vla-xốp đã viết. Đây là điều giúp Vla-xốp thăng tiến trên đường công danh của mình. Khi bắt đầu chiến dịch loại trừ toàn bộ “những kẻ thù của nhân dân” ra khỏi quân đội, thật khó tìm được một đề cử để bầu vào các ủy viên của tòa án quân sự ở các quân khu. Thế mà Vla-xốp đã làm được điều đó.

Trước khi đầu hàng Đức và sự phản bội Tổ quốc của Vla-xốp chưa hiện rõ thì ở y đã lộ rõ bản chất phiêu lưu tình ái và phản bội vợ và những người tình khác của y. Có nhiều người nói rằng trong thời gian Vla-xốp được phái đi làm cố vấn quân sự cho Tưởng Giới Thạch (1938-1939), y đã có ý định “chơi trò chăn gối” với vợ của vị thủ lĩnh này. Rồi sau đó để “giải quyết sự buồn tẻ” của chuyến công cán dài ngày này, Vla-xốp đã “mua dùng” trong ba tháng một cô gái vị thành niên người bản địa.

Sự việc trên cũng có thể chỉ là sự tung tin thất thiệt của một số cơ quan tình báo có chủ ý. Tuy nhiên chuyện phiêu lưu tình ái và phản bội người tình ở Liên Xô và Đức của Vla-xốp thì không ai chối cãi được: về vụ việc này đã được lưu giữ hàng tập tài liệu nhân chứng vật chứng trong các cục lưu trữ.

Những bức thư có câu kết mùi mẫn

Mùa hè 1936, vị trung đoàn trưởng 35 tuổi A.A.Vla-xốp say mê cô tình nhân U-li-a-na Ô-xa-tra. Sau khi cô này sinh một đứa con gái với y thì bị y bỏ rơi. Rồi y có người vợ chính thức là An-na. Khi chiến tranh xảy ra, An-na đi sơ tán thì Vla-xốp có ngay người tình trên chiến trường là nữ y tá A-gnê-xa Pốt-ma-den-cô 25 tuổi. Tới tháng 2-1942 A-gnê-xa buộc phải rời quân ngũ theo lệnh. Cô gái này chưa kịp chuyển đi thì vị tướng đó lại “vời” người tình mới để “sưởi ấm cho mình nơi trận mạc” là Ma-sa Vô-rô-mi-na. Khi cả hai đã bị quân Đức bắt thì “mối tình dã chiến” này cũng chấm dứt.

Khi vừa trở thành tù binh của Đức, Vla-xốp cũng đã kịp tìm cho mình mối tình mới nơi đây. Để mua chuộc, dụ dỗ vị tướng này, Bộ chỉ huy Đức đã đưa đến các cô gái “hấp dẫn”. Tuy nhiên, Vla-xốp sau đó đã xin được cưới làm vợ người quả phụ của một sĩ quan S.S là Hây-đi Bi-len-bớc (Heidy Bilenberg).

Trong quan hệ với người vợ và những người tình, Vla-xốp đã chứng tỏ mình là một “người tình đa diện”, “người lá mặt lá trái” trong quan hệ với phụ nữ. Sau đây là một số đoạn trong các bức thư gửi cho vợ – cô An-na và gửi cho người tình A-gnê-xa ông ta viết cùng ngày, cùng tháng, cùng năm.

Vla-xốp “hùng hồn kêu gọi” các tù binh Liên Xô tham gia “Quân đội giải phóng nước Nga” khi đã bị phát xít Đức bắt.

Một đoạn viết cho vợ là An-na Mi-khai-lốp-na: “…A-ni-a dễ thương và thân yêu! Ngoài thư em gửi cho anh thì anh không nhận một thư nào của ai cả, do vậy mà anh không viết cho ai… Trong thời gian gần đây, anh không giấu em là anh bắt đầu rất buồn nhớ em… Khi xa cách em, anh yêu em nhiều hơn trước… Anh An-đriu-xca2 mọi lúc và mọi nơi đều yêu quý em. Ngày 02-02-1942”.

“… Sao em lại không tin, A-ni-a yêu quý!… Anh đã được trò chuyện với Ông Chủ lớn nhất của chúng ta… Em không thể hình dung nổi rằng anh rất hồi hộp và đã ra khỏi phòng ông ta với niềm phấn chấn. Em, rõ là khó tin được rằng ở con người vĩ đại như thế lại có thì giờ ngay cả cho việc riêng tư của chúng ta. Em hãy tin là ông đã hỏi anh rằng vợ anh nay ở đâu và sống như thế nào… Anh An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em. Ngày 14-02-1942”.

“A-ních yêu quý! Đã 11 tháng chúng ta xa cách nhau, nhưng trong tâm thức anh vẫn luôn luôn bên em… Em biết không, A-ni-a thân thương và yêu quý của anh, rằng Đảng và Chính phủ có phái An-đriu-xca của em đi bất cứ đâu thì anh ta vẫn sẽ hoàn thành nhiệm vụ trong danh dự. An-đriu-xca rất yêu quý của em. Ngày 26-04-1942”.

Còn sau đây là những đoạn thư của Vla-xốp viết cho “người tình dã chiến” A-gnê-xa cũng vào đúng những thời điểm đó. “A-li-trơ-ca5 dễ thương và yêu quý!… Anh đã hiến cả đời mình cho em…, là người yêu em… – An-đriu-xca của em. Ngày 02-02-1942”

“A-li-trơ-ca yêu quý và dễ thương!… Anh được gọi tới Ông Chủ3 lớn nhất và quan trọng nhất của chúng ta. Em hãy tưởng tượng xem, ông đã trò chuyện với anh suốt tiếng rưỡi đồng hồ… Anh xin em, em bé yêu của anh, đừng buồn, đừng lo lắng vì nó có hại cho em. An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em. Ngày 14-02-1942”.

“A-li-a yêu quý và dễ thương của anh… Em biết rõ rằng Chính phủ và Đảng có phái anh đi bất cứ đâu thì anh vẫn sẽ hoàn thành nhiệm vụ trong danh dự (y như lời thư viết cho vợ An-na trong ngày đó!)… Anh chỉ nghĩ và nghĩ về em yêu quý (và cả con em nữa)-ngoài ra anh không có ai là người gần gũi với tâm hồn và trái tim anh… An-đriu-xca mọi lúc và mọi nơi của em… Ngày 26-04-1942).

“A-li-xíc yêu quý và dễ thương! Anh rất buồn là em đã viết cho anh những bức thư không tốt như thế. Những lời bóng gió về “sự phục vụ”, v.v… Điều đó hoàn toàn làm anh giận. Bởi có lẽ chính em biết rõ rằng, ngoài em ra thì trong đời anh không có ai khác… Ngày 10-05-1942”.

Có thể trích dẫn ra nhiều bức thư như thế cùng đồng thời gửi cho vợ An-na và cả “người tình dã chiến” A-gnê-xa – là những “người thân yêu nhất và duy nhất” của y.

Kết cục tất yếu

Phản bội Tổ quốc và nhân dân, phản bội vợ và những người tình là bản chất thật sự của Vla-xốp. Thế nhưng, có một số sử gia xu thời đã tìm mọi cách biện bạch cho sự phản bội Tổ quốc của Vla-xốp rằng hắn đầu hàng Đức là chỉ để kêu gọi “thành lập một nước Nga mới không có người Bôn-sê-vích trong cộng đồng hợp tác với nước Đức”. Tuy nhiên, bằng những lời phát biểu của mình, vị tướng này đã trơ tráo đánh lừa nhân dân Nga mà ai cũng thấy rõ. Ví như ngày 27-12-1942, hắn nói trên đài phát thanh của Đức có đoạn: “Nước Đức đang tiến hành chiến tranh không phải chống lại nhân dân Nga và Tổ quốc của họ, mà chỉ chống lại chủ nghĩa Bôn-sê-vích…”. Hắn đã nói dối vì hắn biết chính xác mục đích của Hít-le là muốn biến người Nga “hạ đẳng” thành “loài gia súc làm việc”, bởi vì trong lợi ích của nước Đại Đức không muốn có “sự sinh sôi giống người Xla-vơ”.

Bộ Chỉ huy phát xít Đức đã lập ra cái gọi là “Quân đội giải phóng nước Nga” và “đặt” Vla-xốp vào vị trí Tư lệnh. Tuy nhiên Bộ chỉ huy Đức vẫn chưa đưa cả đội quân này ra trận đánh trực diện với Hồng quân với nhiều lý do về chiến thuật – chiến lược và lòng tin, mà chỉ phân ra từng đội nhỏ lẻ tẻ dưới sự kiểm tra nghiêm ngặt của các sĩ quan phát xít trong việc phục vụ các chiến dịch, hoặc các cuộc hành quân nhỏ lẻ. Trong đội quân phản bội này còn có các tên tướng bạch vệ cũ Kra-xnốp và Scu-rô (cư trú tỵ nạn ở Nam Tư), Xê-mi-ô-nốp (cư trú tị nạn ở Mãn Châu Lý). Còn “binh sĩ” của chúng là một số kiều dân Nga mà chủ yếu là một số sĩ quan Bạch vệ đã chạy trốn sau Cách mạng Tháng Mười để chống đối Liên Xô, một số binh lính Nga bị Đức bắt làm tù binh đã bị mua chuộc, bị đánh lừa…

Tuy nhiên cái tổ chức phản bội này cuối cùng cũng chẳng làm nên trò trống gì đáng kể theo yêu cầu của bọn phát xít xâm lược. Và kết cục tất yếu cuối cùng đã đến với chúng. Vla-xốp cùng bọn chỉ huy đầu sỏ như Kra-xnốp, Scu-rô, Xê-mi-ô-nốp, v.v… đã bị Tòa án tối cao Liên Xô tuyên án treo cổ. Một số khác đã tẩu thoát được và chạy trốn tránh tới Mỹ, Anh, Ca-na-đa và một số quốc gia khác.

Nguyễn Hữu Dy
qdnd.vn

Ghi chú: Trong tiếng Nga, tên người được gọi (hay viết) biến đổi một ít ở đuôi từ cho nhẹ nhàng, thân mật và âu yếm.

1. A-ni-a gọi âu yếm từ An-na.

2. An-đriu-xca – từ tên An-đrây.

3. Ông Chủ (tức Xta-lin)

4. A-ních – từ tên An-na.

5. A-li-trơ-ca – từ tên A-gnê-xa

6. A-li-a – từ tên A-gnê-xa

7. A-li-xic – từ tên A-gnê-xa