Tại sao bà Tống Khánh Linh không an táng tại Lăng Tôn Trung Sơn?

QĐND – LTS: Báo điện tử “Lịch sử văn hóa Trung Hoa” (www.xyz6666.com), ngày 19-12-2010, đã đăng bài “Nội tâm lấn cấn? Vì sao bà Tống Khánh Linh không chịu an táng chung tại Lăng Trung Sơn”.

Chúng tôi trích dịch tư liệu trên, để bạn đọc tham khảo tìm hiểu thêm về quan điểm xử thế của bà Tống Khánh Linh, một đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch danh dự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, được mệnh danh là “Người phụ nữ vĩ đại trong thế kỷ 20 của thế giới”.

Bà Tống Khánh Linh (27-1-1893 / 29-5-1981).

Trong những phần mộ an táng bao quanh Lăng Trung Sơn, nơi bảo quản thi hài của Vĩ nhân Tôn Trung Sơn, người được mệnh danh là Người cha của đất nước Trung Hoa cận đại (Quốc phụ), có phần mộ hợp táng của nhân sĩ Liêu Trọng Khải và phu nhân Hà Hương Ngưng. Diện tích lăng không lớn (diện tích 20 mẫu, trong khi đó phần mộ của Đàm Diên cách đó không xa rộng đến hơn 300 mẫu đất), nhưng phong cách rất đặc biệt, vô cùng hấp dẫn khách tham quan. Phần mộ này cũng là tác phẩm của Lã Nhan Trực, kiến trúc sư thiết kế Lăng Trung Sơn, một tài hoa trẻ qua đời sớm.

Nhân sĩ yêu nước Liêu Trọng Khải bị ám sát và tử vong vào buổi chiều ngày 20-8-1925, sau khi Tôn Trung Sơn từ trần chưa đầy 6 tháng. Năm ấy, ông mới 48 tuổi; vợ ông – bà Hà Hương Ngưng năm ấy 46 tuổi (lớn hơn Tống Khánh Linh 14 tuổi). 47 năm sau, ngày 1-9-1972, bà Hà Hương Ngưng ốm chết tại Bắc Kinh. Theo di nguyện của bà “sống cùng phòng, chết cùng huyệt”, linh cữu của bà Hà Hương Ngưng được chuyển đến Nam Kinh an táng chung một mộ với Liêu Trọng Khải.

Hai vợ chồng chí sĩ yêu nước Liêu Trọng Khải đều là Hội viên sớm nhất của Đồng Minh hội, là chiến hữu và trợ thủ thân cận nhất của Tôn Trung Sơn tiên sinh. Theo chính sử ghi chép, khi hấp hối, Tổng thống Tôn Trung Sơn đã trực tiếp căn dặn bà Hà Hương Ngưng: “Sau khi tôi chết, nhờ chị chăm sóc Tôn phu nhân…”.

Sau khi nghe trả lời chắc chắn, Tôn Trung Sơn tiên sinh nắm tay bà Hà Hương Ngưng: “Liêu Trọng Khải phu nhân, tôi cảm ơn chị…”.

Cùng chung số phận, kinh lịch và sự nghiệp, khiến cho Tống Khánh Linh và Hà Hương Ngưng “vận mệnh đan kết thân mật như vậy”, mối quan hệ giữa hai bà bất luận là riêng hay chung đều khác thường. Con trai, con gái của Hà Hương Ngưng từ bé đều tôn kính gọi bà Tống Khánh Linh là “thím”, hoặc thân mật gọi bằng tiếng Anh “dì Anne”.

Chín năm sau, khi bà Hà Hương Ngưng từ trần, năm 1981, bà Tống Khánh Linh ốm nặng rồi qua đời tại Bắc Kinh. Trước khi qua đời nửa tháng, bà Tống Khánh Linh được thụ phong danh hiệu Chủ tịch danh dự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Có người đặt câu hỏi, liệu bà có an táng chung tại Khu lăng mộ Trung Sơn, như bà Hà Hương Ngưng không?

Ngoài sự dự đoán của mọi người, thi hài của bà Tống Khánh Linh sau khi được hỏa thiêu hai ngày, tro xương được chuyên cơ chuyển về Thượng Hải, an táng tại khu mộ họ Tống trong nghĩa trang Vạn Quốc. Làm như vậy, hoàn toàn là tôn trọng di nguyện và sắp xếp của bà Tống Khánh Linh khi còn khỏe mạnh.

Tại sao bà Tống Khánh Linh không đề xuất an táng chung trong lăng với Tôn Trung Sơn hoặc bên cạnh Lăng Trung Sơn?

Bà Ismail Demirel Epstein, tác giả “Truyện Tống Khánh Linh” đã viết:

“Bà cho rằng, sự nghiệp lịch sử của Tôn Trung Sơn là công lao của ông ấy, bà không nên chia hưởng hạnh phúc ấy. Ngoài ra trước giải phóng, trong Quốc Dân đảng đã từng có người phê phán cạnh khóe về địa vị quả phụ Tôn Trung Sơn của bà (năm 1922, tuy đã kết hôn 7-8 năm, song trong Quốc Dân đảng vẫn có người cố ý gọi bà là “Tống tiểu thư”, tỏ thái độ không thừa nhận thân phận “Tôn phu nhân” của bà. Sau đó, luận điệu vô lý ấy không còn nữa, song vấn đề “danh phận” vẫn chưa bị dập tắt).

Ba điều bổ sung của nữ nhà văn Epstein cũng rất thận trọng cân nhắc sử dụng từ ngữ, nào là “có thể bà cho rằng”, nào là “đây cũng có thể”, hoặc “phải chăng vì thế mà bà cảm thấy…” tức là phán đoán quan điểm của nhân vật chính của tác phẩm.

Xem ra, đối với bà Tống Khánh Linh, một người có cá tính nhàn tĩnh, hướng nội, song tư tưởng không hề khép kín, hời hợt, đã để lại một câu đố không nhỏ cho những nhà nghiên cứu.

Song theo nhãn quan thế tục, khi sinh mệnh ở những giây phút cuối đời, người ta đều có khát vọng trở về với nguồn gốc, khát vọng “lá rụng về cội”, cũng là thường tình “thánh nhân không cấm”. Miền Bắc Trung Quốc có câu tục ngữ nói: Con gái là “áo bông nhỏ lót mình” của mẹ. Bà Tống Khánh Linh nhớ song thân với tình cảm ăn năn, nhất là đối với mẫu thân. Khi tuổi đã trên bát tuần, trong một lá thư riêng, bà vẫn nhớ lại khi bà đã 22 tuổi lặng lẽ rời khỏi Thượng Hải (theo khảo chứng của nữ nhà văn Epstein, bà chỉ “lén lút trốn ra khỏi phòng”, chứ không tồn tại cảnh tượng lãng mạn “bắc thang leo ra khỏi ban công”), đi theo Tôn Trung Sơn đang lưu vong ở Nhật Bản và tổ chức lễ cưới:

“Sau khi xem lá thư từ biệt của tôi để lại, cha mẹ tôi bèn lên một chiếc tàu biển đi sang Nhật Bản, muốn khuyên tôi rời khỏi chồng, cùng họ trở về. Mẹ tôi khóc, cha đang bị bệnh gan khuyên tôi…”.

Năm 1949, phái đương quyền Quốc Dân đảng giữa lúc “hấp hối chính trị” xuất phát từ mục đích vừa nhìn đã biết, ra sức tuyên truyền bà Lư Mộ Trinh, người vợ cũ và đã ly hôn với Tôn Trung Sơn từ lâu, mới là Tôn phu nhân chân chính và duy nhất. Báo chí đã cho biết, bà Tống Khánh Linh biểu thị: “Bọn họ có thể nói tôi không phải là Tôn phu nhân, nhưng không có ai có thể phủ nhận tôi là con gái của cha mẹ tôi”.

Nữ nhà văn Epstein phân tích rằng: “Đây có khả năng là quan điểm của bà được thổ lộ sớm nhất, quan điểm này khiến cho bà lúc bệnh tình nguy cấp đã đề xuất yêu cầu an táng cùng một nơi với cha mẹ bà”.

Điều kích thích tâm can sâu thẳm nhất đối với bà Tống Khánh Linh vẫn là thời kỳ “cách mạng văn hóa” phá bỏ bốn cũ, Hồng vệ binh của Thượng Hải đã “phá nát” phần mộ song thân của bà tại nghĩa trang Vạn Quốc, “đẩy đổ bia mộ, đào xương trong mộ lên, thực hành “đánh xác”.

Trong “Truyện Tống Khánh Linh” kể lại: “Khi tấm ảnh phần mộ bị phá hoại từ Thượng Hải gửi lên Bắc Kinh, những người làm việc bên cạnh bà Tống Khánh Linh lần đầu tiên thấy bà tinh thần không đứng vững mà khóc thảm thiết.

Liêu Mộng Tỉnh đưa tấm ảnh ấy cho Thủ tướng Chu Ân Lai. Thủ tướng Chu Ân Lai hạ lệnh cho ngành hữu quan của thành phố Thượng Hải lập tức sửa chữa lại phần mộ họ Tống và sau khi sửa xong đã chụp ảnh gửi cho bà Tống khánh Linh. Song không sửa chữa lại đúng nguyên như cũ. Trên bia mộ cũ có ghi tên của 6 người con, mà trên bia mộ mới chỉ có tên một người Tống Khánh Linh… Sau khi cách mạng văn hóa kết thúc, lại thay đổi bia mộ mới, hoàn toàn khôi phục như cũ”.

Đúng như tác giả bài viết này trước đây không lâu đã viết một bài rằng: Ba năm cuối cùng cuộc đời của bà Tống Khánh Linh lại là thập niên có hy vọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tháng 2 năm 1979, trong một lá thư gửi cho một người bạn Mỹ, bà đã viết:

“Dân chủ và pháp chế bắt đầu chiếm thế thượng phong và đã hiển hiện ra… Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương lần thứ ba của Đảng tổ chức gần đây là một thắng lợi”.

Một người già chìm nổi này là một cán bộ lãnh đạo cao cấp, dù có cưỡi sóng to gió lớn, cũng khó tránh khỏi có những lo lắng đến những thăng trầm sóng gió của quãng đường trước mắt. Trong những bức thư khác nhau, Bà đã nói thẳng đến những tệ nạn của xã hội hiện tại:

“Loại trừ chế độ ủy phái cán bộ và chế độ giáo dục của chúng ta trước mắt đã được cải thiện, tôi dám khẳng định rằng: Mọi nỗ lực mà chúng ta thực hiện bốn hiện đại hóa đều sẽ thất bại!

Bất kỳ lợi ích tập thể nào, đều phải cho phép tự do và lựa chọn của cá nhân”.

Phải chăng trong lúc hấp hối, bà Tống Khánh Linh đã cảm khái thấy rõ vận mệnh của mình ở phía sau người bạn đời và người thầy của mình, nên đã quyết định nêu ra di nguyện trở về an táng tại nghĩa trang gia tộc, quyết định một cách hàm súc dứt khoát rõ ràng rằng: Bản thân mình quyết đoạn tuyệt và cảnh báo về những cố tật mang tính dân tộc quen cố tạo ra hình ảnh thần thánh và mù quáng tin theo mê tín?

VŨ PHONG TẠO dịch và giới thiệu
qdnd.vn