Đời thực của một “huyền thoại” Mũ nồi xanh

QĐND – Trong một số tiểu thuyết hư cấu về chiến tranh và nhất là trong kịch bản phim hành động, có những “lính kín” (sĩ quan tác nghiệp chiến tranh bí mật) của Mỹ được tụng ca như huyền thoại. Nhưng học giả phương Tây nhận thấy ngay cả những sách không hư cấu (non – fiction: sách người thật việc thật) viết về chiến tranh ngầm ở phương Tây cũng ngấm ngầm thần thánh hóa những nguyên mẫu của “Rambo”.

Những hơi thở đầy sát khí của “Chiến tranh lạnh” và nhất là khói súng của cuộc chiến Triều Tiên đã đẩy nhanh tiến trình xây dựng Lực lượng đặc biệt Mỹ (LLĐB). Ra đời tháng 5-1952, đơn vị đầu tiên, SFC 10, của LLĐB được đặt dưới quyền Trung tâm chiến tranh tâm lý (Psychological Warfare Center) của quân đội Hoa Kỳ. Những người “biết cách hoạt động sau lưng đối phương” lại được cần đến, để giữ cho các quân cờ đô-mi-nô khỏi đổ. Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia cho rằng, một số người gốc Âu từng chiến đấu chống Hồng quân Liên Xô trước đó đã được đặc cách tuyển mộ vào “Mũ nồi xanh”, bất chấp cả quá khứ phát xít(1).

La-ry Thoóc-nơ, 3 ngày trước điệp vụ cuối cùng, tháng 10-1965. Ảnh tư liệu

Sách “Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội”(2) của Giáo sư R.Sun-dơ (R.Shultz), từng được khen ngợi bởi cả các cựu chỉ huy Mỹ trong chiến tranh Việt Nam lẫn các tác gia và ký giả nổi tiếng, đã viết những dòng đầy cảm thán về La-ry Thoóc-nơ (Larry Thorne, tên thật là Lauri Allan Tôrni), sĩ quan điều hành trại LLĐB Khâm Đức, Quảng Nam năm 1965.

Từ miền núi quanh năm tuyết phủ

Sun-dơ viết: “Lai lịch của La-ry Thoóc-nơ là nguồn chất liệu cho tiểu thuyết. Sinh ở Phần Lan năm 1919, Thoóc-nơ gia nhập quân đội Phần Lan năm 1938 và trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai, tiến hành hoạt động không quy ước chống quân đội Xô-viết… Khi Đức xâm lược Liên Xô 1941 và Phần Lan liên minh với Béc-lin, Thoóc-nơ tiếp tục đầu quân cho Quốc xã”.

Theo từ điển bách khoa điện tử Wikipedia, phe Hồng quân treo giải thưởng tương đương với 560 nghìn USD cho ai loại trừ được Thoóc-nơ – sĩ quan phát xít thuộc diện “đặc biệt nguy hiểm”.

R.Sun-dơ viết tiếp, “Tháng 9-1944, Phần Lan đầu hàng Liên Xô, nhưng Thoóc-nơ thì không. Thoóc-nơ nhập vào quân đội Đức Quốc xã, theo học tại trường chiến tranh du kích, rồi cùng lính thủy đánh bộ của Hít-le chống lại Hồng quân cho đến khi kết thúc chiến tranh.

Muốn trừng phạt Thoóc-nơ, Liên Xô yêu cầu chính phủ Phần Lan phải bắt Thoóc-nơ. Liên Xô có kế hoạch dẫn độ Thoóc-nơ về Mát-xcơ-va và xét xử như tội phạm chiến tranh. Thoóc-nơ chạy trốn được sang Hoa Kỳ, và với sự giúp đỡ của Bin Đô-nô-van (Bill Donovan), Thoóc-nơ trở thành công dân Mỹ. Đô-nô-van, đứng đầu OSS lúc đó biết về những chiến tích của com-măng-đô Thoóc-nơ. Đô-nô-van hình dung chiến tranh không khác gì việc kinh doanh ở phố Uôn (Wall). Hoa Kỳ sẽ cần tới những con người như La-ry Thoóc-nơ, trong những năm tới”.

Buổi đầu trong LLĐB Mỹ, Thoóc-nơ dạy các môn như trượt tuyết, leo núi, chiến thuật du kích. Từ đó, Thoóc-nơ thăng tiến dần với bậc sĩ quan cấp úy, phục vụ cùng SFG 10 ở Tây Đức, rồi càng ngày càng nổi trội trong hoạt động ngầm trên dãy núi Da-grốt (Zagros) ở Vịnh Ba Tư…

Đến rừng rậm nhiệt đới

Tháng 11-1963, Thoóc-nơ nhập vào đơn vị LLĐB Mỹ A-734 đóng ở Đồng bằng sông Cửu Long và được gắn hai mề đay.

Chiến tranh cục bộ bắt đầu cùng với sự thăng hạng của “chiến tranh bí mật” ở Lào, La-ry Thoóc-nơ nay đã được thăng cấp đại úy, nhưng thuộc quân Mỹ, được Tổ nghiên cứu và quan sát thuộc Bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACVSOG, hoặc SOG) giao chỉ huy một đơn vị đặc biệt Mỹ chuyên đánh phá tuyến đường Trường Sơn.

R.Sun-dơ viết: “Vào mùa thu 1965, các chi tiết đã được nhất trí, và 5 toán thám báo đã sẵn sàng “xé rào” (cross the fence – vượt biên giới miền Nam Việt Nam – Lào). Nhiệm vụ là phá hoại ngầm. Họ không đeo quân hàm, phù hiệu đơn vị, trang phục được đặt riêng cho SOG, không rõ may ở đâu. Vũ khí mang theo không sản xuất ở Mỹ, mà kiếm được từ nguồn bí mật, không thể tìm được xuất xứ. Các toán biệt kích không mang bất cứ thứ gì để cho phép xác định họ là ai… Từ tháng 10 cho đến hết năm 1965, 7 điệp vụ thám báo được thực hiện”.

Theo Trung tá Ray-mơn Con-lơ (Raymond Call), những chiến dịch sớm sủa này được tiến hành khi đối phương chưa phòng bị, nên SOG có được yếu tố bất ngờ. “Kết quả thật khích lệ. Các toán thám báo đã phát hiện được nhiều mục tiêu cho máy bay Mỹ ném bom”. 80-100% mục tiêu bị phá hủy, theo tài liệu về MACVSOG của Hội đồng tham mưu Liên quân Mỹ, phụ lục D, phần “Hoạt động vượt biên giới Việt – Lào”.

Sự khởi đầu nhanh chóng này, theo R.Sun-dơ, cũng không thể không trả giá.

Kết cục tất yếu

Trong điệp vụ ngày 18-10-1965, hai chiếc trực thăng H-34 chở một toán biệt kích chuẩn bị xâm nhập vào Lào. Cố vấn La-ry Thoóc-nơ bay trên chiếc H-34 thứ ba. Sau khi toán biệt kích đổ bộ được xuống địa điểm định trước, hai chiếc trực thăng đầu quay về căn cứ Khâm Đức. Chờ đến khi nhận được tín hiệu cho biết toán biệt kích đã vượt biên an toàn, Thoóc-nơ lệnh cho phi công quay về căn cứ. Lúc đó, sương mù hầu như che khuất tầm nhìn. Chiếc H-34 và Thoóc-nơ biến mất trong màn đêm, không để lại dấu vết gì…

Mãi đến năm 1999, sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, Tổ chức tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam mới xác định được hài cốt của La-ry Thoóc-nơ trong số hàng nghìn hài cốt lính Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Và hài cốt của Thoóc-nơ chính thức được xác nhận năm 2003.

Thần tượng hóa kiểu dối trá

Cuốn “Mũ nồi xanh”, in lần đầu năm 1965, với một nhân vật chính là Sven Cớc-ni (Sven Kornie), được xem là La-ry Thoóc-nơ hóa thân(3).

Mặc dù nhân vật sống Thoóc-nơ ngay sau đó biến mất trong “sương mù chiến tranh”(4) (Brouillard de guerre), nhưng “Mũ nồi xanh” vẫn kịp trở thành sách bán cực chạy thời điểm năm 1966.

Năm 1968, khi cuộc chiến ở Việt Nam lại bắt đầu lòi ra các điểm nhấn “Thiên Nga, Phượng Hoàng” dựa trên “chủ bài” LLĐB, thì “Mũ nồi xanh” lại được chuyển thể thành phim cùng tên, do diễn viên điện ảnh Giôn Uây-nơ (John Wayne) thủ vai chính theo nguyên mẫu La-ry Thoóc-nơ.

Như vậy vẫn chưa đủ, các nỗ lực “đánh bóng” tội ác chiến tranh của giới truyền thông phương Tây vẫn chưa chịu dừng bước. Năm 2004, có nguồn truyền thông phương Tây tiếp tục đánh giá khá cao “công trạng” của La-ry Thoóc-nơ. Trong bài “Một đánh giá về khủng bố của Mỹ ở Việt Nam” (An account of American terrorism in Vietnam)(5), tác giả Pa-trích Mác-tin (Patrick Martin) viết: “Câu chuyện về La-ry Thoóc-nơ cho thấy, bản chất thực sự của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đó là sự kết hợp giữa tư tưởng chống Cộng, bài châu Á, và sự dã man chống nhân dân Việt Nam. Nó vạch ra sự tương đương giữa các cuộc tàn sát do Mỹ chỉ đạo ở Việt Nam, và sự hung bạo của Quốc xã ở mặt trận phía Đông. Ấy thế mà tác giả Sun-dơ trong “Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội” đã miêu tả công trạng của La-ry Thoóc-nơ như một người hùng…”.

Thật đáng nực cười cho bộ máy truyền thông phương Tây, bởi Thoóc-nơ cũng chỉ là một lính Mỹ như hàng vạn lính Mỹ khác đã phải đền tội trong cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược Việt Nam.

Lê Thành

1. http://en.wikipedia.org/wiki/The_Green_Berets_%28film%29
qdnd.vn

2. Sách The secret war against Hanoi, NXB Harper Collins, 2000. Bản tiếng Việt của NXB Văn hóa-Thông tin, 2002

3. Mô tả sách “Mũ nồi xanh” trên Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/The_Green_Berets_%28book%29

4. Brouillard de guerre, khái niệm được Clausewitz đưa ra từ thế kỷ 19 để chỉ các yếu tố không rõ ràng trong chiến tranh do cảm nhận chủ quan và các yếu tố khách quan, và các thách thức mà các bên của cuộc chiến áp đặt cho đối phương. Cũng là tên của một DVD về hồi ức và suy nghĩ sau chiến tranh Việt Nam của Mắc Na-ma-ra.

5. http://www.wsws.org/articles/2000/jun2000/viet-j06.shtml