QĐND – Đoạn Nhật ký sau đây của Bi-gia, sĩ quan dù (Pháp) ở Điện Biên Phủ được trích trong cuốn sách “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi”, NXB Pháp Hachetle, 1994. Đầu bài do chúng tôi đặt. Bi-gia sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp, từng tháp tùng Tổng thống Mít-tơ-răng thăm Việt Nam năm 1994.
… Ngày 19-11-1953: Brát-sơ – sĩ quan và tôi được gọi đến Sở chỉ huy lục quân Bắc Việt. Tướng Bô Đê phụ tá của Na-va lệnh cho chúng tôi nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. “Chẳng có vấn đề gì. Nếu vấp phải sự phản công mạnh mẽ thì rút sang Lào”.
7 giờ sáng trong ngày, tôi và các sĩ quan: Lê-pa-giơ Tráp, Ma-gi-clat, Oai-đơ, Buốc Goa, Ale… đã có mặt ở sân bay Cát Bi. 8 giờ 30 phút, lệnh xuất phát. 9 giờ máy bay Đa-cô-ta cất cánh. Gió mạnh. Một số người đang bị ốm. Sau 300 ki-lô-mét bay, 10 giờ chúng tôi đã nhảy xuống Điện Biên. Tôi nghe tiếng rít của đạn bắn bên tai. Quân Việt đã có mặt? Các đại đội dù đã không tập trung được đúng như quy định. Với 800 quân, tôi có cảm tưởng như đã mất một nửa…
13 giờ 30 phút, chúng tôi bắt đầu một cuộc tấn công với sự yểm trợ của máy bay, cối 81mm. Cuộc chiến đấu diễn ra trong 2 giờ. Quân Việt đã phải lùi ra xa…
Sầm Sơn – Thanh Hóa, tháng 9-1954. Trao trả tù binh Pháp. Tù binh Pháp mặc quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam, mang khẩu hiệu “Tình hữu nghị giữa các dân tộc muôn năm”.
… Sáng ngày 5-1-1954: Một cuộc thăm dò sang phía Tây. Quân Việt bắn dữ dội. 20 người của chúng ta bị loại ra vòng chiến đấu. Vấn đề đã rõ: Quân Việt đã ở phía Bắc, phía Nam, đang bao vây quân Pháp. Đông và Tây cũng bị chiếm rồi. Thăm dò phía nào cũng đụng độ với quân Việt. Tôi liên tục gọi đến tướng không quân Phrăng Ki: “Tướng quân có thể yểm trợ, tăng cường không quân cho chúng tôi?”. Câu trả lời là: “Chưa phải lúc. Hãy đứng vững!”.
Cuối tháng 2-1954: Trong 2 tháng tướng Giáp tăng cường lực lượng xung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ. Ông ấy biết rằng quân Pháp không thể thoát ra khỏi nơi đây. Quân Việt đã ở quá gần. Bộ Tham mưu Pháp lại không hiểu điều này và đã bị cài vào bẫy mà tướng Giáp đã bày ra.
Tôi được tướng Cô-nhi giao nhiệm vụ trở về Hà Nội, gặp Trung tá Bru-nê ở sân bay Cát Bi, Hải Phòng, đảm bảo việc tiếp tế cho Điện Biên Phủ. “Điện Biên Phủ không giữ được nếu không có không quân tiếp tế. 140.000 người trong khu vực này, tương đương 5 sư đoàn, chỉ có thể trông chờ vào không quân. Chắc chắn là quân Việt sẽ phá hủy số lớn máy bay trên mặt đất.
… Đêm 12, 13-3: Tôi được tin quân Việt đã mở màn cuộc tấn công. Các tướng lĩnh Pháp hy vọng sẽ đập tan quân Việt của tướng Giáp trong lòng chảo này. “Thật là sai lầm”…
Trung tá Bi-gia (người đầu tiên từ trái sang), trong thời gian ở trại tù binh tháng 9-1954.
… Ngày 15-3: Cô-nhi nói với tôi: “Tình hình trở nên xấu rồi. Hai cứ điểm Ga-bri-en và Bê-a-trít (Him Lam) đã mất. Hai tiểu đoàn bị tiêu diệt, pháo binh ta bị vô hiệu hóa. Ngày mai, anh lại nhảy xuống Điện Biên?
16-3: Tôi đã có mặt ở Điện Biên Phủ. Mây đen trên trời, pháo binh Việt bắn dữ dội… Tôi gặp Trung tá La-lăng, đầu đội mũ sắt, trong sở chỉ huy. Đêm 13 chỉ huy Bê-a-trít (Him Lam) đã chết trong hầm vì đạn pháo. Chẳng ai tin là quân Việt lại có trọng pháo. Nếu quân Việt tấn công, cứ điểm sẽ không giữ được.
25-3: Đã 9 ngày tôi ở đây. Đờ Cát-xtơ-ri gọi tôi đến Sở chỉ huy: “Bi-gia này, Hà Nội yêu cầu bảo đảm phía tây cho quân nhảy dù. Cậu có toàn quyền làm sao cho pháo phòng không của quân Việt im đi”…
6 giờ sáng ngày 26-3: Tập trung cao độ pháo binh Pháp bắn vào các cứ điểm quân Việt. Tiểu đoàn dù 6 và 8 lao vào cuộc chiến. Đến 15 giờ phía Pháp mất 20 người, trong đó có 2 sĩ quan, 70 bị thương, 2 xe tăng bị phá hủy.
Ngày 30-3: Cuộc chiến đấu để chiếm đóng 5 đồi còn lại bắt đầu. Cuối ngày, 3 ngọn đồi đã mất. 8 giờ sáng 31-3, mất 2 đồi nữa. Ê-li-an 2 (đồi A1-NV) còn trụ được”. 15 giờ trong ngày, Hà Nội điện “Không có quân tiếp viện”. Bọn “xà lù”(1) chúng nó muốn để chúng tôi gục ngã.
20 giờ ngày 5-4: Quán triệt tiếp tục tấn công. 4 tiểu đoàn Việt bắn dữ dội vào 100 lính lê dương. Trong số 12 nghìn người ở Điện Biên Phủ, có lẽ chỉ còn không đủ 3000 người tiếp tục chiến đấu. Số còn lại, bị chết, bị thương. Rất nhiều lính bỏ trốn, chui trong hầm hào chờ đêm xuống đi cướp dù thả thức ăn. Những “con chuột” của sông Nậm Rốm!
Bi-gia bên cột ki-lô-mét “Đ. Biên 0km” – tháng 6-1994.
Ngày 10-4: Đến ngày này tôi vẫn còn hy vọng đứng được thêm 1 ngày, 1 ngày nữa. Họ không thể để chúng tôi ngã quỵ. Người Mỹ sẽ đến. Họ sẽ ném bom xuống quân Việt…
15-4: Đờ Cát-xtơ-ri được thăng cấp tướng. Lăng-le, La-lăng đại tá, tôi trung tá… Hà Nội biết chúng tôi không thể thoát nên trấn an chúng tôi. Lăng-le nhiều giờ đã kêu nài cấp trên: “Gửi thêm quân cho chúng tôi. Đừng để chúng tôi chết”. Mỗi đêm, cũng có được vài người lính. Họ còn chưa đến 20 tuổi, là quân tình nguyện. Chúng tôi như một cây nến mà người ta để cho cháy tàn lụi. Điện Biên Phủ chỉ có 12 nghìn quân sĩ, toàn Đông Dương có số quân gấp 20 lần. Vấn đề là ở chỗ, trên chiến trường Điện Biên Phủ đều có mặt tất cả những đơn vị thiện chiến… Nếu chúng tôi sụp đổ, sẽ là một thảm họa.
25-4: Chúng tôi thiếu thốn mọi thứ, và trước hết không có quân số bổ sung, tại một số cứ điểm chẳng còn gì. Người ta phải cân nhắc khi ném một quả lựu đạn. Và phải đếm xem còn bao nhiêu đạn. Chúng tôi chỉ còn một nhúm người…
Ngày 7-5, ngày cuối cùng: 57 ngày chống cự ròng rã. Một ảo giác kỳ lạ! Chẳng còn gì sót lại, chỉ còn vài con ma. Bệnh viện đầy ắp thương binh, người chết. Không còn một cứ điểm nào tồn tại. Tôi như người bị bóng đè. Trước đó, chúng tôi cũng dự định một cuộc tháo chạy. Hai đội hình, một lính dù, một lê dương. Nhưng các sĩ quan đều nói là không làm được, binh sĩ không còn sức để đi bộ dù là vài ki-lô-mét.
12 giờ trưa ngày 7-5: Đờ Cát-xtơ-ri báo cho chúng tôi biết Hà Nội ra lệnh ngừng bắn. Chúng tôi không có cờ trắng. 17 giờ, Lăng-le đốt chiếc bê-rê đỏ của mình, đội lên đầu một cái mũ chết người ngự trị trên chiến hào… 18 giờ, quân Việt kia kìa, hàng nghìn, hàng nghìn ngập trong các chiến hào. Quân Việt đưa chúng tôi ra ngoài sở chỉ huy. Một lá cờ đỏ sao vàng được cắm trên hầm chỉ huy của Đờ Cát-xtơ-ri. Họ đã thắng. Chúng ta đã thua. Tôi không bao giờ tin rằng điều ấy sẽ xảy ra. Người ta đã bỏ rơi chúng tôi. Hàng nghìn tù binh, tiểu đoàn dù của tôi với 800 người nay chỉ còn không đủ 40. Số còn lại đã chết, mất tích. Họ đã chiến đấu chẳng vì điều gì cả.
18-6-1954: Tất cả tù binh Pháp được tập hợp trên bờ một con suối. Tướng Đờ Cát-xtơ-ri dẫn đầu, rồi đến các sĩ quan, binh lính “diễu hành” để một người quay phim Xô viết lia máy. Chúng tôi ra đi 12.000 người, còn lại 4000…
Cuối tháng 7-1954: Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Hết chiến tranh. Một hôm, trại trưởng tù binh mời chúng tôi lên trao đổi về các cuộc chiến đấu.
Cuối tháng 8: Chúng tôi rời trại giam.
Ngày 4-9-1954: Được trả tự do. Phía Việt tổ chức một “tiệc liên hoan”, có cơm, rượu, thịt nướng… Chúng tôi-một số sĩ quan được xe đưa về Hà Nội. Vài ngày sau, chúng tôi vào Sài Gòn rồi trở về Pháp. Phải giở sang một trang sử mới. Ngày 25-9, tôi đã xuống sân bay Oóc-li (Pa-ri).
Võ Nguyên Giáp là một vị tướng vĩ đại. Ông còn là một nhà tư tưởng. Sức mạnh của một quân đội trước hết là do tinh thần chiến đấu và do lý tưởng chứ không phải là trang bị kỹ thuật, vũ khí. Đó là những điều mà các nhà chính trị, các vị tướng Pháp không hiểu được. Binh lính Pháp chiến đấu đã bị bỏ rơi.
Ngày 28-6-1994: tôi đã trở lại Điện Biên Phủ, chụp ảnh tại cột km 80, Quốc lộ 279 với biển số ghi Đ. Biên 0km. Tôi đã gặp tướng Trần Văn Quang, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Tôi đã đến đài kỷ niệm “Để tưởng nhớ những người đã hy sinh cho nước Pháp” do cựu lính lê dương Rolf Rodel cùng các bạn chiến đấu dựng lên ở Điện Biên Phủ… Những quân nhân Pháp ở Điện Biên Phủ trở về Pháp mà không có được một ai đón chào (còn ở trên mảnh đất Việt Nam này lại có một đài kỷ niệm tưởng nhớ họ).
—
(1) Câu chửi của người Pháp: Xà-lù (salaud)
Thủy Trường (Lược dịch từ nguyên văn tiếng Pháp)
qdnd.vn