Quân ủy Trung ương Trung Quốc
QĐND – Tạp chí “Quân sự sử lâm”của Viện Bảo tàng Quân sự Trung Quốc có bài viết về “Tiến trình diễn biến của Quân ủy Trung ương”, nội dung tóm tắt như sau: Quân ủy Trung ương là tên gọi tắt Hội đồng quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thực chất đó là “Cơ quan chỉ huy quân sự và quyết sách quân sự cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, là Bộ thống soái tối cao lãnh đạo LLVT nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Sự ra đời và những năm tháng chiến tranh
Năm 1931, Trung ương cục Khu xô viết của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập tại Thụy Kim, tỉnh Giang Tây, bên dưới có thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương. Các nhà lãnh đạo chủ yếu của Khu xô viết Trung ương là Hạng Anh, Mao Trạch Đông, Chu Đức lần lượt làm Chủ tịch. Tháng 11 cùng năm, Chính phủ Trung ương lâm thời nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa thành lập, Chu Đức nhậm chức Chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương; Bành Đức Hoài, Vương Gia Tường nhậm chức Phó chủ tịch; 15 người, bao gồm Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Diệp Kiếm Anh… làm ủy viên. Quân ủy cách mạng Trung ương trong lịch sử Hồng quân bắt đầu từ đó.

Ảnh 11 thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay
Tháng 5-1933, Chính phủ Trung ương lâm thời quyết định: Bổ sung Tần Bang Hiến (Bác Cổ), Hạng Anh làm ủy viên Quân ủy cách mạng Trung ương. Trong thời gian Chu Đức chỉ huy tác chiến tại tiền phương, Hạng Anh đảm nhiệm Quyền chủ tịch. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của nước Cộng hòa xô viết Trung Hoa, Chu Đức lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương; Chu ân Lai, Vương Gia Tường được bầu làm Phó chủ tịch.
Sau Hội nghị Tuân Nghĩa năm 1935, Mao Trạch Đông, Chu ân Lai, Vương Gia Tường tổ chức Tổ quân sự ba người, trở thành Cơ quan quyết sách quân sự tối cao trong cuộc Vạn lý trường chinh, mà thành viên của Quân ủy cách mạng Trung ương không thay đổi. Tháng 6, Hồng quân Trung ương hội sư với Phương diện quân 4 Hồng quân tại Mạo Công, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập “Hội nghị Lưỡng Hà Khẩu” nổi tiếng. Hội nghị quyết định Trương Quốc Đào đảm nhiệm Tổng chính ủy Hồng quân, Phó chủ tịch Quân ủy cách mạng Trung ương. Tháng 9, Quân ủy cách mạng Trung ương thực hành chế độ Đoàn chủ tịch 7 người do Mao Trạch Đông đứng đầu.
Sau khi Hồng quân cải tổ biên chế thành Bát Lộ quân, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội trong tình hình mới kháng Nhật, ngày 22-8-1937, Trung ương ĐCSTQ quyết định thành lập Hội đồng quân sự cách mạng Trung ương của Đảng, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Chu Đức, Chu ân Lai làm Phó chủ tịch; Bành Đức Hoài, Nhiệm Bật Thời, Hạ Long, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Trương Hạo, Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền là ủy viên. Như vậy, Quân ủy Trung ương trở thành bộ máy lãnh đạo chỉ huy quân sự thuộc Trung ương ĐCSTQ.
Thời kỳ đầu thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Cùng ngày, Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân của Chính phủ nhân dân Trung ương cũng tuyên bố thành lập, Mao Trạch Đông làm Chủ tịch. Ngày 19-10, Chính phủ nhân dân Trung ương bổ nhiệm Chu ân Lai, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Trình Tiềm làm Phó chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng nhân dân; 22 người gồm Hạ Long, Trần Nghị, Từ Hướng Tiền, Lâm Bưu… là ủy viên. Chu ân Lai chủ trì công tác hàng ngày.
Ngày 26-9-1959, Bộ Chính trị Trung ương ĐCSTQ quyết định Quân ủy Trung ương do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch; Lâm Bưu. Hạ Long, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch; Lâm Bưu chủ trì công tác hàng ngày của Quân ủy.
Mùa hè năm 1965, Quân ủy Trung ương bãi bỏ chế độ quân hàm.
Ngày 8-1-1966, 4 vị nguyên soái Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh được bầu bổ sung làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.
Trong thời gian “Cách mạng văn hóa”
Do sự phá hoại nghiêm trọng của Lâm Bưu, Giang Thanh, công tác hàng ngày của Quân ủy Trung ương bị hạn chế, Hội đồng Quốc phòng trên thực tế cũng bị đình chỉ công tác hàng ngày.
Tháng 8-1967, Quân ủy Trung ương quyết định Tổ thường trực Quân ủy gồm Ngô Pháp Hiến, Diệp Quần, Khưu Hội Tác, Trương Tú Xuyên; Tháng 9, giao quyền Tổng Tham mưu trưởng Dương Thành Vũ làm Tổ trưởng.
Tháng 3-1968, Hoàng Vĩnh Thắng, Tư lệnh quân khu Quảng Châu được điều về làm Tổng tham mưu trưởng kiêm Tổ trưởng thường trực Quân ủy.
“Một bộ máy hai tên gọi”
Tháng 7-1977, tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba khóa 10 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong được bầu là Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Đặng Tiểu Bình được khôi phục các chức vụ lãnh đạo, trong đó bao gồm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tham mưu trưởng.
Từ ngày 12 đến 18-8-1977, Đại hội 11 ĐCSTQ họp, Hoa Quốc Phong được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn làm Phó chủ tịch.
Tháng 6-1981, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khoá 11 ĐCSTQ, Hoa Quốc Phong từ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương; Hồ Diệu Bang và Đặng Tiểu Bình lần lượt được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương.
Ngày 4-12-1981, bộ Hiến pháp thứ tư trong lịch sử nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời tại Hội nghị lần thứ 5 của Quốc hội Trung Quốc khóa 5. Bộ Hiến pháp quy định: Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thiết lập Hội đồng quân sự Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang toàn quốc, gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch, một số ủy viên; Thực hành chế độ Chủ tịch phụ trách.
Ngày 18-6-1983, tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa 6 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 20-6, theo đề nghị của Đặng Tiểu Bình: Diệp Kiếm Anh, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.
Đây là lần thứ ba trong lịch sử, Quân ủy Trung ương trở thành cơ quan chức năng chung của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ và Chính quyền quốc gia. Thiết lập Quân ủy quốc gia là một cải cách trọng đại của ĐCSTQ đối với thể chế quốc gia và thể chế quân đội. Trong điều kiện lịch sử mới, Quân ủy Trung ương và Quân ủy quốc gia trên thực tế là “một bộ máy, hai danh xưng” (lưỡng cá bài tử, nhất thao nhân mã).
Ngày 1-11-1987, Đại hội 13 ĐCSTQ thông qua Dự án sửa đổi một số điều của Điều lệ Đảng, trong đó quy định “Thành viên của Hội đồng quân sự Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương quyết định”, điều quy định này liên tục kéo dài đến Điều lệ Đảng mới thông qua tại Đại hội 16.
Ngày 2-11-1987, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Triệu Tử Dương làm Phó chủ tịch thứ nhất, Dương Thượng Côn làm Phó chủ tịch thường trực.
Ngày 8-4-1988, tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc hội Trung Quốc khóa 7, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ngày 9-4, Triệu Tử Dương, Dương Thượng Côn được bầu làm Phó chủ tịch.
Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1989, tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa 13 ĐCSTQ, Đặng Tiểu Bình từ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Giang Trạch Dân lên thay; Dương Thượng Côn được bầu Phó chủ tịch thứ nhất, Lưu Hoa Thanh làm Phó chủ tịch Quân ủy.
Từ ngày 12 đến ngày 18-10-1992, Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc bầu Giang Trạch Dân làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ; Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn được bầu làm Phó chủ tịch Quân.
Ngày 28-3-1993, Giang Trạch Dân được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đồng thời đề nghị Lưu Hoa Thanh, Trương Chấn làm Phó chủ tịch.
Từ ngày 19 đến 22-9-1999, Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa 15 ĐCSTQ bầu bổ sung Hồ Cẩm Đào làm Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương.
Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay gồm 12 thành viên: Chủ tịch Hồ Cẩm Đào; 3 Phó chủ tịch: Tập Cận Bình, Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu; 8 ủy viên: Lương Quang Liệt, Trần Bỉnh Đức, Lý Kế Nại, Liêu Tịch Long, Thường Vạn Toàn, Đoan Chí Viễn, Ngô Thắng Lợi, Hứa Kỳ Lượng.
Cấp bậc của các thành viên Quân ủy Trung ương Trung Quốc
Chủ tịch Quân ủy Trung ương thông thường do Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đảm nhiệm, không mang quân hàm.
Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay. Vị trí lãnh đạo và quyền lực tương đương ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Phó chủ tịch nước, Phó chủ tịch Quốc hội, Phó thủ tướng.
Ủy viên Quân ủy Trung ương, cấp bậc Thượng tướng, quân hàm cao nhất trong Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay, vị trí và quyền lực tương đương ủy viên Quốc vụ viện; cao hơn Thủ trưởng 4 cơ quan Bộ tổng (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Trang bị) của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; cao hơn Tư lệnh Đại quân khu. Cho nên, ủy viên Quân ủy Trung ương tuy không phải là một chức danh, một bậc thang lãnh đạo trong hệ thống Đảng, Chính quyền, Quân đội ở Trung Quốc, nhưng có vị trí và thực quyền.
Vũ Phong Tạo
qdnd.vn